Ngày 5 tháng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, bắt đầu
cuộc hành trình tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.
Sau gần mười năm vừa lao động kiếm sống, vừa học hỏi, vừa tìm hiểu thực tiễn
ở nhiều nước, Người đã có những chuyển biến trong nhận thức về con đường giải
phóng dân tộc mà lịch sử đã chứng tỏ là sáng suốt phi thường.
Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, phong trào kháng chiến chống Pháp
bùng lên và lan rộng trong cả nước. Các cuộc nổi dậy đều được thúc đẩy bởi tinh
thần yêu nước nhiệt thành và ý chí căm thù giặc Pháp sôi sục. Song, trước sau đều
bị thất bại vì chưa có một đường lối kháng chiến rõ ràng. Nhiều phong trào cứu
nước do các sĩ phu và văn thân theo ý thức hệ phong kiến. Các phong trào Duy
Tân, Đông Du dựa trên lý luận dân chủ tư sản đều bị thực dân Pháp đàn áp và dập
tắt. Các tầng lớp nhân dân trong xã hội bị phân hóa sâu sắc, điêu đứng trong cảnh
nước mất, nhà tan, bị áp bức về chính trị, bị bóc lột về kinh tế, bị đầu độc về
văn hóa, bị tha hóa về con người, bị đọa đày trong đói rách về bệnh tật. Giai cấp
cần lao lâm vào số phận nô lệ bi thảm, quyền sống của con người bị chà đạp thảm
hại. Xã hội Việt Nam từ nước phong kiến độc lập trở thành thuộc địa nửa phong
kiến. Thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn khai thác tài nguyên và bóc lột dã
man của cải và sức lao động của nhân dân ta để làm giàu cho chính quốc. Trước
tình cảnh ấy, tiếp nối truyền thống chống ngoại xâm bất khuất của dân tộc,
chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành, khi đó mới 21 tuổi, đã quyết định ra đi tìm
đường cứu nước với quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập
cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều
tôi hiểu”.
Từ năm 1911 đến năm 1920, Nguyễn Tất Thành đã tận dụng mọi cơ hội để được
đến nhiều nước thuộc các đại lục Âu, Á, Phi, Mỹ. Đặc biệt Người đã dừng chân khảo
sát ở 3 nước đế quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh và Pháp. Người tranh thủ mọi
điều kiện để học hỏi, nghiên cứu các học thuyết cách mạng, hòa mình vào thực tiễn
đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản và thuộc
địa. Trên cơ sở đó, Người đã rút ra kết luận có tính chất căn bản đầu
tiên: “Ở đâu bọn đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao
động cũng bị bóc lột, áp bức nặng nề”, và “Dù màu da có khác nhau, trên đời
này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”. Những
nhận biết căn bản đó càng thôi thúc Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc quyết tâm
tìm ra phương hướng giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc. Hành trang
duy nhất Người mang theo khi lên tàu thủy ra nước ngoài là chủ nghĩa yêu nước -
sản phẩm tinh thần cao đẹp của lịch sử Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Tư tưởng yêu
nước của Người vừa kế thừa tinh hoa của chủ nghĩa yêu nước truyền thống, vừa
bao hàm một tinh thần đổi mới phù hợp với yêu cầu giải phóng dân tộc và xu thế
của thời đại.
Từ sự đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ, Người đã đến với chủ nghĩa
quốc tế. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ nước Anh trở lại nước Pháp. Được
Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường giúp đỡ, Người hăng hái hoạt động chính trị
trong Việt kiều và những người lao động Pháp.
Từ những hoạt động thực tiễn trên và nhất là tháng 7 năm 1920 Người đọc “Sơ
thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của
V.I.Lê-nin đăng trên báo L’Humanité (Nhân đạo). Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn
Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời
câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng
giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương
đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc. Người
đọc đi đọc lại nhiều lần và qua lăng kính chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người
nhận thấy trong đó con đường giải phóng đất nước khỏi ách thực dân. Về sau, Người
nhớ lại: “Trong Luận cương ấy, có những chữ chính trị khó hiểu. Nhưng cứ đọc đi
đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của
Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi
vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như
đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây
là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”.
Như vậy, từ khi rời bến cảng Sài Gòn, lênh đênh trên các đại dương, cập
bến bốn châu lục, vừa lao động kiếm sống, vừa trải nghiệm, đến giữa tháng
7-1920, tại Pa-ri (Pháp), tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc có sự chuyển biến lớn
lao, từ sự đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ, đến với chủ nghĩa quốc tế.
Người đã nhìn thấy khả năng thực hiện ba mục tiêu lớn: Giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp và giải phóng con người.
Từ thời điểm đó, Nguyễn Ái Quốc theo sát những sự kiện chính trị thế giới
đang diễn ra dồn dập, tác động mạnh đến chính trường nước Pháp, đặc biệt là Đại
hội II của Quốc tế Cộng sản (QTCS) và Đại hội I các dân tộc phương Đông. Người
tham dự cuộc mít tinh lớn của hàng vạn công nhân tại rạp xiếc ở Pa-ri. Tiếp sau
đó, tháng 9-1920, Người theo sát tiến trình Đại hội I các dân tộc phương Đông,
nhằm đưa đường lối, chính sách của Đại hội II QTCS vào cuộc sống, mà trước hết
là tư tưởng “đoàn kết phương Tây vô sản và phương Đông bị áp bức”. Tư tưởng đó
được thể hiện rõ trong khẩu hiệu chiến đấu đưa ra trong Đại hội: “Vô sản tất cả
các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”.
Những sự kiện chính trị trên góp phần củng cố niềm tin vững chắc của
Nguyễn Ái Quốc vào V.I. Lê-nin, vào Quốc tế cộng sản và nước Nga Xô-viết, củng
cố lập trường và bản lĩnh chính trị của Người. Nguyễn Ái Quốc vững tin đến Đại
hội XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tua và bỏ phiếu tán thành Đệ tam Quốc
tế và thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Như vậy, có thể khẳng định, đến đây sự chuyển
biến tư tưởng từ đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ đến chủ nghĩa quốc tế,
chủ nghĩa cộng sản của Nguyễn Ái Quốc đã hoàn tất.
Luận cương của V.I.Lê-nin đã mở ra con đường đưa Nguyễn Ái Quốc đến với
Chủ nghĩa Mác - Lênin và chính Luận cương của Lê-nin đã tạo ra bước ngoặt căn bản
về chất trong sự phát triển nhận thức, tư tưởng và lập trường chính trị của
Nguyễn Ái Quốc: từ chủ nghĩa yêu nước đến Chủ nghĩa Mác - Lênin, từ giác ngộ
dân tộc đến giác ngộ giai cấp, từ người yêu nước trở thành người cộng sản.
Việc tìm ra con đường cứu nước và những chuyển biến trong nhận thức về
con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn, đó
là:
Một là, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã
hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận Cách mạng Việt Nam
trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa
thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc,
phù hợp với trào lưu tiến hóa chung của nhân loại và xu thế của thời đại.
Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin
soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam,
làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước
Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy
của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc đổi mới
đất nước gần 40 năm qua theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Ba là, với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở
ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung,
phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới
và Châu Á nói riêng.
Với lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, ý chí quyết tâm giành độc lập dân
tộc, nhận thức đầy đủ hiện thực xã hội, vận mệnh lịch sử đặt ra đối với dân tộc
Việt Nam và những nhân tố mới của thời đại, Nguyễn Tất Thành đã quyết định xuống
tàu, bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân. Người vượt qua mọi
khó khăn, gian khổ để tìm thấy con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, hợp quy
luật tất yếu của lịch sử giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản. Chủ
tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ trọn đời hy sinh cho đất nước và hạnh phúc nhân dân.
Một nhân cách lớn, một tấm gương về sự ham học hỏi, lòng nhân hậu, bác ái, là
biểu tượng cao đẹp đầy tự hào của dân tộc Việt Nam trước bạn bè quốc tế năm
châu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét