Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2022

Sự điều chỉnh chính sách đối với khu vực Trung Đông của các nước lớn

Cùng với sự thay đổi trong chính sách phát triển của các nước lớn trong khu vực, thời gian qua, cục diện khu vực Trung Đông cũng chứng kiến bước chuyển lớn trong cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc trên thế giới. Mỹ giảm dần can dự trên thực địa, nhất là về quân sự; Trung Quốc, Nga đẩy mạnh ảnh hưởng cả về kinh tế và quân sự, tăng cường can dự để lấp dần những khoảng trống, đã tác động lớn tới cục diện và cán cân lực lượng tại khu vực.

Với Mỹ, mặc dù không còn là ưu tiên hàng đầu, song khu vực Trung Đông vẫn là một phần quan trọng trong chính sách đối ngoại - an ninh của Mỹ. Chính quyền Tổng thống Mỹ G. Bai-đơn cơ bản vẫn duy trì các mục tiêu cốt lõi của chính quyền tiền nhiệm, như: 1- Bảo đảm an ninh cho các đồng minh, kiềm chế sự trỗi dậy của I-ran; 2- Duy trì các lợi ích kinh tế, quân sự, an ninh chiến lược tại khu vực. Theo báo cáo thường niên năm 2021 của Viện Nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI) về “Xu hướng chuyển giao vũ khí quốc tế”, trong giai đoạn 2016 - 2020, Trung Đông chiếm khoảng 47% số thỏa thuận mua vũ khí của Mỹ, góp phần quan trọng giúp Mỹ khẳng định vị trí số một về xuất khẩu vũ khí trên toàn cầu. Đồng thời, chính quyền Tổng thống Mỹ G. Bai-đơn cũng thực hiện một số thay đổi quan trọng trong chính sách của Mỹ đối với khu vực, như: 1- Quyết liệt hoàn thành việc rút quân và giảm dần can dự quân sự như tại Áp-ga-ni-xtan và I-rắc; 2- Tăng cường quan hệ với các đồng minh trong khu vực, như I-xra-en, A-rập Xê-út, Các tiểu Vương quốc A-rập Thống nhất (UAE) thông qua hợp tác về quân sự, kinh tế bất chấp một số khác biệt; 3- Coi trọng giải quyết các vấn đề khu vực thông qua các biện pháp ngoại giao. Trong giải quyết vấn đề xung đột giữa I-xra-en và Pa-le-xtin, Tổng thống Mỹ G. Bai-đơn quyết định nối lại viện trợ cho người dân Pa-le-xtin, khẳng định giải pháp “hai nhà nước” thông qua đàm phán là con đường khả thi nhất để đạt được nghị quyết lâu dài cho xung đột I-xra-en - Pa-le-xtin. Bên cạnh đó, chính quyền của Tổng thống Mỹ G. Bai-đơn cũng rất coi trọng vấn đề hạt nhân và chương trình tên lửa đạn đạo của I-ran, một mặt, tích cực đàm phán nối lại JCPOA; mặt khác, tiếp tục thực hiện chiến thuật kiềm tỏa, buộc I-ran phải nhượng bộ. Trong cuộc trao đổi với Thủ tướng I-xra-en Náp-ta-li Ben-nét vào tháng 8-2021, Tổng thống Mỹ G. Bai-đơn khẳng định sẽ bảo đảm I-ran không thể sản xuất được bất kỳ một vũ khí hạt nhân nào và Mỹ sẽ xem xét triển khai các bước kiềm chế hành động gây nguy hiểm tới khu vực của I-ran.

ới Trung Quốc, khi Mỹ giảm dần sự hiện diện tại khu vực, Trung Quốc ngày càng quyết tâm đạt được các mục tiêu chiến lược tại khu vực, như: 1- Bảo đảm nguồn cung dầu mỏ, khí đốt giá rẻ từ Trung Đông; 2- Hoàn thiện hơn nữa mạng lưới Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI) qua khu vực Trung Đông tới châu Phi, châu Âu, tạo thế trong cạnh tranh nước lớn; 3- Tập hợp lực lượng, tìm kiếm sự ủng hộ chính trị của các nước lớn trong khu vực, như I-ran, A-rập Xê-út, UAE. Về chính trị, Trung Quốc tập trung: 1- Đẩy mạnh trao đổi đoàn, điện đàm cấp cao với lãnh đạo các quốc gia trong khu vực; 2- Ký kết các thỏa thuận hợp tác lâu dài, tăng cường đồng thuận chính trị với “Sáng kiến 5 điểm” để giữ vững an ninh, ổn định và hòa bình lâu dài tại khu vực Trung Đông; 3- Tăng cường chia sẻ kinh nghiệm quản trị với các quốc gia khu vực thông qua một số cơ chế như Diễn đàn phát triển và cải cách A-rập - Trung Quốc, Diễn đàn An ninh Trung Đông năm 2021. Trung Quốc cho biết sẵn sàng làm trung gian giải quyết các vấn đề còn tồn tại của khu vực, như xung đột I-xra-en - Pa-le-xtin, ủng hộ sáng kiến của A-rập Xê-út nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng ở Y-ê-men. Về kinh tế, Trung Quốc tập trung: 1- Đẩy mạnh hợp tác trong khuôn khổ BRI phù hợp với chiến lược phát triển của các quốc gia khu vực; 2- Tăng cường trao đổi thương mại, đầu tư, nhất là trong lĩnh vực công nghệ số, củng cố vị thế là đối tác thương mại và nhà đầu tư lớn nhất ở Trung Đông. Đồng thời, với sự bùng phát mạnh mẽ của dịch bệnh COVID-19, Trung Quốc tích cực hỗ trợ vắc-xin và nhiều trang thiết bị y tế giúp các quốc gia khu vực nhanh chóng kiểm soát dịch bệnh COVID-19. Trong bối cảnh Mỹ đang ngày càng thắt chặt “vòng vây” kiềm tỏa sự vươn lên của Trung Quốc, Trung Đông sẽ tiếp tục đóng vai trò huyết mạch trong chiến lược “phá vây” của Trung Quốc, hứa hẹn sẽ có những bước tiến vượt bậc trong quan hệ hai bên thời gian tới. 

Với Nga, khu vực Trung Đông ngày càng giữ vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại - an ninh của Nga. Từ vị trí “rất quan trọng với lợi ích của Nga” trong “Học thuyết chính sách đối ngoại của Liên bang Nga” năm 2000, Trung Đông trở thành khu vực có vị trí “chiến lược quan trọng đối với lợi ích của Nga” trong “Những định hướng cơ bản chính sách đối ngoại của Liên bang Nga” năm 2008. Năm 2016, với mong muốn thể hiện rõ vị thế cường quốc tại khu vực Trung Đông, Nga đưa ra chủ trương “khẳng định vị thế cường quốc trong giải quyết các vấn đề khu vực” trong Học thuyết chính sách đối ngoại(7). Với chiến lược đúng đắn, linh hoạt và thực dụng, thông qua trục quan hệ I-ran, I-xra-en, A-rập Xê-út, Nga ngày càng củng cố được vị thế cường quốc trong xử lý các vấn đề khu vực, bảo đảm các lợi ích chiến lược, như: 1- Vị thế nước lớn của Nga; 2- An ninh khu vực phía Tây Nam trước sự mở rộng mạng lưới quân sự của phương Tây do Mỹ đứng đầu; 3- Thu hút nguồn lực bên ngoài trong bối cảnh vẫn bị phương Tây cấm vận. Trong khuôn khổ chuyến thăm đầu tiên tới Nga vào ngày 22-10-2021, Thủ tướng I-xra-en N. Ben-nét nhấn mạnh “Nga có vai trò rất quan trọng tại khu vực Trung Đông”(8). Tiến trình giải quyết khủng hoảng Xy-ri do Nga bảo trợ thông qua các Hội nghị Át-xta-na, Xô-chi đã và đang cho thấy hiệu quả thiết thực hơn rất nhiều so với các cuộc đàm phán ở thành phố Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ) do Mỹ và các nước đồng minh dẫn dắt. Thành tựu này cùng với sự “lạnh nhạt” của Mỹ đã thúc đẩy Nga tăng cường can dự hơn nữa tại khu vực Trung Đông, thông qua các mối quan hệ đan xen đối với cả I-ran, Xy-ri, A-rập Xê-út và I-xra-en, góp phần kiến tạo hòa bình cho một số “điểm nóng” của khu vực, như xung đột I-xra-en - Pa-le-xtin, vấn đề hạt nhân I-ran, nội chiến tại Y-ê-men(9) và khủng hoảng kinh tế - chính trị tại Li-băng(10), bảo đảm vị thế và các lợi ích chiến lược của Nga tại khu vực. Trong bối cảnh bạo lực leo thang giữa I-xra-en và Ha-mát tại khu vực Bờ Tây, ngày 31-5-2021, Bộ trưởng Ngoại giao Nga Xéc-gây Vích-tô-rô-vích La-vơ-rốp cho biết, cả I-xra-en và Pa-le-xtin đều bày tỏ sẵn sàng tham gia đàm phán dưới sự trung gian dẫn dắt của Nga(11). (Trích Tapchicongsan)

Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng

 


Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Đại đoàn kết dân tộc là chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, nhằm hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh với kẻ thù dân tộc và giai cấp.

Đại đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng, mặc dù trong từng thời kỳ của cách mạng, có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với những đối tượng khác nhau. Hồ Chí minh đã rút ra những luận điểm có tính chân lý: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”[1]; “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”; “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công” [2].



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, t7, tr392

[2] Sđd, t10, tr350

 

NHỮNG “ĐỘC CHIÊU” CHỈ CÓ TRONG

CHIẾN TRANH DU KÍCH VIỆT NAM

Sự sáng tạo, đỉnh cao của nghệ thuật đánh du kích có lẽ là cái giàn thun bắn lựu đạn, đơn giản và hiệu quả. Ông Tư Bốn (tên gọi thân mật của Trung tướng Nguyễn Việt Thành, nguyên Giám đốc Công an Tiền Giang) kể lại:

"Cái giàn thun bắn lựu đạn là do sáng kiến của tôi và tôi là người sử dụng giàn thun khá hiệu quả, không chỉ bắn xa ngoài 300m mà còn bắn rất chính xác. Coi vậy chớ theo thời gian lịch sử, giàn thun bắn lựu đạn đã đi vào huyền thoại với những cái tên gọi khá mỹ miều tôi từng được nghe: Nào là "pháo hãm thanh", "cối tự hành", "nỏ thần thời chống Mỹ", kể cũng không có gì cường điệu.

Tôi còn nhớ một hôm, chú Chín Hải (Lê Văn Phẩm, nguyên Phó Bí thư Khu ủy Khu 8, nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Mỹ Tho) đi họp về, có nói nơi nào đó bắn lựu đạn bằng cái ná thun và biểu tôi làm thử. Từ đó, hình ảnh cái giàn thun bắn lựu đạn cứ thoắt ẩn, thoắt hiện trong đầu. Cái ná thun thì hồi nhỏ, tôi "rành sáu câu" nhưng tìm đâu ra dây cao su cho giàn thun này bây giờ? Cái bao da may bao lớn? Thân ná chọn loại gỗ gì, cỡ cùm chân hay bắp vế? Không phải chuyện đùa, thao tác nửa chừng mà đứt dây, gãy ná là "bỏ mẹ".

Chuyện cái giàn thun bắn lựu đạn dài dòng lắm! Tóm lại, trong cái khó ló cái khôn, những giây phút hiếm hoi ngã mình trên cánh võng, bất chợt tôi đã nghĩ ra. Có ai ngờ rằng, cái cọng dây thun nhỏ xíu thường dùng buộc các bịch mũ đựng hàng, buộc bịch đựng nước ngọt đã làm cho bọn Mỹ-ngụy thất điên, bát đảo. Một cây làm chẳng nên non! Từng sợi thun nhỏ được kết với nhau thành từng sợi cỡ ngón tay; từng sợi thun cỡ ngón tay lại được bện xoắn với nhau thành từng sợi cỡ cùm tay, bắp tay. Giữa hai sợi thun đã được bện xoắn nhiều lần, có một cái bao da dùng để đựng quả lựu đạn. Thân ná là hai thân cây cỡ bắp đùi rời nhau, cơ động dễ dàng, tiện lợi hơn khi sử dụng cây tại chỗ. Năm lần bảy lượt, làm tới làm lui, cuối cùng cái giàn thun bắn lựu đạn cũng hoàn thành.

Lại lao vào tập bắn! Nhiêu khê lắm, khó khăn không kém gì khi làm cái giàn thun. Tập bắn thẳng đến tập bắn cầu vồng; tập bắn xa, bắn gần; tập bắn sao cho lựu đạn vừa chạm đất là nổ, thậm chí còn cho nó nổ chụp từ trên không xuống. Thuần thục rồi mà khi vào bắn thật, đã xảy ra một số trường hợp đứt dây thun, gãy giàn, lựu đạn rơi tại chỗ "chạy thấy mẹ".

Nói vậy thôi, chớ giàn thun bắn lựu đạn đã phát huy hiệu quả chiến đấu rất cao. Bọn địch kinh hoàng vì bất ngờ lựu đạn từ trên trời rơi xuống, không biết đằng nào mà đối phó. Bằng cách sử dụng lựu đạn gài, chốt chặn đường tiến quân của địch; bằng cách gài lựu đạn chặn trước chặn sau; gài trên bờ, gài dưới mương và dùng giàn thun bắn lựu đạn vào đội hình địch khi chúng co cụm, chúng tôi đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề!".

Trầm ngâm một chút, ông nói tiếp: "Sau Hiệp định Pari, địch không những không chấp hành nghiêm chỉnh mà còn xua quân thực hiện kế hoạch "cắm cờ giành dân, lấn đất", "phá thế da beo", "tràn ngập lãnh thổ". Lấn chiếm tới đâu, chúng cho đóng đồn, bót tới đó. Không đủ sức đánh bức hàng, chúng tôi đã dùng giàn thun bắn lựu đạn đánh bức rút hàng loạt đồn, bót địch. Quan sát thấy địch nổi lửa nấu cơm là chúng tôi dùng "pháo hãm thanh" bắn vào đồn vài quả lựu đạn. Bắn ngày này qua ngày khác, không theo một quy luật nào. Khi thì chỉ cách nhau vài ba phút bắn vài ba quả, khi cách nhau một vài tiếng đồng hồ bắn thêm mấy quả nữa.

Bị đói, bị thương, bọn địch la khóc rần trời, còn tinh thần thì hoang mang, lo sợ cực độ. Bởi, bắn lựu đạn bằng giàn thun không nghe tiếng "đề pa", không nghe tiếng rít; bỗng dưng lựu đạn từ trên trời rơi xuống nổ cái oành! Không biết lúc nào mà trốn tránh, không có cách gì để đối phó. Cuối cùng, địch đành phải bỏ đồn tháo chạy"…

ST

 

 

Cảnh giác với luận điệu bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

 

Vào thời điểm Đảng bộ Quân đội và toàn quân đang mở một đợt sinh hoạt chính trị, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt, sớm đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, vào thực tiễn cách mạng và hoạt động quân sự, thì những kẻ hiềm khích cùng thế lực thù địch, ráo riết triển khai một đợt cao điểm chống phá, hòng hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội.

Chúng cố tình bôi nhọ, hạ bệ hình tượng Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội và chia rẽ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân-dân.

Bóc trần âm mưu, thủ đoạn chống phá thâm độc

Xét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là nhằm tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, chuyển hướng chính trị Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản.

Cùng với đó, những thủ đoạn cũng chĩa mũi nhọn vào bôi đen những giá trị chuẩn mực đạo đức Bộ đội Cụ Hồ, tạo sự lệch chuẩn trong nhận thức và hành động của một số cán bộ, chiến sĩ ở các cơ quan, đơn vị. Từ đó, hòng làm cho bộ đội ta mất phương hướng chính trị, không phân biệt rõ bạn-thù, đối tượng-đối tác; xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; tha hóa về đạo đức, lối sống; rệu rã về mặt tổ chức, không còn là công cụ sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân.

Để thực hiện mưu đồ đó, chúng tìm trăm phương nghìn kế để chống phá, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội trong thời gian dài, nhưng “xới lên” rầm rộ ở từng thời điểm, mà dịp Quân đội ta triển khai Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương như vừa qua là một ví dụ.

Theo đó, các thế lực thù địch tập trung sự xuyên tạc vào những vấn đề cơ bản về chính trị, bản chất giai cấp, hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đến những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, công tác cán bộ, vũ khí, trang bị, mối quan hệ đoàn kết quân dân, mối quan hệ cán bộ-chiến sĩ, tình trạng vi phạm kỷ luật của bộ đội...

Các thế lực thù địch liên tục sử dụng nhiều chiêu bài khác nhau, tung hỏa mù hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ lung lạc, mất phương hướng, không phân biệt được đúng-sai, khó nhận diện và đề phòng trước âm mưu, thủ đoạn chống phá.

Chúng còn đánh đồng bản chất với hiện tượng, nhằm xóa nhòa ranh giới giữa quân đội cách mạng với phản cách mạng; giữa xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị với sự thờ ơ, vô cảm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, đứng ngoài các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; xóa nhòa cái đẹp, cái tốt của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ với những “mực thước” mà chúng tự bịa đặt về công lý, nhân quyền, hay sự lừa bịp “quân đội chỉ cần hiếu với dân, chứ không cần trung thành với Đảng”...

Thế nhưng, dù mưu mô, thủ đoạn có nham hiểm, tinh vi thế nào, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam vẫn vững vàng trước thử thách, luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Thực tế cho thấy, dù không thể đạt mục đích và dã tâm đề ra, song mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch vẫn chưa bao giờ và không bao giờ thay đổi. Chúng tìm đủ mọi thủ đoạn, cách thức mới, thâm độc và xảo quyệt hơn, triệt để lợi dụng mọi cơ hội, điều kiện, kẽ hở... nhằm đạt cho bằng được mưu đồ bẩn thỉu; trong đó, bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội được cho là công cụ chủ đạo.

Không khó để nhận ra nhiều bài viết trên các trang mạng xã hội thời gian gần đây đưa ra những luận điệu bịa đặt, cố tình suy diễn rằng “mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội đã thay đổi” nên bị “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển, đảo của nước ngoài”.

Qua đó, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, cổ xúy, kêu gọi “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Lợi dụng việc xử lý vi phạm kỷ luật một số cán bộ cấp cao trong quân đội vừa qua, chúng chủ ý xuyên tạc công tác quản lý, giáo dục, tạo kẽ hở cho cán bộ vi phạm; dựa trên một số thông tin, tư liệu trong các sự kiện, nhân chứng chưa được làm sáng tỏ để tán phát nhiều tin, bài, video clip, phóng sự, bình luận, suy diễn, áp đặt ý kiến chủ quan gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa cán bộ, sĩ quan quân đội với cựu chiến binh, giữa cựu chiến binh với nhân chứng lịch sử; phát động phong trào đòi xét lại lịch sử dân tộc, quân đội...

Nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng những bức xúc cá nhân liên quan đến đời sống riêng tư, gia đình... hòng “đánh tráo khái niệm”, “đổi trắng thay đen” cho đó thuộc phạm trù bản chất, truyền thống quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ với chiến sĩ; từ đó, sử dụng chiêu trò “dương đông kích tây”, đưa thông tin hiện trường vụ việc, gây bán tín bán nghi, làm dư luận bị cuốn theo; đẩy “nóng vấn đề”, kích động cộng đồng mạng “tạo áp lực, yêu sách” với quân đội, nhen nhóm dư luận tiêu cực trong nhân dân nhằm tẩy chay, không cho con em nhập ngũ...

Thông qua những sự việc này, chúng còn nói xấu, hạ thấp uy tín đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, làm phai nhạt hình tượng quân đội cách mạng được nhân dân tôn vinh, trân quý từ ngày thành lập đến nay, hòng dễ bề phân rã về tư tưởng, chia rẽ sự đoàn kết quân dân, làm phai nhạt phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong lòng nhân dân.

Có thể nói, bất kỳ một sự việc, hiện tượng nào trong quân đội có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá theo kiểu “thổi tàn thành lửa” là chúng có thể tận dụng kỳ được, kích hoạt a dua, kéo bè kéo cánh, dùng mọi thủ đoạn để công kích, nói xấu, bội nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Quân đội ta.

Đặc biệt, trong các đợt phòng, chống dịch Covid-19 hai năm vừa qua thì sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị càng thể hiện rõ dã tâm và không từ bỏ bất kỳ mưu mô, thủ đoạn nào. Từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát tới nay, hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ QĐND được huy động phối hợp với các lực lượng chức năng tham gia giải quyết những vấn đề nóng về dịch bệnh tại nhiều địa phương trong cả nước.

Với tinh thần: Giúp dân là mệnh lệnh trái tim của Bộ đội Cụ Hồ; ở đâu dân cần, ở đâu khó khăn thì ở đó có Bộ đội Cụ Hồ và quyết tâm thực hiện “ba nhất”: Nhận thức, trách nhiệm cao nhất; giúp đỡ nhân dân được nhiều nhất; chấp hành pháp luật, bảo đảm an toàn tốt nhất. Tất cả những việc làm đó góp phần làm giảm gánh nặng phòng, chống dịch cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương. Thế nhưng, trên mạng xã hội, một số tổ chức, cá nhân thù địch lại cố tình rêu rao, xuyên tạc, bôi đen nghĩa cử cao đẹp ấy của cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Để tăng phần hấp dẫn những người nhẹ dạ cả tin, chúng cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip... lồng vào tin, bài bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong giúp dân phòng, chống dịch.

Một số kẻ đăng trên mạng xã hội nhiều bài viết có nội dung suy diễn, xuyên tạc chủ trương đưa quân đội, công an tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là “trái Hiến pháp, pháp luật”, là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch.

Khi nói về việc bộ đội đi chợ, đảm trách cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân thì họ suy diễn mang tính chủ quan, phiến diện, một chiều: “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”, vì theo họ: “Bộ đội vốn được huấn luyện, đào tạo để nhằm phục vụ cho sức mạnh trấn áp đối phương chứ nào phải để làm chuyện chi li nhỏ mọn là chợ búa...”...

Tất cả những giọng điệu, chiêu trò ấy của lực lượng thù địch, chống phá không nhằm mục đích nào khác là bóp méo, xuyên tạc chủ trương, giải pháp phòng, chống dịch của Đảng và Chính phủ ta; bôi nhọ phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp uy tín, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Quân đội ta.

Lịch sử gần 78 năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam cho thấy, quân đội luôn đồng hành với dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đánh bại đế quốc, thực dân, đưa non sông thu về một mối và hiện nay đang giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, giúp nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Trải qua các giai đoạn cách mạng, trong bất luận mọi tình huống, trước mọi nhiệm vụ hay khó khăn, thử thách tột cùng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn tỏa sáng trên mọi lĩnh vực, vai trò của quân đội luôn được khẳng định, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, cùng bạn bè bốn bể, năm châu.

 

Xã hội XHCN phải dựa trên lực lượng sản xuất phát triển cao, chế độ công hữu về TLSX chủ yếu từng bước được xác lập


Xã hội XHCN phải dựa trên lực lượng sản xuất phát triển cao, chế độ công hữu về TLSX chủ yếu từng bước được xác lập,

 tổ chức quản lý hiệu quả, năng suất lao động cao, phân phối theo lao động là chủ yếu

CNXH ra đời từ những tiền đề được tạo ra trong lòng xã hội tư bản, đó là lực lượng sản xuất to lớn do nền đại công nghiệp tạo ra.

+ Phân tích phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là lực cản lớn nhất, kìm hãm sự phát triển của tiến bộ xã hội. Cuộc cách mạng XHCN phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, từng bước xác lập chế độ công hữu. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản”[1].

+ Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ đặc trưng kinh tế của CNXH là thiết lập từng bước chế độ công hữu;

+ Đồng thời, các ông coi trọng cách thức tổ chức lao động, tổ chức sản xuất để thiết lập một chế độ xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản, bằng cách tăng năng xuất lao động. V.I.Lênin khẳng định: “CNCS có nghĩa là năng xuất lao động cao hơn (so với năng xuất lao động dưới chế độ tư bản) của những công nhân tự nghuyện, tự giác, liên hợp với nhau, sử dụng kỹ thuật hiện đại”[2].

+ Theo các nhà kinh điển, phân phối theo lao động là nguyên tắc phân phối cơ bản trong CNXH. Đó là nguyên tắc lao động ngang nhau thì được hưởng ngang nhau, thể hiện sự công bằng trong CNXH.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t4, tr615

[2] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ M. 1976, t39, tr25 

Làm cho sản xuất bung ra là bước đột phá đầu tiên về kinh tế của cách mạng Việt Nam

 


 Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (8-1979), với chủ trương bằng mọi cách “làm cho sản xuất bung ra”, là bước đột phá đầu tiên của quá trình tìm tòi và thử nghiệm đó.

Hội nghị chủ trương ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần dôi ra được bán cho Nhà nước hoặc trao đổi tự do; khuyến khích mọi người tận dụng ao hồ, ruộng đất hoang hoá; đẩy mạnh chăn nuôi gia súc dưới mọi hình thức; sửa lại thuế lương thực và giá lương thực để khuyến khích sản xuất; sửa lại chế độ phân phối theo định suất, định lượng,...

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 nhanh chóng được nhân dân cả nước đón nhận và biến thành hành động cụ thể trong thực tiễn nền kinh tế. Chỉ một thời gian ngắn, trong cả nước xuất hiện rất nhiều điển hình về cách làm ăn mới. Long An từ giữa năm 1980 đã thí điểm mô hình “mua cao, bán cao”, “bù giá vào lương” thay cho cơ chế “mua cung, bán cấp”. Hải Phòng, Vĩnh Phú, Nghệ Tĩnh thí điểm hình thức khoán.

- Ngày 13-1-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100-CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp.

Tiếp đó, trong công nghiệp, bước đầu xác định quyền tự chủ của các cơ sở trong sản xuất kinh doanh, tự chủ về tài chính của các xí nghiệp theo các Quyết định 25/CP và 26/CP của Hội đồng Chính phủ. Nghị quyết Trung ương 6, Chỉ thị 100 của Ban Bí thư và các Quyết định 25/CP và 26/CP của Chính phủ cho thấy những ý tưởng ban đầu của đổi mới, tuy còn sơ khai, chưa cơ bản và toàn diện, nhưng đó là bước đầu có ý nghĩa, đặt những cơ sở đầu tiên cho quá trình đổi mới sau này.

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác PCTN


Có thể khẳng định, PCTN là một lĩnh vực công tác luôn thu hút được sự quan tâm đặc biệt của xã hội, thể hiện sự tin tưởng của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Thời gian qua, công tác PCTN trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng đạt được những kết quả khá tích cực, để lại dấu ấn tốt, lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: "Công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực đã trở thành phong trào, xu thế, được nhân dân đồng tình, đánh giá cao". Để công cuộc đấu tranh PCTN hiệu quả, các cấp ủy, tổ chức Đảng, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương của tỉnh cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, mạnh mẽ, đồng bộ với quyết tâm cao, trong đó tập trung vào các nội dung cơ bản:

Một là, cần chú trọng công tác tuyên truyền về PCTN gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Gắn công tác PCTN với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, gắn PCTN với xây dựng và chỉnh đốn Đảng; chấn chỉnh, đấu tranh, loại bỏ tư tưởng lo ngại việc đẩy mạnh PCTN của một số cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Hai là, xây dựng và ban hành bộ quy tắc ứng xử của cán bộ, đảng viên trong công việc và trách nhiệm giải trình trước cơ quan có trách nhiệm về những vấn đề liên quan theo quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ được giao. Có cơ chế phù hợp khen thưởng, bảo vệ người tố cáo tham nhũng, lãng phí đúng. Tạo điều kiện, cơ chế đãi ngộ xứng đáng cho đội ngũ chuyên trách làm công tác PCTN. Nâng cao mức sống cho đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao, từ đó chấp hành tốt "bốn không"(không muốn tham nhũng, không thể tham nhũng, không dám tham nhũng và không cần tham nhũng) trong PCTN.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát kỷ luật Đảng; quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, công chức; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước. Nhiệm vụ này phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện, công khai, dân chủ, thận trọng, chặt chẽ. Kiểm tra toàn diện công tác cán bộ, chú trọng kiểm tra, giám sát cán bộ có biểu hiện tham nhũng, dư luận xã hội phản ánh, tố cáo; cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đặc biệt, cần phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên và báo chí trong đấu tranh PCTN.

Bốn là, thực hiện cải cách hành chính quyết liệt hơn, chú trọng rà soát, đơn giản hóa, công khai thủ tục hành chính, mở rộng các lĩnh vực cung cấp dịch vụ công trực tuyến; công khai, minh bạch, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận thông tin và giám sát việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng kế hoạch và thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác hàng năm, điều chuyển vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, mức độ hài lòng của người dân không cao, uy tín giảm sút. Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước theo đúng quy định của Luật PCTN năm 2018.

Năm là, đưa nội dung PCTN và kiểm tra, rà soát các cuộc thanh tra kinh tế - xã hội, việc thực hiện các kiến nghị của cơ quan Thanh tra, Kiểm toán Nhà nước vào chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm của cấp ủy. Trong đó, đặc biệt tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra các lĩnh vực quản lý, cho thuê đất công, mua bán, chuyển nhượng tài sản công, quản lý trật tự xây dựng, xây dựng cơ bản, quản lý, sử dụng tài chính, công tác tổ chức, cán bộ. Chú trọng kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực trong công tác tổ chức, cán bộ; kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên có biểu hiện tham nhũng, nhiều đơn thư phản ánh, tố cáo tham nhũng; cán bộ có dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước.

Sáu là, phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ án liên quan đến tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Tập trung lực lượng, phối hợp chặt chẽ để giải quyết các vụ việc phát sinh mới với nguyên tắc: "Tích cực, khẩn trương, làm rõ đến đâu xử lý đến đó", "Không có vùng cấm", "Không có ngoại lệ". Kiên quyết xử lý nghiêm những người bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc xử lý hành vi tham nhũng. Ngăn chặn, xử lý có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp, nhất là "tham nhũng vặt" trong giải quyết công việc.

Bảy là, các cơ quan chức năng tập trung nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; chấp hành nghiêm quy định của pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bảo đảm các hành vi phạm tội phải được phát hiện, xử lý kịp thời. Phối hợp chặt chẽ trong giải quyết các vụ việc, vụ án kinh tế, tham nhũng; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ việc, vụ án kinh tế, tham nhũng. Chú trọng công tác điều tra, mở rộng án, thu hồi tài sản, không để các đối tượng đối phó, tiêu hủy tài liệu, bỏ trốn, tẩu tán tài sản; không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm.

Tám là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về công vụ, công chức, nhất là việc thực thi công vụ, những vị trí trực tiếp giải quyết yêu cầu của công dân, tổ chức, doanh nghiệp. Đồng thời, công bố công khai các kết luận và kết quả kiểm tra, thanh tra có liên quan đến tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cán bộ, công chức. Cụ thể hóa và tăng cường kiểm tra nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm các quy định của Luật PCTN về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở và trong các lĩnh vực, nhất là việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Xử lý nghiêm đối với cán bộ, công chức có hành vi tham nhũng, tiêu cực, sai phạm về chuyên môn.

 

NGỜI SÁNG PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ

TRONG THIÊN TAI, DỊCH BỆNH

Trong thiên tai, dịch bệnh, hình ảnh hàng vạn chiến sĩ Quân đội dầm mình trong mưa bão để cứu dân; chiến sĩ biên phòng ngày đêm canh gác trên chốt chống dịch; các anh bộ đội, dân quân phục vụ tại các khu cách ly tập trung… đã làm sáng thêm những phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ.

Những ngày đầu năm 2020, đại dịch Covid-19 xuất hiện, hoành hành khắp thế giới. Việt Nam cũng bị đe dọa và Covid-19 diễn biến ngày càng phức tạp. Ngay trong khó khăn, hiểm nguy khi tình hình dịch Covid-19 ngày càng lan rộng, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang đã xung kích vào điểm nóng tâm dịch; kiên cường trên các tuyến biên giới tham gia phòng, chống dịch bệnh.

Mặc cho thời tiết khắc nghiệt, giữa cái giá rét thấu xương những ngày Đông, trên các đường mòn, lối mở ở dọc tuyến biên giới, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên cường bám trụ địa bàn để ngăn chặn các đối tượng nhập cảnh trái phép, chặn đứng nguy cơ dịch bệnh xâm nhập vào nội địa.

Tham gia cắm chốt, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ không thể về nhà, phải hoãn cưới vợ, nhiều trường hợp bố mẹ mất cũng không thể về chịu tang. Tạ lỗi với bố mẹ, khất hẹn với vợ chưa cưới và người thân, những người lính Biên phòng “căng” mình để cắm chốt trong những lều bạt nơi rừng thiêng nước độc hàng tháng trời để thực hiện nhiệm vụ.

Trên mặt trận chống dịch, không chỉ những người lính biên phòng, mà các lực lượng làm nhiệm vụ trong các khu cách ly cũng đã trọn nghĩa với đồng bào và người nước ngoài đến Việt Nam. Nhưng ngày đầu năm 2020, thực hiện yêu cầu của Chính phủ cũng như quy định của Bộ Y tế, người Việt Nam ở nước ngoài về hay người nước ngoài sang Việt Nam phải thực hiện cách ly bắt buộc trong 14 ngày. Hàng nghìn khu cách ly tập trung trên địa bàn cả nước được thiết lập để đón công dân từ nước ngoài trở về thực hiện cách ly. Mặc cho đối mặt với muôn vàn khó khăn, nguy cơ lây nhiễm cao nhưng tất cả cán bộ, chiến sĩ phục vụ ở các khu cách ly luôn nỗ lực hết mình để đảm bảo điều kiện ăn, ở tốt nhất cho các công dân. Ai cũng xác định tốt tâm lý 3 cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng chung tay phòng, chống dịch bệnh) với các công dân. Trong khu cách ly, cán bộ, chiến sĩ luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, phục vụ tận tình, chu đáo các công dân thực hiện nghĩa vụ phòng dịch.

Tận mắt chứng kiến và trực tiếp được chào đón, chăm sóc chu đáo ân cần, được quan tâm lo lắng như người thân của các cán bộ, chiến sĩ,… những công dân thực hiện nghĩa vụ cách ly phòng bệnh đều rất cảm động. Những hành động, việc làm cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ đã để lại trong lòng kiều bào và nhân dân những ấn tượng không bao giờ phai mờ. Đến bây giờ, sau hơn hai năm dịch Covid-19 bùng phát, câu chuyện về những “bà đỡ” bất đắc dĩ trong các khu cách ly giúp công dân “vượt cạn” hay chiến sĩ nhường suất ăn cho công dân… vẫn luôn được nhắc mãi.   Và còn đó, những tấm gương cán bộ, chiến sĩ quên mình trong tham gia giúp nhân dân phòng, chống dịch đã trở thành biểu tượng cao đẹp về lòng nhân ái, tinh thần quả cảm của Bộ đội Cụ Hồ.

Nếu như trong cuộc chiến chống Covid-19, mỗi cán bộ, chiến sĩ chiến đấu với tinh thần “chống dịch như chống giặc” để hạn chế thấp nhất sự xâm nhập của dịch bệnh; sẵn sàng “nhường cơm sẻ áo” dành những điều kiện tốt nhất cho đồng bào mình trong khu cách ly… thì trong công cuộc phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn, cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã không quản gian khó, không sợ hy sinh, sẵn sàng tới những nơi khó khăn nhất, nguy hiểm nhất để giúp dân chạy lũ, tiếp tế lương thực, thực phẩm, tìm kiếm người bị nạn… khắc phục hậu quả thiên tai. Những ngày cuối tháng 10 năm 2020, đồng bào các tỉnh miền Trung oằn mình trong bão lũ. Nhà cửa, ruộng vườn, tài sản của người dân trôi theo dòng nước dữ. Làng xã bị cô lập, đất đai sạt lở, hàng nghìn người dân rơi vào cảnh khó khăn. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, mệnh lệnh cứu dân, hạn chế thấp nhất thiệt hại của thiên tai lại được phát đi. Các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang đã huy động hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ cùng nhiều phương tiện như ô tô, xuồng máy, áo phao... có mặt kịp thời sơ tán, ứng cứu nhân dân.

Xác định “phòng chống lụt bão là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn có mặt ở những địa bàn khó khăn nhất giúp nhân dân ứng phó với bão lũ, khắc phục hậu quả thiên tai để hạn chế thấp nhất thiệt hại và đưa cuộc sống của người dân ổn định trở lại.

Dầm mình trong dòng nước lũ suốt cả ngày, tham gia sơ tán, di dời hàng trăm người dân và tài sản bà con đến nơi an toàn nhưng khi nghe tiếng người kêu cứu, cán bộ, chiến sĩ quân đội không ngần ngại lao mình xuống dòng nước lũ, quyết tâm cứu người bị nạn. Vẫn còn đó những tấm gương không quản hiểm nguy lao vào tâm lũ, hy sinh tính mạng cứu nhân dân trong phòng,chống thiên tai của cán bộ, chiến sĩ toàn quân.

Ngay sau khi nước rút, các cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang đã điều động hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ và dân quân tự vệ giúp dân khắc phục hậu quả sau lũ. Các cán bộ, chiến sĩ tích cực tham gia sửa chữa nhà cửa bị hư hỏng, khắc phục sạt lở đất, khai thông các tuyến đường giao thông, nạo vét kênh mương thủy lợi, hỗ trợ thu hoạch hoa màu, vệ sinh các trường học... giúp dân sớm ổn định lại cuộc sống.

Thật khó nói hết những gian lao của những người lính, các anh luôn có mặt ở những điểm nóng để giúp dân khi xảy ra thiên tai, hoạn nạn. Cùng với cứu hộ, cứu nạn, họ còn tham gia thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường, thực hiện các phong trào, công tác chính sách xã hội, vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn hóa... Hình ảnh người lính đem con chữ đến những bản làng nghèo xa xôi, thắp lên hy vọng và ước mơ cho những em nhỏ vùng cao, chia sẻ cùng nhân dân những nhọc nhằn, gian khó đã trở thành quen thuộc.

Xung kích, đi đầu, gần dân, giúp dân vượt qua thiên tai, hoạn nạn, đó chính là mệnh lệnh chiến đấu trong thời bình của cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” xông pha vào các khu vực trọng yếu, nguy hiểm để giúp dân chống chọi với thiên tai, dịch bệnh góp phần tô thắm thêm phẩm chất, truyền thống cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

 

Điểm nhấn trong công tác PCTN

 

Chiến lược quốc gia về PCTN đến năm 2020 của Chính phủ cũng xác định "PCTN là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức đoàn thể và quần chúng Nhân dân PCTN là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới". 

Trong những năm qua, tỉnh đã quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo PCTN; ban hành đồng bộ hệ thống văn bản chỉ đạo, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về PCTN... với phương châm xác định PCTN là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, lãnh đạo tỉnh đã tập trung thực hiện hiệu quả các nhóm giải pháp về PCTN, nổi bật là nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của toàn xã hội trong PCTN.

Năm 2020, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo các ban, ngành, địa phương chủ động nắm chắc tình hình, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch, tập trung giải quyết kịp thời các vấn đề nổi cộm, bức xúc ở cơ sở. Lực lượng Công an phối hợp với các địa phương đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh, trấn áp các loại tội phạm, trong đó tập trung vào tội phạm hoạt động theo băng nhóm, cướp giật, trộm cắp tài sản và ma túy; công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án bảo đảm đúng người, đúng tội, không oan sai, không bỏ lọt tội phạm.

Phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác nội chính, cải cách tư pháp và PCTN năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021, đồng chí Võ Văn Bình, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy yêu cầu các cấp, các ngành cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, tuyên truyền sâu rộng, triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản của Trung ương, của tỉnh về công tác nội chính, PCTN và cải cách tư pháp; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho các tầng lớp Nhân dân; tiếp tục tổ chức thực hiện tốt công tác tiếp công dân, nhất là nêu cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của Nhân dân.

Hệ thống chính sách dân tộc ở Việt nam hiện nay mang tính toàn diện, đồng bộ hơn

 


        Những năm qua Việt nam đã thể chế hóa khá đầy đủ thành hệ thống pháp luật chính sách về vấn đề dân tộc trên các lĩnh vực và phủ kín các địa bàn vùng dân tộc, miền núi. Đặc biệt là những chủ trương, chính sách liên quan đến xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội cho đồng bào DTTS và vùng DTTS được ban hành tương đối đầy đủ.

       Đến nay, nước ta có 118 văn bản quy định chính sách dân tộc, trong đó có 54 chương trình, chính sách trực tiếp cho đồng bào DTTS chia làm 3 nhóm:

      +Nhóm chính sách cho một số dân tộc: Chăm, Hoa, Khmer, Mông; 5 dân tộc dưới 1000 người (PuPéo, Si La, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm); 4 dân tộc (Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao) và chính sách cho 16 DTTS dưới 10 ngàn người.

      +Nhóm chính sách phát triển theo địa bàn: Phát triển cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng.

      +Nhóm chính sách phát triển KTXH theo lĩnh vực: Chính sách hỗ trợ sản xuất, giảm nghèo, nước sạch, môi trường, giáo dục, đào tạo, văn hóa, y tế, cán bộ dân tộc thiểu số, trợ giúp pháp lý,...

 

Luận điệu xuyên tạc lợi dụng diễn biến hai vụ án "nóng"

Lợi dụng diễn biến vụ án của ông Trịnh Văn Quyết và bà Nguyễn Phương Hằng, các thế lực thù địch với luận điệu xuyên tạc có thể khiến những người thiếu hiểu biết đánh lạc hướng, cho rằng đang có khuất tất phía sau vụ án, cơ quan CSĐT phạm luật. Thực tế, vấn đề này đã được Cơ quan CSĐT Bộ Công an giải thích rõ. Thiếu tướng Lê Văn Tân, Phó Chánh Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ Công an cho biết, tháng 1/2022, ông Quyết bị xử phạt hành chính về hành vi không báo cáo, không công bố thông tin trước khi thực hiện giao dịch theo Nghị định 128/2020/NĐ-CP về xử phạt trong lĩnh vực chứng khoán.

 “Trong trường hợp cơ quan chức năng đã xử phạt hành chính mà sau đó xác định hành vi vi phạm đủ cấu thành tội phạm, phải xử lý hình sự thì cơ quan điều tra sẽ khởi tố để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Theo đó, sau khi bị khởi tố, điều tra thì toàn bộ quyết định xử phạt hành chính trước đây đều không có hiệu lực” – Thiếu tướng Lê Văn Tân nêu rõ.

Theo CQĐT, hành vi thao túng thị trường chứng khoán của ông Quyết tác động tiêu cực tới thị trường và gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư. Ngoài ông Quyết đã bị khởi tố, bắt tạm giam, hiện nay, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đang tích cực điều tra những cá nhân giúp sức tích cực để bị can thực hiện hành vi vi phạm. Trong quá trình xác minh điều tra, cơ quan Công an sẽ xem xét, làm rõ mục đích, vai trò của từng người để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Nếu những người đó thực hiện hành vi dưới danh nghĩa công ty (pháp nhân) nhằm trục lợi bất chính cho đơn vị thì tùy theo mức độ thiệt hại gây ra cho nhà đầu tư và số tiền thu lợi bất chính, pháp nhân này có thể bị phạt tiền từ 2- 10 tỷ đồng.

Trường hợp người thực hiện hành vi dưới danh nghĩa cá nhân, tiếp tay làm lũng đoạn thị trường nhằm tư lợi bất chính, gây thiệt hại cho nhà đầu tư, nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm sẽ bị xử lý hình sự. Ngoài ra, những đối tượng này còn phải bồi thường dân sự cho những nhà đầu tư bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Như vậy, không có chuyện một hành vi “thích thì xử lý hành chính, không thích thì hình sự hoá” và không phải một hành vi bị xử lý cả hành chính lẫn hình sự. Lý giải này đã được Cơ quan CSĐT giải thích rõ nhưng một số đối tượng vẫn tỏ ra “không biết” để tìm cách bôi nhọ, chỉ trích.

Ở đây, chúng ta cần thấy rằng, hai vụ án trên dư luận đặc biệt quan tâm vì chủ thể tội phạm là những cá nhân có vị thế kinh tế giàu có cùng những ảnh hưởng trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, tính chất đó của chủ thể tội phạm không làm thay đổi bản chất vụ án. Việc khởi tố, điều tra là căn cứ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có các hành vi phạm vào tội danh quy định trong BLHS, như với ông Quyết là sai phạm về hoạt động chứng khoán, với bà Hằng là sai phạm về lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Sai phạm đó đủ yếu tố cấu thành tội phạm và cơ quan CSĐT khởi tố để điều tra, làm rõ. Không thể viện bất cứ lý do nào để hướng lái vụ án sang vấn đề chính trị, không thể lấy lý do bị can là những doanh nhân giàu có để xuyên tạc thành “chiến dịch đánh tư sản”, “tấn công vào kinh tế tư nhân”. Mọi bị can khi bị khởi tố, điều tra đều căn cứ vào hành vi, khách thể bị xâm hại, các yếu tố lỗi, không có bất cứ lý do nào để ngụy biện thành việc phân biệt kinh tế tư nhân với các thành phần kinh tế khác.

Mọi thành phần kinh tế đều được tạo điều kiện phát triển, trong đó kinh tế tư nhân đã được Đảng ta xác định “thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế”. Đây là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng vừa thúc đẩy kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển, vừa phát huy vai trò của thành phần kinh tế này trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng. Những thành công đạt được của Tập đoàn FLC cũng như vai trò cá nhân của ông Trịnh Văn Quyết có được là nhờ chủ trương nhất quán đó của Đảng, được tạo điều kiện để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, tất cả đều có hành lang pháp lý điều chỉnh, hành vi nào xâm phạm vào quy định của pháp luật hình sự, gây nguy hiểm cho xã hội thì sẽ bị điều tra, xử lý theo quy định và việc xử lý không phân biệt chủ thể phạm pháp thuộc thành phần kinh tế nào, dù là tỷ phú, triệu phú hay ở các tầng lớp khác. Do đó, không thể bôi nhọ rồi xuyên tạc, đánh lận bản chất vụ án.

 NĂM ĐẶC TRƯNG VÀ MƯỜI BIỂU HIỆN

Một nội dung quan trọng trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, là chỉ ra 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Đây là nội dung hết sức thiết thực, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải có trách nhiệm học tập, quán triệt, vận dụng hiệu quả.
5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ
Một là, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Kiên định lập trường Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Hai là, có đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy.
Ba là, tích cực huấn luyện, học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn; có phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm cao; gương mẫu trong công tác, sinh hoạt; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.
Bốn là, có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; giữ vững nguyên tắc, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị. Kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định của quân đội.
Năm là, chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt; lắng nghe, tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Có tinh thần đoàn kết quốc tế, mở rộng và tăng cường đối ngoại quốc phòng góp phần tích cực bảo vệ môi trường hòa bình khu vực và thế giới.
10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân
1. Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; ganh ghét, đố kị, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.
2. Háo danh, tự cao, tự đại, thích được ca ngợi, sùng bái bản thân, tham vọng quyền lực, địa vị; chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích, chạy tội, mua và sử dụng bằng cấp giả, giấy tờ giả; tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho mình.
3. Thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể, không chấp hành sự phân công, điều động của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác; đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, không tận tâm, tận lực với công việc, không sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng.
4. Thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; sợ trách nhiệm, tranh công, đổ lỗi; giấu giếm, bao che và không trung thực về những khuyết điểm, sai phạm.
5. Ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng không bảo vệ”, “thấy sai không đấu tranh”; tinh thần tự phê bình và phê bình thấp, lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ và mục đích không trong sáng; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức.
6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để tham ô, nhận hối lộ hoặc để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình trục lợi; cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.
7. Cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm để chiếm đoạt tài sản của tập thể; tham gia, xúi giục, cưỡng ép, mua chuộc người khác làm những việc trái chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Đảng, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và đơn vị.
8. Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, quan liêu, thiếu sâu sát; xử lý các sai phạm của cấp dưới không cương quyết, thiếu khách quan; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân.
9. Coi thường lý luận, xa rời thực tiễn, lười học tập, rèn luyện, thích tự do, vô kỷ luật; hoang mang, dao động, hoài nghi về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.
10. Phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng; nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
BQĐND

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM ĐÒI “ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG” Ở VIỆT NAM

 


 

Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam được xây dựng nhằm thực hiện quyền làm chủ của con người một cách đầy đủ, toàn diện và triệt để.

Tuy nhiên, lâu nay những luận điệu giả dối, phản khoa học  cho rằng “đa nguyên, đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển” vẫn tiếp tục chống phá cách mạng, thực chất là  họ đang tiếp tục thực hiện những âm mưu, ý đồ đen tối mà thôi. Dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi nhà nước xuất hiện và mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Nó tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong những giai đoạn lịch sử tương ứng. Mỗi nước có những đặc thù và trình độ phát triển về kinh tế, chính trị, lịch sử,… khác nhau, do đó có nền dân chủ khác nhau. C.Mác viết “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quy định”. Chính những yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử, … quy định dân chủ chứ không phải cơ chế đa nguyên, đa đảng hay một đảng. Quan điểm cho rằng, đa đảng thì có dân chủ, một đảng thì mất dân chủ thực chất là là một trò bịp nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam.

Nói dân chủ là nói đến quyền làm chủ xã hội thuộc về ai. Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ”; “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ của dân”. Như vậy, theo Hồ Chí Minh chế độ dân chủ thực chất là chế độ ủy quyền của nhân dân vào Nhà nước và Nhà nước là cơ quan quyền lực của dân, thực thi sự ủy quyền của dân.

Còn nói đến đa nguyên chính trị là nói đến hệ thống chính trị có nhiều cực, có nhiều đảng phái đại biểu cho những lợi ích đối lập nhau được tự do hoạt động, đó là một chế độ đa đảng. Chế độ đa đảng không đồng nghĩa với việc sẽ có dân chủ, phát triển, chế độ một đảng không phải là nguyên nhân của mất dân chủ. Thực tiễn cho thấy, có những nước đa đảng nhưng vẫn thuộc nhóm nước nghèo nhất thế giới. Tuy nhiên, có những những nước chỉ một đảng lãnh đạo nhưng là một nước rất phát triển với đời sống nhân dân sung túc. Điều đó có nghĩa là đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho phát triển.

Cái gốc để bảo đảm dân chủ hay không dân chủ là tư liệu sản xuất nằm trong tay ai. Dưới chủ nghĩa xã hội, tư liệu sản xuất nằm trong tay nhân dân lao động và họ là người làm chủ xã hội. Dưới chủ nghĩa tư bản, tư liệu sản xuất nằm trong tay một thiểu số nhà tư bản, nền dân chủ đó là quyền làm chủ của một nhóm tư bản độc quyền. Còn quần chúng nhân dân chỉ là những người bị thống trị. Chính V.I.Lênin đã khẳng định: “Trong chế độ dân chủ tư sản, bọn tư bản dùng trăm phương nghìn kế, - chế độ dân chủ “thuần túy” càng phát triển, thì những mưu kế đó càng tinh xảo và có hiệu quả, để gạt quần chúng ra, không cho họ tham gia quản lý nhà nước”.

Chế độ đa đảng trong hệ thống chính trị tư sản ở phương Tây chỉ là sự phân chia quyền lực giữa các phe cánh. Thực chất, chế độ đa đảng đó dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị, đều là đảng của giai cấp tư sản. Còn một số nước tư bản phương Tây khác, mặc dù Đảng cộng sản có thể được cho tồn tại nhưng nếu giai cấp tư sản cảm nhận thấy sự tồn tại đó có khả năng uy hiếp, đe dọa đến sự lãnh đạo, thống trị xã hội của họ thì ngay lập tức, Đảng cộng sản đó sẽ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Cho nên, thứ dân chủ mà họ thường khoe khoang đó chỉ là thứ dân chủ giả hiệu.

Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại và nguyện vọng của  nhân dân, đó là sự lựa chọn bảo đảm cho dân chủ được thực hiện thực sự trong đời sống xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là, mọi sự tìm kiếm nào khác nhằm “đa nguyên chính trị, đa đảng” ở Việt Nam sẽ là mơ hồ mất, phương hướng chính trị - giai cấp và ảo tưởng, phản động./.

Vũ Bão 7

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM ĐÒI “ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG” Ở VIỆT NAM

 


Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam được xây dựng nhằm thực hiện quyền làm chủ của con người một cách đầy đủ, toàn diện và triệt để.

Tuy nhiên, lâu nay những luận điệu giả dối, phản khoa học  cho rằng “đa nguyên, đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển” vẫn tiếp tục chống phá cách mạng, thực chất là  họ đang tiếp tục thực hiện những âm mưu, ý đồ đen tối mà thôi. Dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi nhà nước xuất hiện và mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Nó tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong những giai đoạn lịch sử tương ứng. Mỗi nước có những đặc thù và trình độ phát triển về kinh tế, chính trị, lịch sử,… khác nhau, do đó có nền dân chủ khác nhau. C.Mác viết “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quy định”. Chính những yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử, … quy định dân chủ chứ không phải cơ chế đa nguyên, đa đảng hay một đảng. Quan điểm cho rằng, đa đảng thì có dân chủ, một đảng thì mất dân chủ thực chất là là một trò bịp nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam.

Nói dân chủ là nói đến quyền làm chủ xã hội thuộc về ai. Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ”; “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ của dân”. Như vậy, theo Hồ Chí Minh chế độ dân chủ thực chất là chế độ ủy quyền của nhân dân vào Nhà nước và Nhà nước là cơ quan quyền lực của dân, thực thi sự ủy quyền của dân.

Còn nói đến đa nguyên chính trị là nói đến hệ thống chính trị có nhiều cực, có nhiều đảng phái đại biểu cho những lợi ích đối lập nhau được tự do hoạt động, đó là một chế độ đa đảng. Chế độ đa đảng không đồng nghĩa với việc sẽ có dân chủ, phát triển, chế độ một đảng không phải là nguyên nhân của mất dân chủ. Thực tiễn cho thấy, có những nước đa đảng nhưng vẫn thuộc nhóm nước nghèo nhất thế giới. Tuy nhiên, có những những nước chỉ một đảng lãnh đạo nhưng là một nước rất phát triển với đời sống nhân dân sung túc. Điều đó có nghĩa là đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho phát triển.

Cái gốc để bảo đảm dân chủ hay không dân chủ là tư liệu sản xuất nằm trong tay ai. Dưới chủ nghĩa xã hội, tư liệu sản xuất nằm trong tay nhân dân lao động và họ là người làm chủ xã hội. Dưới chủ nghĩa tư bản, tư liệu sản xuất nằm trong tay một thiểu số nhà tư bản, nền dân chủ đó là quyền làm chủ của một nhóm tư bản độc quyền. Còn quần chúng nhân dân chỉ là những người bị thống trị. Chính V.I.Lênin đã khẳng định: “Trong chế độ dân chủ tư sản, bọn tư bản dùng trăm phương nghìn kế, - chế độ dân chủ “thuần túy” càng phát triển, thì những mưu kế đó càng tinh xảo và có hiệu quả, để gạt quần chúng ra, không cho họ tham gia quản lý nhà nước”.

Chế độ đa đảng trong hệ thống chính trị tư sản ở phương Tây chỉ là sự phân chia quyền lực giữa các phe cánh. Thực chất, chế độ đa đảng đó dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị, đều là đảng của giai cấp tư sản. Còn một số nước tư bản phương Tây khác, mặc dù Đảng cộng sản có thể được cho tồn tại nhưng nếu giai cấp tư sản cảm nhận thấy sự tồn tại đó có khả năng uy hiếp, đe dọa đến sự lãnh đạo, thống trị xã hội của họ thì ngay lập tức, Đảng cộng sản đó sẽ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Cho nên, thứ dân chủ mà họ thường khoe khoang đó chỉ là thứ dân chủ giả hiệu.

Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại và nguyện vọng của  nhân dân, đó là sự lựa chọn bảo đảm cho dân chủ được thực hiện thực sự trong đời sống xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là, mọi sự tìm kiếm nào khác nhằm “đa nguyên chính trị, đa đảng” ở Việt Nam sẽ là mơ hồ mất, phương hướng chính trị - giai cấp và ảo tưởng, phản động./.

Vũ Bão 7