Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2022

Cảnh giác với luận điệu bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

 

Vào thời điểm Đảng bộ Quân đội và toàn quân đang mở một đợt sinh hoạt chính trị, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt, sớm đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, vào thực tiễn cách mạng và hoạt động quân sự, thì những kẻ hiềm khích cùng thế lực thù địch, ráo riết triển khai một đợt cao điểm chống phá, hòng hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội.

Chúng cố tình bôi nhọ, hạ bệ hình tượng Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội và chia rẽ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân-dân.

Bóc trần âm mưu, thủ đoạn chống phá thâm độc

Xét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là nhằm tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, chuyển hướng chính trị Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản.

Cùng với đó, những thủ đoạn cũng chĩa mũi nhọn vào bôi đen những giá trị chuẩn mực đạo đức Bộ đội Cụ Hồ, tạo sự lệch chuẩn trong nhận thức và hành động của một số cán bộ, chiến sĩ ở các cơ quan, đơn vị. Từ đó, hòng làm cho bộ đội ta mất phương hướng chính trị, không phân biệt rõ bạn-thù, đối tượng-đối tác; xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; tha hóa về đạo đức, lối sống; rệu rã về mặt tổ chức, không còn là công cụ sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân.

Để thực hiện mưu đồ đó, chúng tìm trăm phương nghìn kế để chống phá, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội trong thời gian dài, nhưng “xới lên” rầm rộ ở từng thời điểm, mà dịp Quân đội ta triển khai Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương như vừa qua là một ví dụ.

Theo đó, các thế lực thù địch tập trung sự xuyên tạc vào những vấn đề cơ bản về chính trị, bản chất giai cấp, hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đến những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, công tác cán bộ, vũ khí, trang bị, mối quan hệ đoàn kết quân dân, mối quan hệ cán bộ-chiến sĩ, tình trạng vi phạm kỷ luật của bộ đội...

Các thế lực thù địch liên tục sử dụng nhiều chiêu bài khác nhau, tung hỏa mù hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ lung lạc, mất phương hướng, không phân biệt được đúng-sai, khó nhận diện và đề phòng trước âm mưu, thủ đoạn chống phá.

Chúng còn đánh đồng bản chất với hiện tượng, nhằm xóa nhòa ranh giới giữa quân đội cách mạng với phản cách mạng; giữa xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị với sự thờ ơ, vô cảm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, đứng ngoài các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; xóa nhòa cái đẹp, cái tốt của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ với những “mực thước” mà chúng tự bịa đặt về công lý, nhân quyền, hay sự lừa bịp “quân đội chỉ cần hiếu với dân, chứ không cần trung thành với Đảng”...

Thế nhưng, dù mưu mô, thủ đoạn có nham hiểm, tinh vi thế nào, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam vẫn vững vàng trước thử thách, luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Thực tế cho thấy, dù không thể đạt mục đích và dã tâm đề ra, song mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch vẫn chưa bao giờ và không bao giờ thay đổi. Chúng tìm đủ mọi thủ đoạn, cách thức mới, thâm độc và xảo quyệt hơn, triệt để lợi dụng mọi cơ hội, điều kiện, kẽ hở... nhằm đạt cho bằng được mưu đồ bẩn thỉu; trong đó, bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội được cho là công cụ chủ đạo.

Không khó để nhận ra nhiều bài viết trên các trang mạng xã hội thời gian gần đây đưa ra những luận điệu bịa đặt, cố tình suy diễn rằng “mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội đã thay đổi” nên bị “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển, đảo của nước ngoài”.

Qua đó, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, cổ xúy, kêu gọi “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Lợi dụng việc xử lý vi phạm kỷ luật một số cán bộ cấp cao trong quân đội vừa qua, chúng chủ ý xuyên tạc công tác quản lý, giáo dục, tạo kẽ hở cho cán bộ vi phạm; dựa trên một số thông tin, tư liệu trong các sự kiện, nhân chứng chưa được làm sáng tỏ để tán phát nhiều tin, bài, video clip, phóng sự, bình luận, suy diễn, áp đặt ý kiến chủ quan gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa cán bộ, sĩ quan quân đội với cựu chiến binh, giữa cựu chiến binh với nhân chứng lịch sử; phát động phong trào đòi xét lại lịch sử dân tộc, quân đội...

Nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng những bức xúc cá nhân liên quan đến đời sống riêng tư, gia đình... hòng “đánh tráo khái niệm”, “đổi trắng thay đen” cho đó thuộc phạm trù bản chất, truyền thống quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ với chiến sĩ; từ đó, sử dụng chiêu trò “dương đông kích tây”, đưa thông tin hiện trường vụ việc, gây bán tín bán nghi, làm dư luận bị cuốn theo; đẩy “nóng vấn đề”, kích động cộng đồng mạng “tạo áp lực, yêu sách” với quân đội, nhen nhóm dư luận tiêu cực trong nhân dân nhằm tẩy chay, không cho con em nhập ngũ...

Thông qua những sự việc này, chúng còn nói xấu, hạ thấp uy tín đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, làm phai nhạt hình tượng quân đội cách mạng được nhân dân tôn vinh, trân quý từ ngày thành lập đến nay, hòng dễ bề phân rã về tư tưởng, chia rẽ sự đoàn kết quân dân, làm phai nhạt phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong lòng nhân dân.

Có thể nói, bất kỳ một sự việc, hiện tượng nào trong quân đội có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá theo kiểu “thổi tàn thành lửa” là chúng có thể tận dụng kỳ được, kích hoạt a dua, kéo bè kéo cánh, dùng mọi thủ đoạn để công kích, nói xấu, bội nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Quân đội ta.

Đặc biệt, trong các đợt phòng, chống dịch Covid-19 hai năm vừa qua thì sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị càng thể hiện rõ dã tâm và không từ bỏ bất kỳ mưu mô, thủ đoạn nào. Từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát tới nay, hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ QĐND được huy động phối hợp với các lực lượng chức năng tham gia giải quyết những vấn đề nóng về dịch bệnh tại nhiều địa phương trong cả nước.

Với tinh thần: Giúp dân là mệnh lệnh trái tim của Bộ đội Cụ Hồ; ở đâu dân cần, ở đâu khó khăn thì ở đó có Bộ đội Cụ Hồ và quyết tâm thực hiện “ba nhất”: Nhận thức, trách nhiệm cao nhất; giúp đỡ nhân dân được nhiều nhất; chấp hành pháp luật, bảo đảm an toàn tốt nhất. Tất cả những việc làm đó góp phần làm giảm gánh nặng phòng, chống dịch cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương. Thế nhưng, trên mạng xã hội, một số tổ chức, cá nhân thù địch lại cố tình rêu rao, xuyên tạc, bôi đen nghĩa cử cao đẹp ấy của cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Để tăng phần hấp dẫn những người nhẹ dạ cả tin, chúng cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip... lồng vào tin, bài bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong giúp dân phòng, chống dịch.

Một số kẻ đăng trên mạng xã hội nhiều bài viết có nội dung suy diễn, xuyên tạc chủ trương đưa quân đội, công an tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là “trái Hiến pháp, pháp luật”, là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch.

Khi nói về việc bộ đội đi chợ, đảm trách cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân thì họ suy diễn mang tính chủ quan, phiến diện, một chiều: “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”, vì theo họ: “Bộ đội vốn được huấn luyện, đào tạo để nhằm phục vụ cho sức mạnh trấn áp đối phương chứ nào phải để làm chuyện chi li nhỏ mọn là chợ búa...”...

Tất cả những giọng điệu, chiêu trò ấy của lực lượng thù địch, chống phá không nhằm mục đích nào khác là bóp méo, xuyên tạc chủ trương, giải pháp phòng, chống dịch của Đảng và Chính phủ ta; bôi nhọ phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp uy tín, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Quân đội ta.

Lịch sử gần 78 năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam cho thấy, quân đội luôn đồng hành với dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đánh bại đế quốc, thực dân, đưa non sông thu về một mối và hiện nay đang giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, giúp nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Trải qua các giai đoạn cách mạng, trong bất luận mọi tình huống, trước mọi nhiệm vụ hay khó khăn, thử thách tột cùng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn tỏa sáng trên mọi lĩnh vực, vai trò của quân đội luôn được khẳng định, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, cùng bạn bè bốn bể, năm châu./.

Khắc phục sự chồng chéo, bất cập, xây dựng tính dài hạn trong hệ thống chính sách dân tộc

 


Ủy ban dân tộc làm đầu mối rà soát lại hệ thống chính sách dân tộc đang được thực hiện trên địa bàn vùng DTTS nhằm đánh giá quá trình tổ chức thực hiện và kết quả thực hiẹn chính sách để duy trì các chính sách còn hiệu lực, có hiệu quả và phát hiện ra những chính sách chồng chéo, bất cập theo lĩnh vực do các bộ, ngành quản lý, từ đó có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung chính sách mớid cho phù hợp. Trong đó cần ưu tiên theo các lĩnh vực: đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phát triển nguồn nhan lực, đào tạo nghề gắn với việc làm, sử dụng cán bộ người DTTS và giảm nghèo bền vững ở các vùng DTTS.

Ngoài hệ thống chính sách chung cho cả nước, khu vực DTTS có số dân ít, các vùng dân tộc trọng điểm hay bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá chế độ cần phải được ưu tiên thực hiện một số cơ chế chính sách đặc thù và luôn được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với mỗi một giai đoạn phát triển.

-Chính phủ và các bộ, ngành liên quan cần trú trọng xây dựng chính sách theo hướng dài hạn, hiệu quả, bền vững và công bằng.

+ Khi xây dựng các chính sách phải bảo đảm đầy đủ trên tất cả các lĩnh vực

Khi xây dựng các chính sách phải bảo đảm đầy đủ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, đào tạo nguồn nhân lực và an sinh xã hội ở các vùng dan tộc theo chủ trương của Đảng.

+ Các chính sách kinh tế bảo đảm điều kiện đầu tư, khuyến khích, hỗ trợ các lĩnh vực xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng bền vững; phát triển sản xuất, phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch; khoa học công nghệ…

+ Các chính sách xã hội bao hàm đầy đủ các lĩnh vực

Các chính sách xã hội bao hàm đầy đủ các lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe; giáo dục- đào tạo; tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý; an sinh xã hội; bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; phát triển nguồn nhân lực gồm các lĩnh vực nângcao thể lực và phát triển trí lực, giáo dục- đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, chính sách cán bộ người DTTS và bình đẳng giới…

+Chính sách kinh tế phải gắn liền với giải quyết các vấn đề công bằng, bình đẳng xã hội

-Các chính sách phải được xây dựng trên cơ sở nhận thức đầy đủ những đặc điểm về dân cư, tộc người, văn hóa, điều kiện địa l;ý, tự nhiên môi trường ở các vùng dân tộc. Vì vậy, việc tạo ra những can thiệp chính sách ở tầm vĩ mô hay vi mô phải phù hợp với đối tượng tác động của chính sách.

Nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam- qua 30 năm đổi mới

 


  Bám sát tình hình thực tiễn thế giới và trong nước, từng bước tổng kết thực tiễn khái quát lý luận, khắc phục những quan điểm ấu trĩ, giáo điều, cực đoan, duy ý chí và bảo thủ, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Nhân dân ta đã nâng cao nhận thức lý luận về CNXH, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong đó tiêu biểu là 8 đặc trưng cơ bản, 8 phương phướng, 8 mối quan hệ phải giải quyết trong công cuộc xây dựng CNXH. Có thể coi đó là đường lối chung để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

 8 đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; cón nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước trên thế giới”.

Phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay

 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam”.

Lịch sử cho thấy, các thế lực thù địch, phản động từ trước đến nay chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt khác, có những hạn chế, khuyết điểm bên trong nếu không sớm được khắc phục có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nguy hiểm hơn là khi bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá...

Âm mưu chia rẽ và thách thức bên trong

Ngay khi Chính phủ quyết định tăng cường các lực lượng tham gia phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và một số địa phương phía Nam, trên mạng xã hội lập tức xuất hiện những bài viết xuyên tạc, trắng trợn vu cáo Đảng, Nhà nước sử dụng quân đội để trấn áp nhân dân miền Nam. Thâm độc hơn, một số tổ chức phản động đã cắt ghép nhiều hình ảnh hoạt động của bộ đội và lu loa rằng “Hà Nội huy động lực lượng quân đội vào Sài Gòn để dẹp loạn nếu dân đói khổ làm loạn...”.

Thực tế cho thấy, hiện nay các thế lực thù địch, phản động ngày càng quyết liệt hơn với các âm mưu thâm độc và tinh vi hơn trong phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bởi chúng nhận thấy rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, muốn phá hoại cách mạng Việt Nam thì phải làm tan rã sức mạnh to lớn đó. Theo đó, âm mưu, thủ đoạn gây chia rẽ hiện nay của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, bôi đen thành tựu thực hiện đường lối, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta. Chúng “té nước theo mưa”, thổi phồng hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý của các cấp chính quyền để gây hoài nghi, phân tán nhân tâm, mất lòng tin của nhân dân vào sự nghiệp cách mạng đất nước.

Chúng triệt để lợi dụng những vấn đề xã hội bức xúc, những khó khăn trong đời sống nhân dân để kích động chống đối, hình thành những điểm nóng gây chia rẽ từ bên trong. Chúng lợi dụng hội nhập quốc tế để xâm lăng và làm “biến dạng” các giá trị văn hóa truyền thống; tạo dựng “ngọn cờ”, lợi dụng các vấn đề dân chủ, dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, các vấn đề lịch sử... để kích động, chia rẽ đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân; giữa các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; thúc đẩy hình thành các “khu tự trị”, “nhà nước tự trị”...

Đáng chú ý, chúng tập trung vào phá hoại mối đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước; nhân dân với các cấp chính quyền và lực lượng vũ trang; mối quan hệ giữa quân đội và công an... Cùng với chống phá trên các địa bàn chiến lược như Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ hiện nay, chúng đẩy mạnh chống phá gây chia rẽ, mất đoàn kết ở các khu công nghiệp, trung tâm kinh tế, chính trị các địa phương. Internet, mạng xã hội đã và đang được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng với những thủ đoạn mới rất tinh vi, xảo quyệt để chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhìn lại 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đất nước đã đạt được là nền tảng vững chắc củng cố niềm tin, đồng thuận xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, những thách thức đặt ra hiện nay cũng rất lớn, Đảng ta chỉ rõ: “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan tâm phát huy đầy đủ”.

Bên cạnh đó, là những vấn đề nảy sinh tất yếu trong quá trình phát triển cần phải tiếp tục nhận thức và giải quyết, như: Phân hóa giàu-nghèo; chênh lệch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế giữa các vùng miền; sự xuống cấp về một số mặt của văn hóa, đạo đức, lối sống, gây bức xúc xã hội; thụ hưởng của người dân từ thành tựu phát triển của đất nước chưa hài hòa và những vấn đề lịch sử để lại... Đại hội XIII đánh giá, trong Đảng và hệ thống chính trị, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”; bệnh lãng phí, vô cảm, quan liêu, mất dân chủ... gây bức xúc xã hội và làm suy giảm vai trò hạt nhân đoàn kết của Đảng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Âm mưu chia rẽ từ bên ngoài và những thách thức bên trong có quan hệ chặt chẽ, làm suy giảm sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc của cách mạng nước ta.

Sức mạnh nội sinh và bài học thịnh suy, thành bại từ lịch sử

Đối với dân tộc Việt Nam, đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu và giá trị văn hóa cốt lõi; là sức mạnh vô địch trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, chiến thắng thiên tai, địch họa, định bờ cõi, xưng nền văn hiến, nêu cao độc lập, tự chủ. Đây là sức mạnh nội sinh có tính chủ đạo xuyên suốt, bền vững của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”. Đó là chân lý về sức mạnh vô địch của đoàn kết và phát triển truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Theo Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, đoàn kết là cội nguồn sức mạnh để chiến thắng kẻ thù xâm lược và gốc của đoàn kết là chăm lo, gìn giữ sức dân: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà góp sức, giặc tự bị bắt... Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".

Sức mạnh của nhân dân khi kết thành một khối là sức mạnh vô địch. Đó là chân lý được Nguyễn Trãi khẳng định: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, sức dân như nước”. Tư tưởng này là nền tảng quan trọng hội tụ đại đoàn kết toàn dân của Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đập tan ách đô hộ tàn bạo 20 năm của giặc Minh. Trong "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi viết: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”.

Trước đó, đối mặt với giặc Minh xâm lược, nhà Hồ xây thành cao, hào sâu nhưng không xây được khối đoàn kết, thống nhất lực lượng toàn dân nên thất bại là tất yếu. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng từng nói: “Thần không sợ đánh giặc, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”.

Thời kỳ Pháp thuộc, triều đình nhà Nguyễn chia rẽ, không quy tụ được sức mạnh đoàn kết dân tộc; nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổ ra song thường mang tính đơn lẻ, thiếu ngọn cờ tập hợp lực lượng toàn dân nên đều thất bại. Đất nước ta lại chìm trong đêm trường nô lệ trăm năm thuộc Pháp.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán đường lối chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp và phát huy sức mạnh đoàn kết vô địch của toàn dân. Những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài học lớn chính là mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lợi ích của dân tộc, nhân dân và Tổ quốc Việt Nam. Sự đoàn kết trong Đảng là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thế giới đương đại phản ánh sâu sắc sự cạnh tranh gay gắt, kiềm chế lẫn nhau giữa các cường quốc. Xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, bất ổn chính trị ở nhiều nơi và hiện tại, tình hình chiến sự tại Ukraine đang diễn biến phức tạp... phản ánh rõ nét sự can dự, cạnh tranh của các nước lớn và sự chia rẽ, mâu thuẫn, phân hóa từ bên trong. Do vậy, phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng chính là bảo vệ hòa bình và phát triển bền vững đất nước ta trong “những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo” của thế giới hiện nay.

Tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “... phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chỉ có thể được hiện thực hóa bằng sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, Đảng ta xác định: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Đây là cơ sở để nhận thức và giải quyết tốt vấn đề có tính nguyên tắc của phát triển và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng, để phòng chống chia rẽ, bảo vệ và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục thấu triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, tuyên truyền, tăng cường đồng thuận của các tầng lớp nhân dân với đường lối lãnh đạo của Đảng. Thường xuyên nắm chắc, dự báo đúng, xử lý chính xác các vấn đề về tư tưởng, mâu thuẫn, bức xúc xã hội hiện nay. Tích cực, chủ động thông tin, tuyên truyền đối ngoại, làm sáng tỏ chủ trương, chính sách, thành tựu đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta. Coi trọng tuyên truyền, giáo dục, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc làm nền tảng tinh thần vững chắc của khối đại đoàn kết trong giai đoạn mới.

Hai là, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; đặc biệt coi trọng chăm lo, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị. Thường xuyên củng cố, thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Quán triệt, thực hiện đúng phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.

Bốn là, nâng cao ý thức cảnh giác, thường xuyên nhận diện, đấu tranh hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, phản động. Có các giải pháp, biện pháp mạnh, nâng cao hiệu quả đấu tranh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trên không gian mạng-mặt trận nóng bỏng hiện nay. Chủ động, nhạy bén, sắc sảo phát hiện, vạch trần bản chất phản động, mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động; giành giữ, bồi đắp tình cảm cách mạng, niềm tin của toàn thể nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng đất nước.

Năm là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, không ngừng hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật về xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bám sát thực tiễn phát triển của đất nước, kịp thời giải đáp một cách thuyết phục những vấn đề mới về lý luận, thực tiễn đã và đang đặt ra; cung cấp luận cứ, luận chứng khoa học bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.

Đảng ta là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ và phát huy sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết, phải phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

Việt Nam là một dân tộc đoàn kết

 


Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, kể cả những lúc phát triển cao, nước ta vẫn luôn là một nước đất không rộng, người không đông, tiềm lực kinh tế, quốc phòng có hạn. Trong khi đó, bên cạnh chúng ta là một nước có nền văn minh phát triển sớm, một nước mạnh với tư tưởng đại bá. Việt Nam luôn là trọng điểm của tư tưởng bành trướng của các vương triều phong kiến phương Bắc. Có thể nói rằng, trong  lịch sử thế giới hiếm có dân tộc nào như Việt Nam, trong mấy ngàn năm lịch sử đã có hơn ngàn năm phải đương đầu với giặc ngoại xâm. Trong cuộc vận lộn không cân sức ấy, dựng nước và giữ nước trở thành quy luật xuyên suốt của dân tộc . Điều đó, khiến cho nhân dân Việt Nam sớm có lòng yêu nước nồng nàn và ý thức đoàn kết, cố kết cộng đồng. Trở thành truyền thống bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của mỗi con người Việt Nam. Tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh vô địch của cả một dân tộc để chiến thắng thiên tai, địch hoạ, bảo đảm cho sự trường tồn của dân tộc.

Điều đó xuất phát từ những tình cảm tự nhiên: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương; Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Tình cảm đó đã trở thành một triết lý nhân sinh: “Một cây làm chẳng nên non; ba cây chụm lại thành hòn núi cao”; và trở thành phép ứng xử và tư duy chính trị: Tình làng, nghĩa nước; nước mất nhà tan; giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.

Những tình cảm đó đã trở thành tư tưởng của các bậc minh quân, các bậc hiền tài của dân tộc: “trên dưới một lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”.

Trong tác phẩm Nên học sử ta, viết vào đầu năm 1942, Bác đã viết: “Sử ta dạy cho ta bài học này: lúc nào nhân dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào nhân dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi...”. Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh chân lý đó.

Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của nhà nước Xô Viết

 


Sau cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai 1917, ở Nga tồn tại tình trạng hai chính quyền song song, một bên là Chính phủ lâm thời tư sản và một bên là Xô-viết các đại biểu công nhân và binh sĩ, đứng đầu là Xô-viết Pê-tơ-rô-grát. Trước tình hình đó, V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích đã xác định cách mạng Nga  chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Ngày 7-11-1917, các lực lượng khởi nghĩa đã làm chủ tình hình ở Thủ đô Pê-tơ-rô-grát, trừ Cung điện Mùa Ðông và một vài nơi. Tới 2 giờ 10 phút sáng hôm sau, Cung điện Mùa Ðông được giải phóng. Cuộc khởi nghĩa vũ trang tại Pê-tơ-rô-grát kết thúc thắng lợi. Ngày 7-11-1917 đã được ghi vào lịch sử là ngày thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại

- Cách mạng Tháng 10 Nga đã đưa CNXH từ lý luận trở thành hiện thực

+ Cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917 đã đập tan hoàn toàn chế độ phong kiến Nga sa hoàng đã lỗi thời lạc hậu, đánh đổ GCTS từng cấu kết với thù trong, giặc ngoài hòng bóp chết những thành quả của cách mạng XHCN

+ Thiết lập nên chính quyền Xô viết (một hình thức nhà nước XHCN) đưa nhân dân lao động trở thành chủ nhân của xã hội, tạo tiền đề cho ra đời một chế độ xã hội mới - xã hội XHCN.

+ Dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích, chế độ XHCN ở nước Nga ngày càng phát triển, thể hiện chế độ ưu việt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và trở thành điểm tựa vững chắc cho cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và CNXH trên phạm vi toàn thế giới sau này.

Đánh giá về CM Tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: "Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế".

NGUYỄN ĐỖ TÙNG DƯƠNG, KẺ UNG THƯ TÂM HỒN HAY CUỘI DÂN CHỦ???

 

Trước hay xem phim thấy anh ta vào vai suốt , nhưng chưa bao giờ có cảm tình với những vai anh ta thể hiện, nên kể cả anh ta cũng thế luôn. Vậy mà đến giờ cái cảm nhận của mình chẳng sai về anh ta.

Mình từng xem đâu đó nói rằng anh ta thần kinh không được bình thường và giờ thấy đúng... Anh ta từng bị nhiễm độc thần kinh như báo chí đưa tin, và tự bao giờ anh ta đã nhiễm độc cả tâm hồn... đọc cái tút anh ta mới đăng mượn sự đau lòng về sự "giải thoát" của cậu bé lớp 10 vừa hôm qua để xúc phạm Lê Nin :"Đã đến lúc ngành giáo dục nên loại bỏ câu :"Học học nữa, học mãi của lão Nin hói ra khỏi SGK học đường được rồi đấy đau lòng" 

Với cái tút này thì anh ta không phải tâm thần bệnh như người bệnh bình thường mà đó là giọng điệu của những kẻ tâm thần chính trị, ung thư tâm hồn và dĩ nhiên anh ta và những kẻ vô cmt hùa với anh ta cũng chưa và mãi mãi không bao giờ hiểu ý nghĩa câu nói nổi tiếng đó của Lê Nin là như thế nào?

"HỌC, HỌC NỮA HỌC MÃI" chưa hẳn như suy nghĩ thiển cận khô cứng trong sách vở học đường của anh ta và những người hùa theo anh ta.

Sự học là mãi mãi, ngoài kiến thức sách vở thì học còn để làm người, học để nâng cao trí thức, học ở mọi lúc mọi nơi, học ở trường học, học ở trường đời, học hỏi lẫn nhau, học để giúp mình giúp người...

Chính với cái suy nghĩ nhỏ nhen, hèn mạt nên anh ta dù là người của công chúng nhưng anh ta chẳng còn gì trong lòng công chúng mà đã tuột xích lao dốc như những tay cuội dân chủ thứ thiệt.

Nguyễn Đỗ Tùng Dương nên hiểu rằng xúc phạm Lê Nin cũng chính là xúc phạm nền tảng tư tưởng của Đảng và Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam, nên những kẻ đi ngược đường đều phải chịu cái kết đắng.

Thúc đẩy quá trình xây dựng năng lực nội sinh, phối hợp các cấp các ngành, tăng cường công tác kiểm tra để thực hiện tốt công tác dân tộc

 


Rà soát lại hệ  thống chính sách và cơ cấu, xây dựng lại một cách đồng bộ các chương trình, chính sách phát triển hạ tầng, kinh tế- xã hội, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện dịch vụ xã hội và bảo tồn các giá tỵi văn hóa ở vùng dan tộc. Cần có những chính sách đặc biệt và thựuc thi để tạo nên sự thay đổi toàn diện trong đời sống chính trị- kinh tế- văn hóa của người dân một cách cơ bản theo các mục tiêu phát triển bền vững

Tăng cường công tác phối hợp trong xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách dân tộc giữa ácc bộ, ngành có liên quan trong việc xây dựng, chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách. Việc xây dựng chính sách phải bảo đảm đúng quy trình, thủ tục, quy định của Luật ban hành van bản quy phạm pháp luật. các nội dung chính sách phải đảm bảo tính khoa học, thống nhất và cxó sự liên kết, tránh chồng chéo, xung đột, mâu thuẫn

Từ lâu các nước láng giềng đã có chính sách và chiến lược phát triển nhanh các dân tộc ở khu vực biên giới tiếp giáp với Việt Nam. Các chính sách và chiến lược phát triển của các nước láng giềng không thể không tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quan hệ dân tộc, đời sống KT-XH, văn hóa…của các tộc người ở các tỉnh biên giới Việt Nam. Do đó quan điểm, giải pháp để phát triển bền vững các tộc người và các tỉnh biên giới nước ta phải trú trọng đến những tác động nhiều chiều với nhiều cấp độ bởichính sách dân tộc và chiến lược phát triển vùng biên giới của các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Camphuchia.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan tư pháp để bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo theo chủ trương, đường lối của Đảng ở tàm vĩ mô. Tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với cơ quan tư pháp và sựgiám sát của đoàn thể, tổ chức chính trị-xã hội trong thực thi pháp luật ở vùng dân tộc và chính sách dân tộc

Tổng kết 20 năm đổi mới - cơ sở đề ra quyết sách đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển

 


Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn của 20 năm đổi mới (1986-2005), Đảng ta chỉ rõ: “Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

- Đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp”4.

 - Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản”5.

- Bổ sung và phát triển một số nội dung trong Cương lĩnh trên cả hai mặt: đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng và những phương hướng để đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

+ Đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh;

Do nhân dân làm chủ;

Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất;

Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện;

Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ;

Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;

Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”6.

- Phương hướng chủ yếu xây dựng CNXH

+ Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;

+ Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá;

+ Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội;

+ Xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc;

+ Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;

+ Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh;

+ Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia;

+ Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”7.

- Đại hội XI, tiếp tục bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm (2011)

+ Đảng đã rút ra những bài học kinh nghiệm lớn:

Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã

Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;

Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết:

Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế.

Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

 + Đặc trưng xã hội XHCN mà VN xây dựng

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:

Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;

do nhân dân làm chủ;

Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp;

Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;

Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;

Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;

Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

+ Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

+ Các phương hướng cơ bản sau đây:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

+ Nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: 

Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển;

Giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị;

Giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa;

Giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa;

Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội;

Giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa;

Giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế;

Giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ...