Thứ Ba, 5 tháng 4, 2022

THỦ ĐOẠN BÔI NHỌ CHÍNH SÁCH BẢO HỘ CÔNG DÂN VIỆT NAM TẠI UKRAINE

 


Trong tình hình dịch COVID-19 phức tạp, Việt Nam thực hiện bảo hộ, đưa nhiều công dân về nước an toàn.Chính phủ Việt Nam luôn thực thi chính sách bảo hộ công dân tại nước ngoài với tinh thần “tương thân tương ái” hỗ trợ tối đa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là các điểm nóng xung đột, chiến tranh như Trung Đông, Bắc Phi và hiện nay là xung đột giữa Nga và Ukraine. Tuy nhiên, các thế lực thù địch và những thành phần tự xưng đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền luôn rêu rao các quan điểm sai lệch về chính sách bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài nhằm gây hoang mang dư luận, làm suy giảm niềm tin của công dân trong và ngoài nước đối với Đảng, Nhà nước Việt Nam. Luận điệu này thể hiện trên một số điểm sau:

        Phủ nhận vai trò của các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Nga và Ukraine trong hỗ trợ người dân sơ tán khỏi vùng chiến sự. Truyền thông hải ngoại như đài RFA, BBC tiếng Việt, VOA, facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân… đã vẽ ra bức tranh quy kết chính quyền Việt Nam “đứng ngoài lề, dửng dưng với những người dân đang kẹt lại tại khu vực xung đột Nga – Ukraine”. RFA ngày 11/3/2022 đăng tải bài viết về thực trạng người dân Việt Nam tại Ukraine và vu cáo “Không thấy vai trò của toà đại sứ Việt tại các quốc gia đó ở đâu! Lại cái cảnh “dân giúp dân” như tại Việt Nam thời COVID-19 hoành hành!”. Qua đó, nội dung bài viết phủ nhận những nỗ lực của các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở Nga và Ukraine trong việc đưa ra các phương án bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khoẻ những người dân và cho rằng, khi chiến sự nổ ra đã không quan tâm sơ tán người dân. Đây là luận điệu nguy hiểm, đánh vào tâm lý những người dân đang kẹt lại các điểm nóng và gây hoang mang cho người dân trong nước về tình hình cộng đồng người Việt tại Ukraine. Làm giảm niềm tin của người dân trong nước đối với hoạt động quản lý của cơ quan chức năng liên quan đến hỗ trợ người dân tại các quốc gia đang xung đột, chiến tranh. Sau khi vụ án liên quan đến hành vi nhận hối lộ của một số cá nhân tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao được cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, các thế lực thù địch, giới dân chủ tự xưng đã khoét sâu vào những sai phạm này để quy chụp, bôi nhọ. Nhiều bài viết các đối tượng vu cáo chính quyền Việt Nam bao che, dung túng sai phạm, đồng thời rêu rao, kích động người dân không tin tưởng vào những hoạt động hỗ trợ của chính quyền đối với kiều bào Việt Nam ở nước ngoài. Họ nhắc lại những chiến dịch sơ tán người dân tại Bắc Phi, Trung Đông giai đoạn 2011-2014, đưa các clip, hình ảnh, bài viết sai lệch về việc người Việt “phải tự mình xoay xở” với hoàn cảnh khó khăn, từ đó suy diễn, vu cáo cơ quan ngoại giao của Việt Nam không thực hiện chính sách bảo hộ công dân Việt ở nước ngoài. Bôi lem hình ảnh, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, mục đích để thế giới nhìn nhận Việt Nam là quốc gia thiếu trách nhiệm trong giải quyết các vấn đề nóng trên thế giới. Việt Nam đã tham gia ký kết các Công ước về ngoại giao theo luật pháp quốc tế nên các cơ quan ngoại giao Việt Nam có cơ sở để lên tiếng yêu cầu các quốc gia đang có xung đột, chiến tranh phải có trách nhiệm đối với cộng đồng người Việt Nam. Thực tế, các cơ quan đại diện ngoại giao luôn đi đầu trong nắm diễn biến tình hình và thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản, tính mạng cho công dân theo chính sách bảo hộ của pháp luật. Tuy nhiên, nhiều cá nhân, tổ chức quốc tế có những góc nhìn thiếu khách quan, trung thực trong đánh giá hoạt động của cơ quan ngoại giao của Việt Nam. Một số tổ chức thiếu thiện chí đưa ra thông tin, hình ảnh sai lệch nhằm bôi lem, hạ uy tín Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế, các hội thảo đa phương, thậm chí lên án Việt Nam tại các phiên điều trần của nghị viện Mỹ, EU… Một số cơ quan truyền thông phương Tây tô vẽ góc nhìn lệch lạc, trái với bản chất, tạo ra dư luận xấu về hình ảnh của Việt Nam, mục đích làm cho quốc tế nhìn nhận Việt Nam là quốc gia thiếu tin cậy, thiếu trách nhiệm, thậm chí hướng lái thành “đứng ngoài cuộc” trong tham gia giải quyết các điểm nóng, xung đột trên thế giới. Thực tế, những hoạt động tích cực của các cơ quan chức năng Việt Nam thể hiện xuyên suốt, từ chủ trương, chính sách đến hành động bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoài. Điều đó được biểu hiện ở các nội dung:

      Một là, Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định công dân Việt ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập sâu rộng với thế giới. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định chính sách nhất quán “nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân”. Nhằm cụ thể hóa tinh thần này của Đại hội XIII, Hội nghị Ngoại giao lần thứ 31 nhấn mạnh cần “triển khai toàn diện, mạnh mẽ, kịp thời, hiệu quả công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và bảo hộ công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt Nam ở nước ngoài”; “chăm lo, hỗ trợ đồng bào ta, nhất là ở những địa bàn khó khăn”. Đối với các điểm nóng, xung đột trên thế giới như tại Ukraine hiện nay, Chính phủ đã gửi Công điện 201 ngày 26/2/2022 về việc “Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam và một số vấn đề cần lưu ý trước tình hình tại Ukraine”, yêu cầu các bộ, ngành, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Ukraine và các nước lân cận Ba Lan, Nga, Rumania, Hungaria, Slovakia phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai các phương án bảo hộ công dân, đảm bảo an ninh, an toàn, các điều kiện cần thiết để sơ tán công dân Việt Nam khỏi vùng chiến sự, đến các nước lân cận và về nước nếu có nguyện vọng.

         Hai là, dưới góc độ luật pháp, Việt Nam cam kết thực hiện chính sách bảo hộ công dân tại nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bảo hộ” (Khoản 3, Điều 17). Luật Quốc tịch Việt Nam ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài. Các cơ quan nhà nước ở trong nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế để thực hiện sự bảo hộ đó” (Điều 6, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014). Việt Nam cũng đã chủ động sửa đổi Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài năm 2009 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nhằm phù hợp với Công ước quốc tế như Nghị định thư bổ sung Công ước Geneva về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột quốc tế; Công ước Viên về quan hệ ngoại giao năm 1961.

         Ba là, xuất phát từ thực tế thực hiện chính sách bảo hộ công dân Việt Nam ở các nước trên thế giới luôn được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm và xác định đó không chỉ là lợi ích của mỗi cá nhân mà còn thể hiện trách nhiệm của Chính phủ Việt Nam đối với công dân khi công tác, học tập làm ăn ở nước ngoài theo tinh thần “không ai bị bỏ lại đằng sau”. Ngày 6/3/2022, trong cuộc làm việc với Bộ Ngoại giao liên quan đến sơ tán công dân Việt từ Ukraine khỏi vùng chiến sự, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh: Công tác bảo hộ công dân cần được đặc biệt quan tâm; quá trình tổ chức cần thực hiện những chuyến bay miễn phí đưa trường hợp khó khăn về nước, đồng thời phải thực hiện nhất quán “ưu tiên phụ nữ, trẻ em, người già”. Đó là minh chứng cho những lời hứa thực hiện bảo hộ công dân Việt tại nước ngoài nhằm thực hiện cam kết của Chính phủ với người dân trước những diễn biến phức tạp tại Ukraine. Mặt khác, trong những năm qua, Việt Nam đã từng tổ chức nhiều phương án, biện pháp thiết thực như lập cầu hàng không sơ tán người lao động ở Libya năm 2011 và 2014; đưa hành khách ra khỏi châu Âu do núi lửa phun trào năm 2010; giải cứu hành khách bị kẹt tại Thái Lan do khủng hoảng chính trị năm 2008; vận chuyển công dân Việt Nam trở về từ Malaysia, Trung Đông các năm 2005-2007… Năm 2021, Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan tổ chức gần 600 chuyến bay đưa hơn 130.000 công dân từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ về Việt Nam. Thực tế đó thể hiện rõ chủ trương, chính sách và hành động thiết thực của Việt Nam trong công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài; là bằng chứng sinh động phủ nhận những luận điệu sai trái, vu cáo của các thế lực xấu.

 

Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh về “nói đi đôi với làm” của cán bộ, đảng viên trong quân đội hiện nay


Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính”, nếu không thì không thể nói ai được. Đây cũng là nội dung phong cách nêu gương của người cán bộ, đảng viên. Vì vậycấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn Học viện cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cho các đối tượng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó, có việc học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh về “nói đi đôi với làm” của cán bộ, đảng viên trong quân đội hiện nay.

Cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng ngời về phong cách “nói đi đôi với làm”. Hồ Chí Minh quan niệm: “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước…”tự mình phải chính trước mới giúp người khác chính, mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý. Người còn nói: “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được…”. Phong cách “nói đi đôi với làm của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ chính quan niệm, từ lòng dạ trong sáng, chính tâm, thật sự nêu gương của Người. Hình ảnh về vị Chủ tịch nước mặc quần áo giản dị, đi dép cao su, làm việc trong ngôi nhà sàn đơn sơ, hay mỗi tuần Người nhịn ăn một bữa để ủng hộ phong trào “Hũ gạo kháng chiến” là biểu hiện sinh động về “nói đi đôi với làm”Vì vậy, tấm gương mẫu mực về phong cách “nói đi đôi với làm” đã làm cho Hồ Chí Minh trở thành một hình ảnh mẫu mực về một con người cộng sản. Chính vì vậy đã làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành bất tử trong lòng dân tộc, mãi mãi là tấm gương sáng ngời để mọi thế hệ người Việt Nam học tập và làm theo.

Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh về “nói đi đôi với làm” của cán b, đng viên trong quân đội hiện nay bắt đầu từ việc mỗi cán bộ, đảng viên lấy “nói đi đôi với làm là phương châm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động; coi đây là một trong những tiêu chí quan trọng khi thực hành nêu gương; đồng thời, là biểu hiện cụ thể, sinh động về bản chất, truyền thống cách mạng giúp cho cán bộ, đảng viên luôn đứng vững và vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Hiện nay, công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế tiếp tục phát triển sâu rộng, đòi hỏi cán bộ, đảng viên trong quân đội phải có phẩm chất, năng lực toàn diện đáp ứng tốt với yêu cầu nhiệm vụ của thực tiễn đặt ra. Do đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có năng lựcdám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệmdám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chungthực sự tiên phong, gương mẫu trong thực hiện các nhiệm vụ. Vì vậy, cán bộ, đảng viên trong quân đội cần học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh về nói đi đôi với làm”, xem đây là biểu hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tư tưởng và hành động, nhận thức và việc làm; đồng thời, là nguyên tắc về đạo đức, lẽ sống, phương châm hoạt động trong thực hiện mọi chức trách, nhiệm vụ được giaoĐể học tập và làm theo có hiệu quả; cán bộ, đảng viên trong quân đội cần tập trung thực hiện một số nội dung, biện pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, phải nhận thức và nói đúng cương lĩnhquan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, không được xuyên tạc, nói sai

Cán bộ, đảng viên trong quân đội phải nắm vững, nhận thức đúng, nói đúng cương lĩnhđường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảngchính sách và pháp luật của Nhà nước trong toàn bộ tiến trình cách mạng và được cụ thể hóa qua từng thời kỳ, giai đoạn của cách mạngĐồng thời, cán bộ, đảng viên trong quân đội cần tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng nhận thức và nói đúng cương lĩnhquan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, không được xuyên tạc, nói sai. Qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàngcó niềm tin vào mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng, dù trải qua những tình huống khó khăn phức tạp đến đâuđều tuyệt đối trung thành với Đảng, sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới đất nước.

Thứ hai, cần thực hiện tốt việc “nói đi đôi với làm”

Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh về “nói đi đôi với làm”, tức là, lời nói đi đôi với việc làm, nói được làm được sẽ mang lại những hiệu quả lớn, được nhiều người hưởng ứng và làm theo. Cán bộ, đảng viên trong quân đội cần nghiêcứu, học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao nhận thức về mục tiêu lý tưởng, đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội cần thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, giám sát, quản lý chặt chẽ từng cán bộ, đảng viên về “nói đi đôi với làm” ở nơi công tác và nơi cư trú. Mặt khác, mỗi cá nhân cần xác định rõ trách nhiệm trong thực hiện tốt việc “nói đi đôi với làm” hiệu quả nhất; cần thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, khi nói phải gắn với công việc, nhiệm vụ cụ thể, không được nói chung chung, đại khái, nghe thì hay nhưng không biết thực hiện thế nào. Nói đi đôi với làm yêu cầu phải đi sâu, đi sát, kiểm tra, đôn đốc, gắn với kết quả thực hiện công việc được giao. Đẩy mạnh việc thực hiện “nói đi đôi với làm” đối với cán bộ, đảng viên chính là cái gốc tạo nên hiệu quả công việc, niềm tin, uy tín trước tập thểTừ đó, cán bộ, đảng viên trong quân đội sẽ tạo ra sự lan tỏa tích cực về “nói đi đôi với làm nói” cụ thể, thiết thực đi vào thực tiễn.

Để tránh việc hứa mà không làm, cán bộ, đảng viên trong quân đội đã nói thì phải làm, “Nói ít, bắt đầu bằng hành động”; “Tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”. Thực hiện tốt phương châm “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”. Cán bộ làm gương cho cấp dướiđảng viên làm gương cho quần chúng noi theo. Lời hứa chỉ có giá trị khi đi liền với việc làm cụ thể. “Làm” ở đây chính là hành động, là hoạt động thực tiễn, là tổ chức thực hiện; cần đưa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước vào cuộc sống, từ việc nhỏ đến việc lớn đều được thi hành và mang ý nghĩa thiết thực. Tự giác, gương mẫu chấp hành nghiêm kỷ luật Đảng, kỷ luật Quân đội, thực hiện nghiêm quy định những điều đảng viên không được làm.

Thứ ba, kiên quyết đấu tranh chống lại việc không đồng nhất giữa nói và làm

Cán bộ, đảng viên trong quân đội cần đấu tranh chống lại tình trạng “nói không đi đôi với làm”, “nói một đàng làm một nẻo”, “nói mà không làm”, “nghĩ một đằng, nói một đằng”, “nói với cấp trên khác, nói với cấp dưới khác”gây bức xúc trong dư luận, làm mất niềm tin trước tập thể. Cán bộ, đảng viên trong quân đội cần đấu tranh chống lại cách nói chung chung, đại khái và khó hiểunói không cụ thể, thiết thựcphải nói đi đôi với làm, không được nói nhiều làm ít hoặc nói mà không làm.

Những nội dung, biện pháp trên nằm trong một chỉnh thể thống nhất, nên trong quá trình thực hiện phải tiến hành đồng bộ mới mang lại hiệu quả thiết thực. Đồng thời để học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh về “nói đi đôi với làm” hiệu quả, thiết thực phải gắn với thực hiện Kết luận số 01 ngày 18/3/2021 của Bộ Chính trị (Khóa XIII) về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05, gắn với cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Kết luận số 21-KH/TW ngày 25/10/2021 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XIII) tại Hội nghị lần thứ Tư về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

 

Hành trình tìm đường cứu nước và những chuyển biến trong nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc


Ngày 5 tháng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, bắt đầu cuộc hành trình tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Sau gần mười năm vừa lao động kiếm sống, vừa học hỏi, vừa tìm hiểu thực tiễn ở nhiều nước, Người đã có những chuyển biến trong nhận thức về con đường giải phóng dân tộc mà lịch sử đã chứng tỏ là sáng suốt phi thường.

Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, phong trào kháng chiến chống Pháp bùng lên và lan rộng trong cả nước. Các cuộc nổi dậy đều được thúc đẩy bởi tinh thần yêu nước nhiệt thành và ý chí căm thù giặc Pháp sôi sục. Song, trước sau đều bị thất bại vì chưa có một đường lối kháng chiến rõ ràng. Nhiều phong trào cứu nước do các sĩ phu và văn thân theo ý thức hệ phong kiến. Các phong trào Duy Tân, Đông Du dựa trên lý luận dân chủ tư sản đều bị thực dân Pháp đàn áp và dập tắt. Các tầng lớp nhân dân trong xã hội bị phân hóa sâu sắc, điêu đứng trong cảnh nước mất, nhà tan, bị áp bức về chính trị, bị bóc lột về kinh tế, bị đầu độc về văn hóa, bị tha hóa về con người, bị đọa đày trong đói rách về bệnh tật. Giai cấp cần lao lâm vào số phận nô lệ bi thảm, quyền sống của con người bị chà đạp thảm hại. Xã hội Việt Nam từ nước phong kiến độc lập trở thành thuộc địa nửa phong kiến. Thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn khai thác tài nguyên và bóc lột dã man của cải và sức lao động của nhân dân ta để làm giàu cho chính quốc. Trước tình cảnh ấy, tiếp nối truyền thống chống ngoại xâm bất khuất của dân tộc, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành, khi đó mới 21 tuổi, đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước với quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Từ năm 1911 đến năm 1920, Nguyễn Tất Thành đã tận dụng mọi cơ hội để được đến nhiều nước thuộc các đại lục Âu, Á, Phi, Mỹ. Đặc biệt Người đã dừng chân khảo sát ở 3 nước đế quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh và Pháp. Người tranh thủ mọi điều kiện để học hỏi, nghiên cứu các học thuyết cách mạng, hòa mình vào thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản và thuộc địa. Trên cơ sở đó, Người đã rút ra kết luận có tính chất căn bản đầu tiên: “Ở đâu bọn đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị bóc lột, áp bức nặng nề”, và “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”. Những nhận biết căn bản đó càng thôi thúc Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc quyết tâm tìm ra phương hướng giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc. Hành trang duy nhất Người mang theo khi lên tàu thủy ra nước ngoài là chủ nghĩa yêu nước - sản phẩm tinh thần cao đẹp của lịch sử Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Tư tưởng yêu nước của Người vừa kế thừa tinh hoa của chủ nghĩa yêu nước truyền thống, vừa bao hàm một tinh thần đổi mới phù hợp với yêu cầu giải phóng dân tộc và xu thế của thời đại. 

 

Từ sự đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ, Người đã đến với chủ nghĩa quốc tế. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ nước Anh trở lại nước Pháp. Được Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường giúp đỡ, Người hăng hái hoạt động chính trị trong Việt kiều và những người lao động Pháp.

Từ những hoạt động thực tiễn trên và nhất là tháng 7 năm 1920 Người đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lê-nin đăng trên báo L’Humanité (Nhân đạo). Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc. Người đọc đi đọc lại nhiều lần và qua lăng kính chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người nhận thấy trong đó con đường giải phóng đất nước khỏi ách thực dân. Về sau, Người nhớ lại: “Trong Luận cương ấy, có những chữ chính trị khó hiểu. Nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”.

Như vậy, từ khi rời bến cảng Sài Gòn, lênh đênh trên các đại dương, cập bến bốn châu lục, vừa lao động kiếm sống, vừa trải nghiệm, đến giữa tháng 7-1920, tại Pa-ri (Pháp), tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc có sự chuyển biến lớn lao, từ sự đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ, đến với chủ nghĩa quốc tế. Người đã nhìn thấy khả năng thực hiện ba mục tiêu lớn: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

Từ thời điểm đó, Nguyễn Ái Quốc theo sát những sự kiện chính trị thế giới đang diễn ra dồn dập, tác động mạnh đến chính trường nước Pháp, đặc biệt là Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (QTCS) và Đại hội I các dân tộc phương Đông. Người tham dự cuộc mít tinh lớn của hàng vạn công nhân tại rạp xiếc ở Pa-ri. Tiếp sau đó, tháng 9-1920, Người theo sát tiến trình Đại hội I các dân tộc phương Đông, nhằm đưa đường lối, chính sách của Đại hội II QTCS vào cuộc sống, mà trước hết là tư tưởng “đoàn kết phương Tây vô sản và phương Đông bị áp bức”. Tư tưởng đó được thể hiện rõ trong khẩu hiệu chiến đấu đưa ra trong Đại hội: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”. 

Những sự kiện chính trị trên góp phần củng cố niềm tin vững chắc của Nguyễn Ái Quốc vào V.I. Lê-nin, vào Quốc tế cộng sản và nước Nga Xô-viết, củng cố lập trường và bản lĩnh chính trị của Người. Nguyễn Ái Quốc vững tin đến Đại hội XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tua và bỏ phiếu tán thành Đệ tam Quốc tế và thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Như vậy, có thể khẳng định, đến đây sự chuyển biến tư tưởng từ đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ đến chủ nghĩa quốc tế, chủ nghĩa cộng sản của Nguyễn Ái Quốc đã hoàn tất.

Luận cương của V.I.Lê-nin đã mở ra con đường đưa Nguyễn Ái Quốc đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin và chính Luận cương của Lê-nin đã tạo ra bước ngoặt căn bản về chất trong sự phát triển nhận thức, tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc: từ chủ nghĩa yêu nước đến Chủ nghĩa Mác - Lênin, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp, từ người yêu nước trở thành người cộng sản.

Việc tìm ra con đường cứu nước và những chuyển biến trong nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn, đó là:

Một là, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận Cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hóa chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc đổi mới đất nước gần 40 năm qua theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Ba là, với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và Châu Á nói riêng.

Với lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, ý chí quyết tâm giành độc lập dân tộc, nhận thức đầy đủ hiện thực xã hội, vận mệnh lịch sử đặt ra đối với dân tộc Việt Nam và những nhân tố mới của thời đại, Nguyễn Tất Thành đã quyết định xuống tàu, bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân. Người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để tìm thấy con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, hợp quy luật tất yếu của lịch sử giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ trọn đời hy sinh cho đất nước và hạnh phúc nhân dân. Một nhân cách lớn, một tấm gương về sự ham học hỏi, lòng nhân hậu, bác ái, là biểu tượng cao đẹp đầy tự hào của dân tộc Việt Nam trước bạn bè quốc tế năm châu.

 

Tập trung xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, tích cực đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

 

Tập trung xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, tích cực đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Đánh dấu chặng đường phát triển mới bằng kết quả toàn diện năm 2021, trong bối cảnh kinh tế, xã hội ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19, Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương đã minh chứng sức mạnh đoàn kết và năng lực đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh tập trung nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng bộ Khối đã lãnh đạo, chỉ đạo các đảng ủy doanh nghiệp đẩy mạnh các giải pháp “vừa phòng, chống dịch-vừa sản xuất, kinh doanh” và “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”, phục hồi kinh tế.

Nỗ lực được bù đắp khi phần lớn các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh chính của các tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng trong Khối, đều đạt và vượt so kế hoạch, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước. Việc đối diện khó khăn chưa từng có, chủ động vượt qua đã tạo nên những giá trị, động lực mạnh mẽ để các cấp ủy trong Đảng bộ Khối vươn tới những mục tiêu cao hơn, xa hơn.

Từ nhiều nhiệm kỳ qua, Đảng ta luôn xác định vị trí, vai trò quan trọng của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quyết định thành lập Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương, ngày 11/4/2007 của Bộ Chính trị đã đáp ứng kịp thời yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng đối với những doanh nghiệp giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế.

15 năm xây dựng và phát triển, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp và thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Đảng ủy Khối đã từng bước xây dựng tổ chức đảng vững mạnh, nâng cao năng lực cấp ủy, lãnh đạo các doanh nghiệp đạt nhiều thành tựu quan trọng, góp phần phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Từ Đảng bộ gồm 31 tổ chức đảng trực thuộc, trong đó có 29 đảng bộ tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng; hai đảng bộ cơ quan với hơn 47.000 đảng viên, phát triển lên 38 đảng bộ trực thuộc, với 1.148 tổ chức cơ sở đảng, 5.742 chi bộ trực thuộc và gần 87.600 đảng viên.

Bám sát các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển doanh nghiệp nhà nước và xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ủy Khối đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận chuyên đề về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Qua từng giai đoạn, kết quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, ngân hàng, đơn vị luôn có mức tăng trưởng khá, cơ bản hoàn thành và vượt các chỉ tiêu quan trọng do Nghị quyết Đại hội các nhiệm kỳ đề ra. Các tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng luôn khẳng định vai trò dẫn dắt thị trường, thực thi hiệu quả chính sách tiền tệ, là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô; góp phần quan trọng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.

Hiệu quả của những chủ trương đúng được minh chứng bằng kết quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong Khối qua những con số “biết nói”. Tại thời điểm cuối năm 2019, trước khi dịch Covid-19 bùng phát, so với năm 2010, vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng đạt 1.486.591 tỷ đồng, tăng 56,6%; lợi nhuận trước thuế đạt 162.861 tỷ đồng, tăng 69,7%; nộp ngân sách nhà nước đạt 254.908 tỷ đồng, tăng 72,1%.

Năm 2020, ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến kết quả sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp sụt giảm nghiêm trọng; lợi nhuận toàn Khối và tổng doanh thu đều giảm. Tuy nhiên, tổng nộp ngân sách của các doanh nghiệp, ngân hàng trong Khối vẫn đạt 106,9% kế hoạch năm. Năm 2021, trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp với các đợt giãn cách xã hội liên tiếp, Đảng ủy Khối và cấp ủy các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo các doanh nghiệp tích cực thực hiện “mục tiêu kép”.

Kết quả đáng ghi nhận khi các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch, tăng cao so cùng kỳ. Việc khảo sát nghiên cứu, tổng hợp thông tin từ doanh nghiệp góp phần quan trọng giúp Trung ương nắm rõ hơn tình hình các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, ngân hàng trong Khối; làm căn cứ để xây dựng cơ chế, chính sách, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Khắc phục những chậm trễ, vướng mắc trong thực hiện cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Đảng ủy Khối và các đảng ủy trực thuộc đã lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh sáp nhập, chia tách, giải thể, thoái vốn tại các công ty con, công ty liên kết theo đề án được phê duyệt. Song song phát triển kinh tế, các doanh nghiệp chú trọng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nhất là vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, biên giới, biển đảo...

Trong các thời điểm đất nước gặp khó khăn do biến động từ môi trường quốc tế, thiên tai, dịch bệnh, các doanh nghiệp nhà nước luôn là công cụ mạnh để Nhà nước, Chính phủ điều tiết, giảm tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, xã hội.

Khi dịch Covid-19 bùng phát, các doanh nghiệp trong Khối đã tham gia cứu trợ đồng bào di chuyển khỏi các vùng dịch trên thế giới, cung cấp vật tư, thiết bị y tế; miễn, giảm một số phí, giá dịch vụ, sản phẩm để ổn định thị trường... Các doanh nghiệp trong Khối luôn đi đầu thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo; các chương trình an sinh xã hội trên cả nước, với tổng số tiền 30.898 tỷ đồng (2007-2015) và hơn 9.754 tỷ đồng (2016-2020).

Bảo đảm hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ Trung ương giao, Đảng bộ Khối luôn chú trọng các giải pháp toàn diện, thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; kiện toàn bộ máy, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên; đẩy mạnh hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, công tác dân vận...

Từ đó, củng cố, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong các đơn vị, tập đoàn, tổng công ty và ngân hàng thương mại thuộc Khối; chủ động phối hợp ban cán sự đảng các bộ, ngành, các ban đảng Trung ương nâng cao hiệu quả lãnh đạo các đảng bộ trực thuộc hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, xây dựng tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội vững mạnh.

Điểm nhấn đáng chú ý từ triển khai Quy định số 69-QĐ/TW, về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của đảng ủy cấp trên cơ sở trong doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nhà nước có vốn chi phối là góp phần đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng trong doanh nghiệp nhà nước, tinh gọn đầu mối tổ chức, giảm số lượng cán bộ lãnh đạo.

Hiện nay, 100% cấp ủy trực thuộc đã bố trí bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng thành viên/hội đồng quản trị hoặc tổng giám đốc doanh nghiệp; phó bí thư thường trực cấp ủy phụ trách công tác xây dựng Đảng. Ghi nhận bước đầu cho thấy, vai trò lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng tại doanh nghiệp nhà nước ngày càng rõ nét. Các ban sau hợp nhất cơ bản thực hiện tốt đồng thời chức năng tham mưu cho cấp ủy về công tác xây dựng Đảng và nhiệm vụ chuyên môn của doanh nghiệp.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các Quy định về trách nhiệm nêu gương đã trở thành việc làm thường xuyên. Hiệu quả thực tế được kiểm chứng bằng kết quả xếp loại tổ chức cơ sở đảng và đảng viên hằng năm, bằng số lượng, chất lượng đảng viên mới tăng lên qua mỗi nhiệm kỳ. Vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, doanh nghiệp được đề cao. Nhiều vấn đề bức xúc, nổi cộm, đặc biệt là các yếu kém trong hoạt động sản xuất, kinh doanh đã được tháo gỡ.

Từ đó, lan tỏa năng lượng tích cực, nhân rộng phong trào thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo. Đã xuất hiện nhiều nhân tố tiêu biểu, điển hình tiên tiến, những quần chúng ưu tú giới thiệu bồi dưỡng kết nạp Đảng. Theo đó, bình quân từ năm 2007 đến 2020, các đảng bộ trực thuộc đã kết nạp 4.400 đảng viên mới/năm.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ Khối qua 15 năm đã góp phần phát hiện, chấn chỉnh khuyết điểm, cảnh báo vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên. Giai đoạn 2007-2022, thực hiện đúng phương châm “giám sát mở rộng”, “kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm”, cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp trong Đảng bộ Khối luôn thực hiện nghiêm kế hoạch kiểm tra, giám sát chuyên đề; kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 152 tổ chức đảng và 859 đảng viên (trong đó có 239 cấp ủy viên các cấp); giải quyết tố cáo đối với 20 tổ chức đảng và 325 đảng viên, giải quyết khiếu nại kỷ luật đối với 22 đảng viên; thi hành kỷ luật 48 tổ chức đảng cấp dưới và 3.122 đảng viên (trong đó có 643 cấp ủy viên các cấp).

Quy chế dân chủ ở cơ sở được thực thi quyết liệt giúp doanh nghiệp giải quyết kịp thời, có hiệu quả những nguyện vọng chính đáng của công nhân, viên chức và người lao động; củng cố niềm tin đối với Đảng, tạo sự đồng thuận cao trong doanh nghiệp, đơn vị.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ Đại hội XIII, được Trung ương xác định đó là, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập.

Trong đó, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước theo hướng tập trung vào những lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng, an ninh; lành mạnh hóa tài chính, nâng cao trình độ công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế để nâng cao hiệu quả hoạt động, thực hiện tốt vai trò là lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước.

Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, tác động nhiều chiều từ cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước để giữ vững vai trò, vị trí nòng cốt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhiệm kỳ này, Đảng bộ Khối xác định mục tiêu chủ yếu, tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; phát huy ý chí, sức mạnh đoàn kết và năng lực đổi mới sáng tạo; tiếp tục lãnh đạo đẩy mạnh cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, với 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, 4 đột phá phát triển.

Phấn đấu đến năm 2025, các doanh nghiệp nâng cao một bước quan trọng hiệu quả sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh; có 1-2 ngân hàng thương mại trong tốp 100 ngân hàng lớn nhất về tổng tài sản trong khu vực châu Á và có ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài; tất cả các ngân hàng thương mại áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn. Các tập đoàn, tổng công ty hoàn thành cơ bản mục tiêu, nhiệm vụ về cổ phần hóa và thoái vốn.

Để hiện thực hóa tầm nhìn, các cấp ủy đảng trong Đảng bộ đã chọn đột phá, lộ trình cụ thể, phù hợp điều kiện thực tiễn, nhằm huy động sử dụng tiết kiếm, hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là đất đai, khoa học-công nghệ, văn hóa, con người, tài chính. Song song phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nguồn nhân lực quản trị, đội ngũ trí thức và nguồn cán bộ chủ chốt, các cấp ủy chỉ đạo đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng, phát triển khoa học-công nghệ; đổi mới sáng tạo; phát huy sức mạnh, hệ giá trị văn hóa, con người Việt Nam; khơi dậy mạnh mẽ niềm tin, ý chí, lòng tự hào, khát vọng, sức mạnh của mỗi người lao động vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trước mắt, để nắm bắt cơ hội bứt phá, phù hợp xu thế tất yếu khách quan, Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương đã ban hành và chỉ đạo thực hiện quyết liệt Nghị quyết số 02-NQ/ĐUK về chuyển đổi số tại các doanh nghiệp, đơn vị. Đây là yêu cầu cấp bách, nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, đặc biệt quan trọng; là công cụ thực hiện đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, sức cạnh tranh, vị thế dẫn dắt trong nền kinh tế, góp phần thực hiện thành công chủ trương của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số quốc gia trên ba trụ cột: kinh tế số, xã hội số, chính phủ số.

Đảng ủy Khối xác định, chuyển đổi số thành công nhanh hay chậm phụ thuộc vào sự chuyển đổi nhận thức, sự vào cuộc đồng bộ của cấp ủy, lãnh đạo doanh nghiệp, các tổ chức chính trị-xã hội và đội ngũ cán bộ, đảng viên, người lao động, nhất là người đứng đầu. Theo đó, Đảng ủy Khối và các cấp ủy trực thuộc đã phân công lãnh đạo chủ chốt trực tiếp phụ trách công tác chuyển đổi số. Mỗi doanh nghiệp, đơn vị trong Khối xác định sớm lộ trình, bước đi phù hợp và tận dụng tối đa cơ hội để đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số.

Với quyết tâm chính trị cao, hành động cụ thể, lộ trình đạt mục tiêu đến năm 2025, tầm nhìn năm 2030 tuy rõ ràng nhưng còn không ít khó khăn. Phá bỏ rào cản để tiến lên bằng tinh thần chủ động, sáng tạo, có sự hỗ trợ đắc lực của khoa học-công nghệ sẽ tạo đột phá.

Áp lực thay đổi đặt ra đề bài buộc cấp ủy, lãnh đạo doanh nghiệp vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa, hành động quyết liệt hơn nữa bảo đảm nền tảng thúc đẩy doanh nghiệp, đơn vị phát triển vững mạnh, hiệu quả; giữ vững vị trí then chốt, dẫn dắt nền kinh tế, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam cường thịnh, tự tin hội nhập sâu rộng nền kinh tế quốc tế.

 

ÍT HỌC HAY CHỐNG PHÁ?

Mới đây, anh diễn viên Tùng Dương, sau một thời gian mất hút trên sóng truyền hình, đã khiến dư luận chú ý trở lại bằng một phát ngôn cực shock “Đã đến lúc ngành giáo dục nên loại bỏ câu: “Học, học nữa, học mãi" ra khỏi sách giáo khoa đi. Sự việc vừa xảy ra quá đau lòng".

Dư luận nhanh chóng bàn tán về anh. Nhiều người phải check đi, check lại xem có phải anh không, hay thằng đần nào giả danh anh phát biểu. Hóa ra đúng là anh thật.

Có người bênh anh, cho rằng, anh không có ý xấu, anh chỉ bú tí trend liên quan đến áp lực học hành mà thôi. Thật ra ý anh Dương là: Không nên bắt các cháu học quá sức dẫn đến trầm cảm! Nhưng do anh ít chữ quá, tầm nhận thức lè tè, anh không lý giải ra được ý nghĩa câu nói của Lê Nin vĩ đại: Học, học nữa, học mãi! Anh Dương tôi cứ nghĩ cụ Lê Nin nói thế là cổ xúy cho việc bắt các cháu học nhồi nhét, học lấy điểm thành tích, học liên tù tì quên cả giời cả đất, dẫn đến áp lực tiêu cực. 

Nhưng có nhiều người phản bác, đừng chê anh tôi dốt. Anh tôi là người của công chúng, diễn viên nổi tiếng, chẳng lẽ lại không hiểu ý nghĩa của câu nói của cụ Lê nin. Cơ mà anh lại thích chống phá chế độ, ghét Mác - Lê nin, nhân dịp này này định tát bùn sang ao, hướng lái cho mấy anh fan cuồng, não ngắn sang chửi bới chế độ. chửi bới cụ Mác, cụ Lê nin mà thôi.

Ai nói gì thì nói, riêng tôi, tôi chê anh. Dù anh dốt, hay anh chống phá thì cũng phải biết chọn vấn đề mà nói. Các cụ bảo rồi, biết thì khục khoặc, không biết thì…im mịa mồm đi. Thế cho nó nhanh.

P/s: Nghệ sỹ phát ngôn như thế này mà mai vẫn được lên sóng truyền hình thì tôi cũng xin vái lạy các anh em quản lý.
------------
PV-TG.st


ĐỌC MÀ KHÔNG CẦM LÒNG!

       Tết Nguyên Đán 1962 một  tháng trước tết, Bác Hồ gọi cục phó Cục Cảnh vệ Phan Văn Xoàn lên giao một nhiệm vụ đặc biệt mà chỉ có hai bác cháu biết: “Chú tìm cho bác một gia đình nghèo nhất ở Hà Nội, bác sẽ đi thăm họ lúc giao thừa!”.
       Tôi có một tháng để đi khắp Hà Nội tìm cho ra một người nghèo nhất
      Hà Nội ngày ấy không giàu, nhưng để tìm ra người “nghèo nhất” vẫn là một thách đố đặc biệt. Tôi liên hệ nhiều nơi, gặp nhiều người vẫn chưa xác định được ai “nghèo nhất”. Cho đến một ngày, một anh công an địa bàn gọi bảo tôi thử tới thăm một người phụ nữ gánh nước thuê ở khu vực anh.
    Chúng tôi ghé vào một ngõ sâu trên phố Hàng Chĩnh, đó là một ngôi nhà tăm tối, phên liếp tạm bợ, bên trong chỉ có một chiếc giường tre và vài ghế gỗ lăn lóc.    Bàn thờ lạnh tanh hương khói, mạng nhện bao phủ - dù đang là những ngày giáp tết. Có bốn đứa trẻ đang nằm ngồi vật vạ chờ mẹ mang gạo về. Chúng đói. Chủ ngôi nhà ấy là một người phụ nữ ngoài 40 tuổi, tên Nguyễn Thị Tín, góa chồng. Chị vốn là công nhân thất nghiệp và từ lâu nay sống bằng nghề gánh nước thuê. Với chị, tương lai và sự nghiệp của gia đình chỉ là con số 0.
Tôi báo cáo rằng nhiệm vụ Bác giao tôi đã làm xong. Bác gật đầu.
    Tối giao thừa ấy, như thường lệ, Bác Hồ đi với đại diện Thành ủy Hà Nội thăm vài gia đình trong kế hoạch. Khoảng 11 giờ tối, Bác nháy mắt với tôi ngụ ý: giờ đến chương trình của hai bác cháu mình.
     Chúng tôi tách đoàn, gồm năm người: Bác, người thư ký, một cán bộ địa phương, tôi và một vệ sĩ khác - cùng hướng về phố Hàng Chĩnh. Bác mặc áo bông, quần vải gụ, đi dép cao su, đội mũ len đen và quấn khăn choàng cổ. Không hóa trang nhưng phải nhìn kỹ một tí mới nhận ra Bác được.
      Xe dừng ngoài ngõ cách 200 mét, cả đoàn phải đi bộ vào. Tôi đi trước, gần giờ giao thừa, hương đèn thắp sáng trên mọi bàn thờ. Con hẻm thật vắng và từ đằng xa, tôi thấy bóng chị Tín đang quảy đôi quang gánh đi ngược ra ngoài phố. Ngang mặt, tôi đứng lại và hỏi nhỏ: “Chị Tín phải không?”. “Vâng ạ!”. “Sắp giao thừa chị còn đi đâu?”. “Tôi tranh thủ gánh thêm vài gánh lấy ít tiền mua quà bánh tết cho các cháu, anh ạ!”. “Chị về đi, có khách ghé thăm!”. 
     Người phụ nữ nghèo khổ xoay người lại nhìn những vị khách, rồi chị bàng hoàng buông rơi đôi quang gánh, chạy bổ tới, quì xuống, ôm choàng lấy chân vị lãnh tụ rồi khóc nấc lên: “Trời, sao Bác lại đến thăm nhà cháu?”.     Bác Hồ rưng nước mắt: “Nhà cháu mà không đến thì đến nhà ai!”. Mọi người im lặng. Tôi, thêm một lần nữa, ngước nhìn vị lãnh tụ đất nước mình, thấy Người cao hơn tất cả.
       Vào nhà, chúng tôi chia nhau thắp nhang đèn, bày quà bánh Bác dặn mang theo, chia một ít cho bốn đứa trẻ đang ngồi chờ mẹ trên chõng tre giữa nhà. Căn nhà bừng sáng, Bác quay sang hỏi về những đứa trẻ: Các cháu có đi học không? Chị Tín ngập ngừng: “Thưa, có ạ, nhưng thất thường lắm, ngày có ngày không.   Chồng mất, cháu thất nghiệp, gánh nước thuê…”. Hỏi: Gánh nước thuê có đủ sống không? Ðến đây thì chị òa khóc: “Lo cái ăn từng ngày thôi, thưa Bác!”. “Giờ cháu có muốn làm việc không?”. “Thưa Bác, hoàn cảnh cháu thì không biết nói sao nữa, cháu muốn có chỗ làm để nuôi con, nhưng tứ cố vô thân, ai nhận cháu?”. Bác gật đầu không nói gì
      Gần 12 giờ, mọi người chúc tết chị Tín và ra về. Lúc này ngoài đầu ngõ, tin Bác Hồ đến thăm nhà mẹ góa con côi của chị Tín đã bất ngờ lan truyền. Hàng xóm rủ nhau khoảng mấy chục người dân đứng chật trong ngõ chờ Bác ra. Tôi hơi bối rối. Bất thình lình Bác bước lại phía mọi người, tiếng vỗ tay vang lên.
       Chờ mọi người im lặng, Bác nói: “Bữa nay Bác vui vì tình cờ gặp các cụ, các cô chú, nhưng Bác cũng rất buồn vì mới từ nhà cô Tín ra. Giờ này sắp giao thừa, các cô chú có biết cô Tín còn đi gánh nước thuê không? Tại sao cả một khu phố vầy mà không thấy ai quan tâm đến một gia đình như cô Tín?”. Im lặng, một đại diện khu phố nhận lỗi, hứa sẽ quan tâm nhà chị Tín. Bác tiếp tục: “Bác muốn nói về tinh thần “lá lành đùm lá rách” trong khu phố, nhưng cái lớn nhất vẫn là trách nhiệm của Chính phủ...”.
     Bước lên xe, đó là năm đầu tiên tôi thấy đi chúc tết người dân về mà Bác thật buồn. Người quay sang nói: “Các chú thấy chưa?     Hôm nay mình đã đi đúng người thật việc thật rồi, nếu mà mình báo trước với thành phố, hỏi nhà nào nghèo nhất thì chắc chắn không phải là nhà cô Tín rồi…”.
      Về nơi Bác ở, Bộ Chính trị đã tập họp để chúc tết Bác và cùng đón giao thừa. Bác ngồi vào ghế, mọi người ngồi xung quanh. Bác im lặng tí rồi nói từ từ: “Bữa nay tôi có một chuyến thăm một nhà nghèo nhất thủ đô Hà Nội. Cô Tín, chủ nhà, giờ này còn phải đi gánh nước thuê để có tiền mai mua gạo cho con. Chúng ta đã quá quan liêu để không biết những câu chuyện như vậy ở ngay tại thủ đô đất nước mình. Tôi biết không chỉ có một nhà như chị Tín đâu, người nghèo còn nhiều. Một đảng cầm quyền mà để người dân mình nghèo hết còn chỗ để nghèo thì đó là lỗi của Ðảng với nhân dân...”. 
     
     Câu chuyện chị Tín chỉ là một trong những câu chuyện tôi không thể nào quên.

    Không quên, vì tôi còn theo dõi cho đến khi chị Tín được bố trí một việc làm phù hợp. Không quên, vì câu chuyện ấy cũng chỉ là một trong nhiều chuyến “vi hành” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã âm thầm đến với những người dân nghèo trong những ngõ ngách của thủ đô Hà Nội và các tỉnh thành của miền Bắc thời bấy giờ.

    Không quên, vì tôi nghiệm ra ý nghĩa lớn lao nhất của lãnh tụ gửi gắm với mình: “Khi tôi báo cáo Bác đã tìm ra được gia đình nghèo nhất Hà Nội cho Bác, Bác hỏi tôi có biết tại sao phải tìm nhà nghèo nhất? Rồi Người tự trả lời: “Tại Bác muốn nhìn thấy sự thật. Nếu để thành ủy sắp xếp năm nào cũng thấy toàn cái tốt. Những nhà Bác ghé đều là những ngôi nhà khá giả, sạch sẽ, quà bánh sẵn sàng. Vui nhưng không thể hài lòng vì biết mọi người đã được sắp xếp!”.

     Té ra, điều mà Người cần tìm trong dịp tết ấy chính là một sự thật đúng với ý nghĩa của nó: sự thật của những người nghèo!
-------------
PT-TG st
 ( Theo: Lời kể của Thiếu tướng Phan Văn Xoàn - nguyên là cận vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh )


ĐÁM DÂN CHỦ "VIỆT TÂN" CHÚNG BAY QUÁ ẤU TRĨ VÀ MU MUỘI

 Mới đây, trên trang fanpage của mình, Việt Tân đã đăng hình ảnh Tổng thống Ucraina Zelensky và hình ảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong 1 cuộc họp để so sánh với dòng tút "Một đất nước né tránh chiến tranh bằng cách chịu nhục thì dân tộc đó sẽ phải lãnh đủ 2 thứ: chiến tranh và sự nhục..."

Thứ nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ khuất phục bất kỳ kẻ thù nào và nói về chiến tranh chưa bao giờ nếm mùi chiến bại. Điều này thì 4 nước Anh, Pháp, Mỹ và Trung Quốc rõ nhất vì họ đã từng xâm lược Việt Nam. 

Thứ hai, Một đất nước biết né chiến tranh thì đất nước đó là hồng phúc của hòa bình. Trên thế giới này, nước nào hiếu chiến và chơi thân với tập đoàn lái súng để kéo bè, kéo cánh chạy đua vũ trang, dọa nạt nước khác hay đe dọa láng giềng, đối đầu vũ lực đều trở thành Tổ quốc tan hoang và đổ nát. Chúng ta nhìn vào Iraq, Libya, Syria, hay Afghanistan sẽ rõ. Việt Nam đã từng mất mát quá lớn cho độc lập dân tộc thì càng không bao giờ mong muốn chiến tranh. 

Thứ ba, Việt Nam là quốc gia yêu hòa bình, chọn lẽ phải của thời đại để chơi. Lẽ phải đó là gì? Là hòa bình, phát triển thịnh vượng của thế giới đa cực. Đất nước đang bình yên, lẽ nào lại chọn chiến tranh mà không "né" nó ra!

Thứ tư, Ucraina bị Nga tấn công và chịu thiệt hại nặng nề về kinh tế, quân sự, cơ sở hạ tầng, mất lãnh thổ, người dân ly tán cũng vì quá tin vào sức mạnh hão huyền của Mỹ và phương Tây nên đu dây với Mỹ, NATO để hy vọng tấn công đe dọa nước Nga nên mới nhận kết cục ấy. Phải chăng các lãnh đạo phục quốc Việt tân đang mong muốn Việt Nam đu dây, chạy theo tập đoàn lái súng của Mỹ và NATO để chống lại nước khác để nhận kết cục như Ukraine?

👉 Lũ Việt Tân chúng bay nghe lần nữa cho rõ: Việt Nam là Việt Nam, Việt Nam luôn nhất quán quan điểm không tham gia các tổ chức liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác. 

Thành quả lớn nhất của người lãnh đạo là giữ yên bình cho đất nước, chứ chắc chắn không bao giờ  đưa dân tộc mình lao vào đu dây với bất kỳ cuộc chiến nào vì hòa bình, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ mới là thứ có giá trị lớn lao nhất của Việt Nam. Không ai đụng đến Việt Nam thì đừng kích động Việt Nam đụng đến người ta. Chúng bay vẫn cố tình so sánh một cách ấu trĩ, tối trí, thấp hèn để ví vị Tổng Bí thư kính yêu của chúng ta đang chèo lái con thuyền Việt Nam đi lên thịnh vượng với một vị tổng thống đang "diễn lỗi" trên sân khấu chính trị và đang đưa Ukraine tới bờ vực thẳm để đả kích và kích động người Việt phân tâm về cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine thì quá hài. 

Lãnh đạo Việt Nam đang còn nhiều việc phải làm để nhân dân giàu mạnh, đất nước hùng cường chứ không phải diễn hề như anh em phục quốc Việt tân. Mà nói thật, tư duy củ chuối, nhận thức con rối như Việt tân thì anh em "phục quốc" khó có thể đặt chân lên đất Lào hay Campuchia chứ chưa nói đến biên giới Việt Nam.

Đọc tút của Việt tân chẳng hiểu nhận thức của các "nhà lãnh đạo phục quốc" này đang ăn gì và nghĩ gì nữa.
-----------------------
PT-TG.st


HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC!

 

* Cách đây 92 năm, ngày 5-4-1930, sau khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, từ Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã gửi thư đến “đồng chí Zao” (là bí danh của Bùi Công Trừng) và các học sinh Việt Nam đang học ở Liên Xô.

Bức thư báo tin “Trong nước bây giờ đã có đảng thống nhất, vững vàng không còn những tệ chia rẽ như trước nữa”, đồng thời cho biết vào dịp Đại hội Quốc tế Lao động sắp tổ chức ở Liên Xô sẽ có một số đại biểu công nhân ở trong nước sang dự. Do đó đồng chí Zao được phân công tổ chức anh em học sinh Việt Nam giúp đỡ các đại biểu trong nước sang để “làm sao cho anh em đại biểu hăng hái và yêu mến Xô-Nga, lại có cảm tình với anh em lao động các nước” và “không để các đại biểu cảm thấy sự phân biệt giữa trí thức và người lao động”.

* Ngày 5-4-1948, Bác Hồ viết 12 điều răn yêu cầu mọi người phải nhớ và thực hành khi tiếp xúc với dân. Để cổ động, Bác viết bài thơ:

“Mười hai điều trên

Ai chả làm được

Hễ người yêu nước

Nhất quyết không quên

Tập thành thói quen

Muôn người như một

Quân tốt, dân tốt

Muôn sự đều nên

Gốc có vững, cây mới bền

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

* Ngày 5-4-1958, Bác dự lễ tốt nghiệp khóa 10 của Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam ra đời từ sau Cách mạng Tháng 8-1945 và mang tên anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn. Khóa 10 cũng là khóa đầu tiên được đào tạo chính quy ở trong nước vì trong thời gian chiến tranh trường đã di chuyển ra ngoài nước. Huấn thị với lãnh đạo và học viên nhà trường, Bác nói: “Cần mạnh dạn áp dụng những điều đã học, nhưng phải thiết thực, thích hợp với hoàn cảnh; cần nâng cao tinh thần cảnh giác, tính tổ chức kỷ luật, thái độ khiêm tốn, nhất là phải tăng cường đoàn kết”.

Sau sự kiện Không quân nhân dân Việt Nam lần đầu xuất kích đánh to và thắng lớn không lực Hoa Kỳ trong các ngày 3, 4 và 5-4-1965, Bác gửi thư khen ngợi: “Các chú đã chiến đấu dũng cảm, đã tiêu diệt máy bay Mỹ. Các chú đã thực hiện được khẩu hiệu “Đã đánh là thắng”. Như thế là xứng đáng với truyền thống của quân và dân ta... Chúc các chú lập nhiều chiến công hơn nữa”.

Cùng ngày, trả lời phỏng vấn nhà báo Yoshi Takano của báo “Akahata” của Đảng Cộng sản Nhật, Bác đã đưa ra giải pháp: để chấm dứt chiến tranh thì Mỹ không can thiệp vào miền Nam và chấm dứt ném bom miền Bắc, như thế “sẽ tạo điều kiện đi đến một hội nghị như kiểu Hội nghị Giơnevơ năm 1954. Đó là cách giải quyết hợp tình hợp lý, có lợi cho hòa bình, có lợi cho nhân dân Mỹ”.

Trong bức điện cảm ơn gửi cùng ngày tới Quốc trưởng Campuchia N.Xihanuc, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Trước sức mạnh đoàn kết của các dân tộc Việt Nam, Khơme và Lào biểu hiện rõ rệt trong Hội nghị Nhân dân Đông Dương vừa qua do Ngài triệu tập, mọi âm mưu xâm lược và gây chiến của đế quốc Mỹ đối với các nước Đông Dương nhất định sẽ thất bại hoàn toàn”.

BÁM SÁT THỰC TIỄN

 

Chính phủ xác định chủ đề là “Đoàn kết kỷ cương, chủ động thích ứng, an toàn hiệu quả, phục hồi phát triển”.

Bám sát thực tiễn là vấn đề không mới. Các nhà lý luận kinh điển từ xưa đã đặt ra yêu cầu như vậy trong việc hoạch định chính sách. Cuộc sống luôn vận động, khó đoán định trước, do vậy bám sát thực tiễn luôn đặt ra, thậm chí rất mới. Đó cũng là một trong những yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3.

Bằng mọi biện pháp giữ vững ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, quyết liệt thúc đẩy phục hồi nhanh, phát triển bền vững, đây không chỉ là nhiệm vụ của tháng 4, mà cả năm 2022. Bởi năm 2022, Chính phủ xác định chủ đề là “Đoàn kết kỷ cương, chủ động thích ứng, an toàn hiệu quả, phục hồi phát triển”.

Quý I/2022, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo thực hiện “đa mục tiêu” gồm: kiểm soát dịch bệnh, rủi ro, giảm số ca chuyển nặng, tử vong, không để quá tải hệ thống y tế; thúc đẩy phục hồi kinh tế - xã hội, chăm lo an sinh xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trước các diễn biến phức tạp của tình hình thế giới… Để làm được điều này, lãnh đạo Chính phủ thường xuyên đi thực tế tại cơ sở, thăm, khảo sát, làm việc nhằm gỡ những nút thắt quan trọng, đưa ra các giải pháp mang tính đột phá. Nhờ đó, quý I khởi sắc trên tất cả lĩnh vực.

Tình hình dịch bệnh chưa cho phép chủ quan; giá vật tư, nguyên liệu đầu vào cho sản xuất trên thế giới, giá cước vận tải dự báo còn tăng cao; nhu cầu phục hồi và phát triển kinh tế đòi hỏi tăng sản lượng điện, trong khi đó những tác động bất lợi từ xung đột tại Ukraine... cho thấy phải có kịch bản linh hoạt.

Tình hình cho thấy, trong chỉ đạo, điều hành phải giữ vững đoàn kết, thống nhất, kỷ luật, kỷ cương hành chính, kiên định các vấn đề mang tính nguyên tắc nhưng linh hoạt, sáng tạo trong chỉ đạo, điều hành, giải quyết các vấn đề cụ thể.

“Trên tinh thần tôn trọng thực tiễn, bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo, các luật, quy định phải tháo gỡ được những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, những vấn đề mới phát sinh nổi lên, những vấn đề chưa có quy định hoặc đã có quy định nhưng lạc hậu với tình hình”, đây là những vấn đề được Thủ tướng nhấn mạnh.

Cuộc sống đang đòi hỏi tiếp tục phải đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực hợp lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thực thi và tăng cường giám sát, kiểm tra, kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Những vụ việc thao túng thị trường chứng khoán đang được điều tra, những vụ án đang được xét xử ở Khánh Hòa, kết luận điều tra đã được công bố vụ việc ở Bình Dương cho thấy lơi lỏng kiểm tra giám sát là tiêu cực, tham nhũng.

Ngay cả việc xây dựng pháp luật cũng phải bám sát thực tiễn mới khả thi, mới bao quát được các đối tượng điều chỉnh.

Để mãi là hình tượng đẹp, biểu trưng văn hóa của dân tộc

 

Để tiếp tục gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới, một mặt, chúng ta phải tích cực nhận diện, đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, chống phá; mặt khác, phải thường xuyên giáo dục tinh thần tự giác học tập và tổ chức rèn luyện để mỗi cán bộ, chiến sĩ đề cao trách nhiệm, tự giác tu dưỡng, làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mãi trở thành hình tượng đẹp-biểu trưng văn hóa của dân tộc Việt Nam.