Theo đại tá Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang), công lao lớn nhất của huyền thoại tình báo Trần Quốc Hương (bí danh Mười Hương) là việc phát hiện và đào tạo nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn, người được thế giới đánh giá có năng lực hoạt động tình báo ngang tầm quốc tế.
Đại tá Nguyễn Văn Tàu nhớ lại: “Có ông Phạm Xuân Ẩn làm nòng cốt trong cụm tình báo H.63 nên cuối năm 1971, cụm H.63 được tuyên dương Anh hùng.
Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn, nữ điệp viên Tám Thảo, nữ giao liên Nguyễn Thị Ba (bí danh Long An) và tôi là Cụm trưởng được phong Anh hùng. Công lớn thuộc về ông Phạm Xuân Ẩn. Ông Ẩn do ông Mười Hương phát hiện, bồi dưỡng và đưa đi Mỹ học, sau này làm nên sự nghiệp lẫy lừng.
Phải nói là ông Mười Hương rất giỏi. Không có ông Mười Hương sẽ không có Phạm Xuân Ẩn và nếu không có ông Ẩn thì cụm H.63 nhỏ bé không thể có đến 4 người được phong Anh hùng”,
Ông Trần Quốc Hương (tên thật là Trần Ngọc Ban, có bí danh là Mười Hương), sinh năm 1924, quê xã Vụ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Khi mới 14, 15 tuổi, ông đã tích cực tham gia phong trào Thanh niên dân chủ. Học hết lớp nhất tại trường Tiểu học Phủ Lý, ông chuyển lên Hà Nội nhập học ở trường dòng phố Nhà Chung. Thời gian này ông đổi tên là Hương (sau này, khi vào Nam công tác mới được gọi là Mười Hương), nhiệt tình tham gia phong trào Hướng đạo và Hội truyền bá quốc ngữ.
Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1943. Ông từng làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo cách mạng nước ta: Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Chí Thanh... từng bị tù đày trong nhà tù thực dân Pháp và chính quyền Việt Nam cộng hòa.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông Trần Quốc Hương là nhà tình báo chiến lược xuất sắc, chỉ huy mạng lưới tình báo miền Nam, là cấp trên trực tiếp của những nhà tình báo huyền thoại như: Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Phó Bí thư Thành ủy TPHCM; Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội; Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch; Trưởng Ban Nội chính Trung ương.
Ông là Ủy viên Trung ương Đảng các khóa: IV, V, VI; Bí thư Trung ương Đảng khóa VI.
Trên 80 năm hoạt động cách mạng, ông Trần Quốc Hương đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Ông đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huy hiệu 75 năm tuổi đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.
VỊ THẦY TẦM CỠ CỦA NHỮNG HUYỀN THOẠI TÌNH BÁO VIỆT NAM
Tài năng của "ông trùm" tình báo Mười Hương không phải bỗng dưng mà có. Tất cả đều do tích luỹ từ cuộc đời hoạt động cách mạng của ông mới có thể có được chứ ông không hề được đào tào qua trường lớp nào hết.
Ông Mười Hương có may mắn được làm việc tại Văn phòng Tổng bí thư Trường Chinh giai đoạn tiền khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám. Chính vì thế nên được ông Trường Chinh đặc biệt tin tưởng và trọng dụng. Ngoài việc được gần gụi với Tổng bí thư Trường Chinh, ông cũng có dịp được gần gũi với Chủ tịch Hồ Chí Minh, với các ông Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng...
Tóm lại, đó là những con người một lòng một dạ chiến đấu vì lý tưởng cộng sản cao cả, vô cùng trân quý đã trở thành những bộ sách quý dạy ông trở thành một cán bộ cộng sản mẫu mực.
Khi Tổng bí thư Trường Chinh nhận được đề nghị từ xứ uỷ Nam Kỳ mà cụ thể là từ các ông Lê Duẩn, Lê Đức Thọ muốn tăng cường cán bộ có kinh nghiệm hoạt động an ninh, tình báo trong lòng địch và trong nội thành mà cụ thể là muốn xin đích danh ông Mười Hương, Tổng bí thư Trường Chinh đã chỉ thị cho ông Mười Hương về gặp ông gấp (do đang được phân công xuống địa phương nắm tình hình).
Khi trao đổi, Tổng bí thư Trường Chinh cũng rất biết, đó là việc cực kỳ khó khăn, phức tạp. Ông không ép buộc ông Mười Hương phải nhận mà nói rằng, nếu thấy không thể kham nổi thì cứ báo cáo nguyện vọng, không sao hết, Trung ương không ép...
Với tư cách của người cán bộ cách mạng, ông Mười Hương đã đón nhận thử thách khắc nghiệt này. Không những vậy, ông còn hứa sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ vì hiểu rõ tổ chức đã tin tưởng ở mình nên mới tính đến.
Tổng bí thư Trường Chinh báo cáo việc này với Bác Hồ, Bác nói: Nếu miền Nam xin chú Hương vào hoạt động thì ủng hộ. Do trong ấy còn đang xây dựng tổ chức cho nên không phong sớm chức tước gì cả. Tuỳ tuỳ hình trong đó bố trí nhiệm vụ.
Trước khi lên đường, Bác Hồ mời ông Mười Hương lên gặp. Bác nói: Công việc của chú thì các đồng chí Trung ương đã giao và dặn kỹ rồi. Xem chú nếu nhận được thì nhận và đừng để phụ lòng Trung ương. Bác có nghe ý kiến của chú Bùi Lâm (một lãnh đạo có uy tín thời kỳ đó về công tác quốc tế do đi nhiều và có thực tiễn, lại nắm sâu về nội bộ địch-NV), chú Lâm là người đi nhiều biết rộng, có kinh nghiệm quốc tế. Bác cũng nhắc lại ý kiến của Bác đã nói với Trung ương việc của chú đi vào Nam mà không phong chức tước gì cả, tuỳ trong ấy phân công, việc gì tuy nhỏ mà có lợi cho cách mạng nhớ làm cho tốt. Phải chú ý đến vấn đề đoàn kết Trung -Nam- Bắc, không được coi thường việc chia 3 miền gần một trăm năm của thực dân Pháp"
Bác Hồ còn nhắc ông Mười Hương lúc Người đứng lên chia tay: "Khổng Tử có 72 người học trò giỏi, trong đó Nhan Hồi là học trò yêu đã nói: "Ngô nhất nhật, tam tỉnh ngô thân" ý là mỗi ngày phải để 3 lần tự sửa mình, tu thân. Chủ nghĩa Mác -Lê Nin lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển. Hàng ngày, chú phải cố dành ra thời giờ để kiểm điểm công việc đã làm xem việc gì làm tốt, thành công, việc gì làm chưa tốt, có khuyết điểm để rút kinh nghiệm, sửa chữa, đừng để phụ lòng Trung ương. Nhớ nhé, đi sao về vậy!"( trang 316, sách đã dẫn).
Tiếp đó ,theo lời dặn của Tổng bí thư Trường Chinh, ông Mười Hương sang gặp tiếp phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người được Trung ương phân công phụ trách công tác an ninh, tình báo chiến lược của Đảng và Chính phủ lúc đó. Biết các lãnh đạo cao nhất đều đã nhắc cho nên ông Đồng chỉ nhắc thêm rằng, việc ông "đi miền Nam sẽ là 6 tháng với mục đích xây dựng bộ máy an ninh tình báo, nhất là tổ chức bảo vệ an ninh cho các cấp uỷ rồi sẽ rút ra Bắc".
Vậy là ông đã lên đường vào Nam trên cùng chuyến bay với ông Lê Đức Thọ, hạ cánh xuống sân bay Sóc Trăng vào cuối năm 1954 khi Hiệp định Giơ ne nơ đã ký kết và các bên đang thi hành lệnh ngừng bắn.
Nào ngờ đâu, ông đã nhận nhiệm vụ từ chuyến vô Nam đó lại lâu đến tận ngày giải phóng như vậy.
Ông Mười Hương luôn tự răn mình theo lời Bác dặn nhưng vận dụng vào công tác hoạt động tình báo của mình phải thường xuyên cảnh giác để vượt qua 3 chữ T. Đó là Tình, Tiền (dễ bị cám dỗ, mua chuộc) và Tù (nếu bị thì dù tra tấn đến đâu cũng quyết không đầu hàng).
Riêng cái chữ T thứ 3 là tù tội thì ông Mười Hương đã được nếm trải một lần ở nhà giam Hoả Lò ( Hà Nội). Bởi vậy nên ông đủ tự tin sẽ không kẻ thù nào làm ông gục ngã.
Kiến trúc sư" tình báo Trần Quốc Hương với miền Nam.
Đối với miền Nam, nhà tình báo Trần Quốc Hương ( Mười Hương) vừa là người gần gũi vừa là huyền thoại, dù ông không sinh ra trên mảnh đất này
Trong kháng chiến chống Mỹ, Thiếu tướng Trần Văn Danh, bí danh Ba Trần là Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, phụ trách các lực lượng tình báo, đặc công, biệt động. Cũng nhờ ông Ba Trần, tôi được biết và tiếp xúc với ông Mười Hương cùng một số nhà tình báo đáng kính khác để nghe những câu chuyện mà như chỉ có trong truyền thuyết.
Hai lần bí mật vào Nam
Mùa xuân năm 1954, khi cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp bước vào giai đoạn cuối, nhà tình báo Trần Quốc Hương đang hoạt động sâu trong lòng địch đã được gọi về gặp Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Ông được đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp gặp gỡ, giao nhiệm vụ về vùng tả ngạn sông Hồng tuyển chọn người để đưa vào miền Nam hoạt động điệp báo chuẩn bị cho cuộc chiến đấu tiếp theo vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Bằng linh cảm của một nhà hoạt động tình báo bẩm sinh, Trần Quốc Hương đã về thẳng Thái Bình và chọn ngay được hai cán bộ Thị ủy Thái Bình để phục vụ cho công tác mới: Vũ Ngọc Nhạ (bí danh Hai Long) và Vũ Hữu Ruật (Thọ). Ngay sau đó, vợ con hai ông được tổ chức di cư vào Nam trên một chuyến tàu đặc biệt từ bến cảng Hải Phòng. Vũ Ngọc Nhạ và Vũ Hữu Ruật về sau cũng trở thành hai nhà tình báo hàng đầu trong mạng lưới A22 hoạt động ngay trong đầu não chính quyền Sài Gòn.
Mùa thu năm 1954. Ông Lê Đức Thọ được Xứ ủy Nam Bộ cử ra Bắc xin trung ương bổ sung cán bộ có kinh nghiệm hoạt động tình báo vùng địch hậu và Trần Quốc Hương là người được chọn.
Sau Hiệp định Genève, Trung ương Cục miền Nam được thành lập thay thế cho Xứ ủy Nam Bộ. Trần Quốc Hương được cử tham gia lãnh đạo Ban Địch tình trực thuộc Trung ương Cục, tổ chức ngay các lớp huấn luyện tình báo ngắn ngày, phụ trách mạng lưới tình báo Sài Gòn - Chợ Lớn. Với tấm thẻ căn cước mang tên người anh ruột đã qua đời Trần Đức Trí, ông rời miền Tây lên hoạt động ngay nội thành Sài Gòn trong vai thầy giáo. Ông được giao xây dựng và chỉ huy mạng lưới tình báo chiến lược, bắt liên lạc và đưa các tình báo viên hoạt động độc lập, đơn tuyến thâm nhập các cơ quan trung ương của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Bắt đầu từ đây, qua sự huấn luyện và chỉ đạo duy nhất của ông Trần Quốc Hương, các nhà tình báo cách mạng đã dần lập được những chiến tích lớn đi vào huyền thoại như Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hòe, Huỳnh Văn Trọng,...
Đến đầu năm 1968, đại tá Trần Quốc Hương đang là Cục trưởng Cục Kỹ thuật Bộ Công an, lại nhận lệnh trở vào miền Nam chuẩn bị cho chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân. Giống như lần đầu, ông cũng được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và nghe những lời chỉ bảo, dặn dò của Bác trước khi lên đường.
Với nhiệm vụ Trưởng Ban An ninh Sài Gòn - Gia Định (T4), Trần Quốc Hương lãnh đạo xây dựng hệ thống an ninh từ huyện đến xã vùng giải phóng lẫn địch hậu, đồng thời móc nối chỉ huy các cụm tình báo chiến lược, nhất là sau những tổn thất lớn của năm Mậu Thân 1968.
Một trong những dấu ấn đặc biệt của Mười Hương khi vào Nam lần thứ hai là ông thành lập Cụm tình báo chiến lược mang mật danh A10 để hoạt động trong lực lượng thứ ba có cảm tình với cách mạng ở nội đô Sài Gòn. Họa sĩ Ớt, tức nhà báo Huỳnh Bá Thành, là một trong những nhà tình báo tiêu biểu của cụm A10, về sau trở thành Tổng Biên tập Báo Công an TP HCM
Tiếng khóc của một con người thép.
Vào ngày 14-8-1958, do một điệp viên không chịu nổi tra tấn cực hình đã khai báo, Trần Quốc Hương bị bắt tại Sài Gòn và chuyển ra Huế. Trong thời gian này, Trần Quốc Hương đã có cuộc đối thoại trực tiếp đầy bản lĩnh với Cố vấn Ngô Đình Nhu trong một cuộc họp báo công khai với sự tham dự của nhiều quan chức, tướng lĩnh cao cấp; đồng thời ông cũng vừa mềm dẻo vừa cứng rắn khi đối diện với hung thần Ngô Đình Cẩn.
Sau khi ngụy quyền Ngô Đình Diệm bị đảo chính, Ban Tham mưu Miền lên kế hoạch giải cứu nhà tình báo Trần Quốc Hương.
Nhiệm vụ được nhà chỉ huy tình báo Trần Văn Danh giao trực tiếp cho Nguyễn Văn Tàu - tức Tư Cang - cùng một số nhà tình báo khác hỗ trợ về tài chính, liên lạc. Công việc hoàn thành, Trần Quốc Hương đã được giải thoát khỏi nhà tù và đưa về căn cứ kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ. Đó là ngày 18-5-1964, sau 6 năm ông bị biệt giam và chịu mọi tra tấn cực hình!
Tướng Ba Trần nhớ lại rằng ông và mọi người rất xúc động khi nhìn thấy ông Mười Hương xuất hiện trong dáng vẻ xanh xao, gầy mòn.
Lúc ấy, Phòng Quân báo Ban Tham mưu Miền cho người đón ông Mười Hương về căn cứ Phú Hòa Đông ở Củ Chi. Mọi người hỏi nhau "Ai như dáng anh Mười Hương?". "Vâng, tôi đây! Các anh ơi, Mười Hương đã về đây!".
Và rồi con người thép chẳng hề biết sợ là gì trước mọi ngón đòn thâm độc của đối phương lại bật khóc ngon ngọt trong vòng tay thương yêu của đồng đội. Ông khóc như một đứa trẻ, như một người lưu lạc sau nhiều năm được trở về với nguồn cội.
Tiếng khóc hạnh phúc của Mười Hương giữa rừng miền Đông không chỉ làm nao lòng những người có mặt như tướng Bảy Tiến - Trần Văn Quang, Ba Trần, Tư Cang,... mà còn gây xúc động cho bao người khác khi nhớ về vị "kiến trúc sư" tài ba và nhân cách lớn của ngành tình báo Trần Quốc Hương huyền thoại!
CÂU CHUYỆN 3KG CỨU NGƯỜI CHỈ HUY TÌNH BÁO
Điều tôi nhớ nhất về ông Mười Hương đó là một người nhiệt tình với công tác tình báo. Ông ấy được Trung ương phái vô để xây dựng ngành tình báo trong Nam sau Hiệp định Geneve 1954. Còn tháng 10/1954, tôi đã tập kết ra Bắc rồi nên chúng tôi chưa có dịp gặp nhau.
Lần đầu tôi gặp Mười Hương là lúc đưa ông ấy ra khỏi tù năm 1964. Tôi được biết từ 1954, ông ấy gây dựng mạng lưới tình báo trong này. Khoảng năm 1957, ông ấy kêu Phạm Xuân Ẩn đi học ở Mỹ. Một năm sau, năm 1958, ông ấy bị bắt, ở Huế một thời gian rồi lại chuyển vào Sài Gòn.
Phải nói thêm rằng ông Mười Hương bị bắt bởi Ngô Đình Cẩn và Dương Văn Hiếu. Thời đó, Dương Văn Hiếu là Trưởng đoàn Công tác đặc biệt miền Trung của Ngô Đình Cẩn, là trùm mật vụ, cực kỳ nguy hiểm. Hiếu đã bắt rất nhiều cán bộ thuộc nhánh tình báo trong Sài Gòn, trong đó có Mười Hương.
Năm 1961, sau khi được phong đại úy, tôi từ ngoài Bắc vượt Trường Sơn 100 ngày vào Nam để tham gia mạng lưới tình báo ở Sài Gòn. Từ tháng 4/1962, trên giao cho tôi nhiệm vụ tổ chức đường dây vận chuyển thông tin tình báo do điệp viên có bí danh X6 cung cấp. Đó chính là Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung). Không lâu sau đó thì xảy ra cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm.
Tôi cũng làm thư ký trong cuộc họp kiểm điểm của ông Mười Hương trước Bộ Tư lệnh miền. Thủ tục lúc đó là vậy, ai ra tù, trở về căn cứ cũng phải làm kiểm điểm hết. Thành ra, tôi nắm khá rõ quãng thời gian ông ấy bị bắt. Địch cũng tra tấn ông ấy dữ lắm nhưng không bằng các tù nhân khác. Chúng biết ông ấy là trí thức, là lãnh đạo nên tra tấn kiểu khác.
Ấn tượng nhất có lẽ là chuyện ông ấy kể về cuộc đấu tranh lý luận giữa ông ấy với Ngô Đình Nhu. Ngô Đình Nhu (em trai Ngô Đình Diệm) là nhà lý luận của chế độ Sài Gòn, Nhu theo thuyết cần lao nhân vị. Còn ông Mười Hương là cộng sản. Chủ yếu Ngô Đình Nhu thuyết phục ông Mười Hương về phe ngụy quyền Sài Gòn. Tôi cũng là thư ký nên chỉ biết vậy thôi.
- Kế hoạch đưa ông Mười Hương ra khỏi nhà tù được thực hiện như thế nào, thưa ông?
- Năm 1963, sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, tình hình ở Sài Gòn thay đổi rất nhiều. Ông Tám Mỹ (Chính ủy phòng tình báo lúc đó) nhận được lệnh của cấp trên là bằng mọi giá nhân lúc tình hình đảo chính rối ren phải đưa ông Mười Hương ra. Ông Tám Mỹ kêu tôi, lúc đó là Cụm trưởng Cụm tình báo A.18 (sau này mới đổi tên thành H.63 năm 1968), hội ý xem có cách nào không.
Lúc đó, tôi vào thành trao đổi với Phạm Xuân Ẩn. Ẩn nói địch giam ông Mười Hương trong phòng biệt giam nên giờ chỉ có cách thuyết phục cai ngục. Cách duy nhất là phải chồng thật nhiều tiền cho nó. Tôi hỏi Ẩn là cần khoảng bao nhiêu, Ẩn nói cỡ 100.000 đồng. Hồi đó giá một lượng vàng là 3.000 đồng. 100.000 tức là 33 lượng vàng.
Ông Tám Mỹ chạy về kiếm nhà tư sản yêu nước là bà Võ Thị Quê. Bà Quê cho mượn 100.000 đồng. Bà Quê biết ông Mười Hương thành ra thương ông ấy nên mới dám cho vay số tiền lớn như vậy. Bà Quê sau này cũng tham gia mạng lưới tình báo, bị tra tấn rất dữ trong tù và hy sinh.
Kiếm được tiền rồi thì Phạm Xuân Ẩn vô thuyết phục cai ngục. Ông Ẩn kể có nói với nó: “Mày chịu làm như vậy, mày sơ hở trong 15 phút thì mày lấy 100.000 tiêu xài, mua xe Mercedes chạy”. Khi Mười Hương ra khỏi cổng nhà tù, chiếc Renault của Phạm Xuân Ẩn đã chờ sẵn và đón đi luôn. Chạy được tầm 2 km về tới ngã tư Bảy Hiền thì sang xe taxi của ông Nguyễn Văn Huỳnh, là giao thông liên lạc của cụm tình báo, ông Huỳnh chở Mười Hương chạy một mạch về xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi.
Ở Củ Chi, chúng tôi đã bố trí bà Nguyễn Thị Đệt chờ sẵn và chở về căn cứ Bến Đình. Ông Mười Hương ngồi sau, ôm eo bà Đệt chạy ngang bốt kiểm tra khỏe re. Bến Đình là căn cứ của đội võ trang cụm tình báo A.18.
- Ấn tượng của ông về cuộc gặp đầu tiên với ông Mười Hương như thế nào?
- Mấy năm tù tội, ông Mười Hương ốm gầy. Hồi nào tới giờ chúng tôi đâu biết nhau. Thế mà cũng ôm nhau mừng hoàn thành nhiệm vụ. Về tới đó coi như ngon rồi.
Bữa đó, tôi kêu bà mẹ Củ Chi nấu cơm trưa cho ăn. Bà nấu cơm trắng với lươn kho sả ớt. Ông Mười Hương ăn dữ lắm. Cái không khí giải phóng mà, ông ấy khoái nên ăn khỏe. Sau này gặp lại nhau ông Mười Hương vẫn nhắc lại bữa cơm ấy và tình thương của bà mẹ Củ Chi.
Mọi việc đều phải gấp rút vì địch truy theo. Quả nhiên, 15 phút sau dưới (trung tâm thành phố - PV) báo động. Ăn xong bữa cơm với bà mẹ thì trên cấp cho ông Mười Hương chiếc xe đạp mới, tôi một chiếc, bảo vệ một chiếc. Bảo vệ mang súng trường chạy đằng trước, ông Mười Hương đi giữa, tôi chạy sau cùng.
Lúc đó, ông bịt khăn rằn, mặc áo ngắn tay.
Chúng tôi đạp xe tầm 50 km đưa ông ấy về Bời Lời ở huyện Trảng Bàng (Tây Ninh) (lúc đó là căn cứ chính của cụm tình báo A.18 - tiền thân của H.63). Dọc đường ông ấy đạp xe phấn khởi lắm. Cuộc tẩu thoát khỏi nhà tù của ông Mười Hương chỉ diễn ra vỏn vẹn trong 1 ngày.
Hàng chục năm sau gặp lại, ông Mười Hương vẫn giới thiệu tôi với mọi người: “Đây là Tư Cang, người cứu tôi ra khỏi tù Mỹ Diệm”. Lúc đó tôi chỉ là anh đại tá về hưu làm tổ trưởng tổ bột giấy của Thanh niên xung phong ở TP.HCM, còn ông ấy là Phó bí thư Thành ủy TP.HCM.
- Phạm Xuân Ẩn trong vỏ bọc phóng viên tờ Time đã lái chiếc Renault đợi Mười Hương ngay cổng nhà tù rồi chở về tới ngã tư Bảy Hiền. Làm như vậy lẽ nào không bị nghi ngờ gì?
- Không. Cai ngục ăn ý với Phạm Xuân Ẩn rồi. Nó lấy 100.000 đồng thì còn nói gì nữa. Số tiền đó lớn lắm, nó đâu dám hé ra, vừa mất hết lộc lại khéo bị liên lụy.
Việc cứu ông Mười Hương, ngoài chỉ thị của cấp trên là bằng mọi giá thì còn có những tình cảm riêng. Giữa Phạm Xuân Ẩn và ông Mười Hương có thể coi như tình cha con. Người chở ông Mười Hương khi ra khỏi tù chỉ có thể là Phạm Xuân Ẩn bởi ông ấy là nhà báo, có thẻ nên đi lại dễ dàng. Mà cũng chỉ dám chở 2 cây số rồi chuyển qua xe mình. Kế hoạch chúng tôi chuẩn bị cũng tươm tất lắm, tập qua tập lại mấy lần.
- Các đầu mối ông Mười Hương xây dựng có ý nghĩa sao với ngành tình báo miền Nam sau này?
- Mạng lưới do ông Mười Hương xây dựng thì người thành công nhất là ông Phạm Xuân Ẩn. Ông ấy chính là người phân tích cho ông Phạm Xuân Ẩn vì sao phải đi học nghề báo bên Mỹ. Bởi chỉ phóng viên là được len lỏi khắp nơi lấy tin. Ông thuyết phục Phạm Xuân Ẩn ra đi.
Khi ông Mười Hương bị bắt, người em của Phạm Xuân Ẩn gửi thư qua Mỹ nói có một ông già dắt chim đi vô rừng thì bị bắt. Nói lóng lóng vậy nhưng đọc thư ở bên đó, ông Ẩn biết Mười Hương bị bắt. Cấp trực tiếp bị bắt rồi, giờ phải tính làm sao? Nếu ở lại Mỹ, cuộc sống của Phạm Xuân Ẩn sẽ dễ dàng và sung sướng hơn rất nhiều. Nhưng sự kiện Mười Hương bị bắt cũng khiến Phạm Xuân Ẩn quyết tâm dứt bỏ mọi thứ và trở về.
- Một số người gọi ông Mười Hương là Hương sự thật. Chính ông Mười Hương cũng từng nói: Chịu đựng, rồi sự thật sẽ chiến thắng. Liệu sự thành thật có mâu thuẫn với cuộc sống của một chỉ huy tình báo lão luyện không?
- Chân thật thì tôi với ông Phạm Xuân Ẩn rất chân thật. Nhưng tôi thấy ông Ẩn là người nhiều chiêu dữ lắm. Nội việc ông ấy nuôi con chó mà biết nghe điều khiển bằng tiếng Pháp, tôi thấy cha đó có tài ghê. Mà việc gì vô nói với ông ấy cũng hoàn thành.
Ví dụ, năm 1968, chuẩn bị bước vô đợt 2 trận Mậu Thân, tay trung tá của mình tên là Tám Hà ra hàng. Trên gọi điện cho tôi phải lấy bằng được bản khai của Tám Hà đem về. Tôi xuống gặp Phạm Xuân Ẩn, ông ấy nói có thể lấy được. Thường Phạm Xuân Ẩn hay mua chuộc mấy người giữ hồ sơ để cung cấp tài liệu cho ông. Họ chỉ biết ông ấy là nhà báo, viết rồi cho tiền chứ đâu biết ông ấy là cộng sản. Dáng ông ấy đi sành điệu quá mà.
Phạm Xuân Ẩn lấy được bản khai. Tám Hà khai ráo không sót gì, có cả việc vũ khí tích trữ gần Tân Sơn Nhất. Lấy được tài liệu tôi mới nói với Phạm Xuân Ẩn: "Nhiệm vụ chính hoàn thành rồi. Giờ ông lên lầu 3, chỗ cục tình báo nước ngoài hay họp, hỏi coi bên Mỹ tính sao với thông tin này".
Thế rồi tôi ngồi dưới Givral uống cà phê chờ. Một hồi, ông ấy xuống nói: "Hay lắm anh Tư. Bên Mỹ nghe mình chuẩn bị đánh sợ quá. Tổng thống nói với các phóng viên nếu mà Việt Cộng đánh đợt 2 thì chỉ có thương lượng rút quân".
- Ông Phạm Xuân Ẩn được coi là điệp viên hoàn hảo trong suốt 15 năm với vỏ bọc một nhà báo. Thời kỳ đầu tiên ông Mười Hương nhìn thấy tư chất gì ở ông Phạm Xuân Ẩn?
- Tôi nghĩ ông Mười Hương thấy lòng yêu nước khi ông Ẩn cầm cờ đi biểu tình năm 1950. Hai là ông Ẩn nói tiếng Anh trôi chảy. Trình độ của ông Mười Hương phát hiện người như vậy là giỏi.
Người tình báo số 1 là người lấy được tin quan trọng. Trong mạng lưới tình báo, tôi chỉ là người phụ trách, tổ chức đường dây. Nhiệm vụ chính của tôi là làm sao đưa tin ông Ẩn lấy được về bên kia an toàn và nhanh nhất. Còn Phạm Xuân Ẩn mới là người lấy tài liệu. Số tài liệu ấy mà rơi vào tay đối thủ thì ông ấy cũng chết.
Phạm Xuân Ẩn xây dựng một vỏ bọc hoàn hảo cho mình giữa Sài Gòn. Ông đi lại có con chó Becgie lững thững đi theo. Xuống ôtô là nắm lấy dây da. Con chó biết nghe lời bằng tiếng Pháp.
Đám sĩ quan Mỹ thấy Phạm Xuân Ẩn cũng rất vồn vã mời lên nói tình hình Sài Gòn trong lúc chúng đi vắng. Nói chuyện có trả tiền nhé. Nói 1 tiếng trả tiền 1 tiếng, rất sòng phẳng. Phạm Xuân Ẩn cũng là người có khiếu hài hước, ông vào quán Givral nói chuyện tiếu lâm là phóng viên nước ngoài cười lăn.
Tìm được người như ông Ẩn, định hướng đi Mỹ học, hòa nhập vào xã hội Sài Gòn lúc bấy giờ để hoạt động tình báo là cái tài tình của ông Mười Hương.
- Sau này trong thời gian làm việc và kể cả chơi với ông Ẩn, ông Ẩn nói gì về ông Mười Hương?
- Ông ấy kể lại đứa em viết thư qua bển (Mỹ), ông đọc cái là hiểu. Rồi ông ấy đấu tranh tư tưởng, quyết định về. Lúc ông Mười Hương bị bắt thì ông Ẩn cũng thương lắm nhưng biết là mình không thể cứu ông ấy ra được.
Sau này thì ông Ẩn vẫn nhắc ông Mười Hương với lòng tôn trọng vì thấy ông ấy chỉ cho con đường đi đúng. Ông Mười Hương là người vạch tương lai cho ông Ẩn.
Tương lai đó là để phục vụ tổ quốc, trở thành một điệp viên tầm cỡ thế giới
Đại tá Nguyễn Văn Tàu (tức Trần Văn Quang, Tư Cang) sinh năm 1928 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Năm 1945, ông tham gia cách mạng. Ông là Cụm trưởng Cụm tình báo H.63 trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, là cấp trên trực tiếp của những điệp viên nổi danh như Phạm Xuân Ẩn, Tám Thảo, Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy… Cụm H.63 đã được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1971.
Môi Trường ST.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét