Putin - Người mở ra kỷ nguyên mới cho nước Nga.
Liên Xô sụp đổ là thảm họa địa-chính trị lớn nhất trong thế kỷ XX. Tổng thống V.Putin là người đưa Liên bang Nga thoát khỏi thảm họa này, tiếp tục phát triển vững chắc và trở thành cường quốc thế giới mới.
Theo Tổng thống Nga V.Putin, Liên Xô sụp đổ là thảm họa địa-chính trị lớn nhất trong thế kỷ XX. Để đưa nước Nga khắc phục hậu quả của thảm họa này, kể từ khi nhậm chức vào ngày 7/5/2000 Tổng thống V.Putin đã đặt lợi ích quốc gia của Nga lên trên hết trong quá trình hoạch định chiến lược và lãnh đạo đất nước phát triển theo con đường mới trong kỷ nguyên hậu Xô Viết trong điều kiện bị Mỹ và phương Tây ra sức chống phá quyết liệt.
Thách thức lớn nhất đối với nước Nga sau khi Liên Xô sụp đổ.
Sau khi Liên Xô sụp đổ, thách thức đối với đại đa số người dân Nga là khó khăn về kinh tế-xã hội, nhưng thách thức lớn nhất và nghiệt ngã nhất đối với nhà nước Nga xuất phát từ mục tiêu chiến lược toàn cầu của Mỹ là tiếp tục làm tan rã Liên bang Nga như một quốc gia có chủ quyền. Mục tiêu này của Mỹ đã từng được xác định trong thời kỳ Chiến tranh lạnh tại Chỉ lệnh của Hội đồng an ninh quốc gia No.SC-20/11 ngày 18/8/1948: “Bất kể thể chế chính trị nào ở nước Nga, sẽ không thể để quốc gia này phát triển tiềm lực kinh tế đủ mạnh có thể trở thành nguy cơ đối với quyền bá chủ thế giới của Mỹ. Nước Nga tương lai chỉ có thể duy trì tiềm lực quân sự hạn chế và phải luôn phụ thuộc vào Mỹ”.
Năm 1995, triển khai Chỉ lệnh No.SC-20/11, Tổng thống Mỹ Bill Clinton phê chuẩn chiến lược ứng xử với Nga. Trong đó, xác định rõ: “Trong thập kỷ tới, chúng ta sẽ tiếp tục làm tan rã nước Nga thành các quốc gia nhỏ bằng cách kích động các cuộc chiến tranh và xung đột sắc tộc, tương tự như quá trình làm tan rã Liên bang Nam Tư, và sẽ thiết lập các thể chế chính trị theo sự sắp đặt của Mỹ tại những quốc gia mới hình thành từ sự tan rã nước Nga”. Năm 1997, trong bài phát biểu tại Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ, nguyên Cố vấn an ninh quốc gia Zbignev Brezinski nhấn mạnh: “Cần tiếp tục làm tan rã nước Nga thành các quốc gia nhỏ hơn với dân số và tiềm lực không đáng kể. Chỉ bằng cách đó, phương Tây mới dễ bề sai khiến họ”.
Xuất phát từ mục tiêu chiến lược toàn cầu của Mỹ đối với Nga, trên thực tế, Chiến tranh lạnh vẫn chưa kết thúc sau khi Liên Xô sụp đổ và vẫn tiếp diễn trong điều kiện mới, được gọi bằng một cái tên khác là là “chiến tranh phức hợp”, bởi Mỹ xác định Nga là nguy cơ chiến lược chủ yếu và là cản trở địa-chính trị lớn nhất đối với trật tự thế giới đơn cực do Washington kiểm soát. Theo nhận định của Andrei Ilnitsky - Cố vấn của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nga, Mỹ và phương Tây đang tiến hành cuộc chiến tranh thế giới phức hợp nhằm chống phá Nga. Sergey Glazyev – cựu Cố vấn của Tổng thống Nga V.Putin, cho rằng cuộc chiến tranh thế giới phức hợp mà nước Nga đang phải đối mặt là cuộc chiến vô cùng phức tạp, quyết liệt, diễn ra trên nhiều chiến tuyến. Đây là một loại hình chiến tranh kiểu mới, trong đó các bên không sử dụng các phương thức tác chiến truyền thống mà là sử dụng các phương thức hành động phi truyền thống kết hợp đan xen chiến tranh kinh tế, chiến tranh thông tin, chiến tranh ngoại giao, chiến tranh phá hoại ngầm, chiến tranh trong không gian mạng và hoạt động của các lực lượng đối lập trên lãnh thổ đối phương.
Trong bài phát biểu tại Hội nghị an ninh quốc tế lần thứ VII tháng 4/2018 ở Moscow, Tổng Thư ký Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu Thomas Greminger đã từng đề cập tới cuộc chiến tranh thế giới phức hợp này. Trong đó, không còn ranh giới giữa trạng thái hòa bình và chiến tranh; trật tự quan hệ quốc tế dựa trên luật pháp sụp đổ; hoạt động thương mại, làn sóng di cư, thông tin, không gian mạng, chủ nghĩa khủng bố và tội phạm có tổ chức được sử dụng làm vũ khí chiến tranh. Còn những kẻ gây chiến đang lẩn trốn trong bóng tối rất khó xác định. Trong chiến tranh thế giới phức hợp, rất khó phân biệt giữa sự thật và giả dối, giữa ta và địch, trong đối tác có đối tượng, trong đối tượng có đối tác, dẫn đến tính trạng bất định, khó lường, khó kiểm soát, tạo ra tình trạng ngờ vực và mất lòng tin.
V.Putin xác định con đường phát triển của nước Nga trong kỷ nguyên hậu Xô Viết.
Nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất của Tổng thống V.Putin sau khi nhậm chức vào ngày 7/5/2000 là xác định con đường phát triển của nước Nga trong kỷ nguyên hậu Xô Viết. Hình hài của con đường này đã được V.Putin trên cương vị Thủ tướng Nga phác họa trong bài viết của ông có tựa đề “Nước Nga trước ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba “được công bố vào ngày 30/12/1999-nghĩa là chỉ 1 ngày trước khi ông được B.Yeltsin trao Quyền Tổng thống Nga. Theo V.Putin, sau khi Liên Xô sụp đổ, nước Nga phải tìm lời giải cho những câu hỏi bức thiết: cần phải vận dụng cơ chế kinh tế thị trường trong điều kiện nước Nga ra sao để mang lại hiệu quả?Làm thế nào để vượt qua sự chia rẽ sâu sắc về hệ tư tưởng và chính trị trong xã hội khi hệ tư tưởng cộng sản đã bị phá hoại? Nước Nga cần nỗ lực để hướng tới những mục tiêu chiến lược nào? Vị thế của nước Nga sẽ ra sao trên thế giới trong thế kỷ XXI? Thế mạnh và hạn chế của nước Nga trong kỷ nguyên mới là gì? Nước Nga có những nguồn lực vật chất và tinh thần nào? V.Putin nhấn mạnh, nếu không tìm được câu trả lời rõ ràng và dễ hiểu cho người dân trước những câu hỏi này, nước Nga sẽ không thể vững tin tiến lên phía trước để giành lại vị thế xứng đáng của một cường quốc trong kỷ nguyên mới. Theo V.Putin, chỉ có thể hóa giải được những câu hỏi này trên cơ sở những bài học kinh nghiệm rút ra được từ quá khứ.
Bài học thứ nhất là, trong gần ba phần tư thế kỷ qua, nước Nga đã phát triển theo học thuyết chủ nghĩa cộng sản. Sẽ là sai lầm nếu không nhận thấy hoặc phủ nhận những thành tựu hiển nhiên của thời kỳ đó. Nhưng sẽ là sai lầm lớn hơn nếu không nhận ra cái giá quá lớn mà xã hội và con người phải trả trong quá trình áp dụng học thuyết đó trong phát triển kinh tế-xã hội.
Bài học thứ hai là, phải nhận thấy nước Nga đã vượt qua giới hạn tột cùng của các biến động chính trị và kinh tế - xã hội, các trận đại hồng thủy và cuộc cải tổ triệt để, nên không thể tiến hành thêm một cuộc cách mạng nữa.
Bài học thứ ba là, kinh nghiệm cay đắng của những năm 1990 chứng tỏ, không thể đổi mới thực sự thành công nếu áp dụng một cách máy móc và đơn giản các mô hình và đề án trừu tượng trong sách giáo khoa nước ngoài vào điều kiện của nước Nga.
Những bài học kinh nghiệm đó giúp nước Nga hoạch định một chiến lược dài hạn nhằm vượt qua cuộc đại khủng hoảng sau khi Liên Xô sụp đổ, tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững. Vì thế, Tổng thống V.Putin cho rằng, để tiếp tục phát triển, nước Nga rất cần có được sự đồng thuận trong xã hội về con đường phát triển hướng đến tương lai tốt đẹp.
V.Putin cho rằng, sự đồng thuận này dựa trên nhiều yếu tố có ý nghĩa như những trụ cột. Một là, những giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa Nga, trước hết là chủ nghĩa yêu nước, hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử. Một khi đánh mất lòng yêu nước, niềm tự hào và bản sắc văn hóa Nga thì cũng đánh mất chính mình như là một dân tộc có khả năng đạt được những thành tựu vĩ đại. Hai là, tinh thần cường quốc, theo đó Nga đã và sẽ vẫn là một đất nước vĩ đại xuất phát từ các đặc điểm vốn có về địa-chính trị, kinh tế và văn hóa. Ba là, nước Nga cần có một nhà nước mạnh. Trong hàng ngàn năm lịch sử của nước Nga, thể chế và cấu trúc của nhà nước mạnh và bền vững luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn vong và phát triển một đất nước rộng lớn với rất nhiều dân tộc cùng chung sống. Bốn là, tinh thần đoàn kết. Lịch sử Nga chứng tỏ, đối với người dân Nga, tinh thần đoàn kết và chủ nghĩa tập thể luôn chiếm ưu thế trước chủ nghĩa cá nhân. Năm là, tính gia trưởng ăn sâu vào xã hội Nga, trong đó đa số người đã quen với ý nghĩ cho rằng vị thế của họ được khẳng định không chỉ bằng nỗ lực, sự tháo vát và sáng kiến của bản thân mà chủ yếu là nhờ sự giúp đỡ và hỗ trợ của nhà nước. Theo Tổng thống V.Putin, sự đồng thuận xã hội ở Nga được hình thành như một kiểu hợp kim, một sự kết hợp hữu cơ giữa các giá trị phổ quát của nhân loại với các giá trị văn hóa truyền thống của Nga đã từng đứng vững trước thử thách của thời gian.
Trên cơ sở những bài học kinh nghiệm đó, Tổng thống V.Putin xác định con đường phát triển của nước Nga.
Về kinh tế, nước Nga xây dựng nền kinh tế thị trường-định hướng xã hội có sự quản lý của nhà nước. Theo đó, Nga xây dựng các tập đoàn kinh tế nhà nước mạnh làm đầu tàu cho sự phát triển kinh tế. Theo mô hình này, trên cơ sở các thành tựu của nền kinh tế thị trường, nước Nga sẽ giải quyết những nhu cầu xã hội bức thiết như xóa đói giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, xóa bỏ tình trạng thất nghiệp, áp dụng chế độ giáo dục phổ cập và y tế miễn phí, duy trì tốc độ tăng trưởng dân số v.v.
Về chính trị, nước Nga chấp nhận chế độ đa nguyên, đa đảng và không coi bất cứ hệ tư tưởng nào là tư tưởng quốc gia. Tổng thống V.Putin kêu gọi, người dân Nga dù đi theo đảng phái chính trị nào, đều phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước, hướng tới mục tiêu xây dựng nước Nga phát triển hùng mạnh. Nga tôn trọng tự do tín ngưỡng, chấp nhận và tiếp thu nhiều tôn giáo, nhưng không chấp nhận bất cứ tôn giáo nào làm quốc giáo.
Để ổn định lực lượng cầm quyền, ông Putin quyết định chấm dứt tình trạng “thay đảng như thay áo” của Yeltsin, vì trước đây mỗi khi nhà lãnh đạo này mỗi khi bất đồng với đảng của mình, ông giải tán và thành lập không biết bao nhiêu cái Đảng nữa, nào là Khối Dân chủ Nga (1990 - 1993), Đảng Lựa chọn của Nga (1993–1995), đến Đảng Nhà của chúng tôi - Nga (1995–1999) nhưng chả cái đảng nào hoạt động cầm quyền ổn định và tồn tại được lâu, vì những đảng này hơi mâu thuẫn một tý với ông Tổng thống, thì là ngài ta giải thể bất chấp đúng sai. Nhưng dù thành lập bao nhiêu cái đảng cầm quyền đi nữa thì ông Yeltsin vẫn tiếp tục mất lòng dân vì cải cách cực hữu thân Mỹ của ông này, khi bán hàng nghìn thứ tài nguyên cho doanh nghiệp nước ngoài, tư hữu hóa ồ ạt đất nước, mâu thuẫn sắc tộc gay gắt khiến cho đất nước lâm vào nội chiến với Cộng Hòa Chechnya nhỏ bé, chính trị - kinh tế bị bọn tài phiệt lũng đoạn, các nước Cộng Hòa đua nhau đòi độc lập, nước Nga có nguy cơ tan rã lần thứ hai, hình ảnh nước Nga trên trường quốc tế bị Mỹ và phương tây coi thường, tình cảnh nước Nga quả là bi đát.
Khi lên cầm quyền, ông Putin đã giải tán các đảng cũ của lão già Yeltsin, tập hợp những người cùng lý tưởng thành lập ra Đảng Thống Nhất Nga vào năm 1999, ông cũng “thay đổi tư tưởng” những người ủng hộ này theo ý tưởng thiên tả (hướng về người lao động) của mình, rồi tập hợp thêm một vài đảng trung dung như Đảng Tổ quốc - Toàn nước Nga, cánh tả khác như Đảng Công chính lập ra Đảng Nước Nga Thống Nhất vào năm 2001, từ đó chính trường Nga ổn định không còn cái cảnh “thay Đảng như thay áo” dưới thời Yeltsin, từ đó Putin trở thành một lãnh tụ mới của nước Nga chứ không còn đơn thuần chỉ là một vị Tổng thống, suốt 20 năm qua nước Nga gần như lại “một Đảng” vì chỉ có Đảng của Putin được đa số nhân dân ủng hộ và chi phối chính trường Nga, họ không hề có đối thủ vừa tầm để tranh cử.
Ngoài ra Putin đưa ra chính sách hạn chế thành lập các đảng phái mới thông qua Luật Chính Đảng Nga theo đó các Đảng phải hoạt động ở 1/2 Bang trên cả nước, có 100 nghìn đảng viên trở lên, có mấy trăm nghìn Rúp thì mới được phép hoạt động, không thì chính quyền không cấp phép cho họ hoạt động, thế là từ 5000 đảng phái chỉ còn 14 đảng, các đảng mang tính dân tộc chủ nghĩa, vùng miền, âm mưu ly khai bị giải tán tất, còn 13 chính đảng đủ sức hoạt động nhưng không đủ sức cạnh tranh với đảng cầm quyền vì ít người ủng hộ, nên nước Nga gần như chỉ có “một đảng” chi phối chính trường và kiểm soát đất nước giống như thời Liên Xô vậy.
Về đối ngoại, Nga chủ trương phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng với tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Nga không chấp nhận trật tự thế giới đơn cực chỉ do một siêu cường lãnh đạo và áp đặt các giá trị của họ cho các nước còn lại của thế giới; chủ trương xây dựng trật tự thế giới mới, trong đó tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, giàu hay nghèo, đều phải được tôn trọng.
Về quân sự, lấy chủ nghĩa yêu nước làm nền tảng tư tưởng, Nga xây dựng học thuyết quân sự và chiến lược quân sự mới, phục hồi và phát triển tổ hợp công nghiệp-quân sự hùng mạnh kế thừa từ thời Liên Xô làm cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, được trang bị hiện đại, biên chế tinh gọn, thiện chiến, đủ sức bảo vệ vững chắc toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia, ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh xâm lược trên mọi quy mô.
Khi tổng thống Vladimir Putin lên cầm quyền, ông đã nỗ lực gấp đôi để trấn áp lực lượng ly khai Chechnya do Mỹ và phương tây hậu thuẫn. Cuộc chiến Chechnya lần 2 bắt đầu vào tháng 12.1999 với chiến lược sốc và kinh hãi của Nga bằng việc bao vây thủ đô Grozny.
Trong hàng tuần, Nga đã không kích và pháo kích tiêu diệt phiến quân trong thành phố. Toàn bộ các khu vực lân cận bị phá hủy và khi những nhóm nổi dậy thể hiện sự kiên cường thì các chiến dịch oanh tạc tăng lên tới một mức độ không thể kháng cự. Máy bay chiến đấu của Nga đã thả những truyền đơn "Các người đã thua! Sẽ không có cuộc đàm phán nào nữa. Mọi người không rời khỏi thành phố sẽ bị tiêu diệt" (theo Gordon năm 1999). Vào tháng 2.2000, các nhóm nổi dậy trốn khỏi thành phố. Rất nhiều kẻ chạy trốn đi vào đường mở dẫn ra thẳng bãi mìn (theo Beehner 2017, trang 84-85). Quân đội Nga tiến vào thành phố vào đầu tháng 2.
Cuộc bao vây Grozny là nền tảng của chiến tranh và là trung tâm của "mô hình Chechnya". Bao vây cho phép bên tấn công giữ thế tấn công trong khi kìm chân kẻ thù, ngăn tiếp viện và bảo toàn tài nguyên cùng nhân lực. Sự vây hãm đặc biệt có lợi nếu "đội quân phía trước không có nhân lực, tài chính hay nguồn lực quân sự có thể nắm và kiểm soát toàn bộ thành phố" (theo Beehner 2017, trang 81).
Với một đội quân thiếu thốn của Nga vào năm 1999, việc bao vây Grozny là một chiến thuật có hiệu quả kinh tế. Cuộc bao vây cũng chứng minh khả năng của Nga. Các nhóm nổi dậy có thể thực hiện những vụ bạo động ở mức độ cao nhưng họ không thể chống lại những nguồn lực của một đất nước đã hạ quyết tâm. Thông qua "việc cô lập, không kích và đội quân áp chế không hạn chế", Nga đã hoàn thành mục tiêu trong vòng một tháng điều mà họ từng không thể làm trong 2 năm vào cuộc chiến lần 1 (Beehner 2017, trang 85).
Với những phiến quân rút lui vào trong núi, Nga có thể giảm thiểu chúng sử dụng phương thức bạo lực COIN để chỉ huy những chiến dịch càn quét. Nhưng Nga còn sử dụng các phương thức bao gồm: đột kích, thanh lọc, cảnh sát chìm và thiết quân luật... Trong thời điểm đó, những dân quân ủng hộ chính phủ lĩnh trách nhiệm từ quân đội Nga (theo Pohl 2007, trang 30-32).
Với quyết tâm của Kremlin về sự ổn định quốc nội, "mô hình Chechnya" dựa vào những chiến thắng quân sự hữu hình (chiếm đóng những thành phố trên các vùng nông thôn) và sự chi phối truyền thông. Trong cuộc chiến Chechnya lần 1, một tờ báo đối lập đã chỉ trích chiến thuật và nhân tố chính trị của Nga. Họ kêu gọi rút quân và làm giảm sút sự ủng hộ của dân chúng với hành động của ông Yeltsin và do lo lắng về cuộc bầu cử, ông đã đề xướng ngừng bắn vào năm 1996.
Với bài học đã có, Kremlin "học được giá trị của việc thi hành một cuộc chiến tuyên truyền trên sóng radio để giữ vững thế tấn công trên mặt đất" (theo cuộc bầu cử tổng thống Nga năm 2000). Thông qua chiến dịch này, sự ủng hộ của công chúng giữ vững ở mức 60% dù Nga có nhiều người thương vong và giới truyền thông đã đưa tin tích cực về sự phát triển của quân đội cũng như khả năng lãnh đạo của ông Putin.
Sau khi chiếm được Grozny, ông Putin đã lên kênh truyền hình quốc gia ORT vào ngày 6.2.2000. Ông tuyên bố trận chiến đã kết thúc và gợi lại bức ảnh nổi tiếng chụp lá cờ Liên Xô tung bay trên nóc tòa nhà Quốc hội Đức năm 1945, tự hào thông báo rằng: "Lá cờ Nga đã được kéo lên trên nóc một tòa nhà hành chính trong quận" (theo Kremlin năm 2000). Một tháng sau, ông Putin đắc cử tổng thống.
Thắng lợi tại Chechnya, được sử sách quân sự Nga ghi chép lại thành "Mô hình Chechnya". Mô hình này đòi hỏi bạo lực lấn át để tấn công bắt khu vực phải phục tùng và mở ra những con đường mới, đôi khi tiến trình này được gọi là "Chechnya hóa" - có sự "chuyển giao quyền lực cho những người Chechnya thân Nga để chống lại sự nổi loạn tại địa phương" (theo Russell 2011, trang 510). Thông qua chiến dịch quân sự thắng lợi, ông Putin đưa Akhmad Kadyrov lên làm tổng thống lâm thời của Cộng hòa Chechnya. Kadyrov là chỉ huy dân quân nổi tiếng trong cuộc chiến Chechnya lần thứ 1.
Và giờ, ông Kadyrov được chọn lên làm đại diện của Moscow và điều này cho phép ông Putin tránh được những chỉ trích quốc tế trong khi bình thường hóa vị trí của Chechnya trong Liên bang Nga (theo Russell 2011 trang 511). Kadyrov đã tạo nên một đội quân để nhổ tận gốc những tay khủng bố còn sót lại đồng thời trả tiền để chấm dứt tình trạng nổi loạn.
Sau khi Kadyrov bị ám sát vào năm 2004, người kế nhiệm thân Moscow Alu Alkhanov đã bổ nhiệm thiếu tướng của quân nổi dậy làm một trong những người đứng đầu chính quyền và những người lính quân nổi dậy được sáp nhập vào trung đoàn quân Chechnya. Chính những người lính này đã thực hiện các chiến dịch chống lại quân phiến loạn tại cùng những khu vực đồi núi họ từng chiếm cứ.
Alkhanov thôi chức năm 2007 khi Ramzan Kadyrov (con trai của Akhmad Kadyrov và là một cựu chỉ huy dân quân độc lập) đủ già dặn để có thể làm tổng thống. Thay vì thiết lập một chính phủ mới, mô hình Chechnya giữ nguyên cấu trúc chính trị cũ với những người có uy tin ủng hộ Kremlin. Các lãnh đạo quân nổi dậy được tin dùng sắp xếp những vị trí trong chính phủ và quân nổi dậy được nhận vào lực lượng an ninh.
Với những phiến quân rút lui vào trong núi, Nga có thể giảm thiểu chúng sử dụng phương thức bạo lực COIN để chỉ huy những chiến dịch càn quét. Nhưng Nga còn sử dụng các phương thức bao gồm: đột kích, thanh lọc, cảnh sát chìm và thiết quân luật... Trong thời điểm đó, những dân quân ủng hộ chính phủ lĩnh trách nhiệm từ quân đội Nga (theo Pohl 2007, trang 30-32).
Năm 2005, lực lượng của Nga cũng đã tâp kích tiêu diệt Aslan Maskhadov thủ lĩnh phiến quân tại Chechnya. Năm 2006, người kế nhiệm của Maskhadov là Abdul-Khalim Sadulaev bị ám sát. Trong khi "mô hình Afghanistan muốn biến đổi những kẻ bất tuân thành đồng minh thông qua cải thiện sự cai trị và những đại diện chính trị thì "mô hình Chechnya" đơn giản là quét sạch sự tồn tại của họ. Đến năm 2009, sau khi các tàn dư cuối cùng bị truy quét, cuộc chiến tranh Chechnya lần hai kết thúc.
Ngày nay nước Cộng hòa Chechnya thuộc LB Nga là một đất nước bình yên, an ninh - an toàn, người dân đã yên tâm và đã quen với cuộc sống hòa bình. Với người dân Chechnya, nhiệm vụ họ tự đặt ra cho mình giờ đây là phải làm nhiều hơn nữa để làm sao nhanh nhất xây dựng, phát triển nước cộng hòa cho sánh kịp với mặt bằng chung của LB Nga. Chính quyền nước Cộng hòa đang tiếp tục đầu tư xây dựng nhiều công trình dân sinh và khuyến khích các doanh nghiệp Nga, doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư phát triển. Đáng kể nhất là một dự án mang tên “Trung tâm Đào tạo Quốc tế các lực lượng đặc nhiệm”.
Suốt nhiều năm qua, những địa danh Gudecmes, Grozny hay chung nhất là Chechnya khi được nhắc đến đều gợi về miền đất nóng bỏng, gắn liền với xung đột, bạo lực và chiến tranh… Nay trở lại đây, không khí hòa bình đã bao trùm… Người dân đang nỗ lực hết sức mình để xây dựng một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn./.
Yêu nước ST.