Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, kể cả những lúc phát triển cao, nước ta vẫn luôn là một nước đất không rộng, người không
đông, tiềm lực kinh tế, quốc phòng có hạn. Trong khi đó, bên cạnh chúng ta là
một nước có nền văn minh phát triển sớm, một nước mạnh với tư tưởng đại bá.
Việt Nam luôn là trọng điểm của tư tưởng bành trướng của các vương triều phong
kiến phương Bắc. Có thể nói rằng, trong
lịch sử thế giới hiếm có dân tộc nào như Việt Nam, trong mấy ngàn năm
lịch sử đã có hơn ngàn năm phải đương đầu với giặc ngoại xâm. Trong cuộc vận lộn
không cân sức ấy, dựng nước và giữ nước trở thành quy luật xuyên suốt của dân
tộc . Điều đó, khiến cho nhân dân Việt Nam sớm có lòng yêu nước nồng nàn và ý
thức đoàn kết, cố kết cộng đồng. Trở thành truyền thống bền vững, thấm sâu vào
tư tưởng, tình cảm của mỗi con người Việt Nam. Tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh
vô địch của cả một dân tộc để chiến thắng thiên tai, địch hoạ, bảo đảm cho sự
trường tồn của dân tộc.
Điều đó xuất phát từ những tình cảm tự nhiên: “Nhiễu điều phủ lấy giá
gương; Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Tình cảm đó đã trở thành
một triết lý nhân sinh: “Một cây làm chẳng nên non; ba cây chụm lại thành hòn
núi cao”; và trở thành phép ứng xử và tư duy chính trị: Tình làng, nghĩa nước;
nước mất nhà tan; giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.
Những tình cảm đó đã trở thành tư tưởng của các bậc minh quân, các bậc
hiền tài của dân tộc: “trên dưới một lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một
lòng phụ tử”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”.
Trong tác phẩm Nên học sử ta, viết vào đầu năm 1942, Bác đã viết: “Sử ta
dạy cho ta bài học này: lúc nào nhân dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất
nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào nhân dân ta không đoàn kết thì bị
nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc
chắn thêm lên mãi...”. Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam đã chứng minh chân lý đó.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét