Thứ Năm, 17 tháng 2, 2022

MƯỜI HƯƠNG - PHẠM XUÂN ẨN - TƯ CANG, VÀ CÂU CHUYỆN 3KG VÀNG DÙNG ĐỂ CỨU NGƯỜI CHỈ HUY TÌNH BÁO TÀI BA MƯỜI HƯƠNG THOÁT KHỎI NHÀ TÙ MỸ, DIỆM!

         Theo đại tá Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang), công lao lớn nhất của huyền thoại tình báo Trần Quốc Hương (bí danh Mười Hương) là việc phát hiện và đào tạo nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn, người được thế giới đánh giá có năng lực hoạt động tình báo ngang tầm quốc tế.

Đại tá Nguyễn Văn Tàu nhớ lại: “Có ông Phạm Xuân Ẩn làm nòng cốt trong cụm tình báo H.63 nên cuối năm 1971, cụm H.63 được tuyên dương Anh hùng.

Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn, nữ điệp viên Tám Thảo, nữ giao liên Nguyễn Thị Ba (bí danh Long An) và tôi là Cụm trưởng được phong Anh hùng. Công lớn thuộc về ông Phạm Xuân Ẩn. Ông Ẩn do ông Mười Hương phát hiện, bồi dưỡng và đưa đi Mỹ học, sau này làm nên sự nghiệp lẫy lừng.

Phải nói là ông Mười Hương rất giỏi. Không có ông Mười Hương sẽ không có Phạm Xuân Ẩn và nếu không có ông Ẩn thì cụm H.63 nhỏ bé không thể có đến 4 người được phong Anh hùng”, 


Ông Trần Quốc Hương (tên thật là Trần Ngọc Ban, có bí danh là Mười Hương), sinh năm 1924, quê xã Vụ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam


Khi mới 14, 15 tuổi, ông đã tích cực tham gia phong trào Thanh niên dân chủ. Học hết lớp nhất tại trường Tiểu học Phủ Lý, ông chuyển lên Hà Nội nhập học ở trường dòng phố Nhà Chung. Thời gian này ông đổi tên là Hương (sau này, khi vào Nam công tác mới được gọi là Mười Hương), nhiệt tình tham gia phong trào Hướng đạo và Hội truyền bá quốc ngữ.


Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1943. Ông từng làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo cách mạng nước ta: Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Chí Thanh... từng bị tù đày trong nhà tù thực dân Pháp và chính quyền Việt Nam cộng hòa.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông Trần Quốc Hương là nhà tình báo chiến lược xuất sắc, chỉ huy mạng lưới tình báo miền Nam, là cấp trên trực tiếp của những nhà tình báo huyền thoại như: Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn.


Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Phó Bí thư Thành ủy TPHCM; Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội; Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch; Trưởng Ban Nội chính Trung ương.


Ông là Ủy viên Trung ương Đảng các khóa: IV, V, VI; Bí thư Trung ương Đảng khóa VI.

Trên 80 năm hoạt động cách mạng, ông Trần Quốc Hương đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Ông đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huy hiệu 75 năm tuổi đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.


VỊ THẦY TẦM CỠ CỦA NHỮNG HUYỀN THOẠI TÌNH BÁO VIỆT NAM


Tài năng của "ông trùm" tình báo Mười Hương không phải bỗng dưng mà có. Tất cả đều do tích luỹ từ cuộc đời hoạt động cách mạng của ông mới có thể có được chứ ông không hề được đào tào qua trường lớp nào hết.


Ông Mười Hương có may mắn được làm việc tại Văn phòng Tổng bí thư Trường Chinh giai đoạn tiền khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám. Chính vì thế nên được ông Trường Chinh đặc biệt tin tưởng và trọng dụng. Ngoài việc được gần gụi với Tổng bí thư Trường Chinh, ông cũng có dịp được gần gũi với Chủ tịch Hồ Chí Minh, với các ông Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng...

Tóm lại, đó là những con người một lòng một dạ chiến đấu vì lý tưởng cộng sản cao cả, vô cùng trân quý đã trở thành những bộ sách quý dạy ông trở thành một cán bộ cộng sản mẫu mực.


Khi Tổng bí thư Trường Chinh nhận được đề nghị từ xứ uỷ Nam Kỳ mà cụ thể là từ các ông Lê Duẩn, Lê Đức Thọ muốn tăng cường cán bộ có kinh nghiệm hoạt động an ninh, tình báo trong lòng địch và trong nội thành mà cụ thể là muốn xin đích danh ông Mười Hương, Tổng bí thư Trường Chinh đã chỉ thị cho ông Mười Hương về gặp ông gấp (do đang được phân công xuống địa phương nắm tình hình).


Khi trao đổi, Tổng bí thư Trường Chinh cũng rất biết, đó là việc cực kỳ khó khăn, phức tạp. Ông không ép buộc ông Mười Hương phải nhận mà nói rằng, nếu thấy không thể kham nổi thì cứ báo cáo nguyện vọng, không sao hết, Trung ương không ép...


Với tư cách của người cán bộ cách mạng, ông Mười Hương đã đón nhận thử thách khắc nghiệt này. Không những vậy, ông còn hứa sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ vì hiểu rõ tổ chức đã tin tưởng ở mình nên mới tính đến.


Tổng bí thư Trường Chinh báo cáo việc này với Bác Hồ, Bác nói: Nếu miền Nam xin chú Hương vào hoạt động thì ủng hộ. Do trong ấy còn đang xây dựng tổ chức cho nên không phong sớm chức tước gì cả. Tuỳ tuỳ hình trong đó bố trí nhiệm vụ. 


Trước khi lên đường, Bác Hồ mời ông Mười Hương lên gặp. Bác nói: Công việc của chú thì các đồng chí Trung ương đã giao và dặn kỹ rồi. Xem chú nếu nhận được thì nhận và đừng để phụ lòng Trung ương. Bác có nghe ý kiến của chú Bùi Lâm (một lãnh đạo có uy tín thời kỳ đó về công tác quốc tế do đi nhiều và có thực tiễn, lại nắm sâu về nội bộ địch-NV), chú Lâm là người đi nhiều biết rộng, có kinh nghiệm quốc tế. Bác cũng nhắc lại ý kiến của Bác đã nói với Trung ương việc của chú đi vào Nam mà không phong chức tước gì cả, tuỳ trong ấy phân công, việc gì tuy nhỏ mà có lợi cho cách mạng nhớ làm cho tốt. Phải chú ý đến vấn đề đoàn kết Trung -Nam- Bắc, không được coi thường việc chia 3 miền gần một trăm năm của thực dân Pháp" 


Bác Hồ còn nhắc ông Mười Hương lúc Người đứng lên chia tay: "Khổng Tử có 72 người học trò giỏi, trong đó Nhan Hồi là học trò yêu đã nói: "Ngô nhất nhật, tam tỉnh ngô thân" ý là mỗi ngày phải để 3 lần tự sửa mình, tu thân. Chủ nghĩa Mác -Lê Nin lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển. Hàng ngày, chú phải cố dành ra thời giờ để kiểm điểm công việc đã làm xem việc gì làm tốt, thành công, việc gì làm chưa tốt, có khuyết điểm để rút kinh nghiệm, sửa chữa, đừng để phụ lòng Trung ương. Nhớ nhé, đi sao về vậy!"( trang 316, sách đã dẫn). 


Tiếp đó ,theo lời dặn của Tổng bí thư Trường Chinh, ông Mười Hương sang gặp tiếp phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người được Trung ương phân công phụ trách công tác an ninh, tình báo chiến lược của Đảng và Chính phủ lúc đó. Biết các lãnh đạo cao nhất đều đã nhắc cho nên ông Đồng chỉ nhắc thêm rằng, việc ông "đi miền Nam sẽ là 6 tháng với mục đích xây dựng bộ máy an ninh tình báo, nhất là tổ chức bảo vệ an ninh cho các cấp uỷ rồi sẽ rút ra Bắc".


Vậy là ông đã lên đường vào Nam trên cùng chuyến bay với ông Lê Đức Thọ, hạ cánh xuống sân bay Sóc Trăng vào cuối năm 1954 khi Hiệp định Giơ ne nơ đã ký kết và các bên đang thi hành lệnh ngừng bắn.


Nào ngờ đâu, ông đã nhận nhiệm vụ từ chuyến vô Nam đó lại lâu đến tận ngày giải phóng như vậy.


Ông Mười Hương luôn tự răn mình theo lời Bác dặn nhưng vận dụng vào công tác hoạt động tình báo của mình phải thường xuyên cảnh giác để vượt qua 3 chữ T. Đó là Tình, Tiền (dễ bị cám dỗ, mua chuộc) và Tù (nếu bị thì dù tra tấn đến đâu cũng quyết không đầu hàng).

Riêng cái chữ T thứ 3 là tù tội thì ông Mười Hương đã được nếm trải một lần ở nhà giam Hoả Lò ( Hà Nội). Bởi vậy nên ông đủ tự tin sẽ không kẻ thù nào làm ông gục ngã.


Kiến trúc sư" tình báo Trần Quốc Hương với miền Nam.


Đối với miền Nam, nhà tình báo Trần Quốc Hương ( Mười Hương) vừa là người gần gũi vừa là huyền thoại, dù ông không sinh ra trên mảnh đất này


Trong kháng chiến chống Mỹ, Thiếu tướng Trần Văn Danh, bí danh Ba Trần là Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, phụ trách các lực lượng tình báo, đặc công, biệt động. Cũng nhờ ông Ba Trần, tôi được biết và tiếp xúc với ông Mười Hương cùng một số nhà tình báo đáng kính khác để nghe những câu chuyện mà như chỉ có trong truyền thuyết.


Hai lần bí mật vào Nam

Mùa xuân năm 1954, khi cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp bước vào giai đoạn cuối, nhà tình báo Trần Quốc Hương đang hoạt động sâu trong lòng địch đã được gọi về gặp Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Ông được đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp gặp gỡ, giao nhiệm vụ về vùng tả ngạn sông Hồng tuyển chọn người để đưa vào miền Nam hoạt động điệp báo chuẩn bị cho cuộc chiến đấu tiếp theo vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Bằng linh cảm của một nhà hoạt động tình báo bẩm sinh, Trần Quốc Hương đã về thẳng Thái Bình và chọn ngay được hai cán bộ Thị ủy Thái Bình để phục vụ cho công tác mới: Vũ Ngọc Nhạ (bí danh Hai Long) và Vũ Hữu Ruật (Thọ). Ngay sau đó, vợ con hai ông được tổ chức di cư vào Nam trên một chuyến tàu đặc biệt từ bến cảng Hải Phòng. Vũ Ngọc Nhạ và Vũ Hữu Ruật về sau cũng trở thành hai nhà tình báo hàng đầu trong mạng lưới A22 hoạt động ngay trong đầu não chính quyền Sài Gòn.

Mùa thu năm 1954. Ông Lê Đức Thọ được Xứ ủy Nam Bộ cử ra Bắc xin trung ương bổ sung cán bộ có kinh nghiệm hoạt động tình báo vùng địch hậu và Trần Quốc Hương là người được chọn. 

Sau Hiệp định Genève, Trung ương Cục miền Nam được thành lập thay thế cho Xứ ủy Nam Bộ. Trần Quốc Hương được cử tham gia lãnh đạo Ban Địch tình trực thuộc Trung ương Cục, tổ chức ngay các lớp huấn luyện tình báo ngắn ngày, phụ trách mạng lưới tình báo Sài Gòn - Chợ Lớn. Với tấm thẻ căn cước mang tên người anh ruột đã qua đời Trần Đức Trí, ông rời miền Tây lên hoạt động ngay nội thành Sài Gòn trong vai thầy giáo. Ông được giao xây dựng và chỉ huy mạng lưới tình báo chiến lược, bắt liên lạc và đưa các tình báo viên hoạt động độc lập, đơn tuyến thâm nhập các cơ quan trung ương của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Bắt đầu từ đây, qua sự huấn luyện và chỉ đạo duy nhất của ông Trần Quốc Hương, các nhà tình báo cách mạng đã dần lập được những chiến tích lớn đi vào huyền thoại như Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hòe, Huỳnh Văn Trọng,...

Đến đầu năm 1968, đại tá Trần Quốc Hương đang là Cục trưởng Cục Kỹ thuật Bộ Công an, lại nhận lệnh trở vào miền Nam chuẩn bị cho chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân. Giống như lần đầu, ông cũng được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và nghe những lời chỉ bảo, dặn dò của Bác trước khi lên đường.

Với nhiệm vụ Trưởng Ban An ninh Sài Gòn - Gia Định (T4), Trần Quốc Hương lãnh đạo xây dựng hệ thống an ninh từ huyện đến xã vùng giải phóng lẫn địch hậu, đồng thời móc nối chỉ huy các cụm tình báo chiến lược, nhất là sau những tổn thất lớn của năm Mậu Thân 1968.

Một trong những dấu ấn đặc biệt của Mười Hương khi vào Nam lần thứ hai là ông thành lập Cụm tình báo chiến lược mang mật danh A10 để hoạt động trong lực lượng thứ ba có cảm tình với cách mạng ở nội đô Sài Gòn. Họa sĩ Ớt, tức nhà báo Huỳnh Bá Thành, là một trong những nhà tình báo tiêu biểu của cụm A10, về sau trở thành Tổng Biên tập Báo Công an TP HCM

Tiếng khóc của một con người thép.

Vào ngày 14-8-1958, do một điệp viên không chịu nổi tra tấn cực hình đã khai báo, Trần Quốc Hương bị bắt tại Sài Gòn và chuyển ra Huế. Trong thời gian này, Trần Quốc Hương đã có cuộc đối thoại trực tiếp đầy bản lĩnh với Cố vấn Ngô Đình Nhu trong một cuộc họp báo công khai với sự tham dự của nhiều quan chức, tướng lĩnh cao cấp; đồng thời ông cũng vừa mềm dẻo vừa cứng rắn khi đối diện với hung thần Ngô Đình Cẩn.

Sau khi ngụy quyền Ngô Đình Diệm bị đảo chính, Ban Tham mưu Miền lên kế hoạch giải cứu nhà tình báo Trần Quốc Hương. 

Nhiệm vụ được nhà chỉ huy tình báo Trần Văn Danh giao trực tiếp cho Nguyễn Văn Tàu - tức Tư Cang - cùng một số nhà tình báo khác hỗ trợ về tài chính, liên lạc. Công việc hoàn thành, Trần Quốc Hương đã được giải thoát khỏi nhà tù và đưa về căn cứ kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ. Đó là ngày 18-5-1964, sau 6 năm ông bị biệt giam và chịu mọi tra tấn cực hình!

Tướng Ba Trần nhớ lại rằng ông và mọi người rất xúc động khi nhìn thấy ông Mười Hương xuất hiện trong dáng vẻ xanh xao, gầy mòn.

 Lúc ấy, Phòng Quân báo Ban Tham mưu Miền cho người đón ông Mười Hương về căn cứ Phú Hòa Đông ở Củ Chi. Mọi người hỏi nhau "Ai như dáng anh Mười Hương?". "Vâng, tôi đây! Các anh ơi, Mười Hương đã về đây!". 

Và rồi con người thép chẳng hề biết sợ là gì trước mọi ngón đòn thâm độc của đối phương lại bật khóc ngon ngọt trong vòng tay thương yêu của đồng đội. Ông khóc như một đứa trẻ, như một người lưu lạc sau nhiều năm được trở về với nguồn cội.

 Tiếng khóc hạnh phúc của Mười Hương giữa rừng miền Đông không chỉ làm nao lòng những người có mặt như tướng Bảy Tiến - Trần Văn Quang, Ba Trần, Tư Cang,... mà còn gây xúc động cho bao người khác khi nhớ về vị "kiến trúc sư" tài ba và nhân cách lớn của ngành tình báo Trần Quốc Hương huyền thoại! 

CÂU CHUYỆN 3KG CỨU NGƯỜI CHỈ HUY TÌNH BÁO

Điều tôi nhớ nhất về ông Mười Hương đó là một người nhiệt tình với công tác tình báo. Ông ấy được Trung ương phái vô để xây dựng ngành tình báo trong Nam sau Hiệp định Geneve 1954. Còn tháng 10/1954, tôi đã tập kết ra Bắc rồi nên chúng tôi chưa có dịp gặp nhau.

Lần đầu tôi gặp Mười Hương là lúc đưa ông ấy ra khỏi tù năm 1964. Tôi được biết từ 1954, ông ấy gây dựng mạng lưới tình báo trong này. Khoảng năm 1957, ông ấy kêu Phạm Xuân Ẩn đi học ở Mỹ. Một năm sau, năm 1958, ông ấy bị bắt, ở Huế một thời gian rồi lại chuyển vào Sài Gòn.

Phải nói thêm rằng ông Mười Hương bị bắt bởi Ngô Đình Cẩn và Dương Văn Hiếu. Thời đó, Dương Văn Hiếu là Trưởng đoàn Công tác đặc biệt miền Trung của Ngô Đình Cẩn, là trùm mật vụ, cực kỳ nguy hiểm. Hiếu đã bắt rất nhiều cán bộ thuộc nhánh tình báo trong Sài Gòn, trong đó có Mười Hương.

Năm 1961, sau khi được phong đại úy, tôi từ ngoài Bắc vượt Trường Sơn 100 ngày vào Nam để tham gia mạng lưới tình báo ở Sài Gòn. Từ tháng 4/1962, trên giao cho tôi nhiệm vụ tổ chức đường dây vận chuyển thông tin tình báo do điệp viên có bí danh X6 cung cấp. Đó chính là Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung). Không lâu sau đó thì xảy ra cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm.

Tôi cũng làm thư ký trong cuộc họp kiểm điểm của ông Mười Hương trước Bộ Tư lệnh miền. Thủ tục lúc đó là vậy, ai ra tù, trở về căn cứ cũng phải làm kiểm điểm hết. Thành ra, tôi nắm khá rõ quãng thời gian ông ấy bị bắt. Địch cũng tra tấn ông ấy dữ lắm nhưng không bằng các tù nhân khác. Chúng biết ông ấy là trí thức, là lãnh đạo nên tra tấn kiểu khác.

Ấn tượng nhất có lẽ là chuyện ông ấy kể về cuộc đấu tranh lý luận giữa ông ấy với Ngô Đình Nhu. Ngô Đình Nhu (em trai Ngô Đình Diệm) là nhà lý luận của chế độ Sài Gòn, Nhu theo thuyết cần lao nhân vị. Còn ông Mười Hương là cộng sản. Chủ yếu Ngô Đình Nhu thuyết phục ông Mười Hương về phe ngụy quyền Sài Gòn. Tôi cũng là thư ký nên chỉ biết vậy thôi.

- Kế hoạch đưa ông Mười Hương ra khỏi nhà tù được thực hiện như thế nào, thưa ông?

- Năm 1963, sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, tình hình ở Sài Gòn thay đổi rất nhiều. Ông Tám Mỹ (Chính ủy phòng tình báo lúc đó) nhận được lệnh của cấp trên là bằng mọi giá nhân lúc tình hình đảo chính rối ren phải đưa ông Mười Hương ra. Ông Tám Mỹ kêu tôi, lúc đó là Cụm trưởng Cụm tình báo A.18 (sau này mới đổi tên thành H.63 năm 1968), hội ý xem có cách nào không.

Lúc đó, tôi vào thành trao đổi với Phạm Xuân Ẩn. Ẩn nói địch giam ông Mười Hương trong phòng biệt giam nên giờ chỉ có cách thuyết phục cai ngục. Cách duy nhất là phải chồng thật nhiều tiền cho nó. Tôi hỏi Ẩn là cần khoảng bao nhiêu, Ẩn nói cỡ 100.000 đồng. Hồi đó giá một lượng vàng là 3.000 đồng. 100.000 tức là 33 lượng vàng.

Ông Tám Mỹ chạy về kiếm nhà tư sản yêu nước là bà Võ Thị Quê. Bà Quê cho mượn 100.000 đồng. Bà Quê biết ông Mười Hương thành ra thương ông ấy nên mới dám cho vay số tiền lớn như vậy. Bà Quê sau này cũng tham gia mạng lưới tình báo, bị tra tấn rất dữ trong tù và hy sinh.

Kiếm được tiền rồi thì Phạm Xuân Ẩn vô thuyết phục cai ngục. Ông Ẩn kể có nói với nó: “Mày chịu làm như vậy, mày sơ hở trong 15 phút thì mày lấy 100.000 tiêu xài, mua xe Mercedes chạy”. Khi Mười Hương ra khỏi cổng nhà tù, chiếc Renault của Phạm Xuân Ẩn đã chờ sẵn và đón đi luôn. Chạy được tầm 2 km về tới ngã tư Bảy Hiền thì sang xe taxi của ông Nguyễn Văn Huỳnh, là giao thông liên lạc của cụm tình báo, ông Huỳnh chở Mười Hương chạy một mạch về xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi.

Ở Củ Chi, chúng tôi đã bố trí bà Nguyễn Thị Đệt chờ sẵn và chở về căn cứ Bến Đình. Ông Mười Hương ngồi sau, ôm eo bà Đệt chạy ngang bốt kiểm tra khỏe re. Bến Đình là căn cứ của đội võ trang cụm tình báo A.18.

- Ấn tượng của ông về cuộc gặp đầu tiên với ông Mười Hương như thế nào?

- Mấy năm tù tội, ông Mười Hương ốm gầy. Hồi nào tới giờ chúng tôi đâu biết nhau. Thế mà cũng ôm nhau mừng hoàn thành nhiệm vụ. Về tới đó coi như ngon rồi.

Bữa đó, tôi kêu bà mẹ Củ Chi nấu cơm trưa cho ăn. Bà nấu cơm trắng với lươn kho sả ớt. Ông Mười Hương ăn dữ lắm. Cái không khí giải phóng mà, ông ấy khoái nên ăn khỏe. Sau này gặp lại nhau ông Mười Hương vẫn nhắc lại bữa cơm ấy và tình thương của bà mẹ Củ Chi.

Mọi việc đều phải gấp rút vì địch truy theo. Quả nhiên, 15 phút sau dưới (trung tâm thành phố - PV) báo động. Ăn xong bữa cơm với bà mẹ thì trên cấp cho ông Mười Hương chiếc xe đạp mới, tôi một chiếc, bảo vệ một chiếc. Bảo vệ mang súng trường chạy đằng trước, ông Mười Hương đi giữa, tôi chạy sau cùng.

Lúc đó, ông bịt khăn rằn, mặc áo ngắn tay.

 Chúng tôi đạp xe tầm 50 km đưa ông ấy về Bời Lời ở huyện Trảng Bàng (Tây Ninh) (lúc đó là căn cứ chính của cụm tình báo A.18 - tiền thân của H.63). Dọc đường ông ấy đạp xe phấn khởi lắm. Cuộc tẩu thoát khỏi nhà tù của ông Mười Hương chỉ diễn ra vỏn vẹn trong 1 ngày.

Hàng chục năm sau gặp lại, ông Mười Hương vẫn giới thiệu tôi với mọi người: “Đây là Tư Cang, người cứu tôi ra khỏi tù Mỹ Diệm”. Lúc đó tôi chỉ là anh đại tá về hưu làm tổ trưởng tổ bột giấy của Thanh niên xung phong ở TP.HCM, còn ông ấy là Phó bí thư Thành ủy TP.HCM.

- Phạm Xuân Ẩn trong vỏ bọc phóng viên tờ Time đã lái chiếc Renault đợi Mười Hương ngay cổng nhà tù rồi chở về tới ngã tư Bảy Hiền. Làm như vậy lẽ nào không bị nghi ngờ gì?

- Không. Cai ngục ăn ý với Phạm Xuân Ẩn rồi. Nó lấy 100.000 đồng thì còn nói gì nữa. Số tiền đó lớn lắm, nó đâu dám hé ra, vừa mất hết lộc lại khéo bị liên lụy.

Việc cứu ông Mười Hương, ngoài chỉ thị của cấp trên là bằng mọi giá thì còn có những tình cảm riêng. Giữa Phạm Xuân Ẩn và ông Mười Hương có thể coi như tình cha con. Người chở ông Mười Hương khi ra khỏi tù chỉ có thể là Phạm Xuân Ẩn bởi ông ấy là nhà báo, có thẻ nên đi lại dễ dàng. Mà cũng chỉ dám chở 2 cây số rồi chuyển qua xe mình. Kế hoạch chúng tôi chuẩn bị cũng tươm tất lắm, tập qua tập lại mấy lần.

- Các đầu mối ông Mười Hương xây dựng có ý nghĩa sao với ngành tình báo miền Nam sau này?

- Mạng lưới do ông Mười Hương xây dựng thì người thành công nhất là ông Phạm Xuân Ẩn. Ông ấy chính là người phân tích cho ông Phạm Xuân Ẩn vì sao phải đi học nghề báo bên Mỹ. Bởi chỉ phóng viên là được len lỏi khắp nơi lấy tin. Ông thuyết phục Phạm Xuân Ẩn ra đi.

Khi ông Mười Hương bị bắt, người em của Phạm Xuân Ẩn gửi thư qua Mỹ nói có một ông già dắt chim đi vô rừng thì bị bắt. Nói lóng lóng vậy nhưng đọc thư ở bên đó, ông Ẩn biết Mười Hương bị bắt. Cấp trực tiếp bị bắt rồi, giờ phải tính làm sao? Nếu ở lại Mỹ, cuộc sống của Phạm Xuân Ẩn sẽ dễ dàng và sung sướng hơn rất nhiều. Nhưng sự kiện Mười Hương bị bắt cũng khiến Phạm Xuân Ẩn quyết tâm dứt bỏ mọi thứ và trở về.

- Một số người gọi ông Mười Hương là Hương sự thật. Chính ông Mười Hương cũng từng nói: Chịu đựng, rồi sự thật sẽ chiến thắng. Liệu sự thành thật có mâu thuẫn với cuộc sống của một chỉ huy tình báo lão luyện không?

- Chân thật thì tôi với ông Phạm Xuân Ẩn rất chân thật. Nhưng tôi thấy ông Ẩn là người nhiều chiêu dữ lắm. Nội việc ông ấy nuôi con chó mà biết nghe điều khiển bằng tiếng Pháp, tôi thấy cha đó có tài ghê. Mà việc gì vô nói với ông ấy cũng hoàn thành.

Ví dụ, năm 1968, chuẩn bị bước vô đợt 2 trận Mậu Thân, tay trung tá của mình tên là Tám Hà ra hàng. Trên gọi điện cho tôi phải lấy bằng được bản khai của Tám Hà đem về. Tôi xuống gặp Phạm Xuân Ẩn, ông ấy nói có thể lấy được. Thường Phạm Xuân Ẩn hay mua chuộc mấy người giữ hồ sơ để cung cấp tài liệu cho ông. Họ chỉ biết ông ấy là nhà báo, viết rồi cho tiền chứ đâu biết ông ấy là cộng sản. Dáng ông ấy đi sành điệu quá mà.

Phạm Xuân Ẩn lấy được bản khai. Tám Hà khai ráo không sót gì, có cả việc vũ khí tích trữ gần Tân Sơn Nhất. Lấy được tài liệu tôi mới nói với Phạm Xuân Ẩn: "Nhiệm vụ chính hoàn thành rồi. Giờ ông lên lầu 3, chỗ cục tình báo nước ngoài hay họp, hỏi coi bên Mỹ tính sao với thông tin này".

Thế rồi tôi ngồi dưới Givral uống cà phê chờ. Một hồi, ông ấy xuống nói: "Hay lắm anh Tư. Bên Mỹ nghe mình chuẩn bị đánh sợ quá. Tổng thống nói với các phóng viên nếu mà Việt Cộng đánh đợt 2 thì chỉ có thương lượng rút quân".

- Ông Phạm Xuân Ẩn được coi là điệp viên hoàn hảo trong suốt 15 năm với vỏ bọc một nhà báo. Thời kỳ đầu tiên ông Mười Hương nhìn thấy tư chất gì ở ông Phạm Xuân Ẩn?

- Tôi nghĩ ông Mười Hương thấy lòng yêu nước khi ông Ẩn cầm cờ đi biểu tình năm 1950. Hai là ông Ẩn nói tiếng Anh trôi chảy. Trình độ của ông Mười Hương phát hiện người như vậy là giỏi.

Người tình báo số 1 là người lấy được tin quan trọng. Trong mạng lưới tình báo, tôi chỉ là người phụ trách, tổ chức đường dây. Nhiệm vụ chính của tôi là làm sao đưa tin ông Ẩn lấy được về bên kia an toàn và nhanh nhất. Còn Phạm Xuân Ẩn mới là người lấy tài liệu. Số tài liệu ấy mà rơi vào tay đối thủ thì ông ấy cũng chết.

Phạm Xuân Ẩn xây dựng một vỏ bọc hoàn hảo cho mình giữa Sài Gòn. Ông đi lại có con chó Becgie lững thững đi theo. Xuống ôtô là nắm lấy dây da. Con chó biết nghe lời bằng tiếng Pháp.

Đám sĩ quan Mỹ thấy Phạm Xuân Ẩn cũng rất vồn vã mời lên nói tình hình Sài Gòn trong lúc chúng đi vắng. Nói chuyện có trả tiền nhé. Nói 1 tiếng trả tiền 1 tiếng, rất sòng phẳng. Phạm Xuân Ẩn cũng là người có khiếu hài hước, ông vào quán Givral nói chuyện tiếu lâm là phóng viên nước ngoài cười lăn.

Tìm được người như ông Ẩn, định hướng đi Mỹ học, hòa nhập vào xã hội Sài Gòn lúc bấy giờ để hoạt động tình báo là cái tài tình của ông Mười Hương.

- Sau này trong thời gian làm việc và kể cả chơi với ông Ẩn, ông Ẩn nói gì về ông Mười Hương?


- Ông ấy kể lại đứa em viết thư qua bển (Mỹ), ông đọc cái là hiểu. Rồi ông ấy đấu tranh tư tưởng, quyết định về. Lúc ông Mười Hương bị bắt thì ông Ẩn cũng thương lắm nhưng biết là mình không thể cứu ông ấy ra được.

Sau này thì ông Ẩn vẫn nhắc ông Mười Hương với lòng tôn trọng vì thấy ông ấy chỉ cho con đường đi đúng. Ông Mười Hương là người vạch tương lai cho ông Ẩn.

Tương lai đó là để phục vụ tổ quốc, trở thành một điệp viên tầm cỡ thế giới

Đại tá Nguyễn Văn Tàu (tức Trần Văn Quang, Tư Cang) sinh năm 1928 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Năm 1945, ông tham gia cách mạng. Ông là Cụm trưởng Cụm tình báo H.63 trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, là cấp trên trực tiếp của những điệp viên nổi danh như Phạm Xuân Ẩn, Tám Thảo, Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy… Cụm H.63 đã được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1971.

Ông Tư Cang đã được Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu như: Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Độc lập hạng Nhì, danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 2006.../.
Ảnh: 3 nhà tình báo huyền thoại: Phạm Xuân Ẩn, Mười Hương, Tư Cang ngày còn trẻ.

Môi Trường ST.

Ý ĐỒ ĐEN TỐI CỦA NHỮNG KẺ LẠC LOÀI

Trong một bài viết có tựa đề “Bóng đá và chính trị”, tổ chức khủng bố Việt Tân vin vào câu chuyện Huấn luyện viên Mai Đức Chung xin nghỉ hưu ở tuổi 73 để đưa ra những nhận xét, liên tưởng rất ấu trĩ, hàm hồ, mang đầy dụng ý xấu xa.

TRAO THƯỞNG CHO PHẠM THỊ ĐOAN TRANG KỊCH CŨ CHƯA DỪNG


          Thời gian qua nhiều đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia bằng nhiều hình thức, thủ đoạn đều bị các cơ quan chức năng xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Tuy nhiên với số đối tượng này thì các tổ chức phản động lưu vong, các cơ quan thiếu thiện chí về nhân quyền, dân chủ đối với Việt Nam lại coi đây là miếng mồi để tuyên truyền, xuyên tạc.

           Năm nay, đối tượng Phạm Thị Đoan Trang được tặng “giải thưởng nhân quyền” điều mà các tổ chức luôn cổ xuý cho các hoạt động chống phá tại Việt Nam thời gian qua với chiêu bài kích động, lợi dụng vấn đề tự do báo chí, dân chủ, nhân quyền.

          Phạm Thị Đoan Trang là tác giả của nhiều cuốn sách có nội dung hướng dẫn, kích động các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân như “Chính trị bình dân”, “Cẩm nang nuôi tù”, “Phản kháng phi bạo lực”… Theo hồ sơ vụ án, Phạm Thị Đoan Trang từng tốt nghiệp trường Hà Nội - Amsterdam và Khoa Kinh tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội. Sau khi ra trường, Trang làm phóng viên cho báo điện tử Vnexpress trong 2 năm, sau đó làm nhân viên Công ty quảng cáo HAKI, nhân viên Công ty Truyền hình kỹ thuật số VTC, cộng tác viên báo Vietnamnet và có gần 3 năm làm phóng viên báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh. Năm 2013, do xuất cảnh đi nước ngoài không xin phép nên Trang đã bị cơ quan chủ quản kỷ luật buộc thôi việc.

          Trong chuyến xuất cảnh trái phép này, Trang đã bị một số đối tượng chống đối chính quyền dẫn dắt, móc nối, lôi kéo. Trở về nước, Trang trực tiếp thành lập và tham gia điều hành nhiều hội, nhóm bất hợp pháp, đồng thời, đứng sau lôi kéo lập nhóm “Du ca Sài Gòn”, “Tuổi trẻ làm đẹp quê hương”, tụ tập, khuếch trương lực lượng chống đối trong nước, tập hợp lực lượng chống đối trong giới văn nghệ sĩ, trí thức trẻ. Đoan Trang cũng lập và điều hành các trang mạng “Luật khoa tạp chí”, “Phamdoantrang.com”, “The Vietnamese”, viết, tán phát nhiều bài viết, cuốn sách có nội dung tuyên truyền xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động lật đổ chế độ.

          Cũng theo hồ sơ vụ án, Phạm Thị Đoan Trang là thành viên cốt cán của Tổ chức VOICE và được số đối tượng cầm đầu tổ chức này giao phụ trách nhân sự, trực tiếp tuyển lựa, duyệt người trước khi đưa ra nước ngoài để huấn luyện, đào tạo cách thức hoạt động chống phá chính quyền. Trang cũng là một trong những người sáng lập và duy trì hoạt động của Nhà xuất bản Tự do - một tổ chức dân sự trá hình, hoạt động “chui”, chuyên xuất bản, in ấn và phát hành các ấn phẩm có nội dung tiêu cực, xuyên tạc, kích động bạo lực, chống phá Đảng, Nhà nước.

          Theo cáo trạng, từ ngày 16/11/2017 đến 5/12/2018, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành nhiều tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

          Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khai báo thành khẩn, phạm tội nhiều lần, cần thiết xử phạt nghiêm minh. HĐXX đã từng tuyên phạt Phạm Thị Đoan Trang 9 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” quy định tại Điều 88, BLHS năm 1999. Ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm” mà chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật, bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT

 

          Đây là hình chụp nguyên vẹn một đại đội sơn cước Trung Quốc, mà bộ đội ta chả cần hô “Thấu xéng chiu sâu khoan tai” (tiếng Tàu: "Đầu hàng thì sẽ được đối đãi tử tế"), đã ra hàng, chịu bị bắt làm tù binh ở xã Minh Tâm, huyện Nguyên Bình, Cao Bằng.

          Chuyện là thế này. Đại đội sơn cước ra hàng này, thuộc trung đoàn bộ binh 448, sư đoàn 150, quân đoàn 50, quân khu Thành Đô. Đơn vị còn có đầy đủ cả bộ sậu: Đại đội trưởng Lý Hòa Bình, chính trị viên Phùng Tăng Mẫn, cả ban chi ủy, các trung đội trưởng… và đầy đủ vũ khí trang bị. Cùng đi với đại đội còn có hai cán bộ do trung đoàn phái xuống để đốc chiến, một ‘vị’ là tham mưu phó trung đoàn Phó Bồi Đức, ‘vị’ kia là phó chính ủy trung đoàn Long Đức Xương. Cả đại đội còn đầy đủ cả trăm con người.

          Sáng 11/3, cánh Tây của tiểu đoàn 2 gồm đại đội 8 đặc nhiệm có Sở chỉ huy tiền phương trung đoàn 448 với Trung đoàn trưởng Hồ Khánh Trung và Phó chính ủy Long Đức Xương đi kèm bị quân đội Việt Nam tập kích ở thôn Nà Ca (xã Minh Tân, huyện Nguyên Bình).

          Quân Việt Nam không đông, nhưng chiếm được địa thế có lợi, dùng súng máy bắn quét. Phía Trung Quốc bất ngờ, không kịp trở tay nên thương vong nặng nề. Khi các đơn vị còn lại rút được êm xuôi, đại đội sơn cước 8 dùng phải bản đồ cũ (75 tuổi) nên thành ra 1 đám "trẻ lạc" và bị quân ta phản công bao vây trên một mỏm đồi đá. Nhìn xung quanh, thấy đâu đâu cũng có quân ta, và đối chiếu với bản đồ, ban chỉ huy đại đội biết rằng, đánh để mở đường về là vô vọng.

          Chính vì vậy, Chi ủy chi bộ đại đội này đã tiến hành họp cấp ủy mở rộng, có ghi Nghị quyết đàng hoàng. Khi ra hàng và giao nộp vũ khí, đại đội này trình ta cả bản Nghị quyết.

          Trong Nghị quyết ra hàng, có ghi rõ thế này: "Tuân theo lời dậy của lãnh tụ Lê-Nin, là: Hãy làm việc cụ thể - trong từng giai đoạn cụ thể. Vậy nay quyết nghị ra hàng, để bảo toàn lực lượng, đặng còn về với Tổ quốc"        

          Nói là một sự tích, độc nhất vô nhị, chưa từng có trong toàn bộ lịch sử chiến tranh thế giới, vì chưa từng có đơn vị quân đội của một quốc gia theo thể chế XHCN nào vẫy cờ trắng kèm Nghị quyết của Chi Uỷ Chi bộ như thế cả. (kể cả trong thế chiến 2, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam) Đây cũng được cho là điều chưa từng có trong lịch sử quân đội Trung Quốc từ xưa đến nay và bị báo chí nước này gọi là "sự kiện nhục nhã". Vụ việc đã được đưa thành giáo trình phản diện điển hình của việc tăng cường chỉ huy trong quân đội Trung Quốc.

          Sau khi được trao trả, Lý Hòa Bình, đại đội trưởng và Phùng Tăng Mẫn, chính trị viên Đại đội 8 nhận án 10 năm tù giam vì tội ''phản bội đầu hàng''.

          Do phạm quá nhiều sai lầm và thiệt hại nặng, trong đợt điều chỉnh biên chế năm 1985, quân đoàn 50 và Sư đoàn 150 với 4 trung đoàn trực thuộc bị xóa phiên hiệu, vĩnh viễn không còn tồn tại trong biên chế của quân đội Trung Quốc.

Việt Nam lên tiếng về chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ


          Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao chiều 17-2, phóng viên đề nghị bình luận khi Mỹ đưa ra chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương có nêu về Việt Nam?

          Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết Việt Nam quan tâm và mong muốn thúc đẩy hợp tác với Mỹ, cũng như tất cả đối tác khác nhằm thúc đẩy nỗ lực ứng phó với đại dịch, phục hồi kinh tế, ứng phó với biến đổi khí hậu, cũng như các lĩnh vực khác nhằm đảm bảo hòa bình, ổn định và thịnh vượng tại khu vực".

        "Việt Nam mong muốn các sáng kiến hợp tác tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tôn trọng luật pháp quốc tế, tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng của các nước, bảo đảm vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình"- bà Hằng nhấn mạnh.

          Ngày 11-2, Mỹ chính thức công bố chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, trong đó nhắc đến Việt Nam.

          Trong tài liệu này, Mỹ cho rằng một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương chỉ có thể tự do và cởi mở nếu xây dựng được một năng lực tập thể cho kỷ nguyên mới. Các liên minh, tổ chức và luật lệ mà Mỹ và các đối tác xây dựng nên cần phải được điều chỉnh.

          Trong trụ cột này, Mỹ sẽ làm sâu sắc 5 quan hệ liên minh với Úc, Nhật, Hàn Quốc, Philippines và Thái Lan; tăng cường quan hệ với các đối tác khu vực, gồm Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Mông Cổ, New Zealand, Singapore, Đài Loan (Trung Quốc), Việt Nam và các đảo quốc Thái Bình Dương.

          Mỹ cũng sẽ đóng góp cho một ASEAN đoàn kết và được trao quyền; tăng cường "Bộ tứ" và thực hiện các cam kết của nhóm; ủng hộ Ấn Độ vươn lên và đảm trách vai trò lãnh đạo khu vực; hợp tác để xây dựng năng lực chống chịu cho các đảo quốc Thái Bình Dương; thúc đẩy kết nối giữa Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương với châu Âu - Đại Tây Dương; mở rộng hiện diện ngoại giao của Mỹ ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nhất là ở Đông Nam Á và các đảo quốc Thái Bình Dương.

Bộ Ngoại giao trả lời về vụ bắt Cục trưởng Lãnh sự


          Trả lời về vụ án điều tra Cục trưởng Lãnh sự và các cán bộ khác về tội 'Nhận hối lộ' liên quan đến hoạt động đưa công dân về nước, đại diện Bộ Ngoại giao khẳng định chủ trương nhất quán của Bộ Ngoại giao là sai phạm đến đâu xử lý đến đó, không bao che, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai.

Bà Lê Thị Thu Hằng

          Ngày 27/1, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam và thực hiện lệnh khám xét đối với 4 bị can, trong đó có Cục trưởng và Phó cục trưởng Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao về tội “Nhận hối lộ”.

          Tại cuộc họp báo thường kỳ chiều 17/2, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết quan điểm của Bộ Ngoại giao về vụ án này.

          Bà Hằng khẳng định việc đưa công dân Việt Nam có nhu cầu, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về nước là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Đây cũng là nhiệm vụ hết sức quan trọng, khó khăn chưa có tiền lệ, được Thủ tướng Chính phủ giao cho Ban chỉ đạo quốc gia, các bộ, ngành liên quan và cơ quan đại diện ở nước ngoài phối hợp triển khai.

          Trong bối cảnh trong nước phải tập trung ứng phó với dịch bệnh chưa từng có và năng lực y tế có hạn, Việt Nam là một trong số ít quốc gia liên tục tổ chức các chuyến bay đưa công dân về nước, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao.

          Từ chuyến bay đầu tiên đưa công dân Việt Nam ở Vũ Hán (Trung Quốc) về nước vào đầu tháng 2/2020, đến nay các cơ quan đã có nhiều nỗ lực để phối hợp với các hãng hàng không thực hiện hơn 1.000 chuyến bay đưa hơn 240.000 công dân từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ về nước an toàn.

          “Vụ việc liên quan đến sai phạm của một số cá nhân lợi dụng chức vụ, quyền hạn không thể phủ nhận những nỗ lực và kết quả nêu trên. Chủ trương nhất quán của Bộ Ngoại giao là sai phạm đến đâu xử lý đến đó, không bao che, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”, bà Hằng nói.

          Bà Hằng cho biết, Bộ Ngoại giao đang phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để làm rõ trách nhiệm và đã đình chỉ các cá nhân liên quan để phục vụ điều tra. Bộ Ngoại giao cũng chỉ đạo các đơn vị trong nước và cơ quan ở nước ngoài khẩn trương rà soát quy trình xử lý công việc, bảo đảm quy trình hiệu quả công tác lãnh sự và bảo hộ công dân; thực hiện thanh tra, giám sát, kiên quyết đấu tranh với các hành vi tiêu cực, giữ vững truyền thống tốt đẹp của ngành ngoại giao.

TẤT CẢ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỀU PHẢI THẤT BẠI TRƯỚC VIỆT NAM


Một dân tộc có trường tồn hay không phụ thuộc vào nền văn hóa của dân tộc đó. Việt Nam trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, từ thời đại Văn Lang cho đến Cộng hòa xã hội chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Dân tộc Việt đã chịu sự đô hộ của Người Hán hơn một ngàn năm, rồi Thực dân Pháp đến đế quốc Mỹ.. nhưng vẫn không bị đồng hóa bản sắc văn hóa. 

Để xây dựng một nền kinh tế mạnh chỉ mất 20 năm đến 30 năm, trong khi đó muốn xây dựng một nền văn hóa dân tộc phải mất hàng ngàn năm. 

Nền văn hóa Việt thể hiện sự gắn kết chặt chẽ mọi người với nhau, thể hiện qua quan hệ tình thân họ hàng, làng xóm, quan hệ ông bà, bác chú, cậu cô dì... Quan hệ thầy trò...

Trong một xã hội nặng tình người " thương người như thế thương thân", "lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều" để mọi người không ai tụt lại phía sau. Văn hóa Việt được thể hiện qua những ngày giỗ ông bà,cha mẹ.. đặc biệt chưa có một quốc gia nào trên thế giới có ngày Quốc giỗ như Việt Nam đó là giỗ tổ Hùng Vương. Một năm phải vất vả ngược xuôi của những người con xa gia đình, người nơi biên cương,nơi đầu ngọn sóng, người phải xa quê lập nghiệp... Tết Nguyên Đán là dịp trở về quê để đoàn viên sum vầy, ngày Tết mọi người hân hoan cùng sẻ chia vui buồn, cùng nhau họ tộc sắm sửa cổ bàn đèn hương phụng niệm Tổ tiên ông bà cha mẹ...

Đã có những kẻ lai căng nền văn hóa phương Tây có ý kiến nên bỏ Tết Nguyên Đán và gộp lại hai Tết thành một... đúng là những kẻ chỉ biết đồng tiền trước mắt mà không biết gì về một chút văn hóa.

Tết nguyên đán của Việt Nam là bản sắc truyền thống độc đáo về tính nhân văn đoàn kết yêu thương và tự hào dân tộc. Cả thế giới rất tán dương và ngưỡng mộ lòng yêu nước của người Việt, đó là một sức mạnh đã làm nên lịch sử vẽ vang hào hùng của dân tộc Việt Nam, thời đại công nghệ cao 4.0 thông tin truyền thông đã phát triển cả khắp thế giới cho mọi người thấy rõ được sự phát triển vượt bậc của Việt Nam. Có ai thật sự yêu nước mới thấy được sự bình yên đáng trân quý thành tựu phát triển của đất nước. Những năm gần đây và đặt biệt năm tý 2022 mới thấy rõ Việt Nam đã và đang thành công về mọi mặt từ chính sách đối ngoại đến đối nội. Cho nên các thế lực thù địch xuyên tạc chống phá đất nước ngày càng bị bẽ mặt. Kiều bào bây giờ họ nắm bắt được thông tin chính thống kịp thời, hiểu biết và tin tưởng sự lãnh đạo của ĐCSVN. 

Ai có về Việt Nam mới thật yêu quý trọn vẹn niềm tự hào dân tộc. Thấy sự đổi mới phát triển của đất nước là niềm hạnh phúc của kiều bào. Chúng ta hãy hiểu biết hơn để đánh giá được công cuộc đổi mới, phát triển đất nước dân giàu nước mạnh và xã hội ngày càng công bằng hơn. Sự ứng xử quan hệ của lãnh đạo của Việt Nam là một bước tiến niềm tin chiến lượt về ngoại giao. Khi đánh giá về Việt Nam nhiều quốc gia trên thế giới, cũng phải ngã mũ thán phục sự hiền hòa và lòng hiếu khách của người Việt hướng tới sự đổi mới phát triển cùng có lợi cho nhau. Vậy xin hỏi các bạn có đất nước nào mà người dân luôn đồng hành nhất quán với các quyết định của chính phủ một cách tuyệt đối không. Chỉ có sự tin tưởng vì ý đảng, lòng dân phục vụ thì mới có được sự đoàn kết. Ở đâu có áp bức thì ở đó có sự đấu tranh. Nhưng ở VN thì là sống đoàn kết tin tưởng đảng đã thành những bản sắc tuyệt vời về thành công. Đất nước chiến thắng đại dịch covid cũng là sự thành công của toàn đảng toàn dân thì những kẻ chống cộng hãy thức tỉnh đừng gì bệnh hoang tưởng mà xuyên tạc chống phá, không có cửa nữa rồi. Lịch sử phát triển của đất nước là niềm kêu hãnh của hơn 96 triệu dân Việt Nam./.

Lời Bác dạy “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt".


Ngày 20/02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt. Mặc dù phải chỉ đạo kháng chiến nhưng Bác vẫn dành thời gian đi thăm và nói chuyện với cán bộ, nhân dân các địa phương, trong đó có tỉnh Thanh Hóa. Người có nói: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt".

Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đó là, cán bộ phải là mắt xích quan trọng, là dây chuyền của bộ máy, giúp cho bộ máy hoạt động có chất lượng, hiệu quả. Người còn nhấn mạnh, khẳng định vị trí, vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ, theo đó, cán bộ là cái gốc của mọi công việc và cái gốc của cán bộ chính là đạo đức cách mạng. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng quần chúng không được giáo dục, không được tập hợp thành một khối thống nhất thì cách mạng cũng không đi đến thành công. Trách nhiệm của người cán bộ là người tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân và tập hợp quần chúng nhân dân thành một khối thống nhất mới tạo ra sức mạnh tổng hợp và đưa cách mạng đến thành công. Cán bộ còn là cầu nối, là dây chuyền của bộ máy, phải thực sự tận tâm, tận lực với công việc, thực sự là tấm gương trước quần chúng nhân dân, thực sự là công bộc của dân.

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lời căn dặn của Bác: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt” vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa to lớn, là tư tưởng chỉ đạo trong công tác cán bộ của Đảng ta, đồng thời là yêu cầu, đòi hỏi đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ trong quân đội nói riêng phải không ngừng tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, thực sự là hạt nhân đoàn kết, gương mẫu, tiêu biểu về mọi mặt, tận tâm tận lực với công việc, là tấm gương sáng trong từng cơ quan đơn vị để cán bộ, chiến sĩ học tập, noi theo, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao./.

CÁCH NHÌN SAI LỆCH VÀ XUYÊN TẠC SỰ THẬT VỀ TÌNH HÌNH PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH COVID-19 Ở VIỆT NAM


Trong thời gian vừa qua lợi dụng thời điểm khó khăn khi đợt dịch COVID-19 lần thứ tư bùng phát ở Việt Nam, với sự xuất hiện biến chủng Delta, Omicron của vi-rút SARS-CoV-2 có tốc độ lây nhiễm nhanh, diễn biến vô cùng phức tạp, khó kiểm soát.các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước lại ra sức đăng tải, phát tán tràn lan trên các phương tiện truyền thông xã hội, như blog, zalo, facebook... Những thông tin có nội dung sai lệch, bịa đặt về tình hình dịch bệnh COVID-19 ở Việt Nam. Với tần suất, lưu lượng, cường độ những thông tin xấu, độc trên ngày càng gia tăng, kèm theo là những hình ảnh, clip không rõ nguồn gốc, được lắp ghép từ những sự iện rời rạc, chỉnh sửa có chủ ý, mưu toan dựng lên bức tranh đen tối về phòng, chống dịch bệnh COVID-19 ở Việt Nam; trong đó, nổi lên một số thủ đoạn chủ yếu là:

Một là, tung tin giả mạo nhằm tạo ra những hỗn loạn trong cộng đồng, gây đảo lộn đời sống sinh hoạt của người dân. Những thông tin thất thiệt nhanh chóng được một số đối tượng khác chia sẻ, bình luận, lây lan trong cộng đồng nhằm gieo rắc tâm lý hoài nghi, tiêu cực, bức xúc, làm bất an lòng dân, bất ổn xã hội. Các đối tượng còn bịa đặt rằng “chính quyền sẽ bỏ mặc người dân”, “mạnh ai người ấy sống”; từ đó kích động người dân không tin chính quyền, không chấp hành các quy định về giãn cách, cách ly, thích ứng linh hoạt với dịch bệnh, gây khó khăn cho công tác phòng, chống dịch bệnh. Đối với họ, tình hình càng rối thì càng dễ giở các chiêu trò chống phá. Tuy nhiên, thực tiễn đời sống xã hội, sự quyết tâm vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị từ cơ sở đến Trung ương là những bằng chứng sinh động, thuyết phục, hoàn toàn khác với những gì mà các thế lực phản động tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá.

Hai là, chỉ trích, xuyên tạc công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 của Đảng, Nhà nước ta là sai lầm, vi phạm quyền con người. Trên nhiều chuyên mục của đài, báo nước ngoài không có thiện chí với Việt Nam đã có hàng trăm bài viết; đặc biệt trên các trang mạng xã hội, số lượng này lớn hơn nhiều với nội dung cố tình bóp méo sự thật, khích bác về công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 của Việt Nam. Đó là những luận điệu như chỉ trích “chống dịch kiểu Việt Nam khiến dịch bệnh lây lan ngày càng nhiều”… Thậm chí, họ còn đưa ra luận điệu  “cố tình che giấu sự thật” về dịch bệnh COVID-19; xuyên tạc nhằm hạ bệ uy tín của Đảng, Nhà nước, phủ định quyết tâm của cả hệ thống chính trị trong việc vừa bảo vệ an toàn tuyệt đối tính mạng của nhân dân, vừa tập trung phát triển kinh tế xã hội. Trong điều hành phòng, chống dịch bệnh COVID-19, vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền, đẩy người dân vào cảnh thiếu đói cùng cực”. Từ đó, họ kích động nhân dân “bất tuân dân sự”, đi ngược lại các biện pháp phòng, chống dịch bệnh mà rộng hơn là chống lại các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Ba là, đưa tin giả với mưu đồ chia rẽ vùng, miền, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Với chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đẩy mạnh thủ đoạn kích động, mưu toan gây mâu thuẫn, chia rẽ vùng, miền, nhằm làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhiều đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã mượn cớ này để hùa theo, cho rằng Đảng, Nhà nước “phân chia” và “ưu tiên” vùng, miền, giữa thành thị và nông thôn trong phòng chống dịch. Những luận điệu xuyên tạc đó không chỉ nhằm gây tâm lý chia rẽ vùng, miền mà còn khoét sâu thêm vào khó khăn, vất vả mà người dân và đồng bào cả nước đang phải dốc sức vượt qua trong cuộc chiến với dịch bệnh.

Bốn là, xuyên tạc chiến lược vắc-xin, chiến dịch tiêm chủng phòng, chống COVID-19 của Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng phản động, cơ hội tung tin sai sự thật rằng “chính quyền lừa dối nhân dân trong chiến dịch vắc-xin”, “Chính phủ lấy vắc-xin viện trợ của quốc tế để bán cho dân”... Họ xuyên tạc trắng trợn chính sách phân bổ, cung cấp vắc-xin của Đảng, Nhà nước ta rằng Chính phủ chỉ ưu tiên tiêm vắc-xin ngừa COVID-19 cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đảng viên và các đối tượng là “con ông, cháu cha” chứ không quan tâm đến sức khỏe người dân, nhất là người dân nghèo, người yếu thế trong xã hội. Thậm chí, họ còn bịa đặt, vu cáo Chính phủ Việt Nam sử dụng quỹ vắc-xin không đúng mục đích; từ đó kêu gọi người dân, cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước rút tiền, ngừng việc quyên góp, ủng hộ vào Quỹ vắc-xin phòng, chống dịch bệnh COVID-19.

Tóm lại, bản chất của âm mưu, thủ đoạn và các chiêu trò chống phá tinh vi, xảo quyệt trên của các thế lực thù địch với mưu đồ gây nhiễu loạn thông tin, gieo rắc tâm lý lo âu, hoang mang, gây xáo trộn đời sống kinh tế - xã hội, nhằm làm suy giảm quyết tâm chính trị và sự đồng thuận chống dịch trong cộng đồng. Họ không chỉ dừng lại ở việc xuyên tạc tình hình, phủ nhận một cách vô căn cứ những biện pháp, kết quả hữu hiệu của Việt Nam trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19 mà còn mưu toan tác động vào niềm tin của nhân dân đối với đường lối chủ trương chính sách của Đảng, gây mất ổn định tình hình chính trị, trật tự, an toàn xã hội./.

Vai trò của công tác tư tưởng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và sự nghiệp xây dựng, chiến đấu của quân đội.

 


     Công tác tư tưởng, lý luận của Đảng trong quân đội là một bộ phận của công tác tư tưỏng của Đảng Cộng sản Việt Nam, một mặt cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam.  trực tiếp bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, tư tưởng, văn hoá, đạo đức cách mạng, phát triển đời sống tinh thần của lực lượng vũ trang phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và quân đội. Là công tác đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá chống mọi âm mưu thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch. Công tác tư tưởng, lý luận luôn là một trong những hoạt động có vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng của Đảng  và trong sự nghiệp xây dựng chiến đấu của quân đội.

          Tình hình quốc tế và trong nước hiện nay đang đặt ra cho công tác tư tưởng, lý luận của Đảng cũng như của quân đội phải vượt qua những thử thách nghiêm trọng. Điều đó một mặt bắt nguồn từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tạo cơ hội cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế điên cuồng kích động nhằm phủ định chủ nghĩa xã hội hiện thực ,phủ định chủ nghĩa Mác-LêNin; các thế lực thù địch - đặc biệt là các chính trị gia tư sản, cùng các phần tử cơ hội, bất mãn lợi dụng sự kiện này ra sức tuyên truyền quan điểm chính trị tư tưởng tư sản phản động vào trong nhân dân và quân đội ta. Mặt khác, đứng trước thực tế diễn biến phức tạp của tình hình, một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân lâm vào trạng thái hoài nghi, bi quan dao động, mất định hướng tư tưởng. Trong khi đó công tác tư tưởng, lý luận của quân đội tuy đạt được những tiến bộ nhất định về nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động, nhưng vẫn tồn tại không ít hạn chế, chưa thực sự ngang tầm với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại . Vì vậy,  nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội trước yêu cầu mới là một vấn đề hết sức quan trọng và cấp thiết hiện nay.

    Khẳng định vai trò quan trọng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận là xuất phát từ cơ sở khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội. Trong khi khẳng định vai trò quyết định của tồn tại xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin đồng thời chỉ ra và nhấn mạnh đến vai trò to lớn của những tư tưởng tiên tiến - tức sự tác động của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội, sự tác động đó thông qua vai trò của yếu tố con người. con người đó phải có nhận thức, có hiểu biết, có năng lực tổ chức thực tiễn .Công tác tư tưởng, lý luận phải làm cho ý thức hệ của giai cấp vô sản giữ vai trò quyết định, chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc. Đó là lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng. Khi ý thức hệ đã ăn sâu bám dễ trong giai cấp và quảng đại quần chúng nhân dân lao động  thì nó sẽ tạo ra động lực to lớn của phong trào cách mạng, C.Mác đã khẳng định :Lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng. Do đó đối với Đảng cộng sản không những được vũ trang bằng lý luận tiên phong, mà Đảng còn phải trang bị cho quần chúng lý luận tiên phong đó, thức hiện nhiệm vụ  đó chính là vai trò chức năng của công tác tư tưởng,lý luận .Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên chăm lo đến công tác tư tưởng, những thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn 70 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh một cách sinh động sự đóng góp to lớn của công tác tư tưởng.

          Trong quân đội, công tác tư tưởng, lý luận là một bộ phận hợp thành của công tác đảng, công tác chính trị, có nhiệm vụ giáo dục quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương chính sách của Đảng cho cán bộ chiến sỹ; giáo dục, bồi dưỡng cho cán bộ chiến sỹ phẩm chất chính trị đạo đức cách mạng; bảo vệ phát triển các giá trị văn hoá tinh thần ...xây dựng  nhân cách tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ". Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất, trực tiếp quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội. Đúng như Lênin khẳng định: Trong cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Ngày nay trước sự tác động của cuộc chiến tranh vũ khí công nghệ cao; trước yêu cầu xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó lấy xây dựng chính trị làm cơ sở thì công tác tư tưởng lý luận trong quân đội càng giữ vai trò quan trọng hơn bao giờ hết./.

BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA QUÂN ĐỘI

 Những ngày qua, cơ quan quân sự các địa phương trong cả nước đang tích cực làm tốt công tác chuẩn bị cho Lễ giao nhận quân năm 2022, tiễn thanh niên lên đường nhập ngũ bảo vệ Tổ quốc thì trên các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng vào sự kiện này để “bới lông tìm vết”, họ tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp, bôi nhọ truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.dbhb4444444

 Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, các thế lực thù địch luôn tập trung xuyên tạc những giá trị truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta. Chúng xuyên tạc về lòng trung thành của Quân đội với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; xuyên tạc mối quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế của Quân đội với những luân điệu hết sức phản động, phản khoa học, hòng làm phai mờ hình ảnh tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế. Nổi bật là một số luận điệu: “Lực lượng vũ trang chỉ trung thành với Tổ quốc và Nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức, lực lượng nào”; “xóa bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”; “Quân đội là chỉ của quốc gia dân tộc” và có nhiệm vụ “bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân chứ không phải bảo vệ chế độ nào”. 

 Cùng với đó, chúng triệt để lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của một số cán bộ, chiến sĩ trong quan hệ với nhân dân để ra sức kích động nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Quân đội với nhân dân; chúng vu cáo: “Tuy gọi là Quân đội nhân dân song thực chất chỉ là công cụ bạo lực của một tập đoàn cầm quyền, không phải là quân đội mang lại lợi ích cho dân”.

Những luận điệu trên được chúng “nhai đi nhai lại” nhiều lần, do vậy, nếu không tỉnh táo, sáng suốt, một bộ phận người dân, nhất là thanh niên sẽ bị lôi kéo, dao động tư tưởng, từ đó nghe theo sự xúi dục của các phần tử chống đối chính trị. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết phê phán, đấu tranh với những luận điệu phản động.

 Có thể khẳng định, từ khi thành lập đến nay, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, hơn 77 năm qua Quân đội nhân dân Việt Nam luôn: Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; thực sự là Quân đội anh hùng của dân, do dân và vì dân; được Đảng và Nhân dân ta hết mực tin yêu, bạn bè ngưỡng mộ và ngay cả kẻ thù cũng phải nể phục.

 Việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, của “Bộ đội Cụ Hồ” là công việc của chính mỗi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, trong đó có những thanh niên ưu tú của quê hương hôm nay đang tràn đầy nhiệt huyết, khí thế quyết tâm và sự hào hứng chờ đến “Ngày hội tòng quân” được khoác lên mình bộ quân phục người lính, chắc tay súng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; luôn gương mẫu đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, công tác và lao động sản xuất, cũng như trong sinh hoạt đời thường của mỗi quân nhân. Do đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nỗ lực rèn luyện, phấn đấu thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 Việc đấu tranh phòng, chống các luận điệu thù địch, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh (cả ở khía cạnh cá nhân và tư tưởng của Người) là một công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải thực sự nỗ lực và có nhiều giải pháp đồng bộ. Bởi các thế lực xấu luôn không từ bất kỳ thủ đoạn nào để công kích, bôi nhọ, hạ bệ Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng những cách thức rất khó dự đoán trước. Trong khi đó, với môi trường không gian mạng đa chiều, có tính mở rất cao, những thông tin sai trái đó vẫn có thể âm thầm tồn tại và len lỏi, thâm nhập dần vào một bộ phận người thiếu thông tin nhưng cả tin, nhất là trong giới trẻ. Nếu không kịp thời và quyết liệt đấu tranh, có thể sự thẩm thấu, tán phát ngày càng sâu hơn, rộng hơn và hậu quả cũng khó lường hơn.

Đương nhiên, các giải pháp mang tính chất phòng ngừa là rất quan trọng, bởi đó là cách trang bị cho cán bộ, đảng viên, nhân dân những kiến thức, nhận thức phù hợp và mang tính nền tảng, đồng thời làm lan tỏa những thông tin đúng đắn, chính xác để tự nó có thể “đánh bại” các thông tin sai trái, bịa đặt. Tuy nhiên, các thế lực xấu luôn có trăm phương ngàn kế để thực hiện âm mưu thâm độc của mình, do đó, không chỉ phòng mà còn phải chống, chống quyết liệt và thật sự hữu hiệu.

Hiện nay, trong việc đấu tranh các luận điệu sai trái, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh phải gắn với việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW của Ban Bí thư khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới” gắn với Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. 

Do đó, cần thực hiện tốt việc quán triệt trong cán bộ, đảng viên về những vấn đề mang tính nguyên tắc, những thông tin, kiến thức mang tính chính thức liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng, tấm gương, đạo đức của Người. Tùy theo đối tượng mà nên trang bị những nhóm kiến thức phù hợp, có thể bắt đầu từ trong nhà trường phổ thông với những nội dung và hình thức phù hợp. Quá trình đó, cần khéo léo dẫn lại những luận điệu sai trái, gợi ý các nội dung và cách thức bác bỏ. Trong hoạt động thông tin và phản bác cần có cách thức để làm người tiếp nhận có thể hình thành ý thức tự phản biện và tin tưởng bằng cách luận cứ khoa học, chứ không phải áp đặt.

Các cơ quan chức năng cần nắm chắc những ý kiến sai trái về Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả về thân thế và sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, truy nguyên nguồn gốc của thông tin sai trái đó, xác định rõ dụng ý hoặc âm mưu của việc lan truyền các thông tin sai trái đó là gì, đánh giá mức độ lan tỏa và sự nguy hiểm của nó… để có phương thức đấu tranh hợp lý. Dĩ nhiên, có những thông tin sai trái không cần đấu tranh hoặc chưa cần đấu tranh thì không nhất thiết phải nhắc đến, tránh tạo sự hiếu kỳ mà làm lan rộng thêm đến nhiều người khác.

Bên cạnh đó, với những luận điệu nguy hiểm, có chiều sâu về mặt âm mưu, thủ đoạn, có sự phức tạp về các luận điểm, luận cứ… thì cần phải được nghiên cứu thấu đáo và có những cách thức đấu tranh thường xuyên, bằng nhiều hình thức, trên nhiều phương tiện, lan tỏa đến nhiều đối tượng. Chẳng hạn, việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh rồi tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin hoặc tung hô Hồ Chí Minh là nhà yêu nước, người theo chủ nghĩa dân tộc thuần túy… nên xem là những luận điểm cực kỳ nguy hiểm, cần phải đấu tranh triệt để.

Điều quan trọng nữa là cần gắn chặt việc đấu tranh chống các luận điệu sai trái về Hồ Chí Minh với hoạt động đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, thù địch về vai trò lãnh đạo của Đảng, về các vị lãnh tụ và các đồng chí lãnh đạo của Đảng… Bởi với các thế lực xấu, họ luôn có sự gắn kết các vấn đề này với nhau, với logic tư duy là chỉ cần “bác bỏ” hoặc “bẻ gãy” một điểm thì tự khắc những điểm khác sẽ đổ. Quá trình đó cần tích cực xử lý các “điểm nóng”, khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong nội bộ để không còn cớ cho kẻ xấu lợi dụng công kích.

Việc đấu tranh với các quan điểm sai trái về Hồ Chí Minh là một việc quan trọng, cần được thực hiện thường xuyên, lâu dài, bằng nhiều hình thức, nhiều phương tiện và nhiều lực lượng. “Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, truyền thông, kết hợp chặt chẽ với tuyên truyền miệng, các kênh thông tin khác, xây dựng chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền sát hợp thực tế để chủ động đấu tranh, phòng, chống và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh; gắn với nhân rộng các gương điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đa dạng hóa các phương pháp, hình thức đấu tranh, phê phán những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”.

Trong nhiệm vụ này, mỗi đảng viên nên tự đặt cho mình trách nhiệm, cả trong ghi nhận, nắm bắt các thông tin sai trái, phản ánh đến cơ quan, tổ chức có trách nhiệm (trước hết là với chi bộ) và trong những điều kiện cụ thể có thể tham gia phản bác, đấu tranh bằng những hình thức phù hợp. Từ các đảng viên, tinh thần chủ động và tích cực đấu tranh nên tiếp tục được lan tỏa đến quần chúng nơi công tác, nơi cư trú, người thân và những người xung quanh khác để mỗi khi một thông tin sai trái về Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng, về các vấn đề có tính nguyên tắc của Đảng nói chung thì phải được phản ánh và đấu tranh chứ không có sự thờ ơ hoặc vô tình tiếp tay làm thông tin đó lan truyền rộng rãi.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG

 Thực tế, “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài” và “vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, cho nên, cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn phấn đấu để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; suốt đời tận trung với nước, tận tâm phụng sự nhân dân, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Những điều căn cốt này đã được mỗi quần chúng nhận thức rõ. Vì thế, khi đã xác định phấn đấu trở thành đảng viên, tất yếu mỗi người đều không chỉ cần phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc thuộc về tổ chức, sinh hoạt và Điều lệ Đảng mà còn phải trải qua quá trình phấn đấu, tu dưỡng, thử thách để trưởng thành.

Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức, cũng ở trong xã hội và Đảng trong sạch, vững mạnh được quyết định bởi số lượng, chất lượng đảng viên và việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Số lượng đảng viên là cần thiết, song số lượng đó chỉ trở thành sức mạnh khi đạt được những yêu cầu về chất lượng. Vì thế, công tác phát triển Đảng toàn diện vào các vùng, các ngành, các giới, nhất là trong thanh niên, phụ nữ, bộ đội xuất ngũ; trong các vùng xung yếu và các cơ sở còn ít đảng viên để khắc phục tình trạng “vùng trắng”, nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng là rất cần thiết. Hơn nữa, việc phát triển Đảng trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng, học viện, nhà trường; ở các vùng nông thôn; trong các khu vực doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… càng cần phải được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo chất lượng. Nếu không quán triệt và thực hiện đúng vấn đề có tính nguyên tắc đó; nếu chỉ chú trọng số lượng mà coi nhẹ chất lượng, thì các tổ chức Đảng dù “đảm bảo chỉ tiêu kết nạp”, song cũng chỉ là “một câu lạc bộ”, không thể mạnh mà trái lại còn trở nên lỏng lẻo, rệu rã.

Trên thực tế, việc kết nạp người vào Đảng luôn được các cấp ủy xem xét toàn diện, từ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác đến trình độ giác ngộ, động cơ vào Đảng; từ quá trình rèn luyện, tu dưỡng thông qua thử thách thực tiễn đến việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc, thủ tục kết nạp Đảng và theo dõi, đánh giá quá trình phấn đấu trong thời gian là đảng viên dự bị. Mỗi người khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng đều hiểu rõ rằng vào Đảng/trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là để mưu cầu lợi ích cho mình, làm giàu cho bản thân và người thân mà là để cống hiến và phụng sự. Tuy nhiên, thời gian qua, bên cạnh đại đa số giới trẻ, những quần chúng ngoài Đảng đã và đang nỗ lực trau dồi tri thức, nỗ lực làm việc để gây dựng sự nghiệp cho mình; thường xuyên tu dưỡng, phấn đấu để vinh dự được trở thành người đảng viên cộng sản, thì đâu đó cũng vẫn có một bộ phận giới trẻ (công nhân ở các khu công nghiệp, thanh niên ở các vùng nông thôn…) sống thiếu lý tưởng, hoài bão, chỉ biết an phận mình. Đồng thời, cũng vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã xa rời lý tưởng cách mạng, vi phạm kỷ luật Đảng…, song đó chỉ là hiện tượng. Cho nên, không thể vì một vài nhận xét về thực trạng công tác phát triển Đảng ở một số địa bàn cụ thể mà vội quy kết rằng “nếu không bị bắt buộc” thì người dân “không muốn vào Đảng”; và hiện nay công nhân lao động, thanh niên “ngại vào Đảng”, “không tha thiết vào Đảng” như các phần tử phản động đã suy diễn, xuyên tạc.

Chỉ riêng những con số cụ thể này: “Theo dự thảo báo cáo, trong giai đoạn 2010-2020 và 9 tháng đầu năm 2021, tổng số đoàn viên ưu tú do tổ chức đoàn giới thiệu cho đảng là 2.868.498. Theo phân bổ chỉ tiêu của nhiệm kỳ 2012-2017 số lượng đoàn viên ưu tú giới thiệu cho đảng xem xét kết nạp so với chỉ tiêu đề ra đạt 99,16%; nhiệm kỳ 2017-2022, tính đến thời điểm hiện tại đạt tỉ lệ 87,39%. Số lượng đoàn viên ưu tú được kết nạp đảng, theo số liệu thống kê của 67/67 tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc, toàn Đoàn có gần 1,6 triệu đảng viên là đoàn viên đang sinh hoạt tại các chi đoàn, chiếm 25,39% tổng số đoàn viên cả nước và chiếm 30,76% tổng số đảng viên cả nước” cũng đủ là minh chứng sinh động cho thấy công tác phát triển Đảng trong đoàn viên, thanh niên những nhiệm kỳ gần đây. Đó cũng là một trong những bằng chứng bác bỏ sự xuyên tạc của các thế lực thù địch khi cho rằng: cả 3 nhiệm kỳ Đại hội XI, XII, XIII của Đảng cũng không “chữa được hiện tượng chán đảng” dù có sự vào cuộc của ngành Tuyên giáo, của Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.

Thực tế, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu phấn đấu; đồng thời cũng là niềm tự hào của mỗi quần chúng ngoài Đảng nói chung, của tuổi trẻ nước nhà nói riêng. Vì thế, việc vin vào cớ cho rằng thủ tục vào Đảng “rườm rà”, nhất là phải khai lý lịch và được xác minh từ địa phương là thành phần ưu tú trong xã hội về mọi mặt như đạo đức, lối sống, gương mẫu, trong sạch; phải đi học lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng và “vào Đảng không đem lại lợi ích cụ thể gì”, “vào Đảng không có gì khác biệt”… đã “cản trở nhiều người không muốn vào Đảng” chỉ là sự suy diễn cá nhân của những kẻ cơ hội đầy dã tâm chống phá Đảng. Hơn nữa, trên cơ sở thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 23/11/1996 của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân” và Kết luận số 80-KL/TW ngày 29/7/2010 của Ban Bí thư về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW về “Tăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” của Bộ Chính trị (khóa VIII) trong tình hình mới” cùng Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 18/3/2019 của Ban Bí thư về “Tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân”…, công tác phát triển Đảng, thành lập tổ chức Đảng cũng như tạo nguồn phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp và có vốn đầu tư từ nước ngoài thời gian qua cũng có những chuyển biến nhất định và đạt được những kết quả khả quan.

Thông qua việc thay đổi nhận thức của chủ doanh nghiệp với vấn đề phát triển Đảng và thành lập tổ chức Đảng; việc khắc phục những khó khăn về thời gian tham dự lớp cảm tình Đảng của công nhân các khu công nghiệp; nhất là việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về công tác phát triển Đảng trong khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ở các vùng nông thôn… công tác phát triển đảng viên ở những địa bàn này đã có những thay đổi tích cực. Vì thế, câu chuyện “giới trẻ nhạt Đảng”, “giới trẻ ngại vào Đảng” là hiện tượng phổ biến ở Việt Nam mà một luận điệu thù địch nêu ra không phản ánh đúng thực tế công tác phát triển Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó chỉ là một vài hiện tượng đơn lẻ, chỉ là thiểu số, không phải là bản chất, cho nên sự quy chụp đó là vội vàng, là thiển cận và ác ý; là bôi đen sự thật để xuyên tạc công tác phát triển Đảng và công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ ĐỘI TIỀN PHONG CỦA GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC

 Khi nói về chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (tháng 2/1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng: “Những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm: một là, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản; hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn thể phong trào. Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là một bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”.

Cùng với đó, “Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản” cũng ghi rõ điều kiện và tiêu chuẩn để trở thành đảng viên cộng sản, trong đó, không thể không nhắc đến các yêu cầu như thừa nhận chủ nghĩa cộng sản; không tham gia vào mọi tổ chức chính trị hoặc tổ chức dân tộc chống cộng sản; hoạt động phù hợp với mục đích của Đảng; có nghị lực cách mạng và lòng nhiệt thành khi tiến hành công tác tuyên truyền; giữ bí mật công việc của Đảng; được một chi bộ đồng ý kết nạp… Điều đó có nghĩa là, Đảng Cộng sản là tổ chức của những con người thực sự tiêu biểu, vượt trội về nhận thức, tư tưởng, hành động hơn quần chúng ngoài Đảng và đảng viên của Đảng Cộng sản phải là những người có đủ năng lực, phẩm chất để tuyên truyền, vận động, thuyết phục giai cấp công nhân và các tầng lớp khác tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại giai cấp bóc lột.

Ở Việt Nam, được xây dựng và phát triển theo nguyên tắc một Đảng Mácxít Lêninnít chân chính, Đảng Cộng sản là một tổ chức của những con người tiên tiến nhất. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc. Trong một chỉnh thể được tổ chức chặt chẽ, thống nhất ấy, mỗi đảng viên là một tế bào của Đảng; sinh hoạt gắn liền và chịu sự lãnh đạo, quản lý, kiểm tra của tổ chức Đảng. Để trở thành một thành viên của tổ chức ấy, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, tháng 2-1930) đã ghi rõ tại mục III: “Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận đảng thời được vào Đảng”. Trong từng giai đoạn cách mạng, từng thời điểm cụ thể, căn cứ vào nhiệm vụ chính trị của Đảng và trình độ giác ngộ cách mạng của quần chúng, Đảng đề ra điều kiện, tiêu chuẩn đảng viên phù hợp và chặt chẽ, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ. Cụ thể, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Đại hội lần thứ XI, tháng 1-2011) quy định tại mục 2, Điều 1 là: “Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên, thừa nhận và tự nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng”.

Từ quy định trong Điều lệ vắn tắt và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể thấy rõ rằng, người muốn trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam thì tất yếu phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Đó gọi là “tính Đảng”, đồng thời cũng chính là sự thừa nhận một cách tự nguyện và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng của Đảng; với lý tưởng cách mạng chiến đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam mà Đảng lựa chọn. Người được kết nạp vào Đảng nhất định phải là những người ưu tú trong quần chúng; phải có giác ngộ chính trị tốt, thể hiện được tính tiên phong trong mọi lĩnh vực công tác và cuộc sống đời thường; đồng thời, có khả năng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó. Đó chính là giá trị cao quý của Đảng để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiền phong; đồng thời cũng là giá trị của mỗi người đảng viên trong quá trình phấn đấu, trưởng thành. Điều đó cũng có nghĩa là quần chúng đã muốn/đã quyết tâm phấn đấu vào Đảng thì đều phải nhận thức sâu sắc rằng, đã "gọi là đảng viên thì phải biết rõ Đảng ta phải làm gì, vào Đảng để làm gì…Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng… Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ.

Để làm tròn nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang là lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì Đảng phải luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”, song “Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên. Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân, Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân”. Vì thế, Người yêu cầu “Đảng phải phát triển tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần chúng”, thông qua quá trình phát hiện, bồi dưỡng quần chúng về mọi mặt; đồng thời, các tổ chức cơ sở Đảng “cần phải xem công tác củng cố và phát triển đảng là một công tác quan trọng và thường xuyên. Và phải nắm vững phương châm phát triển Đảng là trọng chất hơn lượng” để đề phòng các phần tử thù địch, cơ hội chui vào Đảng.

Vì nghiêm túc trong công tác phát triển đảng viên và coi đó là một nội dung quan trọng để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho nên trong hơn 90 năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, phương hướng phát triển đảng viên được đẩy mạnh theo từng nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Theo nghị quyết các nhiệm kỳ Đại hội Đảng và kế hoạch công tác hằng năm, các cấp ủy Đảng đã căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, cơ quan, đơn vị để tập trung phát triển Đảng toàn diện; đặc biệt, đẩy mạnh việc phát triển Đảng trong công nhân và các thành phần khác như sinh viên đang học tập tại hệ thống các trường đại học, cao đẳng, các học viện, nhà trường, ở các vùng nông thôn hay tại các doanh nghiệp, trong các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và lao động tự do tại các địa phương… tự nguyện rèn luyện tư tưởng, lập trường giai cấp công nhân/mong muốn được đứng trong hàng ngũ của Đảng, phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cao cả của Đảng.

 

DÂN CHỦ KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG Ở VIỆT NAM

 Lâu nay, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối cho rằng, Việt Nam không có dân chủ vì thực hiện chế độ nhất nguyên, nhất đảng nên “vừa đá bóng, vừa thổi còi” và vì thế dẫn đến dân chủ hình thức hoặc mất dân chủ. Trong khi đó, các tổ chức nhân danh dân chủ phương Tây đã và đang tìm cách cổ suý “tiêu chuẩn nhân quyền” kiểu phương Tây vào Việt Nam, đồng thời tung tin bịa đặt với các luận điệu cho rằng: “Việt Nam thiếu văn hóa dân chủ, không có dân chủ, hạn chế quyền riêng tư của công dân”, “Việt Nam vi phạm nghiêm trọng quyền con người”, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội tức là theo chế độ đảng trị, bằng “đảng chủ”; “một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị”; “chế độ một đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”; “chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam là “vừa đá bóng, vừa thổi còi” dẫn đến ở Việt Nam không có dân chủ hoặc dân chủ hình thức”.

Đây là những luận điệu phản khoa học, hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ, phát triển của đất nước, dân tộc. Thực chất luận điệu trên là muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để đi đến xóa bỏ định hướng XHCN ở nước ta. Vấn đề mấu chốt trong học thuyết “dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cần áp dụng đối với Việt Nam” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam. Như vậy, chiêu bài dân chủ thực chất là các thế lực thù địch nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước và định hướng XHCN ở nước ta.

Trên thế giới hiện nay có ba chế độ dân chủ: Dân chủ tư sản, dân chủ nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mỗi chế độ dân chủ nói trên đều có những thiết chế khác nhau, nhưng đều có những yếu tố chung: (1) Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân (bao gồm tất cả thành viên xã hội); (2) bầu cử tự do và theo nhiệm kỳ bầu ra các cơ quan, người lãnh đạo đất nước; (3) quyền lực của nhà nước được chia làm ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi cơ quan trên có chức năng riêng: Hiến pháp và pháp luật được xem là tối thượng; các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được tôn trọng và bảo đảm.

Chế độ dân chủ sau Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là chế độ dân chủ Nhân dân hướng theo con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ ở Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. Tuy nhiên, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc Hiến định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013).

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam ngày càng hoàn thiện các quan điểm về dân chủ, nhân quyền, coi nỗ lực thể chế hóa, luật hóa quan điểm dân chủ, nhân quyền là yêu cầu bức thiết của phát triển. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, khẳng định “phải phát huy quyền làm chủ của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng”. Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định 29/1998/NĐ-CP (đến năm 2003 thay thế bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP) kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã quy định về nội dung, phương thức, trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân. Năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn... Đây là các bước đi thống nhất, đồng bộ về chủ trương kết hợp hành động cụ thể tạo điều kiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Vấn đề một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo, cầm quyền không phải là vấn đề mới và vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, vấn đề này phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mỗi đảng khi lên lãnh đạo, cầm quyền. Về chủ quan, nó phụ thuộc tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mà mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng.

Đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang tính chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp mà đảng ấy đại diện. Lịch sử hiện đại đã chứng minh rằng, trình độ dân chủ và sự phát triển của đất nước không tỷ lệ thuận với sự gia tăng của số lượng đảng phái chính trị. Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, mỗi giai cấp khác nhau có đảng khác nhau, thậm chí trong cùng một giai cấp cũng có thể có nhiều đảng khác nhau. Những đảng của cùng một giai cấp sẽ có cùng bản chất của giai cấp, có lợi ích gắn liền với giai cấp sinh ra nó, chúng chỉ khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và những mục tiêu cụ thể mà không đối lập về bản chất.

Những đảng của các giai cấp khác nhau hoặc đối lập nhau thì không chỉ khác nhau về tôn chỉ, mục đích, phương cách hoạt động, nguyên tắc tổ chức mà còn đối lập về bản chất của đảng. Như vậy, sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện tượng đa đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời là đa nguyên chính trị.

Quan điểm một đảng thì mất dân chủ, cản trở sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển là luận điệu sai trái. Cho đến nay chưa có cơ sở khoa học nào chứng minh điều này. Bởi đất nước có dân chủ hay phát triển không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ thuộc vào đảng cầm quyền đó có mang bản chất cách mạng, tiên phong hay không, có bảo vệ quyền và lợi ích cho đa số nhân dân lao động hay chỉ cho một bộ phận thiểu số người trong xã hội đó.

Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà quốc gia đó có. Vì thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển. Trong khi, nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế-xã hội phát triển, đời sống nhân dân được bảo đảm, nhân dân cảm thấy hạnh phúc, ấm no và có vị thế trên thế giới. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực hiện mục tiêu chung của quốc gia - dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân vì nước mà hành động, chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo. Điều đó là bằng chứng hùng hồn, là minh chứng khẳng định đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển.

Trải qua hơn 90 năm ra đời và lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn khẳng định được vị trí, vai trò không thể thay thế đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Những thành tựu to lớn và ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân Việt Nam đã khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, đó cũng là minh chứng rõ nét rằng bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng và đối với Việt Nam dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền dân chủ trong xã hội không những không bị mất đi, không bị hạn chế mà còn được bảo đảm, được phát huy sâu rộng trong thực tế.