Thứ Ba, 15 tháng 2, 2022

Đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc sự thật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

 

Trong âm mưu chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thì tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề mà chúng đặc biệt quan tâm. Bởi đây là lĩnh vực “nhạy cảm”, nên việc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo chống Việt Nam đã trở thành quy luật từ trước đến nay.

Âm mưu lâu dài của các thế lực thù địch, phản động chống Việt Nam rất rõ ràng, chúng thường lợi dụng những sơ hở trong các hoạt động tôn giáo để vu cáo, xuyên tạc Đảng, Nhà nước ta vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, đàn áp tôn giáo, hòng tạo phản ứng tiêu cực trong một bộ phận chức sắc và tín đồ tôn giáo.

Trong chiến lược “diễn biến hoà bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch và các nước phương Tây, hằng năm cứ đến dịp tháng 3, tháng 9, họ lại tự cho mình cái quyền công bố báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo ở các nước trên thế giới.

Các tổ chức nhân quyền, các phương tiện thông tin của Mỹ và các nước phương Tây được dịp phụ họa, “tát nước theo mưa” tuyên truyền rùm beng về cái gọi là “vi phạm các quyền con người”, “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên thế giới”; trong đó, họ cho Việt Nam là một trong những nước trọng điểm bị chỉ trích.

Những năm gần đây, các thế lực thù địch, phản động với bản chất xuyên tạc và một thái độ áp đặt, chủ quan, đòi hỏi một “tiêu chuẩn kép” về “dân chủ, nhân quyền”, tự do tôn giáo; vẫn một thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo sự thật một cách thô thiển bất chấp thực tế về những thành tựu to lớn của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Họ muốn tạo sự hoài nghi về đường hướng lãnh đạo của Đảng Cộng sản, các chính sách, pháp luật của Nhà nước ta có liên quan đến tôn giáo và hoạt động tự do tôn giáo. Đồng thời, dùng mọi thủ đoạn thâm độc xuyên tạc sai sự thật về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Việc làm trên của các thế lực phản động, thù địch vừa tạo phản ứng tiêu cực của các chức sắc cực đoan và số tín đồ cuồng tín tìm cách tạo dựng các vụ việc phức tạp mang màu sắc của tôn giáo hòng phá hoại an ninh chính trị, trật tự xã hội và mục đích cao nhất là dùng sức mạnh của tôn giáo để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hiến pháp 2013 của Việt Nam quy định tại Điều 12 Chương I khẳng định: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam là một trong những nước sớm phê chuẩn Công ước quốc tế về nhân quyền.

Với nguyên tắc đó, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2017 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác của Quốc hội, của Nhà nước Việt Nam đã quán triệt và thể chế hóa đầy đủ những quan điểm, chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Các quy định pháp lý đó không những phù hợp với tinh thần và nội dung tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Công ước quốc tế, mà còn đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, củng cố niềm tin, tạo động lực để đồng bào các tôn giáo “đồng hành cùng dân tộc”, góp phần quan trọng vào củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ  vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb CTQG. Hà Nội 2016. tr, 165.).

Là một nước đa tôn giáo, nhưng cộng đồng các tôn giáo hoạt động ở Việt Nam luôn gắn bó với dân tộc; đồng thời, là nhân tố xã hội và văn hoá tích cực góp phần làm cho nền văn hoá Việt Nam phong phú, đa dạng và đặc sắc. Việt Nam còn là một đất nước rất ôn hoà trong quan hệ giữa các tôn giáo, có truyền thống đoàn kết tôn giáo, đoàn kết toàn dân trong quá trình dựng nước và giữ nước.

Việc chung sống hoà bình và bao dung giữa các tôn giáo cùng với tính nhân ái, nhân bản của con người và xã hội Việt Nam đã tạo ra một bức tranh sinh động về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam: thuần tuý nhưng phong phú, đan xen nhưng không mâu thuẫn.

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, quan hệ tích cực và mang tính xây dựng giữa các tôn giáo và Nhà nước đã được thể hiện rất rõ và ngày càng được củng cố. Đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có đoàn kết hoà hợp các tôn giáo là nguồn sức mạnh và là nhân tố quyết định bảo đảm cho mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, tôn giáo; thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết lương - giáo và giữa các tôn giáo; khắc phục thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc.

Ngày nay, trong điều kiện hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ, hợp tác đầu tư với nước ngoài, cũng đang nảy sinh tình trạng sơ hở, mất cảnh giác trong các lĩnh vực đối ngoại, kinh tế, văn hoá, tư tưởng và trong quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cùng với những biểu hiện tiêu cực của cơ chế thị trường, là những điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá ta trên các mặt trận chính trị, tư tưởng văn hoá, xã hội bằng những âm mưu, thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường làm là: phản bác chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội.

Tuyên truyền đề cao các giá trị của chủ nghĩa tư bản về thể chế chính trị, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, dựng ngọn cờ “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”; chia rẽ giữa nhân dân, Quân đội, Công an với Đảng, Nhà nước; chia rẽ lương giáo với các tổ chức quần chúng khác trong hệ thống chính trị, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, chạy theo ham muốn vật chất tầm thường, gieo rắc văn hoá đồi truỵ, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan…

Vì vậy, kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng. Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; bản lĩnh chính trị của Đảng, của các tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên.

Hiện nay các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước ta thông qua việc họ thường xuyên đăng tải những thông tin sai trái, bịa đặt, xuyên tạc sự thật về “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” ở Việt Nam trên các trang mạng Internet, mạng xã hội Facebook, nhằm chống phá nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.

Suy cho cùng hòng làm cho tình hình chính trị ở Việt Nam mất ổn định. Đây là “bài học” mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã dành nhiều thời gian, công sức “nghiên cứu, đúc kết” từ những cuộc xung đột chính trị xảy ra ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới những năm gần đây.

Bởi vậy, Đảng ta yêu cầu: “Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb CTQG-ST.H. 2016, tr. 200, 201). Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc những hoạt động, tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật.

Mặt khác, cần  đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Đó là những cơ sở để chúng ta kiên quyết đấu tranh, phản bác mọi luận điệu xuyên tạc, cố tình phủ nhận quan điểm, chủ trương, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam và những thành tựu về tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta sau hơn 30 năm đổi mới.

Đồng thời, là cơ sở để chúng ta kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, làm vô hiệu hóa các “đạo lạ”, “tạp giáo”, “tà giáo”; lợi dụng tự do tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

NHỮNG VŨ KHÍ "TỰ QUYẾT ĐỊNH" SẼ GIẾT AI

 

Một cuộc cách mạng đang diễn ra trong nghệ thuật chiến tranh, vũ khí hiện đại không cần con người điều khiển, chúng tự nhận dạng và giết chết nạn nhân của mình. Các nhà nghiên cứu Đức đang kêu gọi cấm các loại robot giết người kiểu này. Nhưng điều đó không phù hợp với một số quốc gia.

Drone (thiết bị bay không người lái) cho thấy trong thực tế chiến tranh đã thay đổi nhiều như thế nào. Đối với việc sử dụng thiết bị bay không người lái, người ta không còn cần người theo dõi tại chỗ hình ảnh mà camera trên thiết bị đã ghi lại và cuối cùng là nhấn nút trên cần điều khiển từ xa. Drone ngày nay có thể độc lập phá hủy thiết bị chiến tranh của đối phương và tiêu diệt quân địch.

Daan Kayser đến từ Paxforpeace, một tổ chức phi chính phủ có trụ sở ở Utrecht, Hà Lan, một người rất am hiểu về các hệ thống vũ khí tự động này cho biết: “Tất cả những gì bạn phải làm là tải bản đồ khu vực và nạp các thông tin về mục tiêu vào cơ sở dữ liệu.

Người ta thậm chí có thể kết hợp các drone này thành bầy đàn hàng trăm, thậm chí hàng nghìn chiếc, và theo các đơn vị, mỗi đơn vị thực hiện các chức năng khác nhau. Cái thì quan sát hoạt động của kẻ thù, cái khác phá liên lạc vô tuyến, số còn lại tham gia tấn công đối phương.

Một trong những drone loại mới này có thể tấn công theo bầy đàn là STM Kargu của Thổ Nhĩ Kỳ. Chúng có tên “loitering munition”, bay lững lờ trên không, rình mò mục tiêu, khi phát hiện kẻ thù chúng lao thẳng vào đối thủ tiêu diệt chúng theo kiểu “thần phong” kamikaze. Theo Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, hệ thống vũ khí tự động này được đưa vào cuộc chiến ở Libya lần đầu tiên, mùa hè 2020.

Khi đó, STM Kargu của Thổ Nhĩ Kỳ rượt đuổi binh lính của tướng Khalifa Haftar khi tháo chạy khỏi thủ đô Tripoli. Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhận thấy: “Các mục tiêu đã bị tấn công mà không cần liên kết dữ liệu giữa người điều khiển và drone”. Điều đó có nghĩa là drone đã được lập trình để giết binh lính mà không cần sự can thiệp của con người.

Kayser giải thích: “Với thời gian số người cần thiết để điều khiển một đàn drone kiểu này ngày một giảm. Điều chỉ cần phải làm là cho chúng xuất phát. Khâu triệt hạ đối thủ drone tự làm dựa vào trí tuệ nhân tạo, tức các thuật toán mà chúng đã được lập trình.

“Một sự phát triển đáng sợ”

Kayser nói: “Khi khoa học viễn tưởng phát triển thành sự thật thì thật rất đáng sợ. Đối với ông, các hệ thống vũ khí tự động đại diện cho một bước nhảy vọt quyết định trong lịch sử phát triển công nghệ vũ khí. “Đó là cuộc cách mạng thứ ba”, Kayser nhấn mạnh trong một cuộc phỏng vấn với chúng tôi. “Đầu tiên là sự phát minh ra bột đen (thuốc súng), sau đó là đầu đạn hạt nhân, và bây giờ là hệ thống vũ khí tự động.”

Libya không phải là địa bàn duy nhất mà loại vũ khí mang tính cách mạng mới cho thấy sức mạnh của nó. Trong cuộc xung đột Nagorno-Karabakh năm 2020, Azerbaijan chỉ có thể tái chiếm các khu vực tranh chấp với Armenia với sự trợ giúp của các drone của Thổ Nhĩ Kỳ và Israel. Quân đội Mỹ cũng đã sử dụng các hệ thống vũ khí này ở Iraq và Afghanistan.

Công nghệ quân sự tự động đang trên đà phát triển, nếu không sử dụng nó thì khó có thể thắng trong các cuộc chiến tranh trong tương lai. Bởi lẽ chúng không chỉ giới hạn dưới dạng máy bay không người lái, mà có thể được lắp đặt trong hầu hết các hệ thống vũ khí trên tàu thủy, trên máy bay và các phương tiện giao thông trên bộ.

Hiện đã có một số robot giết người di động có thể hoạt động cùng các đơn vị bộ binh trên chiến trường. “Tương lai là của vũ khí không có người điều khiển”, công ty Mỹ SWORD Defense Systems viết trên trang web của mình về SPUR (Súng trường không người lái đặc biệt). Hệ thống vũ khí, được phát triển cùng với công ty Ghost Robotics, giống như một con chó robot. Theo nhà sản xuất, SPUR có thể được sử dụng cả ngày lẫn đêm nhờ nhiều cảm biến và trang bị súng trường Creedmore 6,5 có thể bắn xa 1200 mét.


Các cường quốc thế giới như Mỹ, Trung Quốc và Nga, lẫn Anh, Israel và Hàn Quốc, đều đang thúc đẩy sự phát triển này. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đang yêu cầu chính phủ tổng cộng 874 triệu USD cho 600 dự án trí tuệ nhân tạo vào năm 2022. Thị trường vũ khí tự động toàn cầu ước tính trị giá 11,56 tỷ USD vào năm 2020 và dự kiến ​​đạt 30 tỷ USD vào năm 2030.

Hệ thống vũ khí tự động đã có từ nhiều năm nay. Hệ thống phòng không Iron Dome của Israel tự động tính toán quỹ đạo tiếp cận tên lửa đối phương, phóng tên lửa đánh chặn và bắn hạ kẻ tấn công trên không.

Ở Hàn Quốc, biên giới với Triều Tiên được canh gác bởi các robot chiến đấu phản ứng với các chuyển động và có thể tự nạp đạn. Tuy nhiên, những vũ khí này vẫn nằm trong tầm kiểm soát của con người. Mặt khác, với các hệ thống tự động mới, vào một thời điểm nhất định có thể tự quyết định theo các thuật toán của nó, đối thủ nào sẽ bị triệt hạ.

Kayser từ Paxforpeace cho biết: “Tất nhiên, điều này đặt ra những câu hỏi lớn về luân lý và đạo đức khi không có người tham gia và máy móc quyết định về sự sống và cái chết.” Trong quá khứ, các cuộc tấn công bằng drone thực hiện từ một phòng tác chiến đã bộc lộ rất nhiều sai sót bi thảm.

Tháng 8 năm ngoái, quân đội Mỹ tại Afghanistan đã nhầm lẫn giữa một chiếc xe bán tải bình thường với một chiếc xe của lực lượng dân quân khủng bố IS. Mười thường dân vô tội đã thiệt mạng trong cuộc không kích bằng drone gần sân bay Kabul. Liệu những rủi ro khôn lường sẽ còn nảy sinh khi hệ thống vũ khí và máy tính nắm quyền điều khiển?

“Chúng ta cần một thỏa thuận quốc tế cấm các loại vũ khí này”, Kayser yêu cầu. “Và Đức có thể đóng vai trò hàng đầu trong việc này.” Một mặt, chính phủ liên bang mới muốn đẩy mạnh “chế độ kiểm soát quốc tế đối với máy bay không người lái có vũ trang”. Đặc biệt chính phủ Đức muốn “thúc đẩy lệnh cấm quốc tế đối với các hệ thống vũ khí tự động hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của con người”.

Tháng 11 vừa qua, 84 nhà nghiên cứu nổi tiếng của Đức trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và người máy đã viết thư ngỏ gửi chính phủ Liên bang mới ủng hộ lệnh cấm này. “Lập trường kiên quyết của Đức có thể không chỉ ảnh hưởng đến các nước trong phạm vi EU”, Kayser cho biết.

Cho đến nay, lệnh cấm đối với các robot sát thủ vẫn chưa được đưa ra. Các cuộc đàm phán giữa 125 quốc gia tham gia Công ước về vũ khí của Liên Hợp Quốc tại Geneva bị đổ vỡ hồi tháng 12. Một trong những lý do là Mỹ và Nga đã ngăn cản việc sửa đổi công ước. Tuy nhiên, Kayser tỏ ra tự tin, “Sẽ có một thỏa thuận, như đã được thực hiện trước đây về mìn, bom và đạn chùm.” Câu hỏi còn lại là: Liệu các ông lớn Mỹ, Nga và Trung Quốc có nghiêm túc thực hiện các thỏa thuận đó hay không?

 

KỶ NIỆM 120 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ NGUYỄN PHONG SẮC (1/2/1902 - 1/2/2022)

 


Đồng chí Nguyễn Phong Sắc tên thật là Nguyễn Đình Sắc, sinh ngày 01/02/1902 trong một gia đình nhà nho yêu nước ở làng Bạch Mai, ngoại thành Hà Nội (nay là số nhà 152 phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng).

Đồng chí Nguyễn Phong Sắc gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, là một trong những thành viên sáng lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên tại số nhà 5D Hàm Long, Hà Nội; tham gia sáng lập Đông Dương Cộng sản Đảng - tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, trở thành Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, được phân công vào Trung Kỳ để xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng.

Cả cuộc đời cống hiến cho cách mạng, đồng chí Nguyễn Phong Sắc đã thể hiện là một trí thức giàu nhiệt huyết, nhạy bén với thời cuộc, sớm giác ngộ cách mạng, tham gia và hoạt động tích cực trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trở thành một trong chiến sĩ cộng sản đầu tiên, góp phần tích cực vào sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đồng chí Nguyễn Phong Sắc có những phẩm chất đạo đức cách mạng cao đẹp, là một người chiến sĩ kiên trung, bất khuất, luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, có lối sống giản dị, trong sáng. Đồng chí là một cán bộ lãnh đạo tiêu biểu của Đảng ta, một nhân cách cộng sản mẫu mực, tận tụy với Đảng, với nước, tận hiếu với dân; kiên cường bất khuất trước quân thù, giữ trọn khí tiết của người Đảng viên. Là Bí thư Xứ ủy Trung kỳ, đồng chí đã trung kiên, bất khuất, trở thành linh hồn của cao trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh; tạo nên một mốc son chói lọi, huy hoàng đầu tiên trong lịch sử vẻ vang của Đảng và của Cách mạng Việt Nam.

HAIVAN

 BÀI HỌC TỪ UKRAINA


Báo chí loan tin 1.500 tấn vũ khí, đạn dược do Mỹ và các nước phương Tây viện trợ đã ồ ạt đưa đến Ukraina để hỗ trợ nước này để “tự vệ” trước nguy cơ bị Nga tấn công quân sự. Nếu chỉ nhìn vào truyền thông, chúng ta sẽ thấy một cuộc chạy đua vũ trang giữa Nga với Mỹ và phương Tây trong thế giới hiện đại và Ukraina chính là quân cờ.

Ukraina là một quốc gia địa chính trị, nằm trên ngã tư đi châu Âu và châu Á. Từ cuộc “cách mạng màu cam” diễn ra bằng những cuộc biểu tình phản đối kết quả bầu cử Tổng thống bị cho là gian lận năm 2005 đến nay, cứ chu kỳ 05 năm là đất nước Ukraina lại nổ ra chính biến và bất ổn. Đất nước này đã trải qua những đợt khủng hoảng kinh tế - xã hội đen tối nhất khi lạm phát tăng mà số người thất nghiệp, thu nhập thực tế của người dân giảm; mặc dù được Mỹ và phương Tây viện trợ hàng chục tỷ Mỹ kim. Một thực tế cho thấy, hơn 15 năm nay, người dân Ukraina chưa một ngày được “tận hưởng” những thành quả do cái gọi là “cách mạng đường phố” và “giá trị phương Tây” mang lại. Một tương lai bất định cho cả chính quyền và người dân xứ “giỏ bánh mì của châu Âu”. 

Chiến tranh hay chạy đua vũ trang thì chỉ có người dân là khổ. Bài học của Ukraina cũng như bài học của các nước ở Trung Đông, Bắc Phi còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

Ukraina đã trải qua nhiều cuộc lật đổ, nhưng đất nước vẫn thiếu đi một định hướng phát triển ổn định và đúng đắn. Thực tế Ukraina cho thấy sự đúng đắn của chiến lược đối ngoại và sự khéo léo trong ứng xử với các nước lớn của Việt Nam khi chúng ta vẫn giữ được sự độc lập, ổn định như ngày nay. Thực tế này cũng phủ định hoàn toàn luận điệu của đám dân chủ và những kẻ có ý đồ xấu khi lợi dụng các thời điểm quan hệ Việt Nam - Trung Quốc căng thẳng để kêu gọi, kích động gây hấn quân sự hoặc theo nước này, bài nước kia.

Chính trị có ổn định thì kinh tế mới có cơ hội phát triển, người dân mới có điều kiện để làm ăn và hưởng thụ cuộc sống.

Thanh Huyền

BH

VINH QUANG LÀ NGƯỜI CHIẾN SĨ

 


“Quân đội là trường học lớn của thanh niên, là niềm mơ ước và mục tiêu vươn tới của không ít thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Được học tập, rèn luyện trong quân đội là niềm vinh dự, tự hào, là trách nhiệm của thanh niên Việt Nam”. Từ ngày 16/02 đến ngày 20/02/2021, hàng vạn thanh niên Việt Nam sẽ nô nức lên đường nhập ngũ

Mỗi thanh niên tham gia nghĩa vụ quân sự là vinh dự, tự hào, bởi thực hiện nghĩa vụ quân sự chính là sự cống hiến một phần bé nhỏ của mình cho sự nghiệp của Đảng và toàn dân tộc. Hình ảnh Bộ độ Cụ Hồ luôn là tấm gương sáng cho mọi thế hệ thanh niên Việt Nam noi theo. Còn gì hơn khi được tôi luyện ở môi trường quân đội, một trường học lớn để hoàn thiện nhân cách, góp phần năng lực và phẩm chất của mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, mỗi thanh niên coi đây là vinh dự của bản thân trước gia đình, quê hương và toàn xã hội.

HAI VAN

Đôi điều về bài Quốc ca

Những năm gần đây, ai đó và ở đâu đó có ý kiến muốn thay bài Quốc ca mới vì Quốc ca hiện thời không còn phù hợp. Nhân đây, tôi xin nói đôi điều về điều đó.

Một, câu đầu tiên của bài Quốc ca:

"Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốc"

Vào đề như vậy, tác giả cho thấy ngay một rừng người cùng đồng lòng thực hiện mục tiêu vĩ đại nhất là "Cứu quốc". Đó là nhiệm vụ cao cả nhất, thiêng liêng nhất của mọi người dân yêu nước.

"Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa"

Với câu này, tác giả không chỉ cho tất cả mọi người hình dung ra một con đường cứu quốc không hề bằng phẳng mà luôn gập ghềnh, chông gai. Cái tài nhất, xuất sắc nhất của tác giả trong câu này là giúp cho ta hình dung một âm thanh cộng hưởng của hàng đoàn người hành quân. Âm thanh đó rầm rập, vang rền như sóng cuộn, tự điều đó đã tạo ra như sự chấn động, như long trời lở đất mà không có sức mạnh nào ngăn cản nó. Khi kẻ thù chỉ nghe âm thanh ấy thôi cũng đã bạt vía, kinh hồn chứ đừng nói gì đến đánh đấm. Đó là những bước chân oai hùng của đoàn quân trùng trùng điệp điệp của cả một dân tộc. Câu này vô cùng đắt giá.

Còn lại, bài ca khẳng định rằng không có thành quả nào trong việc bảo vệ đất nước mà không được đổi bằng máu. Điều này thì trong hầu hết các bài quốc ca trên thế giới đều cũng khẳng định như vậy. Ngoài sự khẳng định đó còn có nghĩa ghi nhớ công lao của những người đã ngã xuống vì đất nước và dân tộc.

Do vậy câu : "Đường vinh quang xây xác quân thù" là chân lý tuyệt đối. Không có kẻ thù nào cho không chúng ta bất cứ thứ gì. Chúng là kẻ cướp, không buộc chúng trả giá thì đồng nghĩa với việc mất nước. Đây không phải là một thái độ khát máu mà còn là tri ân, là sự biết ơn. Nó cũng như tưởng nhớ về cha ông đã làm nên lịch sử. Đó cũng là hàm ý nhắc tới lịch sử khi coi lá cờ "mang hồn nước" mà chúng ta có được hôm nay là được in lên đó, nhuộm lên đó bằng máu của những người anh hùng.

Hai, nói về tính thực tại?

Tác giả thật sự là người ý thức sâu sắc một tiến trình lịch sử lâu dài của dân tộc, thấm thía với những cay đắng của quá khứ mà không bao giờ chủ quan. Muốn giữ vững bờ cõi non sông đất nước buộc mỗi con người luôn phải cảnh giác, luôn phải thường trực một tinh thần kháng chiến và không bao giờ được thỏa mãn hay lơ là chiến đấu. Câu: "Thắng gian lao bền gan lập chiến khu" là với mục đích và ý nghĩa đó. Bác Hồ đã góp ý sửa hai chữ "Bền gan" thành "Cùng nhau". Có thể hiểu ý của Bác là : Chỉ cần "cùng nhau" là được vì "Bền gan" làm việc đó ít nhiều cũng làm cho có cảm giác nặng nề và mệt mỏi vì mọi người dân không muốn điều đó luôn xảy ra với đất nước. Hơn nữa con người cũng mơ, cũng muốn có nhiều việc khác để làm chứ không chỉ là chiến đấu. Chỉ thay đổi vài chữ nhưng nó giúp cho chúng ta có nhiều niềm tin và lạc quan hơn.

Ba, nói về tương lai?

"Vì nhân dân chiến đấu không ngừng

Tiến mau ra sa trường

Tiến lên, cùng tiến lên

Nước non Việt Nam ta vững bền".

Với nhiệm vụ này dân tộc Việt Nam làm cho tới khi nào mới xong, mới kết thúc? Trăm năm, ngàn năm hay là mãi mãi?

Rõ ràng với một bài ca ngắn, chỉ mười câu mà nói lên được quá khứ lịch sử, nói được những việc cần làm trong hiện tại và nói luôn được cả sứ mệnh cho mãi mãi tương lai mai sau thì mấy người viết được?

Nhạc sỹ Văn Cao đã để lại cho dân tộc Việt Nam một bài quốc ca bất hủ. Bài Quốc ca này đã hoàn thiện đến mức không thể hoàn thiện hơn nữa; hoàn hảo đến mức không thể hoàn hảo hơn nữa vì nó không những đúng với lịch sử, đúng với thời đại mà ta đang sống và nó sẽ luôn luôn đúng cho muôn đời con cháu mai sau. Do vậy không có bất kỳ ai đủ tư cách để đòi sửa lại bài quốc ca này.

TMT

Đâu là nguyên nhân “cuộc chiến” khí gas giữa Nga và Ukraina?

 


Tiếp sau những mâu thuẫn về khí gas trước đây giữa Nga và Belarus, cuộc đối đầu mới trong lĩnh vực này giữa Nga và Ukraina lại khiến cho cả châu Âu phải lo ngại. Điều may mắn là sau khi cuộc khủng hoảng gần như lên tới đỉnh điểm, hai tập đoàn đối tác hàng đầu của Nga (Gazprom) và Ukraina (Naftogaz) đã kịp thời có được những thỏa hiệp quan trọng.

Theo đó, phía Nga đã khôi phục hoàn toàn lượng khí gas cung cấp (đã bị giảm xuống tới 50% kể từ hôm 4/3), còn Ukraina từ bỏ kế hoạch cắt đứt đường nhiên liệu trung chuyển qua nước này tới các bạn hàng châu Âu của Nga.

Tuy nhiên, những vấn đề gây tranh cãi giữa hai bên vẫn chưa thể được giải quyết một cách triệt để. Nhiều người còn nhìn nhận đây là một thách thức không nhỏ đối với tân Tổng thống Nga Medvedev trong tương lai.

Bắt đầu từ hôm 4/3, Gazprom tuyên bố đã cắt giảm 25% lượng khí gas cung cấp cho Ukraina. Lý do được tập đoàn này đưa ra là Chính phủ Ukraina đã cố tình lờ đi khoản nợ tiền khí gas đã được cung cấp, đồng thời từ chối ký kết hợp đồng mới.

Cụ thể là Nga buộc tội Ukraina đã không chịu trả khoản nợ tiền khí gas hiện đã lên tới 1,9 tỉ USD. Kết quả này đồng nghĩa với việc Ukraina chỉ nhận được 69,3 triệu m3 khí gas một ngày đêm thay vì chỉ số tiêu thụ thông thường là 156 triệu m3 mỗi ngày.

Để phản ứng lại, Naftogaz của Ukraina đưa ra thông báo khẳng định, việc hạn chế cung cấp khí gas cho Ukraina là trái với các nguyên tắc chính về các điều kiện kỹ thuật mà tập đoàn này đã ký kết với Gazprom, giúp đảm bảo việc trung chuyển khí gas liên tục và thông suốt tới các bạn hàng tại châu Âu với điều kiện phải đảm bảo cân bằng nhu cầu khí gas cho Ukraina.

“Nếu như Gazprom vẫn tiếp tục vi phạm những thỏa thuận kỹ thuật đã ký giữa hai công ty bằng cách giảm bớt lượng khí gas cung cấp cho Ukraina, Naftogaz có quyền áp dụng các biện pháp trả đũa thích hợp để bảo vệ quyền lợi cho những người tiêu dùng của mình” – đại diện Naftogaz nhấn mạnh, đồng thời còn đe dọa cắt đứt đường ống trung chuyển khí gas của Nga cho các nước châu Âu đi qua Ukraina.

Trước tình hình này, Liên minh châu Âu (EU) ngay lập tức đã bày tỏ mối lo ngại về cuộc xung đột khí gas này. “Chúng tôi kêu gọi các bên cần nhanh chóng tìm ra giải pháp cho tranh chấp thương mại này” – đại diện chính thức của Ủy ban châu Âu Michel Chercone phát biểu, đồng thời nhấn mạnh rằng, đây không chỉ đơn thuần là một cuộc tranh chấp thương mại giữa hai tập đoàn của Nga và Ukraina.

Các quan chức EU còn tuyên bố, sẵn sàng đứng ra tổ chức một hội nghị bất thường của Hội đồng điều phối khí gas trong Ủy ban châu Âu để xem xét khả năng giải quyết xung đột.

Không phải không lường trước về hậu quả nghiêm trọng của cuộc xung đột này, hai Tổng thống của Nga và Ukraina đã có cuộc hội đàm trực tiếp qua điện thoại từ hôm 3/3 với hy vọng ngăn chặn những biện pháp trả đũa của cả hai bên. Kết quả cuộc điện đàm có lẽ đã không như ý muốn, khi chỉ một ngày sau Gazprom đã hiện thực hóa những lời cảnh báo của mình.

Khi “mọi chuyện đã rồi”, nhiều nguồn tin tại Kiev còn đánh giá, cuộc xung đột khí gas trên là hậu quả trực tiếp từ những bất đồng của giữa Thủ tướng Yulia Timoshenko và Tổng thống Viktor Yushchenko – thể hiện rõ từ chuyến công du bất ngờ của bà Timoshenko vào tháng trước tới Nga với mục đích xem xét lại những thỏa thuận về khí gas đã được ký kết giữa hai Tổng thống Putin và Yushchenko.

Theo như đánh giá của các chuyên gia am hiểu, một trong những nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng này thực ra bắt nguồn từ tình trạng mập mờ và rắc rối trong hệ thống các nhà trung gian thương mại giữa hai tập đoàn Gazprom và Naftogaz.

Để giải quyết tình trạng này, Tổng thống Yushchenko chỉ muốn thay thế nhà trung gian hàng đầu, trong khi Thủ tướng Timoshenko lại nhất quyết loại bỏ tất cả các công ty trung gian trong việc mua khí gas của Nga. Cũng từ lý do này, đã xuất hiện không ít những tin đồn về khả năng ra đi của Thủ tướng Timoshenko, và việc Tổng thống Yushchenko đang nghiên cứu chọn lựa thủ tướng khác.

Dù sao, khi đã nhận thức được những hậu quả mà cả hai bên sẽ phải gánh chịu nếu không nhanh chóng tìm ra giải pháp, Nga và Ukraina đã thống nhất được một số nhượng bộ chung ban đầu. Mọi chuyện chỉ thực sự tiến triển, sau cuộc điện đàm mới nhất giữa Tổng thống Putin và Tổng thống Yushchenko, tiếp đó là cuộc đàm phán giữa hai quan chức lãnh đạo Gazprom và Naftogaz.

Cụ thể là Gazprom đã từ bỏ việc giảm bớt 50% lượng khí gas cung cấp cho Ukraina, trong khi Naftogaz cam kết sẽ đảm bảo đầy đủ số khí gas trung chuyển qua lãnh thổ nước mình tới châu Âu. Tập đoàn của Ukraina cam kết sẽ chi trả số tiền khí gas được cung cấp từ đầu năm cho tới tháng 3/2008, trước khi hai bên đạt được các thỏa thuận điều chỉnh giá về sau.

Tuy nhiên, cho tới thời điểm này, một loạt vấn đề tranh cãi của cả hai bên – ký kết thỏa thuận cung cấp khí gas của năm 2008, trả nợ, cũng như lộ trình cung cấp gas trong năm nay – vẫn chưa có được sự thống nhất triệt để, nhất là về vấn đề giá cả. Phía Nga đang yêu cầu Ukraina trả tiền khí gas theo giá tương tự như của châu Âu, tức là 314,5 USD cho 1.000m3.

Các nhà quan sát đều cho rằng, cuộc khủng hoảng khí gas giữa Nga - Ukraina lần này là thử thách đầu tiên đối với Tổng thống mới được bầu Medvedev, người ngay từ thời điểm tranh cử đã khẳng định quyết tâm theo đuổi chính sách đối ngoại cương quyết của người tiền nhiệm Vladimir Putin, mà một trong số đó là không thể “mềm hóa” chính sách “ngoại giao năng lượng” của nước Nga./.NVS

Nguyên nhân sự đối đầu giữa Nga và phương Tây

 


  Thời gian qua, một trong những chủ đề “hot” trên các mặt báo cũng như các chương trình thời sự là cuộc khủng hoảng Ukraine và “cuộc chiến” giữa Nga và phương Tây. Là một quốc gia có diện tích rộng nhất thế giới, 3/4 lãnh thổ Nga nằm ở Châu Á, nhưng 3/4 dân số nước này lại sống ở phần lãnh thổ Châu Âu. Ngoài các liên kết lịch sử và văn hóa, Châu Âu còn chiếm hơn một nửa giao dịch thương mại của Nga. Tuy nhiên, dường như giữa Nga và Phương Tây luôn tồn tại những bất hòa mang tính truyền thống và có thể bùng phát bất cứ lúc nào.

Mối quan hệ hai bên ngày càng xấu đi trong những năm gần đây, nhất là trong vấn đề Ukraine hiện nay, có thể nói là căng thẳng nhất kể từ sau chiến tranh lạnh. Sự đối đấu này là tàn dư của chiến tranh lạnh, cũng là tàn dư của sự đối đầu Xô – Mỹ, là những mâu thuẫn lợi ích khi Nga phục hưng vai trò cường quốc trên thế giới với những nhà lãnh đạo có quan điểm cứng rắn với phương Tây.

Nguyên nhân sự đối đầu giữa Nga và phương Tây

1. Tàn dư của sự đối đầu Xô – Mỹ

Có thể nói, những mâu thuẫn giữa Nga – Mỹ với phương Tây là “bóng ma” của quá khứ, là tàn dư của sự đối đầu giữa Liên Xô với Mỹ và phương Tây, là tàn dư của sự đối đầu giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Cuộc đối đầu giữa Liên Xô và Mỹ, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản không phải chỉ bắt đầu từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, mà nó nảy sinh ngay từ sau Cách mạng tháng Mười Nga (1917) với sự ra đời của nước Nga Xô-viết. Lúc bấy giờ, các nước tư bản phương Tây đã tập trung lực lượng và tìm mọi cách để “bóp chết” nước Nga Xô-viết còn non trẻ.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô và các nước Mỹ, Anh, Pháp liên minh với nhau để chống phát-xít, nhưng mâu thuẫn giữa Liên Xô và các nước tư bản này vẫn luôn tồn tại. Khi chiến tranh kết thúc, chủ nghĩa phát-xít bị tiêu diệt, thì mâu thuẫn giữa Liên Xô và các nước Mỹ, Anh, Pháp lại nổi lên. Các nước này từ quan hệ đồng minh chuyển sang quan hệ đối đầu. Trong đó, Liên Xô đảm nhận vai trò là “thành trì của chủ nghĩa xã hội”, còn Mỹ “đảm nhận sứ mạng lãnh đạo thế giới tự do” giúp đỡ các dân tộc thế giới chống lại “sự đe dọa” của chủ nghĩa cộng sản và sự “bành trướng” của nước Nga. Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh lạnh chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.

Để thực hiện “chính sách ngăn chặn” của mình, Mỹ và các nước phương Tây đã thành lập các khối quân sự và các căn cứ quân sự khắp nơi trên thế giới, hình thành thế bao vây, cô lập Liên Xô và và các nước xã hội chủ nghĩa. Sự ra đời của hai khối quân sự lớn nhất toàn cầu (NATO và Vacsava) do Mỹ và Liên Xô đứng đầu đối địch nhau, đều chạy đua vũ trang, trang bị những vũ khí hiện đại, nhất là vũ khí hạt nhân để tăng cường sức mạnh của khối mình.

Sau năm 1991, Liên Xô tan rã, và nước Nga cũng không phải là thành trì của chủ nghĩa cộng sản, nhưng không thể phủ nhận rằng, nước Nga hiện nay là hiện thân của một Liên Xô hùng cường trước đây, thay thế vai trò của Liên Xô tại Liên Hợp quốc.

Sau khi Liên Xô tan rã, khối quân sự Vacsava – đối trọng của NATO - cũng giải thể, nhưng NATO không những vẫn tồn tại mà còn ngày càng bành trướng sang phía Đông, đe dọa an ninh của Nga. Tất nhiên, để bảo vệ những lợi ích cốt lõi của mình, Nga không thể khoanh tay ngồi nhìn phương Tây muốn làm gì thì làm. Do đó, cũng giống như nước Đức bị chia cắt trước đây, cuộc khủng hoảng Ukraine hiện nay cho thấy cuộc chiến giành giật ảnh hưởng sẽ ngày càng trở nên khốc liệt và làm tái hiện phiên bản của sự đối đầu Đông – Tây, vốn là bản chất của thời chiến tranh Lạnh.

2. Sự phục hưng của cường quốc Nga như một đối trọng với phương Tây

Dưới thời Putin, Nga là hiện thân của một cường quốc hàng đầu, là trung tâm của an ninh Âu - Á, ngày càng khẳng định mình như một cực trong sự đối trọng với phương Tây. Trong khi đó, sự hồi sinh của một cường quốc “khó bảo” như Nga là điều Mỹ và EU không mong muốn. 

Trong khi Mỹ cố gắng duy trì trật tự thế giới đơn cực do Mỹ cầm đầu, Nga lại cực lực phản đối trật tự đơn cực này và chủ trương một thế giới đa cực, trong đó phát huy vai trò của Nga trên trường quốc tế. Nhiều quyết định của Mỹ và phương Tây vấp phải sự phản đối của Nga cũng như sự phủ quyết của quốc gia này tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc.

Trong khi Mỹ liên tục đưa ra những kế họach cắt giảm ngân sách quốc phòng, cũng như sự hiện diện của quân đội Mỹ trên thế giới, Nga lại không ngừng gia tăng chi tiêu quân sự và năng lực tác chiến. Thực lực cũng như chiến lược quân sự của Nga đã có những thay đổi quan trọng, theo chiều hướng bất lợi cho phương Tây, nhất là trong việc sử dụng vũ khí hạt nhân như một biện pháp ngăn chặn chiến tranh cơ bản. Trang bị kỹ thuật cũng như trình độ tác chiến của quân đội Nga ngày càng tăng. Nhìn từ cuộc chiến tại Chesinia những năm 90, cuộc chiến tại Gruzia năm 2008 đến chiến dịch thu hồi Crime mới đây cho thấy rõ năng lực ngày càng tăng của quân đội Nga.

Mỹ và EU, một mặt cần hợp tác với Nga cho phát triển kinh tế của mình, mặt khác, luôn tìm cách kìm chế Nga, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh và lợi ích của Nga trên thế giới. Vì thế, cô lập nước Nga, làm cho nước Nga suy yếu, thậm chí khủng hoảng luôn là mong ước của các nước này.

Trong một bài viết trên tờ Kommersant, Ngoại trưởng Nga Lavrov nhận định, dường như các đối tác phương Tây và Mỹ đang theo đuổi cách phản ứng mang tính phản xạ dựa trên nguyên tắc đơn giản “chúng ta chống lại bọn họ” và không thực sự nghĩ về tác động lâu dài của điều họ đang làm.

Trên thực tế, Mỹ và phương Tây liên tiếp có những động thái đe dọa, tấn công đồng minh của Nga như Liên bang Nam Tư, Syria,…, lôi kéo các nước SNG khỏi tầm ảnh hưởng của Nga, nhằm cô lập Nga. Khi nhìn vào những chiến lược trên của phương Tây ở Ukraina, các nhà lãnh đạo Nga không khỏi lo lắng rằng đất nước của họ có thể sẽ trở thành “nạn nhân” tiếp theo. Tất nhiên, hành động của phương Tây vấp phải sự phản đối và những biện pháp chống trả của Nga như những “phản ứng tương ứng” với những động thái mang tính lấn lướt của phương Tây. Đó cũng chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng tại Ukraine hiện nay.

Như vậy, sự lớn mạnh của một nước Nga ngày càng muốn khẳng định mình, cùng với bành trướng của một NATO và Mỹ - EU muốn duy trì vị trí số một, là một trong những nguyên nhân gây ra sự đối đầu Nga – phương Tây

3. Putin - nhà lãnh đạo cứng rắn

Sự đối đầu giữa các quốc gia còn do một nguyên nhân nữa đó là sự đối đầu giữa các nguyên thủ. Điều này thực ra là sự mở rộng các phân tích trên, nhưng trong nhiều trường hợp lại đóng vai trò quan trọng; ví như nước Nga, nếu không phải Putin mà là một lãnh đạo khác mềm mỏng hơn, “dễ bảo” hơn thì tình hình có thể đã khác. Tất nhiên khi ấy, nước Nga sẽ phải đánh đổi nhiều lợi ích cốt lõi.

Tuy nhiên, nước Nga trên thực tế thì không như vậy. Trong trường hợp hiện nay, dù không phải Putin thì cũng không có nhà lãnh đạo Nga nào chịu được một liên minh quân sự được xem là kẻ thù của Moskva di chuyển tới Ukraina. Cũng không có bất kỳ nhà lãnh đạo Nga nào chịu đứng yên, trong khi phương Tây đang có âm mưu cài đặt một chính phủ có mục đích đưa Ukraina về phe của phương Tây. Trong khi Putin là một nhà lãnh đạo cứng rắn, nhất là trong mối quan hệ với phương Tây.

Đầu năm 2000, ngay sau khi mới nhận chức tổng thống, trong bài diễn văn mang tựa đề “Nước Nga vào thời buổi chuyển giao thiên niên kỷ”, Putin đã tỏ rõ lập trường của mình rằng đừng trông đợi nước Nga sẽ đi theo mô hình của Mỹ hoặc châu Âu và rằng “Nước Nga trong quá khứ và trong tương lai cũng sẽ là một đất nước vĩ đại” . Dưới con mắt của Putin, ông đã nhận ra thật đáng hổ thẹn nếu không làm cho nước Nga trở lại địa vị một cường quốc uy nghiêm, ông đã nhận ra bộ mặt thật của phương Tây khi họ dùng tiền bạc làm mồi nhử để buộc nước Nga tuân theo sự chi phối của họ. Ông đã sớm nghĩ đến việc khôi phục địa vị hùng cường của nước Nga. Cho nên, dù nước Nga có nhiều lợi ích với phương Tây, nhất là với EU (kim ngạch thương mại song phương năm 2013 đạt 336 tỷ Euro), nhưng Putin không ngại đối đầu và luôn chuẩn bị tâm lý sẵn sàng cho mối quan hệ “cơm không lành, canh chẳng ngọt”. Quan điểm cứng rắn ấy đã dập tắt niềm hy vọng của phương Tây về một nước Nga “thân thiện” và “dễ bảo”.

Ngược lại, phương Tây cũng chẳng ưa gì Putin. Đối với họ, Putin như cái gai trong mắt, có điều không dễ để nhổ bỏ như họ đã từng làm ở Pakixtan, Irak, Lybi, Ukraine... Sau khi bị Putin đẩy vào thế bị động trong vấn đề Syria, hao hụt thanh danh trong bê bối mang tên E.Snowden, Mỹ và phương Tây đang muốn sử dụng những cấm vận kinh tế hòng làm cho nước Nga lâm vào khủng hoảng và “tự diễn biến”. Nhưng, những động thái “ăn miếng, trả miếng” của Putin cũng đang khiến phương Tây lao đao, bất hòa.

Tóm lại, sự đối đầu giữa Nga với phương Tây là hệ quả của sự đối đầu Xô – Mỹ từ chiến tranh lạnh cộng với những mâu thuẫn lợi ích cốt lõi giữa các cường quốc và quan điểm cứng rắn của các nhà lãnh đạo Nga. Trong các nguyên nhân đã phân tích trên, có thể tóm lại một nguyên nhân cơ bản, đó chính là những mâu thuẫn về lợi ích. Tất nhiên, đối với nước Nga, lợi ích không chỉ dừng lại ở khía cạnh kinh tế, mà quan trọng nhất đó là niềm tự hào quốc gia và văn hóa. Đó là điều thúc đẩy Tổng thống Putin đối chọi với phương Tây, bất chấp những tổn thất về kinh tế./.NVS

 

BÀI HỌC TỪ UKAINA


Báo chí loan tin 1.500 tấn vũ khí, đạn dược do Mỹ và các nước phương Tây viện trợ đã ồ ạt đưa đến Ukraina để hỗ trợ nước này để “tự vệ” trước nguy cơ bị Nga tấn công quân sự. Nếu chỉ nhìn vào truyền thông, chúng ta sẽ thấy một cuộc chạy đua vũ trang giữa Nga với Mỹ và phương Tây trong thế giới hiện đại và Ukraina chính là quân cờ.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

“Bác mong Không quân có nhiều Cốc hơn nữa”.

Đây là lời động viên, khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với Quân chủng Phòng không - Không quân tại Hội nghị gặp mặt các anh hùng Quân đội thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân, ngày 16 tháng 2 năm 1969. Đây là thời điểm quân và dân hai miền Nam - Bắc giành được nhiều thắng lợi quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam.
Lời động viên, khen ngợi trên không những ghi nhận thành tích xuất sắc của Quân chủng Phòng không - Không quân nói chung, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Cốc nói riêng mà còn có ý nghĩa vô cùng to lớn khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức đồng tâm, hiệp lực đánh bại mưu đồ của đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai leo thang phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân nhằm đè bẹp ý chí, quyết tâm đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta. Lời khen ngợi “Bác mong Không quân có nhiều Cốc hơn nữa” còn là động lực chính trị tinh thần lớn lao, thôi thúc toàn quân, trong đó trực tiếp là Quân chủng Phòng không - Không quân nêu cao quyết tâm, tự hào với truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, kiên quyết một lòng sắt son với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, khẳng định, giá trị trường tồn về thắng lợi của chiến tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam anh hùng chống lại chiến tranh phi nghĩa.
Ngày nay, tình hình thế giới và trong nước còn nhiều diễn biến phức tạp, tranh chấp chủ quyền biển đảo, nguy cơ chiến tranh xâm lược do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành, vẫn còn hiện hữu. Vì thế, lời động viên, khen ngợi “Bác mong Không quân có nhiều Cốc hơn nữa” vẫn giữ nguyên giá trị, tiếp tục được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta khơi dậy mạnh mẽ trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Với lịch sử hào hùng và truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, Quân chủng Phòng không - Không quân đã và đang ra sức xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để mãi mãi xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, hiện thực hóa lời mong của Bác “có nhiều Cốc hơn nữa”, xứng đáng là Quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Theo binhchunghoahoc

“Tưởng” thế là... sai rồi!!!

 

Thấy nhà hàng xóm có tiếng trò chuyện rôm rả, tôi hé cửa nghe và nhận ra tiếng bác Minh chủ nhà đang khoe với khách: “Tối qua tôi vừa xuống thăm, động viên thằng cháu họ chuẩn bị lên nhập ngũ, thấy cu cậu phấn khởi lắm. Thật xứng đáng với truyền thống gia đình có ông nội, rồi bố cu cậu trước đây từng viết đơn tình nguyện đi bộ đội”.

Những luận điệu sai lệch về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng

 Những ngày qua, đất nước phấn khởi chào đón mùa xuân mới, cũng là dịp kỷ niệm 92 ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Vai trò, vị trí lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Thực tiễn quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, vào mỗi dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động lại gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá, đưa ra những luận điệu xuyên tạc hòng làm lung lạc về nhận thức, niềm tin đối vai trò, vị trí cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Từ đó, chúng tích cực vận động, tập trung lực lượng, đẩy mạnh hoạt động chống phá hòng làm thay đổi chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là âm mưu, luận điệu nguy hiểm, cần được nhận diện, đấu tranh, phản bác trong công tác tư tưởng hiện nay. Những luận điệu này tập trung ở những điểm sau đây:

Một là, các đối tượng xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ  nhận cơ sở lý luận về vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những chiêu bài mà chúng sử dụng không mới nhưng ngày càng tinh vi và thâm độc hơn. Các đối tượng lập luận, tuyên truyền, cổ vũ cho việc từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, cho rằng đây là sự sai lầm về ý thức hệ; rêu rao học thuyết Mác - Lênin là một “lý thuyết suông” về CNXH không tưởng, không bao giờ thực hiện được.

Cho rằng sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu, Liên Xô và trên toàn thế giới là một tất yếu, là sự cáo chung đã được báo trước; xuyên tạc lý luận về CNXH đã lỗi thời, không còn phù hợp với thế kỷ XXI, đặc biệt không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay và cần loại bỏ. Tầm thường hóa, phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh; cố tình xuyên tạc Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp là nguyên nhân gây ra cảnh “huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt” trước đây, làm đất nước nghèo nàn, lạc hậu…

Vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong điều kiện khủng hoảng về đường lối cứu nước, đã xuất hiện nhiều khuynh hướng đấu tranh, nhiều lực lượng cách mạng, tuy nhiên đều không thể giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Chỉ khi Nguyễn Ái Quốc tìm ra chân lý con đường cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự ra đời, lãnh đạo, đoàn kết, tập hợp lực lượng của Đảng đã dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đem lại vị thế, cơ đồ đất nước như ngày hôm nay. Thực tiễn khách quan là minh chứng khẳng định rõ, không thể nói chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm ý thức hệ, sai lầm lịch sử như các luận điệu chống phá.

Hai là, các đối tượng cố gắng lập luận, quy kết thể chế chính trị ở Việt Nam tạo lập vị trí của Đảng đứng trên Hiến pháp, cho rằng Đảng đã và đang tham nhũng quyền lãnh đạo, cai trị đất nước, chuyên quyền, độc đoán.

Chúng ta đều biết, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua bao giông tố, thác ghềnh, đưa dân tộc Việt Nam tới những thắng lợi hiển hách, thống nhất non sông đất nước, mang lại độc lập cho dân tộc. Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Với cơ sở như vậy thì luận điệu rêu rao “trong thể chế chính trị ở Việt Nam, Đảng đứng trên Hiến pháp, tham nhũng quyền lãnh đạo, và bám giữ quyền cai trị đất nước; một thể chế độc đảng là chuyên quyền, độc đoán” là hoàn toàn sai trái. Rõ ràng, luận điệu này nhằm mục đích phá hoại, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Ba là, dưới chiêu bài góp ý về đổi mới thể chế chính trị Việt Nam, các đối tượng đưa ra những luận điệu chống phá núp dưới dạng kiến nghị, đòi hỏi phải “đổi mới chính trị” bằng cách phải thực hiện thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Trước hết, cần thấy rằng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nằm trong âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” mà mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị, hướng lái cách mạng Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Từ đó, chúng đòi hỏi phải thực hiện xóa bỏ ngay Điều 4 của Hiến pháp. Thực chất luận điệu này là tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và công khai hóa, hợp pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập, từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo, tiến tới thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng rêu rao nước ta vẫn còn tình trạng khủng hoảng, đói nghèo là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên nền tảng tư tưởng chính trị là chủ nghĩa Mác-Lênin mà Đảng Cộng sản áp đặt trên đất nước Việt Nam. Chúng tập trung xuyên tạc vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, vu cáo rằng đó là chiếm quyền để cai trị nhân dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, "độc đoán, đảng trị"… Luận điệu này xuyên tạc bản chất chính trị, hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, đẩy quần chúng, nhân dân xa rời, đối lập với Đảng, thúc đẩy thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Lịch sử diễn ra tại Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã chỉ ra bài học xương máu, chứng minh rõ âm mưu, ý đồ thâm độc này. Sau khi Điều 6 Hiến pháp Liên Xô bị xóa bỏ, ngay lập tức, các đảng phái xuất hiện “như nấm sau mưa”, ngoài Đảng Cộng sản Liên Xô còn có tới 153 tổ chức đảng phái khác ra đời và cạnh tranh vai trò lãnh đạo với Đảng Cộng sản. Đến đầu năm 1991, sự tồn tại của Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ còn trên danh nghĩa và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào cuối năm 1991 là tất yếu, khi Đảng Cộng sản đã mất quyền lãnh đạo. Không đi theo “vết xe đổ của Liên Xô”, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng và Nhà nước là yêu cầu có tính nguyên tắc. 

Bốn là, các đối tượng lợi dụng những vấn đề mang tính tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội như thiếu sót, bất cập trong cơ chế, chính sách, tình trạng tham nhũng... để hướng lái, xuyên tạc bản chất của chế độ, quy tiêu cực do hệ quả sự lãnh đạo của Đảng.

Trong quá trình đổi mới, các lĩnh vực của đời sống xã hội vừa được xây dựng, tổng kết, rút kinh nghiệm và từng bước hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn. Những vấn đề như kinh tế thị trường định hướng XHCN còn những hạn chế, hoàn thiện còn chậm; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ; nhiều cơ chế, chính sách chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới. Cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đạt mục tiêu. Kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hiệu quả hoạt động chưa cao; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí mặc dù đạt được những kết quả tích cực song còn nhiều tồn tại, hạn chế; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn những bất cập… Dựa vào những hạn chế, tồn tại nói trên, các thế lực thù địch lợi dụng để suy diễn, xuyên tạc, thổi phồng dưới nhiều hình thức khác nhau. Chúng lập luận, quy chụp bằng những luận điệu chính trị hóa, cho rằng đó là bản chất của chế độ XHCN và là hậu quả của Đảng. Những luận điệu này làm cho những người không có tư tưởng chính trị vững vàng dễ bị lầm tưởng, hồ nghi, thậm chí xét lại, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị.

Tổng kết 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng đánh giá:“Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN”. Có được những thành tựu trên đây là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, kiên định, đấu tranh, hy sinh, thực hiện con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình” mà Đảng lựa chọn.

Chiêu trò lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước

 Để chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch từ lâu xem tôn giáo là một trong những mũi nhọn để công kích, chống phá. Những đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ XHCN dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò của Đảng, Nhà nước ta.

Do vậy, cần nhận diện âm mưu thủ đoạn, hoạt động chống phá:

Trước hết, các thế lực thù địch đi sâu tuyên truyền, gieo rắc tâm lý cho rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo; công dân theo đạo không được xét, kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam”; cố gắng tạo ra khoảng cách cũng như dùng các thủ đoạn làm tăng sự đối kháng giữa tôn giáo với đời sống hiện thực để kích động tôn giáo chống lại Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch không những phủ nhận những kết quả trong công tác tôn giáo mà còn ra sức lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá sự nghiệp cách mạng với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt; khi thì bí mật, lúc thì trắng trợn, công khai.

Thứ hai, xây dựng các tổ chức lấy danh xưng tôn giáo cùng với việc thiết lập các trang mạng xã hội như: Youtube, facebook, blog… để phát tán, đăng tải các video, hình ảnh, bài viết với danh nghĩa các tôn giáo để đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Họ đi sâu vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước ta, thậm chí cố tình “diễn trò”, lợi dụng về đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng hay tìm mọi cách chia rẽ các tôn giáo với nhau, chia rẽ người có tôn giáo với người không có tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận nhân dân với hệ thống chính trị.

Thứ ba, các tôn giáo ở Việt Nam đều có mối quan hệ quốc tế sâu sắc. Đây chính là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng mọi chiêu trò để vu khống Đảng, Nhà nước ta “xâm phạm quyền tự do, đàn áp tôn giáo”; từ đó, kêu gọi các tổ chức, cộng đồng quốc tế lên tiếng, can thiệp.

Thứ tư, lôi kéo, cổ súy, hậu thuẫn cho một số linh mục, chức sắc tôn giáo có nhiều tham vọng chính trị và lợi dụng đức tin của các tín đồ đã tuyên truyền, xuyên tạc hết sức phản động về Đảng, chế độ, chính quyền các cấp; ngang nhiên phát thư ngỏ trên mạng xã hội, kêu gọi, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối.

Thứ năm, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc song phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đời sống dân trí và các hoạt động xã hội giữa thành thị với nông thôn, miền xuôi với miền núi, vùng có đạo và không có đạo còn có sự chênh lệch. Các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao, địa bàn có vị trí chiến lược nhưng điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Dựa vào đặc điểm địa lý; khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch đã lợi dụng để hình thành, phát triển những tôn giáo cực đoan, dị dạng trái với các giá trị văn hóa của tôn giáo, đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc, từ đó thúc đẩy kết hợp chống phá sự nghiệp cách mạng cả về vấn đề dân tộc và tôn giáo.

Trước những vấn đề trên cần nhìn nhận như sau:

Một là, cần thấy rằng, trong lịch sử xã hội loài người, tôn giáo có vị trí, vai trò lớn, có những đóng góp quan trọng vào giá trị văn hóa nhân loại và ở Việt Nam cũng vậy. Trong tiến trình đi lên CNXH, tôn giáo luôn được thừa nhận và bảo vệ theo đúng quan điểm của Đảng, Nhà nước ta. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến tôn giáo, Người khẳng định mỗi tôn giáo đều có những ý nghĩa tốt đẹp, trong đó: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”. Đồng bào các tôn giáo từ xưa đến nay là bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Năm 1952, trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, khi đề cập đến Tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:“Phần lớn đồng bào tôn giáo, nhất là các tầng lớp lao động đều yêu nước kháng chiến”. Hiện nay, các tôn giáo ở Việt Nam đã xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc. Các tổ chức tôn giáo tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp, như:“Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”của Phật giáo;“Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”của Công giáo;“Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc”của đạo Tin lành;“Nước vinh, đạo sáng”của đạo Cao Đài;“Vì đạo pháp, vì dân tộc”của Phật giáo Hòa Hảo...

Hai là, kế thừa tư tưởng đó của Người, trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, Đảng, Nhà nước ta vừa quan tâm, chăm lo, bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo, vừa tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân về đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa quan tâm tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để các tôn giáo hoạt động, phát triển bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật. Điều này thể hiện rõ trong quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước ta.

Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một chính sách nhất quán của Đảng ta kể từ khi thành lập đến nay, là một nội dung cốt lõi trong quan điểm, chính sách của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong các giai đoạn cách mạng, quan điểm, nhận thức của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo luôn có sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thực tiễn cách mạng Việt Nam, cũng như thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước.

Điều 24 Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được nhìn nhận là quyền tự nhiên của con người - tức đã là con người, ai cũng được thụ hưởng, đó là quyền bẩm sinh của con người, con người sinh ra đã có quyền đó. Một điểm nữa để khẳng định rõ hơn chính sách tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là việc có nhiều hơn những người theo tôn giáo được kết nạp Đảng.

Văn kiện Đại hội XII chỉ rõ: “Số đảng viên mới kết nạp là đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, nữ, trí thức, học sinh, sinh viên, dân tộc thiểu số, người theo tôn giáo, người lao động trong các thành phần kinh tế và chủ doanh nghiệp tư nhân tăng hơn so với khóa trước”.

Ba là, tính tới nay, theo Cục An ninh Nội địa (Bộ Công an), Việt Nam đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 60 cơ sở đào tạo với 55.000 chức sắc, 145.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự. Khoảng 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân. Tính đến năm 2018, có 12 báo, tạp chí liên quan tôn giáo. Phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng.

Việc ra đời các tổ chức tôn giáo phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được công nhận.

Trong hơn 5 năm qua, hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in, hàng triệu CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức ở Việt Nam như Đại lễ Phật đản Vesak, 500 năm cải chính đạo Tin lành…Điều đáng nói, tự do tôn giáo các dân tộc thiểu số luôn được bảo đảm: Năm 2017, Giáo hội Phật giáo Việt Nam triển khai xây dựng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ; ở Bình Phước và Tây Nguyên có 33 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành đang sinh hoạt tại 304 chi hội và hơn 1.300 điểm nhóm; ở Tây Bắc có 693 điểm nhóm Tin lành, 8 Hội thánh cơ sở được thành lập; nhiều điểm nhóm của người dân tộc thiểu số theo Hội thánh Lutheran, Hội Liên hữu Baptist Việt Nam đã đăng ký sinh hoạt tập trung...

Quan trọng hơn, các tôn giáo được tự do hành lễ, dù ở nhà riêng hay các nơi thờ tự; được tạo điều kiện mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự, được mở các trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển của Giáo hội, được Nhà nước tạo điều kiện phát triển các quan hệ giao lưu quốc tế…Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động đã xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo đậm chất nhân văn tôn giáo và trách nhiệm với đất nước, dân tộc.

Phủ nhận quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước cũng như những kết quả đạt được trong công tác tôn giáo - điều này xuất phát từ bản chất, mục tiêu cao nhất của các thế lực thù địch là lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ không đi theo quỹ đạo của họ, mà trước hết là các nước XHCN bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ.

Nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước Việt Nam

 Trong quá trình thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống Việt Nam, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước luôn chú ý lợi dụng vấn đề tôn giáo, coi đây là một trong những mũi tiến công chủ đạo nhằm thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Do đó, việc nhận diện và đấu tranh với hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Tính đến tháng 9/2021, Việt Nam có 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động, với gần 26 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước. Ngoài ra, còn có khoảng 140 tổ chức tôn giáo chưa được công nhận tư cách pháp nhân với khoảng 1 triệu tín đồ, đa phần sinh hoạt tại gia hoặc thuê, mượn địa điểm sinh hoạt tôn giáo, không có cơ sở thờ tự. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước luôn nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả hết sức quan trọng, được dư luận trong nước và quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Hệ thống chính sách, pháp luật về tôn giáo được kịp thời bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và phù hợp với những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Các tổ chức tôn giáo được tạo thuận lợi trong hoạt động và ngày càng phát triển về mọi mặt; đồng bào các tôn giáo ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, gắn bó, đồng hành với dân tộc. Một số lễ trọng của các tôn giáo lớn như: Lễ Phật đản, Lễ Giáng sinh… đã trở thành lễ hội chung của đông đảo nhân dân, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch không chấp nhận thực tế trên và chúng ráo riết tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đặc biệt, những năm gần đây, lợi dụng chính sách đối ngoại và chính sách tôn giáo của ta ngày càng cởi mở hơn, các đối tượng gia tăng lợi dụng vấn đề tôn giáo để tạo sức ép từ bên ngoài, tìm cách gây mất ổn định an ninh chính trị ở bên trong, nhằm tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nổi lên hiện nay là một số hoạt động sau:

Một là, tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm quyền tự do tôn giáo. Lợi dụng tính chất nhạy cảm của tôn giáo và một số hạn chế, thiếu sót của chính quyền các địa phương trong công tác tôn giáo, thời gian qua, các thế lực thù địch cùng với bọn phản động trong và ngoài nước đã ra sức tuyên truyền xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng cho rằng, hệ thống chính sách pháp luật về tôn giáo của Việt Nam không tương đồng với luật pháp quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo; thậm chí, chúng còn trắng trợn xuyên tạc việc xây dựng, ban hành quy định pháp luật về tôn giáo là "thòng lọng" đối với hoạt động của các tôn giáo; xuyên tạc việc xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, hành chính, dân sự… liên quan chức sắc, tín đồ tôn giáo là "đàn áp tôn giáo". Một số cá nhân, tổ chức bên ngoài nhiều lần đơn phương đưa ra cái gọi là "Báo cáo", "Phúc trình" thường niên về tình hình tôn giáo quốc tế; trong đó có nhiều nội dung sai sự thật về tình hình, kết quả công tác tôn giáo tại Việt Nam, qua đó gây áp lực đòi ta phải thay đổi chính sách pháp luật về tôn giáo, lấy vấn đề "tự do tôn giáo" làm điều kiện trong đàm phán hợp tác, đầu tư phát triển tại Việt Nam.

Đáng chú ý, những năm gần đây, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực thông tin, truyền thông, một số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội để tán phát, chia sẻ nhiều tài liệu có nội dung vu cáo Đảng, Nhà nước "đàn áp tôn giáo"; công kích số chức sắc, tín đồ tôn giáo tiến bộ, yêu nước, tham gia các tổ chức chính trị - xã hội; kêu gọi các nước lấy vấn đề tự do tôn giáo để làm điều kiện trong việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác song phương cũng như đa phương, qua đó tìm cách can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam. Đặc biệt, có chức sắc còn công khai đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Việt Nam, tuyên truyền, cổ xúy quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cho rằng "tự do tôn giáo" là quyền, không chịu sự quản lý của Nhà nước, đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang và xây dựng xã hội dân sự Việt Nam theo mô hình các nước phương Tây.

Hai là, lợi dụng các vấn đề tiêu cực trong xã hội, các vụ việc phức tạp liên quan tôn giáo để kích động chức sắc, tín đồ gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, bên cạnh những thành tựu là cơ bản, không tránh khỏi một số hạn chế, khiếm khuyết trong công tác điều hành, quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực như: kinh tế, y tế, môi trường, giáo dục, đất đai, tư pháp…

Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước đã và đang ráo riết triển khai nhiều chiến dịch tuyên truyền nhằm thổi phồng các tiêu cực trong xã hội, quy chụp mọi tồn tại, hạn chế hiện nay là do sai lầm trong công tác lãnh đạo của Đảng, yếu kém trong công tác điều hành, quản lý của Chính phủ; từ đó, chúng móc nối, lôi kéo, kích động chức sắc, tín đồ các tôn giáo tổ chức các cuộc tập trung đông người tuần hành, biểu tình với danh nghĩa bảo vệ cuộc sống của người dân, bảo vệ người yếu thế để chống chính quyền; tăng cường phát triển lực lượng chống đối trong các tôn giáo, tạo thế liên tôn, liên kết trong - ngoài nhằm âm mưu tiến hành các cuộc tập dượt cho "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" tại Việt Nam.

Điển hình như, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra năm 2016, một số chức sắc cực đoan trong Công giáo với sự hậu thuẫn của các tổ chức phản động bên ngoài đã tổ chức cho hàng ngàn giáo dân tuần hành, biểu tình gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, chiếm giữ quốc lộ, tỉnh lộ… Các hoạt động này đã gây tình hình phức tạp nghiêm trọng về an ninh trật tự, trực tiếp xâm hại đến hoạt động bình thường của chính quyền cơ sở, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền.

Đặc biệt, những năm gần đây, trước tình hình tranh chấp, khiếu kiện và vi phạm pháp luật về đất đai, xây dựng liên quan tôn giáo diễn ra phức tạp, một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo đã lợi dụng chiêu bài "bảo vệ quyền lợi của giáo hội" để kích động số đông quần chúng tín đồ gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, gây ảnh hưởng để việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở nhiều địa phương. Thậm chí, nhiều vụ việc bị "chính trị hóa", "quốc tế hóa", từ vụ việc khiếu kiện đất đai đơn thuần đã trở thành điểm nóng về an ninh trật tự, điển hình như vụ 178 Nguyễn Lương Bằng, 42 Nhà Chung (Hà Nội), vụ giáo xứ Cồn Dầu (Đà Nẵng), vụ chùa Liên Trì (TP. Hồ Chí Minh)… đã bị các thế lực thù địch lợi dụng can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam.

Ba là, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc để kích động tư tưởng ly khai, tự trị. Lợi dụng một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu…, thời gian qua các thế lực thù địch và bọn phản động lập ra nhiều tổ chức núp bóng dưới danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, lôi kéo đồng bào dân tộc; để từ đó, dùng thần quyền, giáo lý chi phối họ tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước.

Điển hình như: tại Tây Nguyên, năm 1999, số đối tượng FULRO lưu vong ở Mỹ đã tuyên bố thành lập cái gọi là “Nhà nước Đềga”, đồng thời chúng móc nối với số đối tượng phản động trong các dân tộc thiểu số ở hai tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai lập ra cái gọi là “Tin lành Đề ga” để lôi kéo, tập hợp đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên tham gia “Nhà nước Đề ga” dưới ngọn cờ tôn giáo và dân tộc để kích động ly khai thành lập nhà nước cho người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; tại Tây Nam Bộ, số đối tượng phản động tăng cường sử dụng Internet, báo, đài nhằm kích động tư tưởng “ly khai” vào vùng đồng bào dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông, lập “Chính phủ Khmer Krôm lưu vong”, tiến đến thành lập “Nhà nước Khmer Krôm” trên vùng đất Tây Nam Bộ…; tại vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, số đối tượng phản động, cốt cán hoạt động “Nhà nước Mông” chủ trương phát triển cơ sở trong đạo Tin lành để tập hợp lực lượng, ráo riết móc nối, lôi kéo số chức sắc, số cầm đầu các điểm nhóm đạo Tin lành tham gia thành lập “Nhà nước Mông” tự trị…

Trên cơ sở nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước nói trên, thời gian tới để góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, các ban ngành chức năng và cấp ủy, chính quyền các địa phương cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tăng cường công tác tuyền truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Đảng, Nhà nước để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nâng cao cảnh giác, tuân thủ nghiêm pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo cũng như quy định khác liên quan. Công tác tuyên truyền cần được tiến hành thường xuyên, liên tục và với nhiều hình thức đa dạng, đi vào đời sống của người dân.

Hai là, tiếp tục quan tâm củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo. Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về tôn giáo để chủ động phát hiện những sơ hở, thiếu sót và kịp thời có biện pháp khắc phục. Tổ chức tốt việc nắm bắt tâm tư, giải quyết những nguyện vọng chính đáng của đồng bào chức sắc, tín đồ các tôn giáo.

Ba là, đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc, nhất là địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo. Phải coi đây là một công tác trọng tâm, cơ bản đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy Đảng, sự điều hành quản lý của chính quyền và huy động được các ngành, các cấp cùng tham gia.

Bốn là, thực hiện tốt công tác tranh thủ chức sắc, người có uy tín trong các tôn giáo nhằm thúc đẩy xu hướng hoạt động tôn giáo thuần túy, tuân thủ pháp luật và đồng hành cùng dân tộc. Chú trọng phát huy vai trò của chức sắc, người có uy tín trong tôn giáo trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước và góp phần giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong tôn giáo.

Năm là, kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước. Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật.

VIỆT NAM CHIA SẺ KINH NGHIỆM XOÁ ĐÓI NGHÈO VÀ VƯỢT KHỦNG HOẢNG



Đại sứ Đặng Đình Quý nhấn mạnh để bảo đảm an ninh lương thực, nền tảng quan trọng cho việc xóa đói giảm nghèo, các nước cần tăng cường đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.


Khóa họp lần thứ 60 Ủy ban Phát triển Xã hội của Liên hợp quốc (CSocD) với chủ đề “Phục hồi bao trùm, tự cường từ Covid-19 vì cuộc sống bền vững, phúc lợi và nhân phẩm cho tất cả mọi người: Xóa đói nghèo dưới mọi hình thức và khía cạnh để đạt Chương trình Nghị sự 2030” đã diễn ra từ ngày 7-16/2/2022, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York.