Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2022

Căng thẳng Nga – Ukraine: Bản chất, nguyên nhân và triển vọng

 

Căng thẳng Nga – Ukraine: Bản chất, nguyên nhân và triển vọng

TCCS - Ngày 24-2-2022, Hãng thông tấn TASS (Nga) đưa tin Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố Nga mở “chiến dịch quân sự đặc biệt” ở miền Đông Ukraine nhằm đáp lại lời đề nghị hỗ trợ bảo đảm an ninh của lãnh đạo hai nước Cộng hòa tự xưng Donestsk (DPR) và Lugansk (LPR). Trong bối cảnh căng thẳng ngày càng gia tăng giữa Nga, Mỹ và các nước thành viên Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) hiện nay, nhiều câu hỏi đang được dư luận hết sức quan tâm, đó là: bản chất của cuộc xung đột này là gì, tại sao lại xảy ra vào thời điểm hiện nay và chiều hướng của cuộc khủng hoảng ra sao?

Bản chất và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

Bản chất của cuộc khủng hoảng

Vấn đề khủng hoảng Ukraine hiện nay bắt nguồn từ cuộc chính biến xảy vào đầu năm 2014(1), kéo dài đến nay đã 8 năm, vẫn chưa chấm dứt và ngày càng trở nên phức tạp. Đây không chỉ đơn giản là cuộc xung đột giữa lực lượng ly khai với sự hậu thuẫn của Nga và Chính phủ Ukraine ở miền Đông (Donbass) nước này, mà còn là cuộc xung đột giữa các nước lớn ở khu vực châu Âu - Đại Tây Dương, như Nga, Mỹ, NATO; thậm chí, liên quan tới các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Chiến sự giữa Nga và Ukraine năm 2022 có quy mô lớn hơn so với cuộc khủng hoảng năm 2014 và được xem là cuộc xung đột lớn nhất kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, xuất phát từ một số lý do: Một là, cục diện chung trên thế giới đã thay đổi, với việc Mỹ theo đuổi các chính sách “Nước Mỹ trên hết”, “Nước Mỹ trở lại”; Trung Quốc thực hiện chiến lược “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa”, trong khi Nga hiện chưa có một chiến lược mang tính toàn cầu. Hai là, trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, nước Nga dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Nga V. Putin đã triển khai thành công, có hiệu quả nhiều chính sách cả về đối nội và đối ngoại, qua đó ổn định được hệ thống chính trị nội bộ, củng cố vị thế, mở rộng ảnh hưởng quốc tế và gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; tuy nhiên, hiện nay, trong tam giác quan hệ Mỹ - Trung Quốc - Nga, sự phục hồi ảnh hưởng của Nga vẫn chưa thể làm thay đổi cục diện chính trị thế giới. Ba là, đây là thời khắc hết sức quan trọng, được xem là một trong những thử thách đối với Tổng thống Nga V. Putin, khi chỉ còn chưa đầy hai năm là tới cuộc bầu cử Tổng thống Nga năm 2024, để tiếp tục từng bước khôi phục vị thế đất nước, giành lại vị trí quan trọng trên vũ đài quốc tế, chuyển từ cường quốc khu vực hướng đến tầm cỡ cường quốc toàn cầu.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

Nguyên nhân sâu xa. Sau Chiến tranh lạnh, thế giới - nhất là khu vực châu Âu - Đại Tây Dương - tưởng chừng sẽ có được một nền hòa bình lâu dài và không còn đối đầu, nhưng ngược lại đã nhanh chóng chứng kiến những căng thẳng leo thang trong quan hệ giữa hai cường quốc quân sự hàng đầu thế giới là Mỹ và Nga, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Mối quan hệ cạnh tranh nhiều hơn hợp tác, đôi khi đứng trước bờ vực đối đầu này đã chi phối mạnh mẽ việc tập hợp lực lượng mới, đồng thời tác động không nhỏ đến chiều hướng quan hệ hợp tác quốc phòng - an ninh trên thế giới, nhất là các quốc gia tầm trung và có vị trí địa - chiến lược quan trọng như Ukraine.

Bên cạnh đó, quan hệ giữa Nga và NATO cũng lâm vào khủng hoảng. Sau sự kiện Nga sáp nhập bán đảo Crimea (năm 2014) - nơi có quân cảng chiến lược Sevastopol - NATO đã đình chỉ quan hệ “đối tác vì hòa bình” với Nga, coi Nga là mối đe dọa đối với an ninh khu vực châu Âu. NATO cho rằng, Nga “vi phạm luật pháp quốc tế” khi trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ lực lượng ly khai ở Ukraine, sáp nhập lãnh thổ của một nước có chủ quyền vào Nga. NATO tăng cường trợ giúp Ukraine về huấn luyện và cung cấp các trang thiết bị vũ khí hiện đại; đe dọa thắt chặt các biện pháp cấm vận kinh tế ngặt nghèo đối với Nga trong trường hợp Nga tấn công Ukraine; đồng thời, kêu gọi Nga “xuống thang” và triển khai hàng loạt bước đi để ngăn chặn Nga tấn công Ukraine.

Thế nhưng, điều bất ngờ nhất đối với NATO kể từ sau năm 2014 là Nga đã giành quyền chủ động hành động, cũng như ngày càng cảnh giác và quyết đoán hơn trước bất kỳ động thái nào của NATO. Nga coi việc “NATO Đông tiến” là đường lối lâu dài, là thách thức từ trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng Ukraine, đào sâu sự mất cân bằng chiến lược Nga - NATO. Nga quan ngại việc không có thành viên NATO nào phê chuẩn Hiệp ước về vũ khí thông thường châu Âu (CFE). Theo quan điểm của Nga, tình hình này còn tồi tệ hơn do Mỹ bố trí hệ thống tên lửa phòng thủ tại Ba Lan và Séc, vi phạm sự ổn định chiến lược. Nga quy kết NATO thúc đẩy cuộc “cách mạng màu” bên trong không gian hậu Xô-viết. Cuộc khủng hoảng Ukraine đã giáng một đòn mạnh vào hầu hết các cơ chế hợp tác giữa Nga và NATO, từ đấu tranh chống buôn lậu ma túy cho đến chống khủng bố... Các hoạt động quân sự (tập trận, tăng thêm quân, chiến tranh thông tin…) được Nga và NATO triển khai ở mức mạnh nhất, càng khoét sâu thêm căng thẳng giữa hai bên. Hai bên đều xem nhau như mối đe dọa đầu tiên và thi hành các biện pháp thích hợp. Các vụ va chạm trên không và trên biển, khả năng khó phá băng khủng hoảng tại vùng Donbass cùng nhiều vấn đề khác đã khiến mối quan hệ Nga - NATO tiếp tục leo thang căng thẳng kèm theo nhiều rủi ro xảy ra xung đột bùng phát tại chỗ (2).

Như vậy, có thể thấy nổi lên hai mâu thuẫn đối kháng khó giải quyết: Một là, mâu thuẫn giữa việc Nga sáp nhập bán đảo Crimea, kiểm soát cũng như khống chế các hoạt động quân sự và dân sự của Ukraine ở Biển Đen với việc Mỹ cùng đồng minh muốn ủng hộ Ukraine lấy lại bán đảo này, đẩy hạm đội Biển Đen của Nga ra khỏi Biển Đen. Hai là, mâu thuẫn giữa Nga và Mỹ cùng đồng minh NATO. Cụ thể, Nga muốn giành lại vị trí quan trọng trên vũ đài quốc tế, vươn lên tầm cường quốc toàn cầu, khiến thế giới phải thay đổi cách nhìn về vị thế quốc tế mới của Nga sau khi Liên Xô sụp đổ. Trong khi đó, Mỹ và NATO muốn đưa Ukraine vào quỹ đạo kiểm soát của họ và việc “phương Tây hóa Ukraine” sẽ có tác dụng giúp thúc đẩy “cách mạng màu” xảy ra bên trong chính nước Nga, góp phần làm suy giảm sức mạnh tổng hợp của Nga.

Nguyên nhân trực tiếp. Thứ nhất, cuộc xung đột giữa chính quyền Ukraine và lực lượng ly khai Donbass (bao gồm DPR và LPR) do Nga hậu thuẫn gia tăng, nhất là sau tháng 10-2021, khiến tiến trình đàm phán hòa bình theo Thỏa thuận Minsk 2 - giải pháp duy nhất đối với cuộc khủng hoảng chính trị Ukraine - khó đạt được kết quả. Thứ hai, Mỹ và NATO không chỉ chuyển giao vũ khí cho Ukraine, nhất là sau giai đoạn Mỹ rút quân khỏi Afghanistan (tháng 9-2021), khi Mỹ và đồng minh còn dư nhiều vũ khí, đạn dược (được dự kiến chuyển giao cho chính quyền thân Mỹ ở Afghanistan), mà còn triển khai tên lửa tầm trung và lực lượng quân sự trên lãnh thổ NATO - Đông Âu hướng tới Nga. Thứ ba, đáp lại những động thái đó, Nga đã triển khai trên 100.000 quân dọc biên giới trên bộ giáp với Ukraine, khu vực bán đảo Crimea, đồng thời tập trung quân đội ở nước láng giềng Ukraine là Belarus với danh nghĩa tập trận chung, cũng như phái 6 tàu chiến hiện đại tiến vào Biển Đen. Thứ tư, Mỹ và đồng minh NATO không đáp ứng bản đề nghị an ninh gồm 8 điểm của Nga gửi tới Mỹ và NATO vào giữa tháng 12-2021, với bốn nội dung cốt lõi: 1- NATO không kết nạp Ukraine và các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG); 2- Loại bỏ vũ khí hạt nhân của Mỹ ra khỏi châu Âu; 3- NATO rút toàn bộ quân đội hoặc vũ khí được triển khai tới các quốc gia tham gia liên minh về thời điểm trước năm 1997, bao gồm các nước như Ba Lan, Estonia, Lithuania, Latvia; 4- Không tiến hành tập trận tại các nước gần lãnh thổ của Nga.

Những điều này được cho là đã đẩy căng thẳng giữa Nga và Mỹ cùng đồng minh NATO lên đỉnh điểm thành cuộc xung đột quân sự mà chiến trường là Ukraine.

Những toan tính của các bên

Đối với Nga, “chiến dịch quân sự đặc biệt” năm 2022 được xem là “trận đánh chiến lược” của Tổng thống Nga V. Putin, do đó Nga chấp nhận đối mặt với nhiều vấn đề, bao gồm cả việc sẵn sàng chuẩn bị đối phó với các lệnh trừng phạt kinh tế ngặt nghèo, kéo dài của Mỹ và phương Tây. Nga cũng hiểu rất rõ, chiến tranh sẽ tạo thêm một gánh nặng mới đối với nền kinh tế Nga vốn bị ảnh hưởng nhiều do Nga là một trong những nước chịu tác động nặng nề nhất của đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, Chính phủ Nga đã đưa ra thông báo, Nga có đủ nguồn lực tài chính cho sự ổn định của hệ thống trước các lệnh trừng phạt và các mối đe dọa từ bên ngoài.

Mục tiêu của Nga khi phát động chiến dịch quân sự lần này, bao gồm: 1- Ngăn chặn phương Tây giành lại bán đảo Crimea; 2- Tạo sức ép đối với phương Tây và Ukraine thực hiện Thỏa thuận Minsk 2 theo cách của Nga; 3- Cơ cấu lại an ninh khu vực châu Âu, trong đó an ninh của Nga phải được tôn trọng và bảo đảm; 4- Thúc đẩy Đức và Liên minh châu Âu (EU) phê chuẩn dự án “Dòng chảy phương Bắc 2”; 5- Củng cố nhà nước liên minh giữa Nga và Belarus vừa được khởi động sau 20 năm không có nhiều tiến triển. 

Theo đánh giá chung, hiện nay, Nga có nhiều thuận lợi trong việc mở chiến dịch quân sự: 1- Mặc dù bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây, song kinh tế Nga đã tăng cường được tính tự chủ, chủ động thích ứng, vượt qua thời điểm khó khăn nhất và đang trên đà hồi phục. Tính đến tháng 8-2021, Quỹ Tài sản quốc gia Nga có nguồn vốn vào khoảng 185 tỷ USD và dự trữ ngoại tệ ở mức 615 tỷ USD. Bên cạnh đó, Nga cũng được dự báo là quốc gia sẽ hồi phục nhanh hơn các nước lớn khác sau đại dịch COVID-19 do đã thích nghi tốt với tình trạng bị cấm vận, cô lập từ năm 2014 đến nay; 2- Căng thẳng leo thang đẩy giá dầu mỏ tăng cao, đang tạo lợi thế cho Nga; 3- Cán cân quyền lực và cục diện thế giới tiếp tục có sự dịch chuyển nhanh từ Tây sang Đông, nhất là cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ cùng với việc Nga đẩy mạnh chính sách đối ngoại ưu tiên hơn trong quan hệ với Trung Quốc, đã góp phần củng cố vị thế của Nga với vai trò là một trong những nhân tố “cân bằng chiến lược” quan trọng hàng đầu mà cả Mỹ và Trung Quốc đều cần tranh thủ; 4- Cuộc khủng hoảng Ukraine buộc các nước phải quay trở lại Thỏa thuận Minsk 2; 5- Cuộc khủng hoảng Ukraine cũng tiếp tục làm bộc lộ rõ những mâu thuẫn trong nội bộ NATO và EU hiện nay (3); đồng thời, tạo sức ép buộc Mỹ và phương Tây phải đàm phán với Nga về những vấn đề lớn hơn liên quan đến an ninh châu Âu.

Trên cơ sở đó, Tổng thống Nga V. Putin đã triển khai được 5 bước đi lớn: 1- Gia tăng sự hiện diện quân sự tại Ukraine và gây ảnh hưởng lên các nước vùng Baltic; 2- Phô trương được sức mạnh quân sự cùng một lúc trên tất cả các mặt trận; 3- Cộng hưởng với Trung Quốc trong cuộc đua với Mỹ tiến tới vị trí trung tâm của vũ đài quốc tế; 4- Gửi tới Mỹ và NATO bản đề nghị an ninh gồm 8 điểm với các điều kiện tiên quyết, trong đó nêu rõ những quan ngại về an ninh của Nga; 5- Đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao con thoi để trao đổi với các nước. Những động thái này góp phần bảo vệ và củng cố thể chế của nước Nga, nhất là vị thế, uy tín của Tổng thống Nga V. Putin. Trong khi đó, thực tế cho thấy, các nước phương Tây và NATO thiếu sự quyết đoán khi đối mặt với những mối đe dọa hiện hữu.

Đối với Mỹ, chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden đang gặp không ít khó khăn, thách thức cả trong nước và ngoài nước. Ở trong nước, chính trị nội bộ Mỹ mâu thuẫn và chia rẽ sâu sắc, nhất là sau cuộc bạo loạn xảy ra ở tòa nhà Quốc hội vào ngày 6-1-2021 (4). Bên cạnh đó, dịch bệnh COVID-19 tiếp tục kéo dài và diễn biến phức tạp, tác động đến mọi mặt đời sống của nước Mỹ. Ở ngoài nước, mặc dù vẫn là siêu cường số 1 thế giới với sức mạnh vượt trội song khoảng cách sức mạnh của Mỹ so với Trung Quốc đang tiếp tục bị thu hẹp. Nhiều lợi ích chiến lược của Mỹ đang bị thách thức. Hệ thống đồng minh, đối tác có sự rạn nứt nhất định sau nhiệm kỳ của chính quyền Tổng thống Mỹ Donal Trump khiến các nỗ lực của Mỹ trong xử lý những vấn đề toàn cầu gặp nhiều khó khăn…

Tuy nhiên, việc thúc đẩy leo thang một cuộc khủng hoảng mới được cho là sẽ giúp Mỹ trở lại vị thế chi phối và vai trò lãnh đạo thế giới, ngăn chặn, đối phó với thách thức gia tăng từ các đối thủ chiến lược và các thách thức an ninh khác; khôi phục và củng cố hệ thống đồng minh, đối tác; định hình trật tự thế giới mới dựa trên các nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị chung.

Mục tiêu của Mỹ trong cuộc khủng hoảng chính trị Ukraine là: 1- Làm suy giảm sức mạnh tổng hợp quốc gia của Nga; 2- “Phương Tây hóa Ukraine”, lôi kéo các nước có xu hướng thân Nga “đoạn tuyệt” với Nga và dựa hẳn vào Mỹ và phương Tây; 3- Củng cố mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương; 4- Tranh thủ cuộc khủng hoảng chính trị tại Ukraine leo thang để khiến các nước châu Âu phụ thuộc hơn nữa vào Mỹ về mặt quân sự, an ninh, kinh tế và năng lượng; 5- Có lý do chính đáng để ngăn chặn Đức phê duyệt dự án “Dòng chảy phương Bắc 2”.

Đối với Ukraine, nước này vốn được coi là “nạn nhân” trong cuộc khủng hoảng chính trị hiện nay, nhưng lại mong muốn gia nhập NATO và EU. Ukraine cho rằng, việc gia nhập NATO “không gây ảnh hưởng đến an ninh của Nga”. Chính vì vậy, ngay sau khi lên nắm quyền, chính quyền của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky tiếp tục: 1- Khẳng định quyết tâm gia nhập NATO và đẩy mạnh cải cách lực lượng vũ trang theo tiêu chuẩn NATO; 2- Tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng - an ninh, với việc gia tăng chi phí và đẩy mạnh thử nghiệm các loại tên lửa mới (5); 3- Duy trì các cuộc tập trận quân sự chung với NATO nhằm nâng cao khả năng tác chiến hiệp đồng giữa quân đội Ukraine với quân đội các nước thành viên NATO; 4- Tiến hành sửa chữa, cải tiến và hiện đại hóa các loại vũ khí, khí tài cũ để trang bị cho lực lượng quân đội; 5- Mua vũ khí sát thương của các nước phương Tây.

Trong khi đó, NATO lại tỏ ra khá thận trọng trước viễn cảnh Ukraine gia nhập tổ chức này. Theo Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg, Ukraine đã xin gia nhập NATO từ năm 2008 và NATO đang xem xét, chưa kết nạp Ukraine, với lý do theo Điều 6 Hiến chương NATO, về mặt kỹ thuật, Ukraine hiện chưa đủ điều kiện để gia nhập NATO (6). Tuy nhiên, cũng như Mỹ và các nước phương Tây, NATO cho rằng, tất cả quốc gia độc lập, có chủ quyền như Ukraine, có thể xin gia nhập không chỉ NATO mà bất kỳ tổ chức kinh tế, chính trị, quân sự hay ngoại giao nào phù hợp với lợi ích quốc gia của Ukraine.

Thế nhưng, theo Điều 5 Hiến chương NATO - một nguyên tắc sáng lập của NATO về phòng thủ tập thể - bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào nhằm vào một hay một số thành viên của liên minh đều được coi là cuộc tấn công vào toàn bộ liên minh… Mỗi thành viên, với quyền tự vệ cá thể hay tập thể chính đáng theo Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc, sẽ hỗ trợ một bên hoặc các bên. Như vậy, nếu Ukraine trở thành một phần của NATO, các nước thành viên có nguy cơ phải tham gia đối đầu trực tiếp với Nga. Đây là điều mà dường như không một quốc gia nào trong NATO mong muốn.

Triển khai chính sách đối ngoại thân phương Tây, Ukraine đặt mục tiêu có thể gia nhập NATO và EU, giúp Ukraine bảo toàn lãnh thổ, lấy lại bán đảo Crimea và các vùng ly khai ở khu vực Donbass. Tuy nhiên, cả Ukraine và phương Tây đều bất ngờ khi cho rằng, khả năng Nga sẽ tiến hành “một cuộc chiến tranh toàn diện” như hiện nay là không cao.

Dự báo chiều hướng của cuộc khủng hoảng

Trước quan ngại Nga sẽ phát động “một cuộc chiến tranh tổng lực” tấn công, cuối tháng 10-2021, Ukraine đẩy mạnh triển khai một lực lượng lớn quân đội dọc khu vực giáp Donbass khiến Nga tin rằng Ukraine sắp mở cuộc tấn công quân sự chống lại lực lượng thân Nga tại khu vực này. Cùng với đó, phản hồi của Mỹ và NATO liên quan đến các đề xuất an ninh của Nga được Nga cho là không thỏa đáng và đang “bị xem nhẹ”, trở thành “giọt nước tràn ly” khiến Nga phản ứng quyết liệt hơn.

Ngày 22-2-2022, Nga chính thức ra tuyên bố xác nhận biên giới của hai vùng lãnh thổ ly khai Ukraine, bao gồm DPR và LPR mà Nga đã công nhận độc lập trước đó. Tiếp đó, ngày 24-2-2022, Tổng thống Nga V. Putin tuyên bố bắt đầu một “chiến dịch quân sự đặc biệt” nhằm “phi quân sự hóa” Ukraine và bảo vệ người dân ở khu vực Donbass. Nga khẳng định chỉ nhắm mục tiêu vào kết cấu hạ tầng quân sự, không tấn công kết cấu hạ tầng dân cư, đồng thời cảnh báo NATO không can thiệp vào hành động của Nga. Tổng thống Nga V. Putin nhấn mạnh: “Tình thế khiến chúng tôi phải đưa ra những hành động quyết định và ngay lập tức” (7).

Hiện nay, nhiều nhà phân tích cho rằng, có khả năng Nga sẽ kiểm soát Thủ đô Kiev và thành lập một chính phủ thân Nga để điều hành đất nước Ukraine. Đồng thời, lực lượng gìn giữ hòa bình của Tổ chức Hiệp ước an ninh tập thể (CSTO) do Nga dẫn đầu sẽ được triển khai trên toàn lãnh thổ Ukraine để trợ giúp chính quyền mới của Ukraine. Đây sẽ là cơ sở để Nga có thể thiết lập một liên minh mới, bao gồm Nga, Belarus và Ukraine, hiện thực hóa một phần mục tiêu trở thành cường quốc trên thế giới, cũng như xác lập lại cấu trúc an ninh châu Âu vốn đang do Mỹ và phương Tây chi phối. Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng, để hiện thực hóa mục tiêu đó trong bối cảnh cán cân quyền lực và tình hình thế giới tiếp tục có sự dịch chuyển nhanh, phức tạp, khó dự báo như hiện nay, được cho là điều không dễ.

Nhìn chung, những tham vọng chính trị, những ý đồ, tính toán từng bước của các bên được định hình rõ nét hơn trong chính bối cảnh cuộc xung đột Nga - Ukraine leo thang căng thẳng. Hơn bao giờ hết, đó là yếu tố khiến cuộc xung đột trở nên khó đoán định. Tuy nhiên, ngày 27-2-2020, việc Ukraine đồng ý tham gia đàm phán với Nga tại Belarus và các vòng đàm phán tiếp theo, đã dấy lên tia hy vọng có thể sớm chấm dứt chiến dịch quân sự của Nga đang diễn ra căng thẳng trên đất nước này./.

-----------------------

(1) Cuộc chính biến này gắn liền với cuộc “cách mạng nhân phẩm” (tháng 2-2014) đã làm Ukraine có sự dịch chuyển xa Nga hơn và hướng tới EU, NATO, Mỹ. Trong lúc đó, Nga đã tranh thủ sáp nhập bán đảo Crimea với căn cứ hải quân chiến lược ở Sevastopol của Hạm đội Biển Đen vào Nga. Đây có thể coi là thắng lợi lớn của Nga trong khu vực cả về mặt chiến lược và chiến thuật trước Ukraine và nhất là trước Mỹ và EU, khiến Ukraine ngày càng suy yếu và bất ổn. Tuy nhiên, về mặt chiến lược, Nga cũng phải chịu một tổn thất lớn, đó là đã mất Ukraine như một đối tác bền vững.
(2) Xem: Nguyễn Hồng Quân: “Một số nét về quan hệ quốc phòng giữa Nga với Mỹ và NATO sau chiến tranh lạnh”, Tạp chí nghiên cứu quốc tế, tháng 6-2017. Ngày 20-1-2022, Mỹ đã tuyên bố cho phép ba quốc gia Baltic là Estonia, Lithuania và Latvia (thành viên của NATO) chuyển vũ khí chống tăng Javelin và hệ thống phòng không Stinger do Mỹ sản xuất tới Ukraine cho các lực lượng của Ukraine. 
(3) Đức, Italia, Pháp có xu hướng hòa dịu với Nga, trong khi Mỹ, các nước NATO Đông Âu kiên quyết phản đối Nga.
(4) Phạm Huân: “Hỗn loạn tại Thủ đô Washington, Mỹ phong tỏa tòa nhà Quốc hội”, Trang tin điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam, https://vov.vn/the-gioi/hon-loan-tai-thu-do-washington-my-phong-toa-toa-nha-quoc-hoi-829140.vov, ngày 7-1-2021.
(5) Về phát triển ngành công nghiệp quốc phòng, Ukraine tiếp tục thực hiện chương trình phát triển tên lửa quốc gia kể từ sau khi Tổng thống Ukraine V. Zelensky nhậm chức, đồng thời tiến hành nhiều cuộc thử nghiệm các loại tên lửa mới do ngành công nghiệp quốc phòng trong nước tự nghiên cứu chế tạo. Sau khi thử nghiệm thành công, Ukraine đã chính thức đưa vào biên chế của Bộ Quốc phòng 3 loại tên lửa mới, bao gồm: hệ thống tên lửa giàn “Olkha” có tầm bắn xa đến 120km, tên lửa hành trình đối hạm “Neptune” với tầm bắn xa 300km, tên lửa “Grom-2” với tầm bắn xa đến 450km; trang bị cho lực lượng hải quân Ukraine thêm 2 tàu tuần tiễu cao tốc “KENTAVR” có lượng giãn nước 50 tấn và 1 tàu hộ vệ cao tốc đa năng “GAYDUK” có lượng giãn nước 1.200 tấn. Đồng thời, cũng đưa vào biên chế hơn 300 đơn vị kỹ thuật sau khi sửa chữa, cải tiến và hiện đại hóa các loại vũ khí, khí tài cũ, như máy bay Su-27, Mi-8, xe tăng T-64, xe bọc thép BTR-4...
(6) Theo Điều 6 Hiến chương NATO, các quốc gia đang có xung đột sắc tộc, tranh chấp lãnh thổ và một số vấn đề khác, phải giải quyết xong các vấn đề đó bằng biện pháp hòa bình trước khi được NATO xem xét và quyết định mời tham gia tổ chức này. Tuy nhiên, NATO đã từng có những lần phá lệ, như kết nạp Hy Lạp (năm 1952) khi nước này đang có tranh chấp với đảo Síp; Đức (năm 1955) khi nước này đang bị chia cắt thành Đông Đức và Tây Đức. Do đó, liệu có khả năng NATO sẽ tiếp tục phá lệ lần nữa đối với Ukraine hay không, đang là câu hỏi được bỏ ngỏ.
(7) Văn Hiếu: “Nga mở chiến dịch quân sự đặc biệt ở miền Đông Ukraine”, Báo Quân đội Nhân dân điện tử, https://www.qdnd.vn/quoc-te/binh-luan/nga-mo-chien-dich-quan-su-dac-biet-o-mien-dong-ukraine-686904, ngày 25-12-2022.

 

NHẬN DIỆN CUỘC KHỦNG HOẢNG UKRAINE!

         Kể từ khi Tổng thống Nga V.Putin phát động chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraina, trên thế giới cũng như ở Việt Nam có vô số ý kiến trái chiều. Đó cũng là hiện tượng tự nhiên xuất phát từ góc nhìn, nhận thức, quan điểm chính trị, lợi ích của mọi người trong một thế giới mà Đảng ta đã nhận định là “bất định, bất ổn, khó lường”. Trước hết, tôi bày tỏ quan điểm hoàn toàn nhất trí và ủng hộ việc Việt Nam bỏ phiếu trắng khi Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết về cuộc chiến ở Ukraina vì Việt Nam là bạn với tất cả các nước.

Tuy nhiên, từ góc độ nghiên cứu, cần nhận diện đúng bản chất của cuộc khủng hoảng Ukraina nói chung, chiến dịch quân sự của Nga nói riêng. Là người đã có gần 40 năm nghiên cứu về Nga, Ukraina, quan hệ Nga-Ukraina, Nga-phương Tây, tôi xin chia sẻ một số kết quả nghiên cứu của tôi và giới nghiên cứu trên thế giới để bà con cùng suy ngẫm. Theo kết quả nghiên cứu, Ukraina-tâm điểm cạnh tranh khốc liệt nhất giữa Mỹ và Nga.


Toan tính của Mỹ ở Ukraine

Các văn kiện về học thuyết, chính sách và chiến lược của Mỹ kể từ thời Chiến tranh lạnh đến thời điểm này xác định rõ mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ trong quan hệ với Nga là: dù nước Nga đã tự nguyện từ bỏ chủ nghĩa xã hội, từ bỏ cả vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và hội nhập với phương Tây nhưng Washington vẫn tiếp tục chống phá Nga nhằm mục tiêu không để cho Nga phát triển như một quốc gia có chủ quyền, thậm chí là xóa sổ vĩnh viễn nước Nga trên bản đồ thế giới bằng cách chia nhỏ nước Nga thành nhiều nước bởi nước Nga là cản trở lớn nhất đối với tham vọng giành quyền bá chủ thế giới của Mỹ.

Để thực hiện mục tiêu này, Mỹ chọn Ukrainalà trọng điểm chống phá Nga, đưa Ukrainathoát khỏi ảnh hưởng của Nga, tiến tới biến Ukraina thành kẻ thù của Nga. Chủ trương chiến lược này của Mỹ xuất phát từ học thuyết địa chính trị của các thế lực cầm quyền ở phương Tây, được thể hiện trong nhận định nổi tiếng của cựu Thủ tướng Đức Otto Von Bismarck: “Chỉ có thể kiềm chế và làm tan rã nước Nga bằng cách tách Ukraine ra khỏi ảnh hưởng của Nga, biến Ukraine thành quốc gia thù địch với Nga. Để làm được điều đó, cần phát hiện, khuyến khích và nuôi dưỡng những kẻ phản bội trong giới thượng lưu của Ukraine, sử dụng họ tuyên truyền, lôi kéo để thay đổi nhận thức của một bộ phận dân chúng quốc gia này đến mức họ ghét cay ghét đắng mọi thứ của Nga, cũng có nghĩa là ghét chính nguồn gốc của chính mình bởi người Nga và người Ukraina cùng chung một nguồn cội”.

 Zbigniev Brzezinski-nguyên Cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ Jimmy Carter, cũng đã từng nhận định:“Thiếu Ukraine, nước Nga không thể trở thành cường quốc. Còn giành được quyền kiểm soát Ukraine, Nga tự nhiên sẽ trở thành cường quốc”.

Chính vì thế, ngay sau khi Liên Xô sụp đổ và Ukraina tuyên bố độc lập vào năm 1991, các cơ quan tình báo của Mỹ đã đưa các lực lượng dân tộc cực đoan của Ukraina đã từng chiến đấu trong hàng ngũ phát xít Đức chống lại Hồng quân Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai, trở về đất nước và hình thành nên các tổ chức phát xít mới.

Trong số đó có các tổ chức mang tên “Pravy Sektor”-một chi nhánh của mạng lưới khủng bố bí mật của NATO “Gladio” từ thời Chiến tranh lạnh. Tất cả những tổ chức này đều đi theo tư tưởng của chủ nghĩa phát xít mới, tương tự Đức Quốc xã đã từng gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai.

Các tổ chức phát xít mới ở Ukraina đã từng đóng vai trò then chốt trong cuộc “cách mạng cam” ở Ukraina năm 2003, đưa nhân vật Yushenko thân Mỹ lên cầm quyền. Chính vì thế, Tổng thống Yushenko đã ký sắc lệnh phong và truy phong “danh hiệu cao qúy” cho những kẻ đã từng chiến đấu trong hàng ngũ phát xít Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

 Trong đó có Stepan Bandera-một trong những thủ lĩnh của lực lượngphát xít ở Ukraina trong Chiến tranh thế giới thứ hai được truy tặng danh hiệu “Anh hùng giải phóng dân tộc Ucraina”. Chính quyền Kiev còn dựng tượng đài của Stepan Bandera, lập Viện bảo tàng mang tên Stepan Bandera, đồng thời đập phá hết tất cả các tượng đài của các tướng lĩnh người Ukrainađã từng lập công lớn trong Chiến tranh giữ nước vĩ đại chống phát xít Đức.

Trong cuộc bạo loạn dẫn tới cuộc đảo chính nhà nước ở Ukraina trong tháng 02/2014, các lực lượng phát xít mới nhận được sự ủng hộ và tiếp tay của Mỹ và một số nước thành viên NATO đã đóng vai trò nòng cốt trong cuộc đảo chính trong tháng 2/2014. Vì thế, nhiều thành viên các tổ chức phát xít mới được Tổng thống Poroshenko bổ nhiệm vào nhiều cương vị chủ chốt trong chính quyền Kiev.

Trong đó có Arseniy Yatsenyuk-Thủ tướng chính phủ, người từng tuyên bố coi người dân bản địa gốc Nga ở Donbass “không phải là người” mà là “rác sinh học”; Valentin Nalivaichenko-một thành viên của đảng phát xít mới “Pravy Sector” được bổ nhiệm Giám đốc cơ quan an ninh Ucraina; Andriy Parubiy-người sáng lập phong trào chính trị cực đoan được bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh quốc gia Ucraina; Sergey Kwit-kẻ từng hô hào cấm sử dụng tiếng Nga, được bổ nhiệm vào vị trí Bộ trưởng Bộ Giáo dục Ucraina; Yuri Mikhalchishin-một trong những nhà tư tưởng hàng đầu của đảng phát xít mới “Svoboda” được bổ nhiệm Phó Giám đốc cơ quan an ninh Ucraina chuyên trách công tác truyền bá tư tưởng phát xít mới.

 Yevhen Nishchuk-Bộ trưởng Bộ Văn hóa Ukraina, cho rằng người dân ở Dobass “không có nguồn gốc loài người” và cần phải bị tiêu diệt. Vì thế, chủ trương diệt chủng nhằm vào người Nga đã trở thành quốc sách của chính quyền Kiev.

Trong khi đó, Mỹ kiên quyết thực hiện chủ trương kết nạp Ukrainavào NATO. Trong khi chờ đợi hiện thực hóa chủ trương này, Mỹ coi Ukraina là đồng minh ngoài NATO. Vì thế, Mỹ và NATO đã tiến hành hàng chục cuộc tập trận trên lãnh thổ Ukraina với kịch bản chuẩn bị chiến tranh chống Nga. Đây là hiểm họa không chỉ đối với nước Nga mà còn đối với châu Âu và thế giới.

Theo các tài liệu đã đươc giải mật, các tập đoàn tài phiệt Mỹ đứng đằng sau ủng hộ toàn diện cho chế độ Đức quốc xã do Hitler đứng đầu để sử dụng chúng phát động Chiến tranh thế giới thứ hai nhằm tiêu diệt Liên Xô và đưa Hoa Kỳ thoát khỏi cuộc đại suy thoái bắt đầu từ đầu những năm 1930.

Ralf-một nhà nghiên cứu ở Mỹ nhận định:“Nếu không có đầu tư tài chính của các tập đoàn tài phiệt Hoa Kỳ thì không thể có Hitler và cũng không có Chiến tranh thế giới thứ hai”. P. Taguell - một trong những cố vấn thân cận nhất của Tổng thống Mỹ Roosevelt nhận định:“Hoa Kỳ chỉ có thể xua tan bóng ma suy thoái của bằng ngọn gió chiến tranh. Bất kỳ biện pháp nào khác đã từng được áp dụng đều không mang lại kết quả”.

Hiện nay, mục tiêu chiến lược của Mỹ là biến Ukraina thành lực lượng châm ngòi cho cuộc chiến tranh lớn ở châu Âu. Cũng như Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc chiến tranh lớn ở châu Âu sẽ là “ngọn gió mạnh” dập tắt đám cháy lớn mang tên “cuộc khủng hoảng hệ thống” mà nước Mỹ đang lâm vào. Cuộc khủng hoảng hệ thống này ở Mỹ còn nghiêm trọng hơn rất nhiều so với cuộc đại suy thoái trong những năm 1930.


Chủ trương và sách lược của Tổng thống Nga V.Putin trong quan hệ với Ukraina

Tổng thống V.Putin khẳng định, đối với nước Nga, Ukraine không chỉ là một quốc gia láng giềng mà còn là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời không gian lịch sử, văn hóa, tâm linh của nước Nga. Tổng thống V.Putin cho biết, trong một thời gian dài, cư dân của vùng đất lịch sử tây-nam của người Nga xa xưa tự gọi mình là người Nga và đi theo Đạo Chính thống.

Đến thế kỷ XVII, vùng đất này đã thuộc quyền quản lý của Nhà nước Nga. Nước Ukraina hiện đại chỉ mới được hình thành sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và được phát triển rực rỡ trong thành phần Liên bang Xô Viết.

 Người Ukrainakhông chỉ là những người đã từng là đồng chí, người thân, đồng nghiệp cũ, bạn bè của người Nga mà còn là những người gắn bó với nước Nga bằng tình thân ái và huyết thống. Chính vì thế, sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, nước Nga không chỉ phải tự gánh chịu hậu quả thảm khốc từ thảm họa địa chính tri này mà còn công nhận và giúp đỡ Ukraina.

Theo ước tính của các chuyên gia kinh tế, sự giúp đỡ của Nga cho từ năm 1991 đến trước thời điểm cuộc đảo chính trong tháng 2/2014 lên tới khoảng 250 tỷ USD. Tổng thống Nga V.Putin chủ trương kết nạp Ukraina vào Liên minh kinh tế Á-Âu và sẽ kết nối với EU để xây dựng không gian kinh tế-xã hội và an ninh thống nhất trên toàn lục địa Âu-Á. 

Thủ tướng Đức Angela Merkel nhất trí với chủ trương này của Tổng thống Nga V.Putin. Tuy nhiên, Mỹ không bao giờ chấp nhận chủ trương đó và quyết chống phá đến cùng. Theo Tổng thống Nga V.Putin, cái gọi là “sự lựa chọn nền văn minh phương Tây” của một số thế lực cầm quyền ở Kiev không vì sự phát triển của Ukraina mà chỉ nhằm phục vụ các đối thủ địa chính trị của Nga.

Chính vì thế, trong dự thảo Hiệp ước an ninh Mỹ-Nga và Hiệp định an ninh NATO-Nga mà các bên đang đàm phán từ đầu năm 2022, phía Nga yêu cầu Mỹ không kết nạp Ukraina vào NATO. Tổng thống Nga V.Putin cho biết, trong quan hệ quốc tế có một nguyên tắc cơ bản là các quốc gia có quyền tự do lựa chọn liên minh nhưng không được vì để bảo đảm an ninh cho mình mà làm tổn hại tới an ninh của các quốc gia khác.

Trong khi đó, Mỹ chỉ dựa vào “quyền tự do lựa chọn liên minh” để bác bỏ yêu cầu của Nga không được kết nạp Ukraina vào NATO. Trong khi đó, Tổng thống V. Zelensky ra sức kêu gọi Mỹ kết nạp Ukrainavào NATO càng sớm càng tốt vì theo ông, Ukraina“có đội quân mạnh nhất châu Âu” và là “lá chắn bảo vệ châu Âu trước sự xâm lược của Nga”. 

Tổng thống Nga V.Putin đã từng cảnh báo, nếu Mỹ bác bỏ yêu cầu chính đáng của Moscow là không được kết nạp Ukrainavào NATO, thì Nga sẽ có biện pháp đáp trả. Chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga ở Ukraina chính là một trong những biện pháp đáp trả đó.

Trong cuộc họp báo chung với Tổng thống Pháp Emmanuel Macron ở Moscow ngày 8/2/2022 tại Điện Kremlin, Tổng thống V.Putin nhận định:“Trong các văn kiện học thuyết và chiến lược của Ukraine hiện nay chính thức xác định chủ trương sẽ thu hồi Crimea bằng biện pháp quân sự. Một khi Ukraine gia nhập NATO và được liên minh này cung cấp vũ khí hiện đại, chính quyền Kiev sử dụng sức mạnh quân sự để đánh chiếm Crimea mà giờ đây đã là lãnh thổ vĩnh viễn của Nga. Khi đó, Nga sẽ phải đáp trả và đương nhiên sẽ phải chiến đấu chống lại NATO. Liệu đã có ai nghĩ đến tình huống này? Hình như là chưa”. Việc Nga sáp nhận Crimea là câu chuyện dài, ở đây tôi xin khẳng định là hoàn toàn phù hợp luật pháp quốc tế.

Vì thế, giới quân sự nhận đinh, mục tiêu của chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraina là loại bỏ tiềm lực quân sự của lực lượng phát xít mới là cơ hội lịch sử để ngăn chặn một cuộc chiến tranh lớn ở châu Âu. Lịch sử đang được lặp lại: Liên Xô đã từng hy sinh gần 20 triệu người để đánh bại chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai, hiện nay Nga đang tiêu diệt chủ nghĩa phát xít mới đang trỗi dậy ở Ukraina để đưa thế giới thoát khỏi hiểm họa một cuộc chiến tranh thế giới mới ở châu Âu./.

Yêu nước ST

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

 Một tư tưởng lớn, xuyên suốt và nhất quán

Khi Đảng còn chưa ra đời, năm 1927 Nguyễn Ái Quốc đã viết tác phẩm “Đường Kách mệnh” làm tài liệu huấn luyện cán bộ, chăm lo gây dựng lực lượng và phong trào cách mạng từ lớp thanh niên cộng sản đầu tiên của Đảng. Ngay lúc đó, Người đã trù tính “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”2. Đồng thời, khẳng định “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”3. Nói về “Tư cách một người cách mệnh”, Người tự nhủ mình và nhắn gửi các đồng chí của mình “Tự mình phải: … Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm, giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất”4. Như vậy, Người đặt vấn đề tu dưỡng, rèn luyện đạo đức lên hàng đầu, đó là bảo đảm quan trọng nhất để thực hành lý tưởng, trọn đời phấn đấu, hy sinh vì Dân, vì Nước. Những trù tính đó của Nguyễn Ái Quốc đã cho thấy, người cách mệnh, Đảng cách mệnh theo đuổi sự nghiệp lớn, ấp ủ hoài bão, khát vọng lớn thì phải sống và hành động với một bản lĩnh mạnh mẽ, kiên định, tự vượt lên chính mình. Đó không chỉ là chính trị mà còn là đạo đức, sâu xa là văn hóa.

Hai mươi năm sau “Đường Kách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” năm 1947 với bút danh X.Y.Z, Người nhấn mạnh “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng”5, trước hết Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải đề cao tự phê bình và phê bình, phải ra sức sửa chữa những khuyết điểm, sai lầm mắc phải, phải luôn biết dựa vào dân mà xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong tác phẩm đặc biệt quan trọng này về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Người phê bình nghiêm khắc những khuyết điểm, sai lầm mà không ít cán bộ đảng viên thường mắc phải, nổi bật ở ba căn bệnh: Bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, ba hoa. Những chứng bệnh đó và rất nhiều bệnh khác đều do một căn bệnh gốc, “bệnh mẹ” sinh ra là chủ nghĩa cá nhân, ham danh hám lợi, ham địa vị chức quyền, chỉ vì lợi ích của mình, của những người “thuộc cánh hẩu với mình” mà quên cả Đảng, coi thường cả nguyên tắc tập trung và thống nhất trong Đảng, rất xa lạ với bản chất và mục đích cao quý của Đảng. Nhiều lần Người nhấn mạnh rằng: phải tẩy sạch, phải chữa cho “tiệt nọc” những chứng bệnh ấy, kiên quyết loại bỏ chủ nghĩa cá nhân - một thứ giặc ở trong lòng, “giặc nội xâm”, còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm vì nó phá từ trong phá ra, làm cho Đảng suy yếu, xa dân. Những cán bộ đảng viên mắc vào chủ nghĩa cá nhân mà không có dũng khí tự phê bình, tự sửa chữa dễ trở nên hư hỏng, phong trào cách mạng chỉ vì thế mà thất bại.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để chữa những căn bệnh đó, trong từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ đảng viên phải đặt ra chương trình, kế hoạch học tập, nghiên cứu lý luận, thấm nhuần đường lối, nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ. Phải đề cao tinh thần trách nhiệm, thường xuyên tự phê bình và phê bình như rửa mặt hàng ngày. Có tự phê bình mình một cách nghiêm khắc, ráo riết, “cả quyết sửa lỗi lầm” thì phê bình đồng chí mình mới ngay thẳng, thật thà với động cơ trong sáng, cốt làm việc cho tốt hơn, đoàn kết thống nhất hơn, khuyết điểm ít thì ưu điểm nhiều và ngược lại. Phê bình việc chứ không phải phê bình người, tức là phải tôn trọng nhân cách của nhau. Lại phải lắng nghe sự góp ý, phê bình của quần chúng, khuyến khích quần chúng phê bình và quyết tâm sửa chữa những khuyết điểm, sai lầm làm cho Đảng trở nên tiến bộ, phát triển, trưởng thành, mạnh khỏe như một cơ thể sống, không mắc bệnh.

“Sửa đổi lối làm việc” đã xác định 12 điều căn bản để xây dựng Đảng chân chính cách mạng. Điều quan trọng đầu tiên, đó là động cơ, mục đích phấn đấu vào Đảng của mỗi người. Phải suốt đời tâm niệm, ghi nhớ và hành động sao cho đúng với bản chất của Đảng, rằng “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”6. Ngoài ra, Đảng không có lợi ích nào khác. Khi Đảng đã cầm quyền, động cơ, mục đích vào Đảng càng trở nên quan trọng và vô cùng hệ trọng. Nếu để cho những toan tính cá nhân vụ lợi, vị kỷ, vào Đảng cốt để tìm kiếm danh lợi, chức quyền, địa vị thì đó là khởi đầu của những suy thoái và hư hỏng, làm tha hóa nhân cách đảng viên và bản chất của một Đảng cách mạng. Đảng phải ra sức giáo dục cán bộ, đảng viên và thường xuyên rèn luyện họ, thử thách họ qua hoạt động, bằng hành động và việc làm chứ không chỉ qua lời nói. Theo Người, Đảng phải kiên quyết tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra khỏi đội ngũ để giữ cho Đảng trong sạch, liêm chính.

Ở cương vị lãnh tụ tối cao của Đảng và Nhân dân, Người nêu gương mẫu mực về lòng trung thành với lý tưởng và sự nghiệp, tận tụy, hy sinh trọn đời vì Nước vì Dân, nêu cao bản lĩnh không màng danh lợi, đứng ngoài vòng danh lợi, suốt đời gắn bó với nhân dân như máu thịt, bằng đạo đức cách mạng trong sáng, đặc biệt là văn hóa ứng xử tinh tế, bao dung, vị tha và nhân ái. Kết tinh những phẩm chất cao quý đó là bản Di chúc thiêng liêng Người để lại cho toàn dân, toàn Đảng vào năm 1969, vẫn nổi bật chủ đề “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”7. Người khẳng định “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”8.

Trong toàn bộ tư tưởng và di sản của Người, tư tưởng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng là tư tưởng lớn, xuyên suốt, nhất quán, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, đảm bảo quan trọng nhất cho mọi thành công trong sự nghiệp tiếp tục đổi mới, sáng tạo, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thực hiện khát vọng cống hiến, khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

Đảng ta nhấn mạnh: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Kết hợp hài hòa, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng; giữa xây dựng Đảng và bảo vệ Đảng. Không ngừng nâng cao năng lực và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới”9.

Trước hết, phải xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị. Kiên định lập trường, quan điểm và nguyên tắc theo lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, xuyên tạc, chống đối của các thế lực thù địch, giữ vững niềm tin khoa học, đạo đức trong sáng và bản lĩnh chính trị vững vàng, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Đây là bảo đảm tối cần thiết để định hướng xã hội chủ nghĩa của sự nghiệp đổi mới được giữ vững và phát huy, không rơi vào chệch hướng, vượt qua nguy cơ, thách thức đối với Đảng cầm quyền. Hơn lúc nào hết, trong bối cảnh và tình hình phức tạp hiện nay, việc nâng cao tiềm lực tư tưởng, trí tuệ và bản lĩnh của Đảng đòi hỏi phải gắn liền xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị với tư tưởng và đạo đức. Việc nhấn mạnh, tập trung xây dựng Đảng về đạo đức bao hàm ý nghĩa coi đây là khâu đột phá, phải ra sức nâng cao nhận thức và thực hành đạo đức cách mạng trong toàn Đảng, nhất là tinh thần trách nhiệm và nêu gương, đó là sức mạnh để phòng chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đó cũng là thể hiện sự thấm nhuần và thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh khi Người coi “đức là gốc”. Không có đạo đức liêm khiết, không có phẩm chất trung thực, biết hy sinh, đặt lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc và nhân dân lên trên hết, trước hết thì không thể tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân. Không có đạo đức cách mạng thì dù có tài giỏi mấy cũng không thể lãnh đạo nhân dân, không được dân phục, dân yêu như Bác Hồ đã nói. Muốn giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình thì Đảng và mọi đảng viên phải suốt đời tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Đảng phải tiên phong và gương mẫu về đạo đức thì mới góp phần to lớn và quyết định vào việc xây dựng môi trường đạo đức lành mạnh, đây cũng là giải pháp đột phá để chấn hưng đạo đức xã hội, ngăn chặn sự xuống cấp, suy thoái về đạo đức. Đảng là đạo đức, là văn minh nên Đảng phải nêu cao đạo đức của mình, làm gương sáng cho xã hội và nhân dân noi theo.

Hai là, để xây dựng, chỉnh đốn Đảng thực sự là khâu then chốt thì phải ra sức xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, có bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm. Đảng ta coi đây là “then chốt của then chốt”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “đào tạo, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Để xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tổ chức và cán bộ thực sự có hiệu quả, tạo chuyển biến mạnh mẽ về mọi mặt vào lúc này, Đảng cần tập trung nỗ lực và hành động đồng bộ, quyết liệt trong đổi mới thể chế, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, thực hành dân chủ rộng rãi, thực chất trong Đảng; nhất là tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ và thường xuyên kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng dựa trên Điều lệ Đảng. Trách nhiệm và nêu gương là sức mạnh, sự lan tỏa tính thuyết phục của Đảng đối với Nhân dân. Chức vụ càng cao, trách nhiệm càng lớn, càng phải chú trọng sự nêu gương, nhất là gương mẫu về đạo đức.

Ba là, để thực hiện lời dạy của Bác “Đảng là đạo đức, là văn minh”, phải ra sức đưa các giá trị văn hóa vào trong chính trị, trong đời sống của Đảng và Nhà nước vào hoạt động của các tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị. Quyết tâm của Đảng là làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, hệ thống chính trị cũng phải trong sạch, vững mạnh. Có như vậy mới có sức mạnh tổng hợp đẩy lùi quan liêu, tham nhũng, tệ nạn và tiêu cực xã hội. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng sức mạnh nội sinh từ văn hóa.

Phải tập trung mọi nỗ lực trong Đảng với sự tham gia xây dựng Đảng của toàn dân để xây dựng Đảng về văn hóa, xây dựng văn hóa của Đảng cầm quyền. Do vậy, cần phải làm cho hình tượng văn hóa của Đảng Cộng sản cầm quyền là tiêu biểu cho văn hóa, tinh hoa văn hóa của dân tộc và thời đại mà Văn hóa Hồ Chí Minh là một mẫu mực điển hình. Đạo đức là cốt lõi của văn hóa cho nên trong Đảng phải thường xuyên đẩy mạnh giáo dục, thực hành văn hóa, chú trọng giáo dục trong toàn Đảng về phẩm giá, lòng tận tụy, danh dự, liêm sỉ. Nói như Hồ Chí Minh: phải dùng văn hóa để chữa thói phù hoa, xa xỉ, tham nhũng. Cần phải coi đây là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, có tầm chiến lược trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bốn là, mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với Dân là bảo đảm cho sự nuôi dưỡng và phát triển bền vững cơ sở xã hội quan trọng bậc nhất của Đảng, đó là lòng dân, sức dân, niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân với Đảng, là cội nguồn sức mạnh bảo vệ Đảng. Do đó, xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đặc biệt chú trọng công tác dân vận. Không tẩy sạch thói “xem khinh dân vận” như Hồ Chí Minh từng phê phán từ hơn 70 năm trước thì Đảng không thể là Đảng chân chính cách mạng trong lòng dân. Dân vận phải gắn liền với dân chủ, đoàn kết và tạo ra sự đồng thuận. Người căn dặn chúng ta phải nêu cao quyết tâm, giữ được tín tâm, có sức hấp dẫn, thu hút lớn bởi sức mạnh đồng tâm từ Đảng tới Dân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận, đó là một trong những thước đo của xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho sự hài lòng của người dân đối với cán bộ đảng viên tăng lên, làm cho niềm tin của Dân với Đảng được củng cố. Đó là một trong những bí quyết của thành công theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Năm là, phát triển Đảng, làm tăng sinh lực của Đảng từ thế hệ trẻ, nhất là trong lực lượng vũ trang, trong thanh niên trí thức, phát triển số lượng đi liền với nâng cao chất lượng, nhất là về đạo đức. Đó là công việc quan trọng không được xem nhẹ trong xây dựng Đảng, đảm bảo tính kế thừa thế hệ, tính liên tục từ truyền thống đến hiện đại trong lịch sử Đảng ta.

Làm tốt những vấn đề trên là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho Đảng ngang tầm nhiệm vụ, xứng đáng là một Đảng chân chính cách mạng, lãnh đạo và cầm quyền.

GS, TS. HOÀNG CHÍ BẢO

_______________

1 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 289.

2 - Sđd, Tập 2, tr. 289.

3 - Sđd, tr. 289.

4 - Sđd, tr. 280.

5 - Sđd, tr. 272.

6 - Sđd, tr. 289.

7 - Sđd, Tập 15, tr. 546 - 548.

8 - Sđd, tr. 611 - 612.

9 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 40.

Theo tapchiqptd.vn

Giữ “phương diện quốc gia”

 “Nghĩ mình phương diện quốc gia/ Quan trên trông xuống người ta trông vào...”. Tại cuộc họp Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực diễn ra ngày 18-11-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban chỉ đạo, đã lẩy Kiều để nhắc nhở cán bộ phải tỉnh táo, giữ mình trong sạch.

Cách nói tu từ, dân dã, có ý nghĩa sâu sắc của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta được nhiều người trong giới chuyên gia, cán bộ lãnh đạo, quản lý... học tập, vận dụng để tự răn mình, góp phần nâng cao công tác giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên, đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, suy thoái..., thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Lợi dụng tiêu cực của cán bộ để xuyên tạc hình ảnh quốc gia

Sau Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, đời sống kinh tế-xã hội của cả nước đã có sự khởi sắc tích cực trên nhiều lĩnh vực. Chiến lược thích ứng an toàn với dịch Covid-19 mang lại khí thế, diện mạo mới cho môi trường sản xuất, kinh doanh, tái hoạt động các đường bay quốc tế, từng bước đón du khách từ các quốc gia, vùng lãnh thổ đến Việt Nam.

Hoạt động thu hút đầu tư, xúc tiến thương mại ở nhiều địa phương, vùng kinh tế trọng điểm đã tăng tốc ngay từ đầu năm mới. Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 2-2022 được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 17-2 cho thấy, nền kinh tế Việt Nam bước vào năm 2022 có sự phục hồi tích cực. Dù xuất khẩu hàng hóa tháng 1-2022 giảm so với tháng trước do ảnh hưởng của nghỉ Tết Nguyên đán, nhưng cán cân thương mại hàng hóa vẫn thặng dư 1,4 tỷ USD. Cam kết và giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiến  triển tích cực.

Việt Nam thu hút 2,1 tỷ USD vốn FDI đăng ký trong tháng 1-2022, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, việc chăm lo an sinh xã hội cho đồng bào trước, trong và sau Tết Nguyên đán đã trở thành phong trào thiện nguyện, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và kiều bào yêu nước. Những thành tích, dấu ấn tích cực ấy đã thể hiện rõ nét tính ưu việt của văn hóa Việt Nam, bản chất nhân văn xã hội chủ nghĩa và sự đoàn kết, thống nhất, gắn bó giữa Đảng với dân.

Tuy nhiên, bức tranh kinh tế-xã hội đất nước đầu năm 2022 vẫn có những mảng tối, tiêu cực. Và đây chính là cái cớ để các phần tử cực đoan chính trị, có tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước và các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, khai thác, khoét sâu, tăng cấp độ, quy mô, tính chất xuyên tạc, chống phá.

Vụ việc tiêu cực từ Công ty Việt Á, vụ việc nhận hối lộ xảy ra tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), việc kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, có dấu hiệu vi phạm pháp luật xảy ra ở một số cơ quan, đơn vị... đã bị các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, bóp méo, bôi đen, nhằm ý đồ lèo lái dư luận, kích động chống phá Đảng, Nhà nước. Trên một số trang mạng xã hội như “Việt Tân”, “RFA Tiếng Việt”, “Tiếng dân”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Diễn đàn dân chủ”... và tài khoản của một số đối tượng cực đoan, có tư tưởng thù địch, xuất hiện nhiều bài viết, clip có nội dung xuyên tạc.

Chúng bám vào những vụ việc tiêu cực đó để chỉ trích Chính phủ và hệ thống chính trị, quy kết lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bôi nhọ hình ảnh quốc gia, vị thế dân tộc, kêu gọi các nhà đầu tư và du khách quốc tế tẩy chay Việt Nam. Với chiêu bài lấy hiện tượng quy kết bản chất, lấy cái cá thể chụp mũ tổng thể, các thế lực thù địch và đối tượng phản động cho rằng, “Việt Nam là đất nước của tham nhũng, tiêu cực”, rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể chống tham nhũng vì Việt Nam chỉ do một đảng lãnh đạo, một đảng thì không thể có dân chủ, không thể chống được tham nhũng”...

Trước những luận điệu xuyên tạc ấy, công chúng yêu nước dễ dàng nhận ra bản chất, bộ mặt của những đối tượng, tổ chức mang tư tưởng thù địch với đất nước. Mấy tháng trước, khi đại dịch Covid-19 hoành hành, chúng đã kích động, rêu rao rằng “công tác phòng, chống dịch của Việt Nam đã thất bại”, “Việt Nam chống dịch kém nhất thế giới”...

Đến khi chúng ta khống chế dịch thành công, chuyển sang thích ứng an toàn với dịch Covid-19, phục hồi các hoạt động kinh tế-xã hội, thì chúng lại chuyển sang bám vào những vụ việc tiêu cực, những mảng tối của “hậu Covid-19” để xuyên tạc, kích động chống phá. Không ít đối tượng nhân danh hoạt động “phản biện”, “góp ý”, “đấu tranh”... ra sức bôi đen hình ảnh đất nước, hạ thấp uy tín quốc gia, dân tộc trên trường quốc tế. Mục đích của chúng là hòng làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho hình ảnh Việt Nam trở nên méo mó, lệch lạc trong mắt kiều bào và bạn bè quốc tế, phá hoại công cuộc đổi mới, hội nhập của đất nước.  

Bổn phận công bộc trong giữ gìn "phương diện quốc gia"

Từ điển tiếng Việt giải thích “phương diện quốc gia” từ ý thơ của cụ Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” là: “Vị quan đảm đương công việc một vùng đất nước”. Trong thời đại ngày nay, mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị đều có một phần “phương diện quốc gia” trên cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, mọi việc làm, hành vi ứng xử của cán bộ, nhất là trong môi trường có yếu tố nước ngoài, đều có ảnh hưởng nhất định đến hình ảnh đất nước, vị thế quốc gia, dân tộc. Cán bộ giữ cương vị càng cao, sự ảnh hưởng càng lớn. Cán bộ tốt thì dân được nhờ, đất nước được tiếng thơm. Cán bộ tiêu cực, không biết giữ mình thì đất nước mang tiếng xấu. Sự lợi dụng của các thế lực thù địch, phần tử phản động nhằm mưu đồ chống phá Đảng, chống phá đất nước cũng từ những hành vi tiêu cực đó mà ra.

Chính vì vậy, để giữ “phương diện quốc gia”, mỗi cán bộ, đảng viên phải có sự thống nhất cao về mặt nhận thức, có thái độ đấu tranh kiên quyết, bài trừ những thông tin tiêu cực về tình hình đất nước trên không gian mạng, nêu gương và dẫn dắt quần chúng. Cần nhận thức một cách thấu đáo và khách quan, việc đấu tranh phát hiện, xử lý những vụ việc tiêu cực vừa qua là sự thể hiện thái độ kiên trì, kiên quyết, không có vùng cấm của Đảng, Nhà nước ta đối với tham nhũng, tiêu cực.

Việc các cơ quan chức năng điều tra, khám phá thành công những vụ án, vụ việc tiêu cực trong nội bộ, chính là kết quả, thành công của cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lấy những vụ việc, biểu hiện tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên để quy kết, quy chụp, lên án cả hệ thống chính trị, bôi nhọ đất nước... là thủ đoạn võ đoán, quy chụp, thể hiện rõ ý đồ thù địch.

Để giữ “phương diện quốc gia”, bên cạnh tập trung các giải pháp đấu tranh phản bác, phủ nhận, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, cần đặc biệt coi trọng việc củng cố trận địa từ bên trong. Đó chính là ý thức trách nhiệm, bổn phận của đội ngũ công bộc trước lợi ích quốc gia, dân tộc. Phát biểu tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh...; xây dựng văn hóa trong Đảng và trong hệ thống chính trị; xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đặc biệt là đạo đức công vụ, chú trọng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên...”.

Như vậy, văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ... chính là những nhân tố cốt lõi để cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện, xứng đáng là công bộc của dân, là đại diện cho vị thế quốc gia. Trong có ấm thì ngoài mới êm. Nếu mỗi công bộc của dân có ý thức, bổn phận giữ “phương diện quốc gia” đúng mực thì chúng ta sẽ hạn chế đến mức thấp nhất những tiêu cực trong bộ máy công quyền, các thế lực thù địch khó tìm cớ để chống phá Đảng, chống phá đất nước. Đó cũng là phương châm lấy xây để chống trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ phải gắn liền với xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp. Đó chính là phương châm của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp trong môi trường hội nhập quốc tế, nhất là cán bộ, doanh nhân trong các ngành liên quan đến ngoại giao, du lịch, thương mại... Trong từng môi trường, hoàn cảnh có yếu tố quốc tế, chính họ là cầu nối, là “sứ giả” của văn hóa dân tộc, thể hiện phong cách, thái độ, trình độ văn hóa, văn minh của đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè. Hiệu quả thu hút đầu tư, phát triển kinh tế cũng đến từ những ấn tượng về đất nước, con người Việt Nam thông qua những hình ảnh thân thiện ấy.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nền văn hóa và con người Việt Nam,... kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất".

Quan điểm của Đại hội XIII của Đảng và thông điệp từ Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 phải được thể hiện, tạo chuyển biến rõ nét trong đời sống xã hội. Chúng ta xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh gắn liền với đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa; bảo vệ những giá trị chân-thiện-mỹ của văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam. Đó là cách thiết thực để giữ “phương diện quốc gia” trong ý thức, hành vi của mỗi cán bộ, đảng viên, để khi “quan trên trông xuống người ta trông vào” không hổ thẹn với lương tâm.

PHAN TÙNG SƠN

                                                                                                                                              Qdnd.vn 

“Bắt đúng bệnh, tìm đúng thuốc”


Bắt đúng những căn bệnh mà cán bộ, công chức, đảng viên thường mắc phải để có phương thuốc phòng ngừa, chữa trị kịp thời, không để biến chứng, lây lan là công việc hết sức quan trọng nhằm tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

NHỮNG CĂN BỆNH DỄ MẮC

Cần thẳng thắn thừa nhận thực tế là từ khi nước nhà thống nhất cho đến nay có thời gian, có nơi công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa được coi trọng đúng mức. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”(1)

Từ đánh giá đó, Đảng ta đã đi vào “mổ xẻ từng ung nhọt trên cơ thể mình”. Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta đã chỉ rõ các căn bệnh chính của cán bộ, công chức, đảng viên đó là: Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực, bè phái cục bộ, mất đoàn kết, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân.v.v... Các căn bệnh như đã nêu được Đảng ta quy thành hai nhóm, đó là những hành vi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và nhóm những việc làm sai trái trong công tác cán bộ mà cụ thể là tình trạng chạy chức, chạy quyền.

Nguyên nhân cơ bản của những căn bệnh trong Đảng và hệ thống chính trị dù ở nhóm nào cũng từ chủ nghĩa cá nhân (CNCN) mà ra. Đảng ta coi CNCN như một thứ vi trùng vô cùng độc hại gây ra đủ các thứ bệnh rất nguy hiểm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”. Từ chỗ coi CNCN là “kẻ thù của cách mạng”, Đảng ta xác định, đấu tranh chống CNCN là một nội dung trọng tâm và cũng là một giải pháp rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Có thể nói Đảng ta đã “bắt đúng bệnh”, vấn đề còn lại là tìm “đúng thuốc” để phòng ngừa, chữa trị.

Những căn bệnh mà cán bộ, công chức, đảng viên dễ mắc phải không khó để nhìn thấy, nhận thấy nhưng khi đi vào mổ xẻ, phân tích để công khai, chỉ tên từng con người cụ thể là việc không hề đơn giản. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra: “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là công tác con người, rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con người, đòi hỏi mỗi chúng ta phải tự phê bình, phân tích, mổ xẻ những ưu, khuyết điểm của chính bản thân mình; phải nhận xét, đánh giá về người khác...”(2). Mục đích của tự phê bình và phê bình theo đúng nghĩa rất nhân văn và hữu ích. Nhưng với không ít người sau khi đối mặt với phê bình, chỉ trích, danh dự, uy tín bị ảnh hưởng đã sa sút ý chí phấn đấu, giảm sút tinh thần, thậm chí có người tìm cách trả đũa người đã phê bình mình... Nói như thế để thấy cuộc đấu tranh phòng ngừa, điều trị những căn bệnh trong Đảng rất khó khăn, phức tạp.

Dân gian có câu "Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng". Những lời chỉ trích mạnh mẽ, những hình thức xử lý kỷ luật dù khó chấp nhận, nhưng lại góp phần rất quan trọng vào sự phát triển, thành công của mỗi cán bộ, công chức, đảng viên cũng như từng tập thể, tổ chức trong Đảng và hệ thống chính trị. Trong 5 năm (2016 - 2020), hơn 25.000 cán bộ, đảng viên suy thoái, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" bị kỷ luật, trong đó hơn 8.200 đảng viên bị xử lý kỷ luật do suy thoái về tư tưởng chính trị, hơn 15.000 cán bộ, đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống; hơn 110 cán bộ diện Trung ương quản lý bị kỷ luật và xử lý hình sự, trong đó có 27 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương và 4 Ủy viên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị… Những con số biết nói ấy đã phần nào thể hiện rõ tinh thần quyết tâm, tính chất quyết liệt của Đảng ta trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Sự dũng cảm, mổ sẻ và kiên quyết chặt bỏ những “cành sâu mọt” ấy không làm Đảng ta yếu đi mà thực sự đã và đang làm cho Đảng ta ngày càng mạnh lên. Nhiều mặt hạn chế, yếu kém mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra đã được khắc phục. Bước đầu chúng ta đã ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những kết quả đã đạt được trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã khẳng định trong xã hội ta công tội rõ ràng, tốt xấu phân minh, trắng đen không thể lẫn lộn. Đảng và Nhà nước ta không thể để những người suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tự tung tự tác làm tổn hại tới thanh danh của Đảng và hệ thống chính trị.

Có thể khẳng định, những kết quả bước đầu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã góp phần cảnh báo, răn đe, giáo dục với đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên trong Đảng và hệ thống chính trị; làm cho xã hội trong sạch, lành mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ được củng cố và tăng cường. Đây là nguồn động lực to lớn để Đảng ta tiếp tục nêu cao quyết tâm chính trị, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ hơn trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG GẮN VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

Thực tiễn hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, đặc biệt những nhiệm kỳ gần đây của Đảng đã khẳng định: Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng góp phần rất quan trọng có tính quyết định vào thành tựu chung của đất nước. Nhờ những kết quả đạt được trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Đảng ta đoàn kết, thống nhất hơn; TSVM hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ được củng cố, nâng cao hơn. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là bài học quý báu, là vấn đề then chốt quyết định đến sức mạnh, uy tín của Đảng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta và chế độ ta. Nhận thức cho đúng đắn, sâu sắc về vị trí, ý nghĩa và nội dung của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là hết sức quan trọng.

Tạo bước chuyển mới trong nhận thức không chỉ là cơ sở nền tảng mà còn là chìa khóa phát huy tinh thần trách nhiệm, nêu cao ý chí, quyết tâm, kiên quyết, kiên trì, linh hoạt, sáng tạo, đoàn kết vượt khó trong quá trình thực hiện các Nghị quyết, Kết luận, Quy định của Đảng ta. Bước chuyển trong nhận thức chính cũng là cơ sở để nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức, thái độ nghiêm túc tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên. Chính vì thế trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của các tổ chức đảng cũng như cá nhân các đảng viên, yêu cầu đầu tiên đặt ra là phải nâng cao nhận thức.

Một trong những kinh nghiệm mà Đảng ta rút ra qua thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII là tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng và nội dung của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Muốn tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đưa công tác này lên tầm cao mới, gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM thì trước hết đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên của Đảng phải có nhận thức đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng và những nội dung của nhiệm vụ “then chốt” này. Mới đây, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu: “Phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của kết luận và quy định, nắm vững những tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm, trên cơ sở đó có sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm, thấy đầy đủ trách nhiệm của mình để gương mẫu, tự giác thực hiện và chỉ đạo, tổ chức thực hiện”(3).

Ý thức rõ sự cần thiết phải tạo được bước chuyển biến mới về nhận thức nên thời gian qua các tổ chức đảng đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền giáo dục, phổ biến, quán triệt các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, chủ trương, giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, nhận thức về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vẫn còn những khoảng trống. Những biểu hiện nhận thức lệch lạc, thiếu đúng đắn, chưa sâu sắc về nhiệm vụ “then chốt” vẫn tồn tại ở một số cấp ủy và cán bộ, đảng viên. Tồn tại đầu tiên trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ ra là: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”(4).

Thực tế tại nhiều địa phương, không phải cán bộ, công chức, đảng viên nào cũng hiểu rõ tính chất quan trọng, cấp bách, cần thiết của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Một nguyên nhân dẫn đến hơn 25.000 đảng viên suy thoái hoặc có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" bị xử lý kỷ luật trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đó là nhận thức về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn hời hợt, nên tổ chức thực hiện chưa tốt, có biểu hiện xem nhẹ, hình thức.

Chủ trương tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM mà Đại hội XIII của Đảng đề ra là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết. Vậy mà trong một số ít cán bộ, đảng viên xuất hiện những suy nghĩ, tư tưởng, quan điểm sai trái khi cho rằng xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị là hai công việc khác nhau. Xây dựng hệ thống chính trị là công việc của chính quyền. Đảng gắn hai công việc đó là lạm quyền, khiên cưỡng, không phù hợp. Việc Đảng ta ban hành các quy định cũng có ý kiến cho là chồng chéo, không cần thiết bởi các nội dung ấy điều lệ, pháp luật đã quy định rồi...

Đây là khoảng trống rất nguy hiểm trong nhận thức của cán bộ, công chức và đảng viên. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng khoảng trống này bóp méo, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng ta.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta xác định công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đặc biệt coi trọng và nâng lên một tầm cao mới, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị TSVM. Mấu chốt để thực hiện có hiệu quả công tác “then chốt” này là phải khắc phục cho được những hạn chế trong nhận thức.

Để làm được điều này, chúng ta cần tiến hành đồng bộ và toàn diện nhiều biện pháp. Trước hết, phải tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục làm cho mọi cán bộ, công chức, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ vai trò chủ trì, chủ chốt, đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị nhận thức đúng đắn, sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Thông qua tuyên truyền giáo dục, làm cho mọi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ về sự phát triển mới của Đảng ta.

Thực tiễn cho thời gian qua cho thấy năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của nhiều tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Hệ thống chính trị ở nước ta chưa thực sự TSVM như mong muốn; không ít cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền, làm việc ở những ngành, lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực vẫn thiếu tu dưỡng và rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bị xử lý kỷ luật và xử lý hình sự;... Tại Đại hội XII, Đảng ta xác định: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” nhưng trước thực trạng trên, tại Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Như vậy, không chỉ đề cập đến công tác xây dựng Đảng mà song hành Đảng ta xác định phải thường xuyên chỉnh đốn Đảng; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM. Sự phát triển này là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và rất quan trọng, đòi hỏi các cấp ủy, từng cán bộ, đảng viên phải nhận thức cho rõ ràng và sâu sắc.

Mặt khác, công tác tuyên truyền giáo dục cần làm cho cán bộ, công chức, đảng viên hiểu rõ Hiến pháp 2013 và Điều lệ Đảng đã quy định Đảng ta là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Do đó, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng chi phối tính chất, mục tiêu, nhiệm vụ, hiệu quả xây dựng hệ thống chính trị. Hay nói cách khác, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị chính là thước đo năng lực lãnh đạo, địa vị cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng ta. Cán bộ, công chức, đảng viên cần hiểu rõ những quan điểm, tư tưởng trái chiều như đã nêu là do nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ hoặc kẻ xấu lợi dụng bóp méo, xuyên tạc nhằm động cơ chống phá.

Do đó cùng với công tác tuyên truyền giáo dục, quán triệt, phổ biến nâng cao nhận thức, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên, nhất là lực lượng chuyên trách phải dũng cảm, kiên quyết đấu tranh với những nhận thức sai lệch, những tư tưởng, quan điểm sai trái nhằm phá hoại công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị TSVM của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG

Thực tiễn đã khẳng định, chính sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với Dân là cội nguồn sức mạnh để Việt Nam có được cơ đồ, vị thế như ngày nay. Thấu hiểu rất rõ điều ấy nên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị của Đảng ta “được nhân dân đặt nhiều kỳ vọng, hưởng ứng, đồng tình ủng hộ,…”(5)

Thực tế đã cho thấy sự tin tưởng, mong mỏi và kỳ vọng của nhân dân ở Đảng và Nhà nước ta là rất lớn. Kết quả điều tra xã hội học của Viện Dư luận xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương cho thấy: Tuyệt đại đa số nhân dân khẳng định quyết tâm đi theo Đảng, ủng hộ Đảng đến cùng vì mục tiêu cao cả chăm lo, bảo vệ lợi ích tối cao và toàn diện của nhân dân, của quốc gia, dân tộc. Thực trạng hàng chục nghìn cán bộ, công chức, đảng viên vi phạm kỷ luật, vướng vào vòng lao lý đã thể hiện rõ sự dũng cảm, tinh thần quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn, gột rửa mọi dơ bẩn bấy lâu nay và nhìn nhận đó là việc cần làm, phải làm để Đảng và hệ thống chính trị của ta thực sự TSVM, thực sự vì dân, vì nước. Nhân dân mong muốn và kỳ vọng Đảng ta trong công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Nếu Đảng ta không nhận thức đúng, trúng vấn đề và hành động một cách quyết liệt thì những căn bệnh của Đảng sẽ không được chữa trị kịp thời, giống như những “cục máu đông” làm cho cơ thể Đảng yếu kém, suy sụp.

Đảng ta cũng xác định phải đặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong tổng thể thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị, Quy định khác của Trung ương, của Quốc hội, của Chính phủ... Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị phải đặt trong mối quan hệ với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị thường xuyên của cả nước, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm thúc đẩy việc hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng ta và chế độ XHCN ở Việt Nam. Quyết tâm, quyết liệt nhưng Đảng ta cũng xác định rõ không được nóng vội, chủ quan mà phải thận trọng, từng bước đi đúng đắn, phù hợp. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo: “Nhận thức của chúng ta phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và phương pháp phải đúng”(6).

Để triển khai nhiệm vụ đặc biệt quan trọng ấy, Đảng ta xác định phải triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả nhiều giải pháp như: Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện của các cấp ủy đảng, chính quyền; đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, nhất là giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng cho cán bộ, công chức, đảng viên; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là cơ chế kiểm soát quyền lực; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm; phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội;…

Tuy nhiên, yếu tố quyết định vẫn là phát huy tính tích cực, chủ động tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của cán bộ, công chức, đảng viên. Từng cán bộ, đảng viên phải biết tự nhìn nhận, soi xét lại mình, tự chỉnh sửa mình cả trong công tác và cuộc sống. Sự chuyển biến tiến bộ thực sự chính là thước đo nhận thức, ý thức trách nhiệm, hiệu quả quá trình rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống và chất lượng, hiệu quả công tác của mỗi cán bộ, công chức, đảng viên.

Trước yêu cầu mới của cách mạng, trước thực trạng tình hình, tuyệt đại đa số nhân dân cho rằng việc Đảng ta xác định tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị là đúng, trúng và rất cần thiết. Cán bộ, công chức, đảng viên và nhân dân ta tin tưởng rằng, với truyền thống và bản chất tốt đẹp, với quyết tâm chính trị rất cao, được nhân dân tin tưởng, đặt nhiều kỳ vọng, đồng tình ủng hộ, nhất định Đảng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII mà trực tiếp nhất là các Kết luận, Chỉ thị, Quy định của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII, tạo bước chuyển biến mới trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng TSVM, thật sự xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc; hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh toàn diện, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự là “công bộc của dân”./.

Phùng Kim Lân

 --------------------

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2012, tr. 21.

(2) (3) (4) (5) Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận, Chỉ thị, Quy định của Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

(6) Phát biểu bế mạc của đồng chí Tổng Bí thư tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Tuyengiao.vn

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng không phải là “sự chuyên quyền”

 

Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ - nguyên tắc cơ bản nhất trong tổ chức và hoạt động của Đảng, để Đảng luôn là một tổ chức thống nhất về ý chí và hành động; đồng thời, phát huy được sức mạnh của mỗi cá nhân và của tập thể vì lợi ích chung của sự nghiệp cách mạng. Trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, giữ vững và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc này là yêu cầu cấp bách, thường xuyên, lâu dài để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng.

TẬP TRUNG DÂN CHỦ LÀ MỘT NGUYÊN TẮC CĂN BẢN CỦA MỘT ĐẢNG CÁCH MẠNG CHÂN CHÍNH

Khi nói về cách tổ chức của Liên đoàn những người cộng sản - chính đảng cách mạng đầu tiên của giai cấp công nhân, Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Bản thân tổ chức cũng hoàn toàn dân chủ, với những người lãnh đạo được bầu ra và luôn luôn có thể bị bãi miễn”(1). Sau này, V.I.Lênin cũng nhấn mạnh, “chế độ tập trung dân chủ, một mặt, thật khác xa chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa, và, mặt khác, thật khác xa chủ nghĩa vô chính phủ”(2). Điều đó cũng có nghĩa là, “không có gì sai lầm bằng việc lẫn lộn chế độ tập trung dân chủ với chủ nghĩa quan liêu và với lối rập khuôn máy móc”(3). Thực tế, lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng cho thấy, là liên minh tự nguyện của những người cùng chung chí hướng, cùng đồng chí, đồng lòng đấu tranh để xây dựng chủ nghĩa xã hội/một chế độ xã hội tự do, dân chủ, công bằng vì con người và cho con người, tất yếu Đảng Cộng sản - bộ phận tiên phong của giai cấp công nhân phải được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật và thống nhất, sinh hoạt và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng Cộng sản phải là một tổ chức thống nhất về ý chí và hành động, không dung thứ sự tồn tại của các phe nhóm, bè phái; lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển của Đảng.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ được hiểu giản dị là, "tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung"(4); và theo đó, “lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”(5). Cho nên, tập trung dân chủ là nguyên tắc rường cột chỉ đạo toàn bộ, xuyên suốt quá trình xây dựng, tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của một Đảng Cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng; đồng thời, chi phối các nguyên tắc khác, để xây dựng Đảng thành một tổ chức thống nhất, chặt chẽ, kỷ luật; bảo đảm Đảng luôn thống nhất trong tư tưởng và hành động chứ không phải là một câu lạc bộ.

Thực tế cũng cho thấy, tập trung dân chủ là một nguyên tắc căn bản (trong tổ chức và hoạt động) của Đảng, để phân biệt một chính Đảng Mácxít Lêninnit với một đảng phái chính trị khác. Tập trung và dân chủ là hai mặt không mâu thuẫn với nhau mà luôn thống nhất biện chứng, không thể tách rời, vì tập trung không trên cơ sở dân chủ sẽ thành tập trung quan liêu, độc tài; còn dân chủ đúng đắn phải dựa trên cơ sở tập trung, dân chủ mà tách rời tập trung sẽ thành vô chính phủ. Tập trung được thực hiện trên cơ sở dân chủ, hỗ trợ, bảo đảm để dân chủ được kiểm soát trong khuôn khổ, chứ không phải là tập trung độc đoán, chuyên quyền. Tập trung là để toàn thể đảng viên tư tưởng và hành động đều thống nhất, tránh tình trạng "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". Còn dân chủ được thực hiện và là bảo đảm của tập trung, giúp cho tập trung được thực hiện linh hoạt, hiệu quả, để tránh dân chủ theo kiểu tùy tiện, phân tán, vô tổ chức, hình thức. Dân chủ nghĩa là mọi cán bộ, đảng viên đều có quyền tham gia vào việc quyết định công việc của Đảng (được bày tỏ chính kiến, thông tin, thảo luận, tranh luận, bảo lưu ý kiến trong tổ chức) để bàn bạc và đi đến thống nhất về quan điểm, chủ trương… không chỉ trong xây dựng nghị quyết, đưa nghị quyết vào cuộc sống mà còn thể hiện rõ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, khi tổ chức đảng đã có nghị quyết thì tất cả đảng viên đều phải nói và làm theo nghị quyết.

Được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc một Đảng Mácxít Lêninnit chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản; trong đó, thiểu số phục tùng đa số (nội dung cốt lõi, đặc trưng của dân chủ trong Đảng), cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức; các tổ chức đảng trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc, Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Trên thực tế, xuất phát từ bản chất giai cấp công nhân của Đảng; từ yêu cầu, nhiệm vụ lịch sử của Đảng; từ kinh nghiệm của các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế, suốt quá trình xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định và kiên trì thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ - coi đó là nguyên tắc số một, bất di bất dịch. Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn, Đảng "luôn luôn nắm vững lãnh đạo tập thể là nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng thời kết hợp với phân công phụ trách. Đảng chống mọi hiện tượng phân tán, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tự do vô kỷ luật cũng như chống mọi hiện tượng tập trung quan liêu, sự vụ, gia trưởng, độc đoán, coi thường tập thể, coi thường cấp dưới”(6) để thống nhất trong tư tưởng và hành động; để “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”(7) như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn.

Theo đó, các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương đều "thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo đi đôi với phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu”(8); đồng thời, luôn có cơ chế để nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện nghiêm trên tinh thần "thực hiện triệt để nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong cấp uỷ. Tạo mọi điều kiện cần thiết để mỗi cấp uỷ viên có thể tham gia đầy đủ vào việc bàn bạc, quyết định các chủ trương; định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của từng người”(9), nhằm "tránh lối cá nhân độc đoán chuyên quyền" hoặc "tránh lối ỷ lại vào tập thể, sợ trách nhiệm" mà không dám quyết đoán khi cần phải ra quyết định. Đồng thời, việc phát triển và mở rộng dân chủ trong Đảng luôn đi đôi với tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng và giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật Đảng.

Dân chủ càng phát triển thì tập trung càng vững chắc, sức mạnh của Đảng càng được khẳng định và vì thế, nguyên tắc tập trung dân chủ cũng chính là biểu hiện của tính tiền phong, chiến đấu của Đảng. Vì thế, bất cứ quan điểm/luận điệu nào cho rằng tập trung và dân chủ là hai mặt đối lập; cho rằng, nếu thực hiện tập trung sẽ tất yếu dẫn đến thu hẹp dân chủ, triệt tiêu dân chủ và ngược lại, nếu muốn thực hiện dân chủ, ắt phải từ bỏ tập trung thì đều là trái với nguyên tắc tập trung dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin, đều là phản động. Chính vì thế, việc xuyên tạc bản chất nguyên tắc tập trung dân chủ nói chung, việc cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ nói riêng là sự "chuyên quyền của một nhóm quyền lực trong Đảng" là một trong các thủ đoạn chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nhằm từng bước hạ thấp vị thế, uy tín, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị như đã hiến định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

THỰC HIỆN TẬP TRUNG DÂN CHỦ KHÔNG PHẢI LÀ SỰ ĐỘC QUYỀN CỦA "NHÓM QUYỀN LỰC"

Đảng Cộng sản Việt Nam "là một khối thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện lãnh đạo tập thể và cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, thực hiện dân chủ đầy đủ và kỷ luật chặt chẽ trong sinh hoạt đảng”(10). Sức mạnh tổ chức to lớn của Đảng là ở sự thực hiện đầy đủ nguyên tắc này. Tình trạng tập trung quan liêu, gia trưởng độc đoán, không tôn trọng ý kiến cấp dưới hay không phát huy trí tuệ tập thể dễ dẫn đến những quyết định sai lầm hoặc tình trạng cục bộ, vô kỷ luật gây hậu quả tai hại… đều làm suy yếu sự đoàn kết trong Đảng, đều làm cho sự lãnh đạo của Đảng kém hiệu lực. Vì thế, mọi cán bộ, đảng viên đều phải nêu cao tinh thần gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.

Song trên thực tế, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn là mục tiêu công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội, xét lại và nhũng người nhân danh dân chủ, mượn danh dân chủ để xuyên tạc, công kích, hòng phá hoại các Đảng Cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Các nhà "ảo dân chủ", "ngộ dân chủ" còn suy diễn rằng, trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thì nếu đặt tập trung ở phía trước và dân chủ ở phía sau, thì có nghĩa là tập trung chính là mục đích, còn dân chủ chỉ là phương tiện. Vì thế, dân chủ chỉ là hình thức, nửa vời, là "bánh vẽ"… Đây chính là kiểu lập luận có chủ đích của những người nhân danh dân chủ, khoác áo dân chủ để quy chụp, xuyên tạc.

Dù nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động cuả một Đảng Mácxít Lêninnit, nhưng thực tế cũng cho thấy, nguyên tắc này không phải lúc nào và ở nơi đâu cũng được thực hiện một cách nghiêm túc. Lịch sử đã chứng kiến nguyên tắc này bị vô hiệu hóa trong quá trình tiến hành cải cách, cải tổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản ở các nước Đông Âu những thập niên trước. Việc từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những sai lầm "không thể cứu vãn" khiến cho các Đảng này tan rã, mất vai trò lãnh đạo xã hội. Việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô M.Goócbachốp vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ khi quyết định giải tán Ban Chấp hành Trung ương Đảng… làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô tan vỡ là một bài học xương máu.

Rút kinh nghiệm sâu sắc bài học của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam nghiêm ngặt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động; gắn mở rộng dân chủ đi đôi với củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.

Trong toàn Đảng, những vấn đề cơ bản, quan trọng (chủ trương, nghị quyết của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị về thực hiện nhiệm vụ chính trị; công tác cán bộ, công tác nhân sự cấp ủy, cơ quan…) đều phải được dân chủ thảo luận trong tập thể cấp ủy/lãnh đạo cơ quan/tổ chức đảng từ cao đến thấp theo phạm vi, quyền hạn được xác định. Quyết định của cấp ủy được quyết định theo đa số và ý kiến thiểu số vẫn được bảo lưu để trình cấp trên xem xét, nhưng khi nghị quyết đã ban hành, thì mọi đảng viên đều phải đồng lòng nói và làm theo nghị quyết. Trong toàn Đảng, mọi cấp uỷ đều thực hiện sự lãnh đạo tập thể (được bàn bạc và quyết định tập thể) đi đôi với tăng cường trách nhiệm cá nhân; "mọi cấp uỷ viên có quyền và có trách nhiệm phát biểu ý kiến, tranh luận thẳng thắn, tham gia các quyết định của cấp uỷ. Chống mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, áp đặt ý kiến cá nhân, hoặc nể nang, né tránh”(11).

Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện, Đảng xác định tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; trong đó, "tập thể lãnh đạo không phủ nhận trách nhiệm cá nhân, trái lại phải trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm cá nhân. Mọi cá nhân trên cương vị của mình phải chủ động đóng góp ý kiến với tập thể để tập thể có được quyết định chính xác, và dám chịu trách nhiệm trong việc chấp hành các nghị quyết của tập thể, dám tự phê bình và thành khẩn nhận khuyết điểm của mình trong việc chấp hành các nghị quyết ấy”(12). Đồng thời, mọi cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đều quán triệt sâu sắc rằng, bất cứ người đứng đầu nào cũng không được lợi dụng/lạm dụng quyền lực của mình (được bầu/ được trao) để mưu cầu lợi ích cá nhân/nhóm lợi ích và "bất cứ người lãnh đạo nào cũng không được tự đặt mình ra ngoài tổ chức, tự cho mình quyền nói và làm khác quyết định của tập thể. Cấp dưới, dù cho người đứng đầu là ủy viên Trung ương, cũng không thể tự cho mình quyền không thi hành hoặc làm trái chỉ thị của cấp trên. Tăng cường sự lãnh đạo tập thể, mở rộng sinh hoạt dân chủ”(13).

Vì vậy, mọi hiện tượng, biểu hiện “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, "nói một đằng nhưng làm một nẻo", "nói trong hội nghị khác nhưng phản ánh lên cấp trên khác" hoặc lợi dụng tập trung dân chủ vì mục đích không chính đáng… đều là những hạn chế cần phải khắc phục trong quá trình thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; đều là trái với nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Những hạn chế này vừa không khuyến khích người đứng đầu nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, lại vừa tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân; đồng thời, cũng dễ tạo kẽ hở cho các phần tử phản động, cơ hội xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng.

Thực tế ở Việt Nam, việc mở rộng sinh hoạt dân chủ trong Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt của các cấp ủy, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát gắn liền với việc không ngừng hoàn thiện, thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc tập trung dân chủ; tiếp tục xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung và phát huy dân chủ, bảo đảm để nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ được thực hiện nghiêm trong Đảng mà đã và đang trở thành nguyên tắc quản lý của một xã hội văn minh, hiện đại, nhằm xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, phát triển bền vững.

Trong những năm qua, dân chủ xã hội chủ nghĩa đã ngày càng trở thành hiện thực sinh động, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực thi; nhân dân là người làm chủ xã hội, được thụ hưởng những thành quả của mình tạo ra đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(14)…

Cùng với thời gian, chế độ dân chủ, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn gắn với kỷ luật, kỷ cương; được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm và được phổ biến sâu rộng đến mọi người dân. Việc thực hành dân chủ trong Đảng có ý nghĩa quyết định đối với phát triển dân chủ trong tổ chức, hoạt động của cả hệ thống chính trị gắn với dân chủ hóa đời sống xã hội, bởi dân chủ tạo sự đồng thuận xã hội và đồng thuận xã hội tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục nhất quán mục tiêu xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Gần đây nhất, bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 16/5/2021 cũng đã tiếp tục khẳng định và làm rõ: Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung, ở Việt Nam nói riêng. Dân chủ vừa là bản chất vừa là động lực; đồng thời, cũng chính là mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân kiên định xây dựng trong suốt 9 thập niên qua. Đó là sự thật đã được kiểm chứng bởi lịch sử Việt Nam hiện đại; bởi sự tin tưởng, ủng hộ, đi theo của các tầng lớp nhân dân; bởi sự ghi nhận của các tổ chức quốc tế. Lịch sử cách mạng Việt Nam là minh chứng khẳng định rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, “nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ. Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung. Từ hội đồng nhân dân và ủy ban kháng chiến hành chính xã đến Quốc hội và Chính phủ Trung ương, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung”(15).

Vì thế, có thể khẳng định chắc chắn rằng: Nghiêm ngặt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động; đảm bảo lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Nguyên tắc tập trung dân chủ chắc chắn không phải là sự chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ như các thế lực thù địch xuyên tạc, thêu dệt, cho nên, bất cứ sự buông lỏng nào trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ cũng sẽ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, tạo ra phe phái, lực lượng đối lập với Đảng, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng! Vì thế, những luận điệu phản động cho rằng thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhằm mục đích "bảo vệ vị trí độc tài" của Đảng và "thao túng quyền lực" của một nhóm người trong Đảng; việc Đảng thực hành tập trung dân chủ trong Đảng và trong xã hội chỉ là sự "ảo tưởng" "mị dân"… đều là sự xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động của Đảng nói riêng, cần phải bác bỏ!.

TS. Văn Thị Thanh Mai 
ThS. Văn Thị Thanh Hương

------

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyển tập, Nxb. Sự thật, H, 1984, t.6, tr.339.

(2) (3) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.36, tr.185, 186

(4) (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.5, tr.620, 620

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2002, t.21, tr.781

(7) (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.17, 232.

(8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2016, tr.191

(9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2004, t.37, tr.629

(10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2007, t.51, tr.254

(11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2007, t.50, tr.507

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2004, t.37, tr.839

(13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.470

(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.263-264.

Tuyengiao.vn