Thứ Năm, 3 tháng 3, 2022

Kiên trì bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng trong tình hình hiện nay

 

Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Cương lĩnh, đường lối đó đứng vững và được hiện thực hóa, có khả năng chống lại mọi sự xuyên tạc và chống phá của các thế lực thù địch cả về lý luận và thực tiễn.

Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) hoạch định đường lối đổi mới toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của nhân dân. Vượt qua thách thức, khủng hoảng và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu, Liên Xô, Đại hội VII của Đảng (6-1991) tỏ rõ bản lĩnh chính trị, kiên định con đường XHCN với việc đề ra “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH)”. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Cương lĩnh và đường lối được các đại hội Đảng không ngừng bổ sung, phát triển, đã đưa công cuộc đổi mới của Việt Nam phát triển mạnh mẽ, vững chắc với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vì Đảng lãnh đạo, cầm quyền chủ yếu bằng Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết... Bảo vệ sự đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối với những giá trị lý luận, khoa học, bắt nguồn từ nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nắm vững những nguyên lý về cách mạng XHCN, những đặc điểm, đặc trưng, quy luật của thời kỳ quá độ lên CNXH. Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Cương lĩnh, đường lối đó đứng vững và được hiện thực hóa, có khả năng chống lại mọi sự xuyên tạc và chống phá của các thế lực thù địch cả về lý luận và thực tiễn. Điều đó càng đòi hỏi Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ lý luận và nhận thức về hệ tư tưởng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về Chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Chủ nghĩa Mác-Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng XHCN thích hợp với tình hình nước ta. Như thế là phải học tập lý luận, phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, trước hết là của cán bộ cốt cán của Đảng”[i].

Nâng cao trình độ lý luận của toàn Đảng và của từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, bồi đắp lập trường, quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng những là để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, mà cũng chính là bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đó là sự bảo vệ chủ động, tự giác bởi trí tuệ, có khả năng bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động.

Sức sống của Cương lĩnh thể hiện sâu sắc ở những thành quả đổi mới đất nước

Hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước theo con đường XHCN. Đó là quá trình hiện thực hóa thành công những mục tiêu, 8 đặc trưng và 8 phương hướng cơ bản mà Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã đề ra, đặc biệt là mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Các đặc trưng khác cũng được nhận thức và thực hiện rõ hơn thể hiện bản chất tốt đẹp và tính hiện thực của chế độ XHCN ở Việt Nam.

Bảo vệ con đường XHCN là cuộc đấu tranh quyết liệt về hệ tư tưởng, đồng thời là bảo vệ một chế độ xã hội, một hình thái kinh tế-xã hội, bảo vệ quy luật phát triển tất yếu khách quan của lịch sử. Dù phải trải qua nhiều khó khăn, thách thức, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH.

Thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối đổi mới mà Đại hội VI đề ra và các đại hội tiếp theo bổ sung, phát triển. Đại hội XIII của Đảng (1-2021) đã khẳng định những thành tựu cơ bản. Đó là thước đo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhà nước và vai trò quyết định của Cương lĩnh, đường lối.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng bình quân duy trì ở mức khá cao; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển. Phát triển văn hóa, xã hội, con người đạt nhiều kết quả quan trọng. Chính trị-xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt.

Không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối chính trị của Đảng

Những năm qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị vẫn cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị. Âm mưu, thủ đoạn của họ là thúc đẩy đổi mới chính trị để xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Sự thật là thế nào? Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị. Quan điểm của Đảng là lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm và từ thành tựu kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Chính trị là lĩnh vực nhạy cảm, phải đổi mới từng bước, thận trọng, vững chắc, không vội vàng khi chưa có đủ điều kiện cần thiết. Đổi mới hệ thống chính trị trong suốt quá trình đổi mới và hiện nay tập trung vào những nội dung nổi bật.

Một là, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN với những đặc trưng cơ bản, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế; Nhà nước quản lý xã hội, đất nước, nền kinh tế chủ yếu bằng pháp luật; Nhà nước pháp quyền là một trong 8 đặc trưng của mô hình CNXH Việt Nam.

Hai là, thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội; phát huy dân chủ XHCN, tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Ba là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng kết hợp chặt chẽ với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị, kết hợp đúng đắn xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng và bảo vệ Đảng, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Thực hiện và bảo vệ 3 vấn đề cốt lõi nêu trên là phát huy tính ưu việt của chế độ và bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững về kinh tế-xã hội, vị thế chính trị, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Vấn đề bảo đảm an ninh phi truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tại, dịch bệnh, nhất là kiểm soát đại dịch Covid-19 có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc sống người dân, không thể xem nhẹ.

Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua việc hoàn thiện, bổ sung Cương lĩnh, đường lối và bảo vệ giá trị khoa học, tính hiện thực của đường lối. Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021-2030. Để thực hiện được các định hướng đó cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. “Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả”[ii].

Kiên quyết giữ vững và bảo vệ ngọn cờ soi đường chỉ lối của Đảng

Tổng kết quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, nhất là những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm rất quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.

Từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của thời đại, tác phẩm của Tổng Bí thư đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học trong nhận thức và hành động thực tế xây dựng CNXH ở Việt Nam, làm rõ CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào, từ phương châm, hình thức, bước đi phù hợp để hoàn thiện đường lối quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Điều đó đòi hỏi xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến và tính đặc thù.

Tác phẩm đã làm rõ hơn nội dung và khả năng bỏ qua chủ nghĩa tư bản, kế thừa những thành tựu, giá trị văn minh nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Tác phẩm nhấn mạnh yếu tố bảo đảm xây dựng thành công CNXH là phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản chân chính cách mạng dựa trên học thuyết cách mạng, tính khoa học và cách mạng triệt để của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Tác phẩm của Tổng Bí thư có giá trị lý luận căn bản và ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc, toàn diện đưa Việt Nam tiến tới một nước XHCN hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Tác phẩm có sự đóng góp xứng đáng vào kho tàng lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH mà các nước trên thế giới đang hướng tới. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng đặt ra yêu cầu cần thiết phải học tập, quán triệt sâu sắc tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư.

Xây dựng nếp sống kỷ luật tự giác, nghiêm minh

 Kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội là một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (Nghị quyết 847).

Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, bản chất kỷ luật của Quân đội ta mang bản chất kỷ luật của Đảng và của giai cấp công nhân. Đó là kỷ luật sắt, tự giác, nghiêm minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”. Ngay trong buổi đầu thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã thực hiện tuyên thệ 10 lời thề danh dự-chuẩn mực để quân nhân tự giác chấp hành, thể hiện lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân.

Kỷ luật tự giác, nghiêm minh là một phẩm chất cao đẹp trong phẩm chất nhân cách Bộ đội Cụ Hồ, là truyền thống tốt đẹp được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Truyền thống đó được thể hiện ở tính tự giác cao trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách của mỗi quân nhân; trong chấp hành đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; trong chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên ở bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào.

Thực tiễn hơn 77 năm qua cho thấy, chính nhờ sự đoàn kết, thống nhất, kỷ luật tự giác, nghiêm minh đã tạo thành nguồn sức mạnh nội sinh quan trọng để Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kỷ luật tự giác, nghiêm minh góp phần làm cho quân đội giữ được trọn vẹn niềm tin yêu của nhân dân, xứng đáng là trường học lớn, lực lượng mẫu mực trong xã hội.

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thủ đoạn “bạo loạn lật đổ”, các thế lực thù địch thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chia rẽ nội bộ, gây mất ổn định từ bên trong; âm mưu tách mỗi cá nhân quân nhân ra khỏi tập thể quân nhân, làm mất sức chiến đấu của quân nhân bằng cách cổ vũ lối sống thực dụng, tự do vô kỷ luật, phi chính trị hóa... từ đó hòng gây mất đoàn kết nội bộ, mất sức chiến đấu của quân đội. Mặt khác, hiện tượng thiếu tự giác trong rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, thậm chí vi phạm kỷ luật nghiêm trọng của một số quân nhân xảy ra trong thời gian qua đã làm ảnh hưởng tới uy tín của quân đội, hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Nghị quyết 847 đã chỉ rõ: “Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, băn khoăn dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình, phát ngôn thiếu tính xây dựng, nể nang, né tránh, ngại va chạm, làm việc cầm chừng, tính toán thiệt hơn, xa rời thực tiễn; trong đó có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ”.

Quá trình giáo dục, rèn luyện Quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua” và “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy kỷ luật phải nghiêm minh”. Thấm nhuần lời dạy sâu sắc của Người, trong sự nghiệp xây dựng quân đội hiện nay, xây dựng nếp sống kỷ luật tự giác, nghiêm minh cho cán bộ, chiến sĩ là vấn đề hết sức quan trọng.

Để giữ vững và phát huy, tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, trước hết, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bồi dưỡng năng lực chấp hành kỷ luật cho cán bộ, chiến sĩ. Đây là việc làm thường xuyên, liên tục, gắn với chức trách, nhiệm vụ của từng người và được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi lĩnh vực, nhất là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu; làm cho mọi quân nhân có nhận thức sâu sắc về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội. Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục cho mỗi quân nhân nâng cao nhận thức, quán triệt thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân; nắm chắc nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội và của từng đơn vị, hiểu rõ chức trách, nhiệm vụ của mình, có ý thức chấp hành nhanh chóng, chính xác mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, tuân thủ tuyệt đối pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ của quân đội, quy định của đơn vị. 

Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp cần phải đề cao trách nhiệm nêu gương trong duy trì, chấp hành kỷ luật quân đội. Sự gương mẫu của người cán bộ, đảng viên trước hết là sự mẫu mực về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong lãnh đạo, chỉ huy. Phải mẫu mực chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, các quy định, chế độ của đơn vị; luôn toàn tâm, toàn ý vì lợi ích chung, vì nhiệm vụ của đơn vị. Người cán bộ, chỉ huy phải thật sự gương mẫu đi đầu, có tác phong nói đi đôi với làm, kiên quyết khắc phục, sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm của bản thân. Sự gương mẫu của người cán bộ còn thể hiện ở việc dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn sâu sát, bám nắm bộ đội, tâm huyết với công việc, thật sự là người anh, người chị và người bạn thân thiết của bộ đội; biết định hướng, hướng dẫn hành động cho cấp dưới.

Với mỗi quân nhân phải không ngừng tự tu dưỡng, tự rèn luyện, phấn đấu trong chấp hành kỷ luật ở mọi lúc, mọi nơi và trong mọi nhiệm vụ, điều kiện, hoàn cảnh; cần đặt ra kế hoạch tự rèn luyện một cách toàn diện cả về nhận thức, thái độ, hành động, cả ý chí, quyết tâm tu dưỡng, phấn đấu và phải được cụ thể hóa thành yêu cầu, chỉ tiêu phấn đấu sát với cương vị, chức trách của mình; tập trung đi sâu vào nội dung, biện pháp khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong chấp hành kỷ luật và đề ra phương hướng cụ thể phấn đấu trong thời gian tiếp theo.

Một trong những biện pháp quan trọng bảo đảm cho việc giữ nghiêm kỷ luật trong các đơn vị quân đội hiện nay là xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh. Để thực hiện điều này, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Chỉ thị số 917/1999/CT-QP ngày 22-6-1999 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về “Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện”; Hướng dẫn số 1090/QH-KH ngày 29-4-2020 của Cục Quân huấn-Bộ Tổng Tham mưu về “Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” cho mọi đối tượng trong đơn vị. Có biện pháp quản lý chặt chẽ mọi hoạt động của bộ đội, nhất là ở những nhiệm vụ, lĩnh vực khó khăn, nhạy cảm, hoạt động phân tán, công tác nhỏ lẻ; duy trì kỷ luật luôn gắn chặt với mọi hoạt động của đơn vị và bộ đội.

Bên cạnh đó, các đơn vị cần kết hợp chặt chẽ Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu và các tổ chức vững mạnh để tạo nên sức mạnh tổng hợp xây dựng đơn vị. Duy trì thực hiện năm tiêu chuẩn đơn vị có môi trường văn hóa tốt, làm cho mỗi quân nhân luôn có ý thức và thực hiện “sống theo pháp luật, hành động theo điều lệnh, làm việc theo chức trách”. Đẩy mạnh phong trào thi đua rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, sáng tạo và gương điển hình tiên tiến.

Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị phải quan tâm coi trọng xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp giữa lãnh đạo với chỉ huy, quản lý, điều hành; cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ; giữa tổ chức đảng với các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân nhằm xây dựng bầu không khí tâm lý lành mạnh, đoàn kết, phấn khởi trong đơn vị. Phải quan tâm xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị có lòng tự trọng, giữ gìn danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ, có thái độ đúng đắn với bản thân và các mối quan hệ trong quân đội, quan hệ với nhân dân, xã hội và gia đình; xây dựng kỷ cương, trách nhiệm, tình thương yêu đồng chí, đồng đội trong tập thể quân nhân. Đặc biệt, cần coi trọng tạo lập môi trường văn hóa dân chủ, cởi mở trong các mối quan hệ; chống mọi biểu hiện, hành vi, thái độ quân phiệt, gia trưởng, xâm phạm đến nhân cách của cán bộ, chiến sĩ.

Để xây dựng nếp sống kỷ luật tự giác, nghiêm minh cho cán bộ, chiến sĩ, các đơn vị cần tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới; tích cực đấu tranh ngăn ngừa những tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, quá trình hội nhập đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của bộ đội...

CĂNG THẲNG NGA - UKRAINE: BẢN CHẤT, NGUYÊN NHÂN

 

Ngày 24-2-2022, Hãng thông tấn TASS (Nga) đưa tin Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố Nga mở “chiến dịch quân sự đặc biệt” ở miền Đông Ukraine nhằm đáp lại lời đề nghị hỗ trợ bảo đảm an ninh của lãnh đạo hai nước Cộng hòa tự xưng Donestsk (DPR) và Lugansk (LPR). Trong bối cảnh căng thẳng ngày càng gia tăng giữa Nga, Mỹ và các nước thành viên Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) hiện nay, nhiều câu hỏi đang được dư luận hết sức quan tâm, đó là: bản chất của cuộc xung đột này là gì, tại sao lại xảy ra vào thời điểm hiện nay và chiều hướng của cuộc khủng hoảng ra sao?

Bản chất của cuộc khủng hoảng

Vấn đề khủng hoảng Ukraine hiện nay bắt nguồn từ cuộc chính biến xảy vào đầu năm 2014(1), kéo dài đến nay đã 8 năm, vẫn chưa chấm dứt và ngày càng trở nên phức tạp. Đây không chỉ đơn giản là cuộc xung đột giữa lực lượng ly khai với sự hậu thuẫn của Nga và Chính phủ Ukraine ở miền Đông (Donbass) nước này, mà còn là cuộc xung đột giữa các nước lớn ở khu vực châu Âu - Đại Tây Dương, như Nga, Mỹ, NATO; thậm chí, liên quan tới các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Chiến sự giữa Nga và Ukraine năm 2022 có quy mô lớn hơn so với cuộc khủng hoảng năm 2014 và được xem là cuộc xung đột lớn nhất kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, xuất phát từ một số lý do: Một là, cục diện chung trên thế giới đã thay đổi, với việc Mỹ theo đuổi các chính sách “Nước Mỹ trên hết”, “Nước Mỹ trở lại”; Trung Quốc thực hiện chiến lược “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa”, trong khi Nga hiện chưa có một chiến lược mang tính toàn cầu. Hai là, trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, nước Nga dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Nga V. Putin đã triển khai thành công, có hiệu quả nhiều chính sách cả về đối nội và đối ngoại, qua đó ổn định được hệ thống chính trị nội bộ, củng cố vị thế, mở rộng ảnh hưởng quốc tế và gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; tuy nhiên, hiện nay, trong tam giác quan hệ Mỹ - Trung Quốc - Nga, sự phục hồi ảnh hưởng của Nga vẫn chưa thể làm thay đổi cục diện chính trị thế giới. Ba là, đây là thời khắc hết sức quan trọng, được xem là một trong những thử thách đối với Tổng thống Nga V. Putin, khi chỉ còn chưa đầy hai năm là tới cuộc bầu cử Tổng thống Nga năm 2024, để tiếp tục từng bước khôi phục vị thế đất nước, giành lại vị trí quan trọng trên vũ đài quốc tế, chuyển từ cường quốc khu vực hướng đến tầm cỡ cường quốc toàn cầu.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

NGUYÊN NHÂN SÂU XA. Sau Chiến tranh lạnh, thế giới - nhất là khu vực châu Âu - Đại Tây Dương - tưởng chừng sẽ có được một nền hòa bình lâu dài và không còn đối đầu, nhưng ngược lại đã nhanh chóng chứng kiến những căng thẳng leo thang trong quan hệ giữa hai cường quốc quân sự hàng đầu thế giới là Mỹ và Nga, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Mối quan hệ cạnh tranh nhiều hơn hợp tác, đôi khi đứng trước bờ vực đối đầu này đã chi phối mạnh mẽ việc tập hợp lực lượng mới, đồng thời tác động không nhỏ đến chiều hướng quan hệ hợp tác quốc phòng - an ninh trên thế giới, nhất là các quốc gia tầm trung và có vị trí địa - chiến lược quan trọng như Ukraine.

Bên cạnh đó, quan hệ giữa Nga và NATO cũng lâm vào khủng hoảng. Sau sự kiện Nga sáp nhập bán đảo Crimea (năm 2014) - nơi có quân cảng chiến lược Sevastopol - NATO đã đình chỉ quan hệ “đối tác vì hòa bình” với Nga, coi Nga là mối đe dọa đối với an ninh khu vực châu Âu. NATO cho rằng, Nga “vi phạm luật pháp quốc tế” khi trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ lực lượng ly khai ở Ukraine, sáp nhập lãnh thổ của một nước có chủ quyền vào Nga. NATO tăng cường trợ giúp Ukraine về huấn luyện và cung cấp các trang thiết bị vũ khí hiện đại; đe dọa thắt chặt các biện pháp cấm vận kinh tế ngặt nghèo đối với Nga trong trường hợp Nga tấn công Ukraine; đồng thời, kêu gọi Nga “xuống thang” và triển khai hàng loạt bước đi để ngăn chặn Nga tấn công Ukraine.

Thế nhưng, điều bất ngờ nhất đối với NATO kể từ sau năm 2014 là Nga đã giành quyền chủ động hành động, cũng như ngày càng cảnh giác và quyết đoán hơn trước bất kỳ động thái nào của NATO. Nga coi việc “NATO Đông tiến” là đường lối lâu dài, là thách thức từ trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng Ukraine, đào sâu sự mất cân bằng chiến lược Nga - NATO. Nga quan ngại việc không có thành viên NATO nào phê chuẩn Hiệp ước về vũ khí thông thường châu Âu (CFE). Theo quan điểm của Nga, tình hình này còn tồi tệ hơn do Mỹ bố trí hệ thống tên lửa hạt nhân phòng thủ tại Ba Lan và Séc, vi phạm sự ổn định chiến lược. Nga quy kết NATO thúc đẩy cuộc “cách mạng màu” bên trong không gian hậu Xô-viết. Cuộc khủng hoảng Ukraine đã giáng một đòn mạnh vào hầu hết các cơ chế hợp tác giữa Nga và NATO, từ đấu tranh chống buôn lậu ma túy cho đến chống khủng bố... Các hoạt động quân sự (tập trận, tăng thêm quân, chiến tranh thông tin…) được Nga và NATO triển khai ở mức mạnh nhất, càng khoét sâu thêm căng thẳng giữa hai bên. Hai bên đều xem nhau như mối đe dọa đầu tiên và thi hành các biện pháp thích hợp. Các vụ va chạm trên không và trên biển, khả năng khó phá băng khủng hoảng tại vùng Donbass cùng nhiều vấn đề khác đã khiến mối quan hệ Nga - NATO tiếp tục leo thang căng thẳng kèm theo nhiều rủi ro xảy ra xung đột bùng phát tại chỗ (2).

Như vậy, có thể thấy nổi lên hai mâu thuẫn đối kháng khó giải quyết: Một là, mâu thuẫn giữa việc Nga sáp nhập bán đảo Crimea, kiểm soát cũng như khống chế các hoạt động quân sự và dân sự của Ukraine ở Biển Đen với việc Mỹ cùng đồng minh muốn ủng hộ Ukraine lấy lại bán đảo này, đẩy hạm đội Biển Đen của Nga ra khỏi Biển Đen. Hai là, mâu thuẫn giữa Nga và Mỹ cùng đồng minh NATO. Cụ thể, Nga muốn giành lại vị trí quan trọng trên vũ đài quốc tế, vươn lên tầm cường quốc toàn cầu, khiến thế giới phải thay đổi cách nhìn về vị thế quốc tế mới của Nga sau khi Liên Xô sụp đổ. Trong khi đó, Mỹ và NATO muốn đưa Ukraine vào quỹ đạo kiểm soát của họ và việc “phương Tây hóa Ukraine” sẽ có tác dụng giúp thúc đẩy “cách mạng màu” xảy ra bên trong chính nước Nga, góp phần làm suy giảm sức mạnh tổng hợp của Nga.

NGUYÊN NHÂN TRỰC TIẾP.

Thứ nhất, cuộc xung đột giữa chính quyền Ukraine và lực lượng ly khai Donbass (bao gồm DPR và LPR) do Nga hậu thuẫn gia tăng, nhất là sau tháng 10-2021, khiến tiến trình đàm phán hòa bình theo Thỏa thuận Minsk 2 - giải pháp duy nhất đối với cuộc khủng hoảng chính trị Ukraine - khó đạt được kết quả. 

Thứ hai, Mỹ và NATO không chỉ chuyển giao vũ khí cho Ukraine, nhất là sau giai đoạn Mỹ rút quân khỏi Afghanistan (tháng 9-2021), khi Mỹ và đồng minh còn dư nhiều vũ khí, đạn dược (được dự kiến chuyển giao cho chính quyền thân Mỹ ở Afghanistan), mà còn triển khai tên lửa tầm trung và lực lượng quân sự trên lãnh thổ NATO - Đông Âu hướng tới Nga. 

Thứ ba, đáp lại những động thái đó, Nga đã triển khai trên 100.000 quân dọc biên giới trên bộ giáp với Ukraine, khu vực bán đảo Crimea, đồng thời tập trung quân đội ở nước láng giềng Ukraine là Belarus với danh nghĩa tập trận chung, cũng như phái 6 tàu chiến hiện đại tiến vào Biển Đen. Thứ tư, Mỹ và đồng minh NATO không đáp ứng bản đề nghị an ninh gồm 8 điểm của Nga gửi tới Mỹ và NATO vào giữa tháng 12-2021, với bốn nội dung cốt lõi: 1- NATO không kết nạp Ukraine và các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG); 2- Loại bỏ vũ khí hạt nhân của Mỹ ra khỏi châu Âu; 3- NATO rút toàn bộ quân đội hoặc vũ khí được triển khai tới các quốc gia tham gia liên minh về thời điểm trước năm 1997, bao gồm các nước như Ba Lan, Estonia, Lithuania, Latvia; 4- Không tiến hành tập trận tại các nước gần lãnh thổ của Nga.

Những điều này được cho là đã đẩy căng thẳng giữa Nga và Mỹ cùng đồng minh NATO lên đỉnh điểm thành cuộc xung đột quân sự mà chiến trường là Ukraine.

NHỮNG TOAN TÍNH CỦA CÁC BÊN

Đối với Nga, “chiến dịch quân sự đặc biệt” năm 2022 được xem là “trận đánh chiến lược” của Tổng thống Nga V. Putin, do đó Nga chấp nhận đối mặt với nhiều vấn đề, bao gồm cả việc sẵn sàng chuẩn bị đối phó với các lệnh trừng phạt kinh tế ngặt nghèo, kéo dài của Mỹ và phương Tây. Nga cũng hiểu rất rõ, chiến tranh sẽ tạo thêm một gánh nặng mới đối với nền kinh tế Nga vốn bị ảnh hưởng nhiều do Nga là một trong những nước chịu tác động nặng nề nhất của đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, Chính phủ Nga đã đưa ra thông báo, Nga có đủ nguồn lực tài chính cho sự ổn định của hệ thống trước các lệnh trừng phạt và các mối đe dọa từ bên ngoài.

Mục tiêu của Nga khi phát động chiến dịch quân sự lần này, bao gồm: 1- Ngăn chặn phương Tây giành lại bán đảo Crimea; 2- Tạo sức ép đối với phương Tây và Ukraine thực hiện Thỏa thuận Minsk 2 theo cách của Nga; 3- Cơ cấu lại an ninh khu vực châu Âu, trong đó an ninh của Nga phải được tôn trọng và bảo đảm; 4- Thúc đẩy Đức và Liên minh châu Âu (EU) phê chuẩn dự án “Dòng chảy phương Bắc 2”; 5- Củng cố nhà nước liên minh giữa Nga và Belarus vừa được khởi động sau 20 năm không có nhiều tiến triển.

Theo đánh giá chung, hiện nay, Nga có nhiều thuận lợi trong việc mở chiến dịch quân sự: 1- Mặc dù bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây, song kinh tế Nga đã tăng cường được tính tự chủ, chủ động thích ứng, vượt qua thời điểm khó khăn nhất và đang trên đà hồi phục. Tính đến tháng 8-2021, Quỹ Tài sản quốc gia Nga có nguồn vốn vào khoảng 185 tỷ USD và dự trữ ngoại tệ ở mức 615 tỷ USD. Bên cạnh đó, Nga cũng được dự báo là quốc gia sẽ hồi phục nhanh hơn các nước lớn khác sau đại dịch COVID-19 do đã thích nghi tốt với tình trạng bị cấm vận, cô lập từ năm 2014 đến nay; 2- Căng thẳng leo thang đẩy giá dầu mỏ tăng cao, đang tạo lợi thế cho Nga; 3- Cán cân quyền lực và cục diện thế giới tiếp tục có sự dịch chuyển nhanh từ Tây sang Đông, nhất là cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ cùng với việc Nga đẩy mạnh chính sách đối ngoại ưu tiên hơn trong quan hệ với Trung Quốc, đã góp phần củng cố vị thế của Nga với vai trò là một trong những nhân tố “cân bằng chiến lược” quan trọng hàng đầu mà cả Mỹ và Trung Quốc đều cần tranh thủ; 4- Cuộc khủng hoảng Ukraine buộc các nước phải quay trở lại Thỏa thuận Minsk 2; 5- Cuộc khủng hoảng Ukraine cũng tiếp tục làm bộc lộ rõ những mâu thuẫn trong nội bộ NATO và EU hiện nay (3); đồng thời, tạo sức ép buộc Mỹ và phương Tây phải đàm phán với Nga về những vấn đề lớn hơn liên quan đến an ninh châu Âu.

Trên cơ sở đó, Tổng thống Nga V. Putin đã triển khai được 5 bước đi lớn: 1- Gia tăng sự hiện diện quân sự tại Ukraine và gây ảnh hưởng lên các nước vùng Baltic; 2- Phô trương được sức mạnh quân sự cùng một lúc trên tất cả các mặt trận; 3- Cộng hưởng với Trung Quốc trong cuộc đua với Mỹ tiến tới vị trí trung tâm của vũ đài quốc tế; 4- Gửi tới Mỹ và NATO bản đề nghị an ninh gồm 8 điểm với các điều kiện tiên quyết, trong đó nêu rõ những quan ngại về an ninh của Nga; 5- Đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao con thoi để trao đổi với các nước. Những động thái này góp phần bảo vệ và củng cố thể chế của nước Nga, nhất là vị thế, uy tín của Tổng thống Nga V. Putin. Trong khi đó, thực tế cho thấy, các nước phương Tây và NATO thiếu sự quyết đoán khi đối mặt với những mối đe dọa hiện hữu.

Đối với Mỹ, chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden đang gặp không ít khó khăn, thách thức cả trong nước và ngoài nước. Ở trong nước, chính trị nội bộ Mỹ mâu thuẫn và chia rẽ sâu sắc, nhất là sau cuộc bạo loạn xảy ra ở tòa nhà Quốc hội vào ngày 6-1-2021 (4). Bên cạnh đó, dịch bệnh COVID-19 tiếp tục kéo dài và diễn biến phức tạp, tác động đến mọi mặt đời sống của nước Mỹ. Ở ngoài nước, mặc dù vẫn là siêu cường số 1 thế giới với sức mạnh vượt trội song khoảng cách sức mạnh của Mỹ so với Trung Quốc đang tiếp tục bị thu hẹp. Nhiều lợi ích chiến lược của Mỹ đang bị thách thức. Hệ thống đồng minh, đối tác có sự rạn nứt nhất định sau nhiệm kỳ của chính quyền Tổng thống Mỹ Donal Trump khiến các nỗ lực của Mỹ trong xử lý những vấn đề toàn cầu gặp nhiều khó khăn…

Tuy nhiên, việc thúc đẩy leo thang một cuộc khủng hoảng mới được cho là sẽ giúp Mỹ trở lại vị thế chi phối và vai trò lãnh đạo thế giới, ngăn chặn, đối phó với thách thức gia tăng từ các đối thủ chiến lược và các thách thức an ninh khác; khôi phục và củng cố hệ thống đồng minh, đối tác; định hình trật tự thế giới mới dựa trên các nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị chung.

Mục tiêu của Mỹ trong cuộc khủng hoảng chính trị Ukraine là: 1- Làm suy giảm sức mạnh tổng hợp quốc gia của Nga; 2- “Phương Tây hóa Ukraine”, lôi kéo các nước có xu hướng thân Nga “đoạn tuyệt” với Nga và dựa hẳn vào Mỹ và phương Tây; 3- Củng cố mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương; 4- Tranh thủ cuộc khủng hoảng chính trị tại Ukraine leo thang để khiến các nước châu Âu phụ thuộc hơn nữa vào Mỹ về mặt quân sự, an ninh, kinh tế và năng lượng; 5- Có lý do chính đáng để ngăn chặn Đức phê duyệt dự án “Dòng chảy phương Bắc 2”.

Đối với Ukraine, nước này vốn được coi là “nạn nhân” trong cuộc khủng hoảng chính trị hiện nay, nhưng lại mong muốn gia nhập NATO và EU. Ukraine cho rằng, việc gia nhập NATO “không gây ảnh hưởng đến an ninh của Nga”. Chính vì vậy, ngay sau khi lên nắm quyền, chính quyền của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky tiếp tục: 1- Khẳng định quyết tâm gia nhập NATO và đẩy mạnh cải cách lực lượng vũ trang theo tiêu chuẩn NATO; 2- Tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng - an ninh, với việc gia tăng chi phí và đẩy mạnh thử nghiệm các loại tên lửa mới (5); 3- Duy trì các cuộc tập trận quân sự chung với NATO nhằm nâng cao khả năng tác chiến hiệp đồng giữa quân đội Ukraine với quân đội các nước thành viên NATO; 4- Tiến hành sửa chữa, cải tiến và hiện đại hóa các loại vũ khí, khí tài cũ để trang bị cho lực lượng quân đội; 5- Mua vũ khí sát thương của các nước phương Tây.

Trong khi đó, NATO lại tỏ ra khá thận trọng trước viễn cảnh Ukraine gia nhập tổ chức này. Theo Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg, Ukraine đã xin gia nhập NATO từ năm 2008 và NATO đang xem xét, chưa kết nạp Ukraine, với lý do theo Điều 6 Hiến chương NATO, về mặt kỹ thuật, Ukraine hiện chưa đủ điều kiện để gia nhập NATO (6). Tuy nhiên, cũng như Mỹ và các nước phương Tây, NATO cho rằng, tất cả quốc gia độc lập, có chủ quyền như Ukraine, có thể xin gia nhập không chỉ NATO mà bất kỳ tổ chức kinh tế, chính trị, quân sự hay ngoại giao nào phù hợp với lợi ích quốc gia của Ukraine.

Thế nhưng, theo Điều 5 Hiến chương NATO - một nguyên tắc sáng lập của NATO về phòng thủ tập thể - bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào nhằm vào một hay một số thành viên của liên minh đều được coi là cuộc tấn công vào toàn bộ liên minh… Mỗi thành viên, với quyền tự vệ cá thể hay tập thể chính đáng theo Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc, sẽ hỗ trợ một bên hoặc các bên. Như vậy, nếu Ukraine trở thành một phần của NATO, các nước thành viên có nguy cơ phải tham gia đối đầu trực tiếp với Nga. Đây là điều mà dường như không một quốc gia nào trong NATO mong muốn.

Triển khai chính sách đối ngoại thân phương Tây, Ukraine đặt mục tiêu có thể gia nhập NATO và EU, giúp Ukraine bảo toàn lãnh thổ, lấy lại bán đảo Crimea và các vùng ly khai ở khu vực Donbass. Tuy nhiên, cả Ukraine và phương Tây đều bất ngờ khi cho rằng, khả năng Nga sẽ tiến hành “một cuộc chiến tranh toàn diện” như hiện nay là không cao.

 

DỰ BÁO CHIỀU HƯỚNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG

NGƯỜI THÀNH CÔNG LUÔN CÓ LỐI ĐI RIÊNG!


Ngày cả quốc tế cộng sản đề cao đấu tranh giai cấp thì đồng chí Nguyễn Ái Quốc đề xuất, đấu tranh giai cấp gắn liền với giải phóng dân tộc thuộc địa.


Ngày cố vấn Trung Quốc nói đánh Điện Biên Phủ phải theo cách đánh nhanh, thắng nhanh thì Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lệnh kéo pháo ra theo cách đánh chắc, thắng chắc.


Khi Liên Xô đi theo chủ nghĩa xét lại, chung sống hòa bình với đế quốc thì Việt Nam quyết giải phóng miền Nam bằng biện pháp vũ trang, sáng tạo xây dựng CNXH ở miền Bắc kết hợp giải phóng dân tộc ở miền Nam. Khi Trung Quốc muốn Việt Nam phát triển chiến tranh du kích thì Việt Nam đánh cấp sư đoàn, giải phóng miền Nam bằng cấp quân đoàn.


Khi Liên Xô loay hoay thoát khỏi khủng hoảng bằng cải cách chính trị thì Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng bởi cải cách kinh tế (kinh tế thị trường định hướng XHCN) và đột phá về ngoại giao. 


Ngày Nga yếu thế, Trung Quốc chưa đạt vị thế nhưng Việt Nam tuyên bố rõ ràng chính sách 4 không: gồm không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.


Từ trước đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước thường không theo lẽ thường  mà các nước khác hay dùng mà dựa trên lý luận và thực tiễn của đất nước mình. Cho nên khi tất cả a dua thì Việt Nam bình tĩnh, khi tất cả lên đồng thì Việt Nam lại lặng yên, khi tất cả hành động thì Việt Nam quan ngại, khi tất cả sợ hãi thì khi đó Việt Nam mới hành động. 


Để lý giải Việt Nam thì chính kẻ thù của Việt Nam không thể nổi hiểu. Cho nên khi Việt Nam bỏ phiếu trắng kẻ thiếu hiểu biết thì sồn sồn nhưng người trầm tính thì lại lặng yên, người hiểu biết chỉ mỉm cười. Bởi phiếu trắng không phải là phiếu chống, vì Việt Nam không chọn phe mà chọn lẽ phải, lấy bất biến ứng vạn biến.


Người có lối đi riêng không phải là cách đi dị biệt mà là cách đi có căn cứ, có phân tích, có am hiểu chiều sâu, có tầm nhìn xa và đầy trí tuệ. Cái tài ngoại giao của Việt Nam như một cây tre, ngọn linh động mà gốc không suy chuyển, là dĩ bất biến, ứng vạn biến như Bác Hồ luôn xác định. Là đất nước đã chiến thắng mọi đế quốc xâm lược, là đất nước thấy mạnh không cậy, thấy yếu không hiếp, quân tử trượng nghĩa anh hùng. Thế mới là Việt Nam. 

Không để hiện tượng mượn phê bình làm điều xấu

Một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng ta đã chỉ ra, đó là: “Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng”. Vấn đề này cần được khắc phục để tự phê bình và phê bình (TPB&PB) ngày càng trở thành liều thuốc hiệu quả trong công tác xây dựng Đảng. Từ lời dạy của Bác Hồ Vì sao phải phê bình? Từ rất sớm, trong chuyên mục Thường thức chính trị, trên Báo Cứu quốc, từ ngày 16-1 đến ngày 23-9-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và tính kỷ luật”. Mục đích của TPB&PB theo tư tưởng Hồ Chí Minh là: Với tổ chức, “cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”; “để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng”. Nếu đoàn kết làm nên sức mạnh của Đảng thì TPB&PB được coi là cội nguồn sức mạnh bậc nhất của Đảng. Với các đảng viên, “một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau”; “là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau chữa những khuyết điểm”. TPB&PB là phương pháp để giáo dục, rèn luyện đảng viên. Người cho rằng: “Chúng ta vì dân, vì nước mà làm cách mạng. Muốn cách mạng thành công, ắt phải đoàn kết và tiến bộ. Muốn đoàn kết càng chặt chẽ, tiến bộ càng mau chóng, thì mọi người phải sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Mà muốn được như thế thì không có cách gì hơn là thật thà tự phê bình và phê bình. Mục đích phê bình là cốt lợi cho công việc chung”. Phê bình như thế nào? Mục đích đã đúng thì lại cần phải có một tinh thần, thái độ, cách thức thực hiện phù hợp. Đây chính là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm. Người căn dặn: “Vì vậy phê bình mình cũng như phê bình người khác ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời chớ dùng những lời mỉa mai chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm chứ không phải phê bình người. Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi không nên vì bị phê bình mà nản chí hoặc oán ghét”. Để phê bình có hiệu quả, theo Người, phải phê bình toàn diện, đa chiều; do đó, trong bài Thuốc đắng dã tật nói thật mất lòng, Người nhấn mạnh: “Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn”. Người cũng căn dặn: Phải kết hợp giữa phê bình và tự phê bình; phải thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm, đúng nguyên tắc và nêu gương trước cấp dưới, trước quần chúng. Đặc biệt, phê bình phải trên tình đồng chí thương yêu nhau. Đây là điều căn cốt nhất và phương thức hiệu quả nhất khi thực hành phê bình. Trong Di chúc, Người căn dặn “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu nhau”. Phải dân chủ trong phê bình và tôn trọng đối tượng được phê bình. Ngày 30-5-1957, khi nói chuyện với cán bộ, đảng viên và thanh niên Hải Phòng, Người ân cần nói: “Phê bình phải dân chủ, nghĩa là Bác phê bình các cô, các chú, trái lại các cô, các chú có thể phê bình Bác, có cái hay phải học, cái khuyết điểm thì phê bình. Các cô, các chú yêu Bác, muốn Bác tiến bộ thì phải phê bình”. Phong cách phê bình của Người thể hiện sự gần gũi, yêu thương nhau giữa các thành viên trong một đại gia đình lớn; vừa mềm dẻo, vừa cương quyết để đạt được mục đích của TPB&PB mà không “cứng rắn, mệnh lệnh, ép buộc” dẫn đến hiệu quả thấp, thậm chí phản tác dụng. Những bất cập đáng lo ngại Trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, Đảng ta một lần nữa yêu cầu: Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt TPB&PB. Xây dựng quy định TPB&PB, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. TPB&PB trong Đảng nói chung, đối với cán bộ, đảng viên của Đảng nói riêng đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng và hiệu quả, nhất là từ khi có Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI đến nay. Tuy nhiên, vấn đề này hiện nay vẫn tồn tại những bất cập đó là: Thứ nhất, tự phê bình thì mạnh dạn nhưng phê bình còn e dè, nể nang. Đây là một trong những bất cập khá phổ biến trong sinh hoạt và hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Như một lẽ tự nhiên, tự phê bình thường không “động chạm”, còn phê bình lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền và lợi ích của một tổ chức hay một cá nhân. Do đó, không ít cán bộ, đảng viên còn biểu hiện “dĩ hòa vi quý”, e dè, nể nang, ngại va chạm nhất là khi phê bình cấp trên. Thứ hai, lợi dụng phê bình để hạ thấp uy tín người khác. Vì mục đích vụ lợi, không ít cán bộ, đảng viên lợi dụng việc phát huy dân chủ, đề cao phê bình để công khai nói xấu, công kích để hạ thấp uy tín của người được phê bình hoặc lợi dụng phê bình để tranh cãi, gây mất đoàn kết hoặc khuyết điểm chưa rõ thì tìm cách che dấu… Bên cạnh đó, thái độ trông trước ngó sau, đón ý cấp trên để phê bình cho “trúng” hoặc xem người khác nói gì rồi hùa theo. Một tình trạng nữa là có những người lợi dụng phê bình làm công cụ để hạ bệ người không cùng phe cánh. Phê bình không khách quan, không kịp thời nhắc nhở đồng chí, đồng nghiệp mà “tích lũy khuyết điểm” của người khác để kết tội. Với “chiếc áo” phê bình, họ kéo bè, kéo cánh để công kích những người không ưa, gây mất đoàn kết nội bộ, làm rối loạn cơ quan, đơn vị... Thứ ba, tinh thần đấu tranh TPB&PB của cán bộ, đảng viên còn hạn chế, chưa nêu cao tính xây dựng, tính chiến đấu của người cán bộ, đảng viên. Tâm lý “thứ nhất ngồi lỳ, thứ nhì đồng ý” hay “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không lên án” hoặc “gió chiều nào theo chiều ấy” để tạo cảm giác “an toàn” cho mình khiến một số cán bộ, đảng viên ngại phát biểu biểu ý kiến trong sinh hoạt Đảng (việc phát biếu ý kiến chỉ tập trung vào đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, cán bộ, đảng viên lớn tuổi, còn một số đảng viên trẻ rất ít phát biểu trong các kỳ sinh hoạt), nếu phát biểu cũng phê bình chung chung, chiếu lệ, né tránh những vấn đề nhạy cảm, gai góc. Không ít tổ chức đảng mất đoàn kết nội bộ hoặc đoàn kết xuôi chiều vì có những cán bộ, đảng viên “dĩ hòa vi quý” hoặc có thái độ hành vi “đạo đức bốn mặt” (“Đạo đức bốn mặt”: Trước mặt nói rất tốt, rất hay về người này, người khác nhưng lại nói xấu người nọ, chê bai người kia sau lưng; trước cấp trên thì xum xoe, nịnh bợ, luồn cúi; trước nhân dân thì thờ ơ, vô cảm, “sống chết mặc bay”). Thứ tư, người được phê bình thường có biểu hiện không thừa nhận khuyết điểm, thái độ cầu thị không tốt, thậm chí tiếp nhận các ý kiến phê bình của người khác một cách cực đoan; từ đó, cán bộ, đảng viên là cấp trên tìm cách để ý, trù dập những người phê bình mình là cấp dưới. Vì vậy, một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra đó là: “Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng”. Còn tồn tại những bất cập có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân cơ bản là do tư tưởng “ngại va chạm”, tính chủ động, tinh thần trách nhiệm, tinh thần TPB&PB của một số cán bộ, đảng viên chưa cao. Nguyên nhân chính là do cán bộ, đảng viên còn bị chủ nghĩa cá nhân chi phối, bị ràng buộc bởi lợi ích “được gì? mất gì?”; toan tính lợi ích cá nhân, cục bộ, bản vị vì lợi ích trước mắt, chưa vì lợi ích tập thể và lợi ích lâu dài. Nguyên nhân sâu xa của những bất cập trên còn do cán bộ, đảng viên chưa có văn hóa phê bình. Vì vậy, trong nhiều “vụ án ngàn tỷ” thời gian gần đây, có những người vi phạm rất nghiêm trọng, làm thất thoát tài sản lớn của Nhà nước, nhưng khi bị cơ quan pháp luật xét xử cũng chỉ nhận khuyết điểm là do hạn chế về nhận thức. Phê bình chân chính và có văn hóa Thực hiện thường xuyên TPB&PB là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Cấp ủy, các tổ chức đảng cần quyết liệt thực hiện TPB&PB theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII. Khắc phục tình trạng nể nang, dĩ hòa vi quý, đoàn kết xuôi chiều, bị tình cảm cá nhân chi phối; đồng thời, nghiêm khắc xử lý những biểu hiện lợi dụng phê bình để đấu đá, làm mất uy tín của nhau, gây rối đối với tổ chức, ảnh hưởng đến đoàn kết trong tổ chức đảng, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng kích động, chia rẽ. Mỗi cán bộ, đảng viên phải phê bình một cách thẳng thắn, chân thành nhằm giúp đồng chí, đồng đội nhận rõ sai lầm, sửa chữa khuyết điểm để không ngừng tiến bộ, tuyệt đối không vì mâu thuẫn cá nhân, động cơ cá nhân mà phê bình theo kiểu “vạch lá tìm sâu”, “bới lông tìm vết” nhằm trù dập, đấu đá, hạ bệ lẫn nhau. Do đó, các tổ chức đảng khi tiến hành TPB&PB, phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là những mặt còn yếu kém, không nể nang, né tránh. Mỗi cán bộ, đảng viên kiểm điểm phải bảo đảm tính trung thực trong tự kiểm điểm, người phê bình thì công khai dân chủ, nghiêm túc, thẳng thắn với tinh thần xây dựng và cán bộ cấp trên phải làm gương cho cấp dưới. Đồng thời, phải kiên quyết xử lý kỷ luật những tổ chức đảng và cá nhân không thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt TPB&PB, không tự nhận sai lầm, khuyết điểm và che dấu những hạn chế, khuyết điểm cho nhau. Việc góp ý cho nhau, cùng nhau tiến bộ, nâng cao phẩm chất con người, phát huy tính tích cực của con người; cần nhận thức sâu sắc hơn, thực hiện triệt để hơn nguyên tắc TPB&PB để Đảng luôn trong sạch, làm cho uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao. Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực TPB&PB. Đảng ta yêu cầu mọi tổ chức đảng và mọi đảng viên đều phải thực hiện tốt TPB&PB. Theo đó, phê bình không phải là sỉ vả, xúc phạm danh dự của nhau mà là sự thể hiện tình cảm đồng chí trong sáng, chân thành; phê bình là để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ và để đoàn kết tốt hơn; phê bình phải mang tính khách quan, vô tư, có lý, có tình, cổ vũ ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nhược điểm; phê bình phải trên nguyên tắc tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải, chống thổi phồng hoặc bóp méo sự thật; phải biết phân tích ưu điểm, khuyết điểm của đồng chí mình theo quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể... Chỉ có phê bình như thế mới là phê bình chân chính và mới có tác dụng; nói cách khác là phê bình có văn hóa.

Không để xã hội bị thông tin xấu độc lung lạc

Có lẽ chưa bao giờ “thị trường” không gian mạng lại sôi nổi như bây giờ. Các trang website, blog, đưa lên facebook, diễn đàn… đua nhau mọc lên như nấm sau mưa. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và xảo quyệt, đưa tin thất thiệt, thật giả lẫn lộn, dẫn đến tâm lý hoang mang, nghi ngờ, phân tâm trong xã hội. Những thông tin xấu độc trên không gian mạng luôn tạo ra cơ hội cho các thế lực thù địch tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá, gây mất ổn định chính trị, kinh tế-xã hội ở nhiều địa phương, không chỉ những đô thị lớn mà nó còn len lỏi về tận những vùng nông thôn. Những chiêu trò tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị diễn ra ở nhiều nơi, nhiều thời gian và không gian khác nhau. Đặc biệt, trong những thời điểm các tổ chức đảng đang tích cực chuẩn bị đại hội ở cấp mình, theo Chỉ thị số 35-CT/TƯ ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, thì chúng tung tin giả, xuyên tạc, kích động, xuyên tạc sự thật, cho rằng "các phe cánh trong Đảng đang thanh trừng lẫn nhau", "trong Đảng không có dân chủ nên cần phải đa đảng…". Họ lợi dụng tâm lý cực đoan, định kiến của một bộ phận dân chúng để hằng ngày tán phát lên mạng nhiều thông tin sai sự thật; bình luận, nhìn nhận vấn đề có thật một cách méo mó, theo hướng có lợi cho mục đích, mưu đồ của họ. Thủ đoạn mà họ thông tin thường là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội rồi thổi phồng, cắt ghép theo ý đồ có sẵn; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất, thật giả lẫn lộn, xuyên tạc sự thật vào những sự kiện, những diễn biến, những động thái có thật, bằng những kỹ xảo tinh vi của công nghệ, tạo dựng chuyện bằng cách lắp ghép, trích dẫn, cắt xén các lời phát ngôn, bài viết, hình ảnh… gây nhiễu loạn thông tin, làm cho người đọc, xem thiếu kinh nghiệm dễ lầm tưởng, khó phân biệt, nhận diện thật-giả, đúng-sai. Từ đó, đánh giá không đúng bản chất sự kiện, nhân vật. Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch suy cho cùng là nhằm chia rẽ Đảng với nhân dân, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội. Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình", chống “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trên không gian mạng thì chúng ta còn bộc lộ những hạn chế. Chẳng hạn, một số sự việc đã bị kẻ xấu lợi dụng, lan truyền, nhưng ta chưa kịp thời có biện pháp đấu tranh, ngăn chặn; hoặc chưa kịp thời cung cấp thông tin chính thống để định hướng dư luận. Hình thức đấu tranh vẫn chủ yếu là chia sẻ các bài viết trên mạng, tần suất các bài viết đấu tranh trực diện chưa nhiều, thông tin chưa có chiều sâu, còn nặng về lý thuyết, giáo điều, tính thuyết phục hạn chế, nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong cộng đồng xã hội. Để tin xấu, độc không còn đất sống, trước hết, cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận diện rõ thông tin xấu, độc, ngăn chặn sự tác động của nó vào đời sống chính trị, tinh thần của cộng đồng xã hội. Cần cảnh giác cao độ với tính nguy hiểm mặt trái của mạng xã hội. Tuy nhiên, sự suy thoái, tha hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng là sự tiếp sức cho sự chống phá của các thế lực thù địch. Bởi vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng với tinh thần “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ” ở tất cả cơ quan, tổ chức, đơn vị. Sự chống phá của các thế lực thù địch sẽ không có đất sống nếu Đảng, Nhà nước và nhân dân ta có sức đề kháng tốt. Người dân sẽ không tin khi biết rõ thông tin và hiểu được âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Còn nếu chúng ta không định hướng tốt, để tâm lý, tư tưởng trong cộng đồng xã hội bị lung lạc, thì sự chống phá của các thế lực thù địch sẽ càng có thêm cơ hội. Vì vậy, bên cạnh việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền, Đảng và Nhà nước cần chủ động công khai, minh bạch thông tin những chủ trương chính sách trong giải quyết các vấn đề, nhất là những vấn đề có tính nhạy cảm. Các phương tiện tuyên truyền của Đảng, Nhà nước cần chủ động, kịp thời, phản ánh rõ các sự kiện, sự việc theo hướng tích cực, đúng sự thật. Tuyệt đối không để công chúng hoài nghi về công tác truyền thông và cũng không để những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc tự tung, tự tác mà không bị phản bác. Thực tiễn cho thấy, để tạo thuận lợi cho việc chống tin giả, cần củng cố, xây dựng một nền báo chí và truyền thông xã hội dân chủ, nhân văn, chuyên nghiệp và hiện đại. Thông tin càng cởi mở, việc kết nối thông tin trong xã hội tới mọi người dân luôn thông suốt, chúng ta càng có điều kiện để phòng, chống tin giả, tin xấu độc, bảo đảm thông tin chính thống giữ vững vai trò làm chủ, định hướng dư luận.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn tự soi, tự sửa

Trong công tác xây dựng đội ngũ, Đảng ta luôn động viên cán bộ, đảng viên tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện, để nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tuy vậy, do nhiều yếu tố tác động, cộng với sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện nên một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý đã vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống... tới mức phải thi hành kỷ luật, thậm chí phải đưa ra truy tố trước pháp luật. Sai phạm đó không chỉ gây tổn thất về cán bộ cho Đảng mà còn làm giảm lòng tin của nhân dân vào uy tín lãnh đạo của Đảng. Đây là bài học đắt giá và hình ảnh xấu, để mỗi chúng ta cần phải tự soi, tự sửa, nhằm giữ vững phẩm chất, đạo đức cán bộ, đảng viên, khôi phục uy tín của Đảng. Kể từ khi ban hành Chính cương vắn tắt và Cương lĩnh đầu tiên của Đảng cho tới nay đều ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Mục tiêu đấu tranh cách mạng của Đảng, mang lại độc lập và tự do cho đất nước, cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho toàn dân. Đội ngũ của Đảng bao gồm những người ưu tú và tiến bộ nhất trong các tầng lớp nhân dân. Những người xin vào Đảng, đều phải tuân thủ Chính cương và Điều lệ Đảng, tự nguyện tuyên thệ trước Đảng: Tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, điều lệ, nghị quyết và chỉ thị của Đảng, pháp luật Nhà nước, hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công. Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác. Có chủ trương, phương hướng xây dựng cũng như rèn luyện đội ngũ cán bộ và đảng viên đúng đắn. Do duy trì tốt và thực hiện nghiêm những vấn đề trên nên Đảng ta đã giữ vững được vai trò lãnh đạo, phát huy được tính tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ và đảng viên. Vì vậy Đảng được các tầng lớp nhân dân hết lòng tin tưởng và noi theo, anh dũng đứng lên đấu tranh giành độc lập, đánh thắng các đế quốc to, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; xây dựng cả nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), đạt được nhiều thành tựu ngày càng to lớn hơn. Đây là những bài học vô cùng quý giá mà chúng ta cần phải trận trọng giữ gìn, kế thừa, phát triển và phát huy, nhằm xây dựng Đảng ta ngày càng trưởng thành, vững mạnh, đáp ứng lòng mong đợi của toàn dân. Ngày nay, do nhiều yếu tố tác động, cộng với sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện của một bộ phận cán bộ, đảng viên, đã làm ảnh hưởng tới vị thế, uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng. Từ thực tiễn đó, Ban chấp hành Trung ương đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Qua học tập và rèn luyện của từng đảng viên và tổ chức đảng, bước đầu đã tạo được chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị, góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, hiện tượng suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức trong Đảng. Tuy vậy công tác xây dựng Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), một số nội dung vẫn chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra. Trong tự phê bình và phê bình, tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Một số cán bộ, đảng viên vẫn chưa tự giác nhìn nhận, đánh giá đúng ưu, khuyết điểm và trách nhiệm của mình. Vẫn còn cấp ủy và tổ chức đảng chưa nhận ra, chưa quy rõ trách nhiệm của từng người, từng cấp, trước tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Hiện tượng chạy chức, chạy tội, tham nhũng, lợi ích nhóm... vẫn tồn tại trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Vì thế có thể nói tình trạng này vẫn chưa bị đẩy lùi, thậm chí có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn. Thế nên trong thời điểm hiện nay và cả những năm tới, chúng ta càng phải đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và phương hướng, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã đề ra. Để thực hiện có hiệu quả yêu cầu trên, trước hết, các cấp phải coi trọng xây dựng Đảng về chính trị, để mỗi cán bộ, đảng viên luôn kiên định với Chủ nghĩa Mác-Lênnin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định với con đường cách mạng mà Đảng ta đã lựa chọn. Đây là nhân tố vô cùng quan trọng để cán bộ, đảng viên, nâng cao bản lĩnh chính trị và bản chất cách mạng, vai trò tiền phong, gương mẫu. Thứ hai, đẩy mạnh công tác giáo dục và học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân tố căn bản để giữ vững và nâng cao phẩm chất và đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội và thực dụng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Thứ ba, kiện toàn hệ thống tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Nhân tố vô cùng quan trọng để nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Thứ tư, coi trong công tác cán bộ, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiển tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Yếu tố rất quan trọng để xây dựng Đảng ta trong sạch và vững mạnh. Thứ năm, cần đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng của cấp ủy, nhất là người đứng đầu, trong chủ động phòng ngừa. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm, đúng người, đúng tội, đúng luật pháp các đối tượng, hành vi tham nhũng, lãng phí, kể cả các hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho những việc làm sai trái, để giữ nghiêm kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước, góp phần răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi các hành vi tiêu cực, suy thoái trong Đảng, xây dựng Đảng ta thật trong sạch và vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn. Đó cũng là nhân tố vô cùng quan trọng để ta phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Phá tan âm mưu tuyên truyền, kích động, lôi kéo, hòng tạo cớ gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giữ vững mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Hành lang nhân đạo cho người dân Ukcraina

 

Cố vấn của Tổng thống Ukraine cũng cho biết nghị trình của Ukraine là đồng ý với một lệnh ngừng bắn ngay lập tức và tổ chức các hành lang nhân đạo để cho phép dân thường rời khỏi các cộng đồng ở tiền tuyến.

Trước cuộc đàm phán, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov tự tin sẽ tìm ra giải pháp cho khủng hoảng hiện nay và nói yêu cầu của Nga là "tối thiểu". Ông cũng cho biết thêm rằng Nga không thể cho phép Ukraine gây ra mối đe dọa đối với an ninh của đất nước.

Ngoại trưởng Lavrov xác nhận các cuộc đàm phán lần 2 giữa Nga và Ukraine dự kiến ​​diễn ra ngày 3-3. Theo Hãng tin Sputnik, cuộc đàm phán được cả thế giới mong chờ này sẽ bắt đầu lúc 15h, giờ địa phương.

Ngoại trưởng Lavrov cho biết Nga sẵn sàng thảo luận về đảm bảo an ninh cho Ukraine và toàn bộ châu Âu trong các cuộc đàm phán này.

Ngoại trưởng Lavrov cho biết phái đoàn Ukraine hứa sẽ trình bày rõ ràng vị trí của mình trong vòng đàm phán sắp tới. Tuy nhiên, ông cho rằng Kiev không hành động độc lập trong các cuộc đàm phán.

"Một lần nữa, phía Ukraine lại viện cớ để hoãn các cuộc đàm phán. Chắc chắn họ đang nhận được chỉ thị từ Washington. Đất nước này hoàn toàn không độc lập", ông Lavrov nói. 

Ông cho rằng phương Tây không có mục tiêu đảm bảo an ninh cho Ukraine dựa trên sự cân bằng lợi ích với Nga, mà điều phương Tây quan tâm là muốn "hạ bệ" Nga.

Ngoại trưởng Lavrov cảnh báo chiến tranh thế giới thứ ba sẽ là một cuộc đối đầu hạt nhân.

Theo Hãng tin Reuters, cố vấn của Tổng thống Ukraine cũng xác nhận đàm phán giữa Nga và Ukraine sẽ bắt đầu trong vài giờ tới. Reuters cho biết thời gian của cuộc đàm phán theo phía Ukraine công bố là 21h (giờ Việt Nam) ngày 3-3.

Theo truyền thông Nga, phái đoàn của Nga đã đến nơi và đang chờ đoàn Ukraine.

Dư luận thế giới rất hy vọng đàm phán sẽ giúp mở lối cho xung đột trong bối cảnh tình hình chiến sự ở Ukraine đang leo thang.  

Nga và Ukraine tổ chức đàm phán vòng đầu tiên tại Belarus ngày 28-2. Theo truyền thông hai bên, vòng đàm phán thứ 2 dự kiến diễn ra ngày 2-3, nhưng sau đó dời sang ngày 3-3.

Truyền thông hai bên trước đó tiết lộ Ukraine yêu cầu thiết lập lệnh ngừng bắn và Nga rút quân khỏi nước này. Theo Hãng tin Reuters, Davyd Arakhamia, nhà đàm phán của Ukraine, cho biết phía Ukraine dự định ưu tiên thảo luận về vấn đề hành lang nhân đạo an toàn cho thường dân trước khi đi vào các nội dung khác.

Trong khi đó, phía Nga yêu cầu Ukraine cam kết không gia nhập các khối chống Nga và công nhận hai vùng ly khai ở miền đông cũng như từ bỏ yêu cầu Nga trả lại bán đảo Crimea.

KẾT QUẢ: Nga và Ukraine đã nhất trí tạo ra các hành lang nhân đạo cho những thường dân chạy trốn khỏi các cuộc giao tranh ở Ukraine. Theo Hãng tin AFP, một cố vấn của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky cho biết thỏa thuận này là "tiến bộ rõ ràng duy nhất" tại vòng đàm phán thứ hai giữa Nga và Ukraine vào ngày 3-3. Ông Leonid Slutsky, nhà đàm phán Nga, xác nhận sáng kiến ​​này và cho biết nó sẽ sớm được triển khai.

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky kêu gọi đàm phán trực tiếp với nhà lãnh đạo Nga Vladimir Putin. Ông nói đây là "cách duy nhất để ngăn chặn cuộc chiến này".

                                                                                            Ba2505

Chọn gỗ tốt, đừng lóa mắt bởi nước sơn

Nói không với phô trương, “chạy” thành tích Anh L.K, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc một doanh nghiệp bất động sản ở phía Nam rất “chịu khó” xuất hiện trước truyền thông. Trong các bài báo và bản tin truyền hình, anh được mô tả là một doanh nhân trẻ thành đạt, có nhiều đóng góp cho công tác từ thiện xã hội, được trao tặng nhiều giải thưởng, danh hiệu. Anh còn được mời tham dự một số diễn đàn, hội thảo dành cho doanh nghiệp hội nhập ở nước ngoài. Trên mạng xã hội, anh L.K thường xuyên đăng tải những hình ảnh, thông tin về thành tích của cá nhân và doanh nghiệp, nhất là những hình ảnh anh chụp chung với lãnh đạo một số bộ, ngành, địa phương và nhà đầu tư quốc tế trong các sự kiện. Thời gian gần đây, anh còn làm thơ, nhờ nhạc sĩ phổ nhạc, mời một số giọng ca mới nổi làm MV ca nhạc để "đánh bóng" tên tuổi. Trong mắt bạn bè, đồng nghiệp, đồng hương, anh nổi lên như một “ngôi sao”, có mối quan hệ xã hội rộng, quen biết nhiều cán bộ trong hệ thống chính trị các cấp, được nhiều người thán phục. Một số người còn nhờ anh kết nối với các cơ quan chức năng để tìm dự án. Tuy nhiên, đằng sau những thông tin, hình ảnh làm lóa mắt không ít người ấy, sự thật về anh và doanh nghiệp do anh làm chủ lại là một diện mạo khác. Nhiều dự án của doanh nghiệp mà anh làm chủ đang rơi vào cảnh “đắp chiếu”. Anh bị chính quyền địa phương, quê hương khiếu nại vì đầu tư dự án khu dân cư hiện đại, nhưng đã gần 5 năm mới chỉ triển khai được mấy hàng rào cọc bê tông và tường bao. Nhiều người dân địa phương vì tin anh, gom tiền mua đất nền nhưng đợi dài cổ vẫn chưa được bàn giao. Thực tế, doanh nghiệp của anh đang hoạt động kiểu giật gấu vá vai, nợ nần đầm đìa. Nhờ giỏi quan hệ, anh "đánh bóng" tên tuổi và thương hiệu bằng những thành tích “ảo”, cốt để tạo dựng lòng tin từ các đối tác, lấy dự án nọ nuôi dự án kia. Những chuyện tương tự như ví dụ vừa dẫn không hiếm. Qua các vụ việc, vụ án tham nhũng, gây thất thoát lớn tiền của Nhà nước và nhân dân đã bị cơ quan chức năng xử lý thời gian gần đây, chúng ta thấy rõ sự gian dối, luồn lách để “chạy” danh hiệu thi đua của không ít doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân. Có những trường hợp vừa tổ chức đón nhận danh hiệu linh đình nhưng chỉ một thời gian ngắn sau thì vướng vòng lao lý. Những vụ án tham nhũng do Phan Văn Anh Vũ (Vũ “nhôm”), Đinh Ngọc Hệ (Út “trọc”) cầm đầu là vài dẫn chứng điển hình. Trước khi bị khởi tố, cá nhân và doanh nghiệp của những kẻ tham nhũng, thoái hóa biến chất này đã từng nhận được không ít giải thưởng, danh hiệu thi đua, làm lóa mắt nhiều người. Thực trạng đó đã được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng chỉ rõ: “Mắc bệnh "thành tích", háo danh, phô trương, che giấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, "đánh bóng" tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; "chạy thành tích", "chạy khen thưởng", "chạy danh hiệu"… Đảng ta nhận định, đây là những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân nguy hiểm, là những kiểu suy thoái chính trị, đạo đức, lối sống; là những cấp độ nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. Những hành vi, phần tử thoái hóa biến chất này dù có được ngụy trang, che chắn cẩn thận, tinh vi đến đâu cũng không thể đứng ngoài vòng pháp luật. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cuộc chiến chống tham nhũng dưới sự lãnh đạo của Đảng thời gian qua đã không cho những phần tử cơ hội này liên kết, tạo vùng “cấm” cho hành vi, biểu hiện suy thoái tồn tại, phát triển. Với tinh thần quyết liệt, triển khai những bước thận trọng, kiên trì, kiên quyết, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Nhưng, chủ nghĩa cá nhân với những biểu hiện đã được Đảng chỉ ra như trên vẫn chưa được đẩy lùi hoàn toàn. Trước sự đấu tranh mạnh mẽ, chủ nghĩa cá nhân lại có kiểu biến hình, biến dạng ở mức độ tinh vi hơn. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ví những phần tử cơ hội chính trị, chủ nghĩa cá nhân là kiểu “lươn, chạch”, rất khó nắm bắt. Từ xa xưa, ông bà ta đã dạy “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Cách nói dân dã này vừa chứa đựng trong đó triết lý biện chứng về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, vừa là sự đúc kết hiện thực đời sống từ hàng trăm, hàng nghìn năm. Chính vì chúng ta dễ bị lóa mắt trước sự hào nhoáng của hình thức nên vô hình trung coi nhẹ nội dung, bị đánh lừa bởi những giá trị “ảo”. Thời ông bà mình, nước sơn chỉ là những thứ được làm từ củ, quả, vỏ cây có màu. Bây giờ, sơn công nghiệp, sơn 3D, thứ gì cũng có, không chỉ có màu mà còn có cả mùi, tạo hiệu ứng không gian ba chiều rất bắt mắt. Kiểu hình thức ấy trong thời đại công nghiệp 4.0, nhiều khi giả mà như thật, u u minh minh, lại được ngụy tạo dưới kiểu “lươn chạch”, nếu không có dũng khí, chúng ta sẽ rất khó phát hiện, xử lý. “Bệnh thành tích” ở lĩnh vực nào cũng nguy hiểm, vì nó tạo ra giá trị “ảo”, thủ tiêu giá trị thực chất, nhưng “bệnh thành tích” trong xây dựng Đảng là nguy hiểm nhất, vì đây là lĩnh vực then chốt. Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, phê bình, tự phê bình theo nguyên tắc Đảng ngay từ cơ sở, phát huy tai mắt của dân, đẩy mạnh đấu tranh, phát hiện mầm mống suy thoái ngay từ cơ sở, ngay từ đầu, chính là những vũ khí để đấu tranh, triệt tiêu “bệnh thành tích”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nguy hiểm trong Đảng. Thi đua thực chất, kết hợp "xây" và "chống" Đại hội Đảng các cấp lần này là đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa lớn trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Gắn việc chuẩn bị, tổ chức đại hội với đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước là nét đẹp truyền thống của Đảng ta qua các kỳ đại hội. Đây là hai mặt của một vấn đề, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị. Muốn vậy, thi đua phải thực chất, phải thực sự là động lực tinh thần trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đây cũng chính là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân thể hiện tinh thần yêu nước, lòng trung thành với Đảng thông qua các hoạt động, hiệu quả cống hiến thực chất. Qua hiệu quả phong trào thi đua, tổ chức Đảng các cấp có thêm căn cứ, cơ sở để giới thiệu, đề cử, bồi dưỡng những nhân tố mới cho cấp ủy nhiệm kỳ mới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo: Thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Đặt lợi ích của Đảng, đất nước và nhân dân lên trên hết. Lấy phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, uy tín và hiệu quả công tác làm căn cứ cơ bản để đánh giá, sàng lọc, bố trí cán bộ và đổi mới công tác nhân sự… Phải lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước... Thực tế, vài nhiệm kỳ gần đây cho thấy, có một số đảng bộ chỉ tập trung lo cho đại hội mà có phần buông lỏng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, không hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, thậm chí gây ảnh hưởng không tốt cho nhiệm kỳ sau. Ngược lại, vẫn có những đảng bộ quan tâm nhiều hơn việc thực hiện nhiệm vụ chính trị thường xuyên mà coi nhẹ công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội. Vì vậy, trong lãnh đạo, chỉ đạo cần tránh cả hai khuynh hướng này. Mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19, song theo dõi các chi bộ, đảng bộ được lựa chọn tổ chức đại hội trước ở nhiều địa phương, đơn vị, chúng ta vui mừng khi thấy hiệu ứng tích cực từ đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa sâu rộng này. Cái được lớn nhất chính là sự tập trung, thống nhất trong đại hội; là niềm tin, sự kỳ vọng to lớn của đảng viên và nhân dân đối với đội ngũ lãnh đạo nhiệm kỳ mới. Điều này cũng chứng tỏ, tại các chi bộ, đảng bộ vừa tổ chức đại hội, việc tổ chức phong trào thi đua, thúc đẩy hiệu quả lãnh đạo thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ và công tác chuẩn bị, tổ chức đại hội đã được tiến hành song song, chu đáo, hiệu quả, tạo niềm tin vững chắc trong đảng viên và quần chúng nhân dân. Luật Thi đua khen thưởng và những thông tư, hướng dẫn hiện hành đã tạo hành lang pháp lý chặt chẽ nhằm khắc phục hạn chế, bảo đảm thi đua, khen thưởng thực chất. Quan điểm của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) nêu rõ: Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật; kết hợp giữa "xây" và "chống"; "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; "chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Chống “bệnh thành tích” là một trong những giải pháp bảo đảm cho đại hội đảng các cấp thành công tốt đẹp. Rút kinh nghiệm từ những tổ chức đảng đại hội trước, chúng ta phải xem xét cả việc tổ chức phong trào thi đua yêu nước gắn với công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội. Xem xét cụ thể, thấu đáo cách làm của những nơi làm trước để phát huy ưu điểm, khắc phục “bệnh thành tích” (nếu có) chính là cách để mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những người được tín nhiệm giới thiệu tham gia cấp ủy nhiệm kỳ mới tự phê bình, tự chỉnh đốn để xứng đáng hơn với vị trí, cương vị được giao.

Nói không đi đôi với làm - “bệnh trọng” cần giải nguy, chữa gấp

Cũng là một biểu hiện mị dân, lừa dân Hệ lụy đáng nói nhất là khi những người có chức, có quyền chỉ nói mà không làm, chỉ hứa hão mà không thực hiện, chỉ thích nói hay làm dở, nói suông làm giả, thậm chí làm những việc trái ngược hoàn toàn với những điều mình đã nói thì họ không chỉ tự bêu gương xấu trước thiên hạ, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của nhân dân vào thể chế chính trị, bộ máy công quyền và những người giữ vai trò “cầm cân nảy mực” trong xã hội. Một trong những trường hợp nổi cộm mà dư luận nhắc tới nhiều là trường hợp ông Nguyễn Xuân Anh, cựu Ủy viên Trung ương Đảng, cựu Bí thư Thành ủy, cựu Chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng nhiệm kỳ 2016-2021. Hồi mới nhậm chức lãnh đạo cao nhất TP Đà Nẵng, ông Nguyễn Xuân Anh đã có những phát ngôn làm nức lòng nhiều CB, ĐV, nhân dân địa phương và thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội, như: “Không có quyền lực ngoài pháp luật”; “Tiết kiệm là vinh dự, lãng phí là xúc phạm đến lòng tin của dân, tham nhũng là có tội với nhân dân”; “Kiên quyết chống thị trường ngầm và thương mại hóa công tác tổ chức cán bộ”… Thế nhưng những gì ông Nguyễn Xuân Anh làm lại không đúng như những gì ông nói. Thậm chí, ông nói một đằng, làm một nẻo, để lại nhiều hệ lụy, tai tiếng cho cá nhân, gia đình ông và gây ra nhiều phiền toái cho cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và nhân dân địa phương. Trường hợp khác cũng được dư luận nhắc đến là ông Trương Minh Tuấn, cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông. Từng chủ biên cuốn sách “Phòng, chống “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" về tư tưởng trong CB, ĐV hiện nay”, nhưng chính ông lại có những hành vi vi phạm nghiêm trọng những điều đảng viên không được làm, vi phạm pháp luật Nhà nước. Theo nhận định của Thiếu tướng, PGS, TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược (Bộ Công an), sự mâu thuẫn giữa nội dung cuốn sách và đạo đức cá nhân người chủ biên cuốn sách thực chất là “Nói một đằng, làm một nẻo”-một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đã được chỉ ra trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng. Đó chỉ là hai trong rất nhiều ví dụ về một bộ phận quan chức ở nhiều cấp, nhiều nơi những năm gần đây vẫn chỉ nói mà không làm, chỉ nói đúng đường lối, nhưng lại làm sai nghị quyết, làm trái pháp luật. Theo đại diện lãnh đạo Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng những năm qua chưa được thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, hiệu quả ở nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương là do trách nhiệm nêu gương trong công tác phòng, chống tham nhũng của một bộ phận CB, ĐV, nhất là người đứng đầu còn hạn chế. Thực tế đã có những quan chức trong hội nghị, lên đăng đàn hay khi tiếp xúc với nhân dân thì miệng hô hào phải quyết liệt đấu tranh đẩy lùi “quốc nạn” tham nhũng, nhưng chính bản thân họ lại có hành vi phiền hà, nhũng nhiễu, đòi quà cáp, đòi hối lộ... từ người dân và doanh nghiệp. Chính những việc làm đi ngược lại lời nói của họ đã tác động tiêu cực và làm suy giảm tác dụng của công tác tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng. Thực ra vấn nạn “nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đằng làm một nẻo” không phải chỉ tồn tại trong một bộ phận CB, ĐV ở nước ta, mà nó là một thực trạng khá nhức nhối ở hầu hết các thể chế chính trị-xã hội và nhiều quốc gia trên thế giới. Nói chung, những quan chức nói không đi đôi với làm thường là những người có lợi thế hoạt ngôn, diễn thuyết giỏi, thích hô khẩu hiệu suông, bị chi phối bởi chủ nghĩa dân túy tầm thường nên họ lợi dụng vị trí xã hội, vị trí công tác để chau chuốt, vuốt ve những câu từ mỹ miều, rót những lời đường mật vào “tâm lý đám đông” nhằm thu hút, lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin “tiền hô hậu ủng” cho bản thân mình. Nhưng sau khi đạt được mục đích chính trị, những quan chức này dần sa vào tình trạng làm không hay như nói, nói đâu bỏ đấy, hứa hão rồi cho qua, thậm chí cố tình tìm cách nói dối như Cuội nhằm che đậy, lấp liếm những việc làm khuất tất của mình. Chủ động phòng ngừa, loại bỏ những trường hợp “nói đúng-làm sai” Trong xã hội phong kiến trước đây, các bậc quân tử luôn coi trọng ngũ thường là “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”. Trong đó, biểu hiện cốt lõi của chữ “tín” là “quân tử nhất ngôn”. Nghĩa là người quân tử chỉ nói một lời và khi đã nói, đã hứa thì không bao giờ thay đổi, đã nói là làm. Nhắc lại điều đó để thấy, thời nào cũng vậy, khi những người có vị trí, “vai vế” trong xã hội luôn được ví như một trong những biểu tượng, hình ảnh, danh dự của thể chế xã hội đương thời, do vậy họ luôn phải đề cao, coi trọng và có trách nhiệm giữ gìn, bảo đảm thống nhất giữa lời nói và hành động. Nhất là trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, bất cứ lời nói, phát ngôn nào của cán bộ khi đã được đăng tải công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, thì những “lời hay ý đẹp” của họ cũng dễ trở thành tiêu điểm của dư luận, đồng thời cũng là bằng chứng để người dân theo dõi, giám sát lời nói và việc làm của họ có phù hợp, nhất quán với nhau hay không. Cách nay 93 năm, trong tác phẩm “Tư cách người cách mệnh” viết năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ một trong những yêu cầu phẩm chất cần phải có của người cách mệnh là “nói thì phải làm”. Một trong 3 nguyên tắc cơ bản về xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng của CB, ĐV theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nói phải đi đôi với làm, phải tự giác nêu gương về đạo đức. Bác Hồ từng khẳng định: "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” là ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". Nói năng hay, diễn đạt tốt tuy rất cần thiết đối với CB, ĐV, nhưng làm mới là tiêu chí, là thước đo cơ bản để đánh giá phẩm chất, năng lực và uy tín của từng người. Làm ở đây không chỉ có nghĩa là trực tiếp hành động để tạo ra kết quả tích cực, mà còn bao hàm cả việc tự giác rèn luyện, tu dưỡng để giữ gìn liêm sỉ, danh dự, hình ảnh tốt đẹp của CB, ĐV trong lòng nhân dân. Khi phê phán căn bệnh “nói không đi đôi với làm” của CB, ĐV thực chất nhằm cảnh giác, cảnh tỉnh, phòng ngừa những kẻ nói năng lươn lẹo, ba hoa, sáo rỗng, mị dân, thích đánh bóng tên tuổi cá nhân, nhưng lại thiếu những việc làm ý nghĩa, hành động thiết thực để mang lại lợi ích chung cho tập thể, cộng đồng, đất nước và xã hội. Nhận thấy những tác hại ghê gớm của khuyết điểm “nói không đi với làm” của một bộ phận CB, ĐV, những năm gần đây, Đảng ta đã ban hành nhiều chỉ thị, văn bản nhằm chấn chỉnh thực trạng này. Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp” đòi hỏi phải đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải có một trong những tiêu chí là: “Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, lợi ích nhóm, nói không đi đôi với làm”. Yêu cầu hàng đầu được nêu ra tại Điều 3 Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” là mọi CB, ĐV, trước hết là người đứng đầu các cấp phải nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống: “Nói không nhất quán, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít”. Trong bài viết “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Ðại hội XIII của Ðảng”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ, một trong những trường hợp phải kiên quyết cảnh giác, không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII khi đã mắc khuyết điểm: “Nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm”. Những quy định nhất quán trên đã cho thấy, “nói đi đôi với làm” của CB, ĐV không chỉ là đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; từ mong muốn, kỳ vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân; mà đó còn là một trong những tiêu chí cơ bản, quan trọng trong việc giới thiệu, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ. Ở chiều sâu hơn, việc Đảng ta yêu cầu CB, ĐV, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp luôn bảo đảm thống nhất giữa lời nói với việc làm, đã nói là làm, làm nhiều nói ít, làm đến nơi đến chốn, làm có hiệu quả thực chất, là thiết thực góp phần xây dựng đạo đức, bồi đắp văn hóa trong Đảng Cộng sản Việt Nam, tô đẹp tính chính danh của người chiến sĩ cộng sản và qua đó góp phần phòng ngừa, ngăn chặn một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của CB, ĐV.