Thứ Tư, 6 tháng 4, 2022

Lượng người dùng Facebook hàng ngày xu hướng giảm bị giảm

 


Đáp lại lời doạ đóng Facebook, Instagram tại châu Âu của Mark Zuckerberg, người dùng ở khu vực này đang phát động chiến dịch tẩy chay Facebook.

Trên Twitter, hashtag DeleteFacebook (xoá Facebook) nhanh chóng nằm trong số những chủ đề thịnh hành. "Nếu bạn đang nói về #DeleteFacebook, chắc chắn bạn cũng nên xoá cả Instagram và WhatsApp", tài khoản Amyan Broomhall viết trên Twitter cá nhân và nhận được gần 4.000 lượt thích và hơn 500 lượt retweet.

"Tôi đã thông báo với bạn bè trên Facebook rằng tôi đang dần từ bỏ mạng xã hội này. Tôi đã xoá ứng dụng trên điện thoại, sau đó sẽ xoá tài khoản và xoá luôn Facebook khỏi tâm trí", người dùng Turning OverTables viết.

Nhiều người khác cho rằng Facebook ngày càng trở nên "xấu xí" với loạt bê bối liên quan đến quyền riêng tư và dữ liệu của người dùng. Không chỉ tại châu Âu, hashtag #DeleteFacebook đã lan sang một số khu vực như Mỹ Latin và Ấn Độ.

Việc tẩy chay Facebook diễn ra sau khi CEO Meta Mark Zuckerberg dọa đóng cửa mạng xã hội này ở châu Âu. Theo đề xuất của Ủy ban châu Âu, dữ liệu của người dùng chỉ được lưu trữ và xử lý trên máy chủ đặt tại đây. Meta, công ty mẹ của Facebook, tỏ ra lo lắng khi không thể chuyển dữ liệu giữa Mỹ và các nước ở châu Âu. Điều này có thể ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ cũng như khả năng nhắm mục tiêu quảng cáo của Facebook.

Đáp lại lời của Zuckerberg, các quan chức châu Âu cho rằng "cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn nếu không có Facebook", đồng thời nhấn mạnh Meta vẫn phải tuân thủ các quy định mới của EU, nếu không các nền tảng mạng xã hội của họ sẽ bị cấm trên toàn châu Âu.

Đây không phải lần đầu Facebook bị kêu gọi tẩy chay quy mô lớn. Năm 2018, chiến dịch #DeleteFacebook cũng diễn ra trên diện rộng sau bê bối Cambridge Analytica. Đến tháng 6/2020, chiến dịch #StopHateForProfit kêu gọi các doanh nghiệp dừng quảng cáo trên Facebook thu hút gần 100 nhãn hàng lớn tham gia.

Tháng 2/2021, làn sóng tẩy chay Facebook tiếp tục diễn ra ở Australia sau khi Facebook thông báo "huỷ kết bạn" với Australia. Người dùng nước này không thể cập nhật tin tức trên mạng xã hội, trong khi người dùng nước ngoài không thể chia sẻ tin tức từ Australia.

Sóng gió tiếp tục ập đến với Facebook từ đầu tháng 2 khi hãng công bố báo cáo tài chính quý IV/2021. Zuckerberg khiến cả người dùng lẫn các nhà đầu tư nổi giận khi đổ lỗi cho tốc độ tăng trưởng kém của mạng xã hội là do sự lớn mạnh của TikTok và sự điều chỉnh chính sách của Apple. Công ty cũng thừa nhận lần đầu tiên lượng người dùng Facebook hàng ngày trung bình trong một quý bị giảm kể từ 2004.

Chủ nghĩa cá nhân với sự “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm”

 


“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trước nỗi đau, sự bức xúc, nguyện vọng và nhu cầu chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân là biểu hiện của bệnh suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một số cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Đây là một khía cạnh của chủ nghĩa cá nhân.

Biểu hiện của bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” rất đa dạng, tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và các mặt hoạt động quân sự, thật khó phát hiện vì nó được ngụy trang, che đậy, giấu kín; song, khi phát tác, nó bộc lộ qua các dấu hiệu: Không quan tâm đến đồng chí, cấp dưới, các sự kiện diễn ra trong cơ quan, đơn vị, cũng như tin tức thời sự về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh… đang diễn ra ở địa phương, trong nước và trên thế giới; Sống ích kỷ, suy nghĩ hẹp hòi, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, tự tư, tự lợi, đề cao “cái tôi”, thiếu tính tập thể; Luôn so đo, kèn cựa, đố kỵ; không muốn đồng chí, đồng nghiệp hơn mình, hay tranh công, đỗ lỗi, thiếu trung thực, có những hành vi thiếu chuẩn mực về ứng xử văn hóa, trái đạo lý, pháp lý; Làm việc, học tập, công tác theo kiểu “nước chảy bèo trôi”, cầm chừng, “được chăng hay chớ” với thái độ “lừng khừng”, “dân có cần nhưng quan không vội”, “khó người, dễ ta”, chất lượng công tác, hoàn thành nhiệm vụ thấp, cản trở sự phát triển, tiến bộ của đồng chí, đồng nghiệp, ảnh hưởng đến cơ quan, đơn vị; Quan hệ, ứng xử theo “tư duy nhiệm kỳ”, “khôn lõi”, luôn né tránh để không phải nhận nhiệm vụ khó khăn, gian khổ, bỏ bê công việc được giao hoặc rơi vào trạng thái quan liêu, tham nhũng, lãng phí...

Cán bộ, đảng viên, chiến sĩ nào vướng vào những thói hư tật xấu trên đều đáng trách, vì nó là “con sâu làm rầu nồi canh”, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của Đảng, không xứng đáng là “công bộc của dân”, lịch sử truyền thống tốt đẹp của Đảng, của Các mạng Việt Nam và danh hiệu "Bộ đội Cụ Hồ" - Bộ đội của Dân./.

BỆNH GIA TRƯỞNG - TÀN DƯ CẦN KHẮC PHỤC HIỆN NAY

 


“Gia trưởng" là đặc tính xấu, đối lập với dân chủ, tự do và sáng tạo; là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. “Gia trưởng” - thuật ngữ có nguồn gốc từ quan niệm Nho giáo, khi đề cao thái quá vai trò của người đàn ông, chủ gia đình với thái độ coi thường phụ nữ, đề cao tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, lan rộng ra xã hội thành quan niệm coi thường cấp dưới, phụ nữ và lớp trẻ.

 Đây là tàn dư của chế độ phong kiến còn rơi rớt lại, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn hóa, quan hệ gia đình, dòng tộc, rõ nhất là trong giao tiếp, quan hệ, phong cách ứng xử và làm việc của một số ít cán bộ lãnh đạo, chỉ huy. Dù là số ít, biểu hiện kín đáo, được che dấu bằng thứ bậc, cấp bậc và các mối quan hệ, rất khó nhận diện nhưng nếu không kịp thời phát hiện, "tự soi tự sửa", tự ngăn chặn, đẩy lùi và có biện pháp khắc phục những dấu hiện của nó thì sớm hay muộn, nó sẽ phát tác và gây hại cho các mối quan hệ cấp trên - dưới, ảnh hưởng đến tiến bộ, nhân văn.

Người "gia trưởng" luôn tự cho mình là “bề trên”, cái gì cũng đúng, là “chân lý”, “được quyền phán xét, quyết định mọi công việc”, bắt người khác phải phục tùng, làm theo ý mình, trái ý là "cáu, là quát". “Gia trưởng” còn được hiểu là một cách nhìn, thái độ tự tôn, tự kiêu, tự mãn, là phong cách lãnh đạo, chỉ huy, quản lý bằng mệnh lệnh nên cách cư xử, xưng hô, hành vi, hành động của "gia trưởng" biểu hiện là: Luôn đứng ở trên cao, là “bề trên” trong quản lý và kiểm soát mọi việc của cấp dưới; Luôn tự cho mình là đúng, không chấp nhận ý kiến đóng góp, tư vấn của người khác; Thường sử dụng ý chí, mệnh lệnh, bạo lực để áp đặt người khác; Tự tin thái quá, không chia quyền lực, san sẻ công việc với người khác; Không muốn nhận sự giúp đỡ của người khác, hay "to tiếng".

Dù biểu hiện kín đáo hay lộ liễu, cá nhân bị “bệnh gia trưởng” gặm nhấm đều xấu xa. Nó trái với phẩm chất người cán bộ của Đảng, rất cần "tự soi tự sửa" để khắc phục căn bệnh "ác tính" này. Dân chủ,... thuốc chữa hiệu quả nhất.

“Quân phiệt” - một biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân cần nhận điện, đấu tranh phê phán, loại bỏ

 


“Quân phiệt” - một biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đối lập với phẩm chất đạo đức người cộng sản, cần phải nhận điện đúng, kiên quyết đấu tranh phê phán, loại bỏ.

“Quân phiệt” là một thuật ngữ có nguồn gốc từ quân sự, dùng để chỉ một số ít chỉ huy quân đội tuyệt đối hóa quyền lực, sức mạnh quân sự, dùng nó để kiểm soát, khống chế, bảo vệ lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội của giai cấp đã sinh ra, nuôi dưỡng và sử dụng nó. Điểm nổi bật của “quân phiệt” là sùng bái quyền lực; cậy vào uy thế, sức mạnh của bạo lực để khủng bố, đe dọa, áp đặt người khác phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh trong thực thi nhiệm vụ. Lúc đầu từ môi trường QS sau lan ra xã hội, thành "bệnh phát xít", "hắc xì gà" ở một số thủ trưởng cơ quan, làm nhân viên sợ. “Quân phiệt” có mối quan hệ chặt chẽ với "chuyên quyền", “độc đoán", "gia trưởng”, thể hiện rõ thái độ “cua cậy càng, cá cậy vây”, “cây cậy tán", để áp đặt, ăn hiếp cấp dưới nếu họ trái ý, có phản ứng.

Dấu hiệu của “quân phiệt” khó nhận diện bởi nó dễ lẫn vào các dấu hiệu của “độc đoán", "gia trưởng”; tựu chung là, ai bị nhiễm bệnh “quân phiệt” thường có lời nói nặng mang tính “sát thương” rất cao, đến mức lăng mạ, sỉ nhục người khác; hành vi thường có tính đe dọa, xúc phạm, khủng bố. Có thể nhận diện một số biểu hiện cụ thể của “quân phiệt” là: Phân biệt thứ bậc, các mối quan hệ trong giao tiếp, hành xử, khinh người;  Sùng bái cá nhân, đề cao vai trò lãnh tụ; Say mê quyền lực, háo danh; Đề cao sức mạnh bạo lực, tuyệt đối hóa vai trò của mệnh lệnh, tác phong quân sự; Phô trương, khoe khoang, không bao giờ chịu thuyết phục, khuất phục.

Sự xác định các dấu hiệu, đặc tính ở trên chỉ có ý nghĩa tương đối, giúp chúng ta bước đầu nhận diện hình hài, bản chất, nguồn gốc, biểu hiện và tác hại của các “căn bệnh” quân phiệt”, mối quan hệ giữa nó với tư cách là những biểu hiện khác của chủ nghĩa cá nhân, đúng như Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương đã chỉ ra./.

Mẹ Việt Nam – Mẹ anh hùng

 


Ghi nhớ công lao vĩ đại của các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng - mẹ của chúng ta và giáo dục đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, ngày 10/9/1994, Chủ tịch nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Lệnh công bố Pháp lệnh Quy định danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”; được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 29/8/1994. Từ 1994 đến nay, Nhà nước ta đã phong tặng và truy tặng gần 140.000 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, trong đó, Quảng Nam có gần 15.700 Mẹ.

Ngày 25/7/2020 tại Hà Nội, Đảng, Nhà nước tổ chức Chương trình Gặp mặt đại biểu Bà mẹ Việt Nam anh hùng toàn quốc lần thứ Nhất, có 300 Mẹ về dự, trong đó, hơn 100 Mẹ trên 90 tuổi (có mẹ 105 tuổi), đại diện cho gần 5000 Mẹ Việt Nam anh hùng còn sống của cả nước. Mỗi Mẹ là một câu chuyện cảm động về cuộc đời, sự hy sinh cao cả, là tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hung cách mạng cho các thế hệ con cháu, chít ghi nhớ, đời đời tri ân, học tập… Chúng ta vô cùng xúc động được biết, phần lớn các Mẹ sức yếu, song với ý chí và nghị lực phi thường, các Mẹ luôn vượt mọi khó khăn để sống vui, sống khỏe và động viên con cháu tích cực học tập, lao động và cống hiến cho xã hội, góp phần xây dựng gia đình, quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, an vui.

Tri ân các Mẹ Việt Nam anh hùng, các địa phương đã phụng dưỡng, chăm lo sức khỏe cho các Mẹ ở mức tốt nhất, tuyệt đối không để các Mẹ phải sống cô đơn, thiếu thốn, ốm đau…. Chăm sóc, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của mỗi người con. Đó vừa là pháp lý vừa là đạo lý "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây", "đền ơn đáp nghĩa" của dân tộc ta; là báo đáp, đền ơn công "mang nặng đẻ đau", "sinh thành dưỡng dục", cho ta thành người. Đó còn là sự tri ân sâu sắc đối với các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì nước, vì dân. Dịp Kỷ niệm Ngày Quốc tế phụ nữ 8-3 vừa qua, nghĩ về Mẹ yêu thương, người người đã nhớ phụng dưỡng thật tốt các Mẹ khi còn có thể. Tự đáy lòng chúng ta nhắc nhớ và mong rằng: Hỡi những ai còn có mẹ trên đời. Đừng bao giờ để nước mắt mẹ rơi! Có mẹ mới có  ta, con va cháu...! Vì "mẹ già như chuối chín cây...". Mất Mẹ là mất mãi mãi...

Nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

 - Bài viết nêu các giải pháp nâng cao đạo đức cách mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng là: thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết Trungương về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kịp thời biểu dương những điển hình tiên tiến; đấu tranh mạnh mẽ với các biểu hiện lệch lạc,vi phạm đạo đức, lối sống; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng; chủ động phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Trong cấu trúc nhân cách của con người nói chung, người cán bộ, đảng viên nói riêng, đạo đức luôn được coi là thành tố quan trọng nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(1). Người nhấn mạnh: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(2). Người giải thích: có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi, mà còn có hại cho xã hội.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”(3).

Trung thành với những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng xây dựng, chỉnh đốn Đảng về đạo đức. Trong công tác cán bộ, Đảng ta luôn “Coi trọng cả đức và tài, đức là gốc”(4).

Tại Đại hội XIII, Đảng ta nhấn mạnh: công tác xây dựng Đảng về đạo đức được Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng đề cao, “đã góp phần đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, tiên phong, gương mẫu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”(5).

Bên cạnh những kết quả đạt được, Đại hội XIII đánh giá công tác xây dựng Đảng về đạo đức vẫn còn những hạn chế: việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng - nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ, chưa nêu cao ý thức và trách nhiệm trước nhân dân. Việc thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên chưa trở thành nền nếp, hiệu quả chưa cao. Đặc biệt, có một số cán bộ bị kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó có cả Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương. Việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức, lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình có nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra; một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tự giác nhận khuyết điểm và thiếu trách nhiệm trong công việc. Giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên còn thụ động, hiệu quả thấp(6).

Để đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức,và cán bộ, khắc phục tình trạng “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(7),đáp ứng yêu cầu cách mạng, đòi hỏi Đảng phải “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ… có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu”(8). Do đó, cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Một là,thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành công việc tự giác, thường xuyên của cấp uỷ, tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên bằng các giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ. Thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình với trọng tâm là đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hai là, kịp thời biểu dương những điển hình tiên tiến, những tấm gương sáng về đạo đức, lối sống; đấu tranh mạnh mẽ với các biểu hiện lệch lạc và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm đạo đức, lối sống.

Biểu dương những điển hình tiên tiến là một trong những giải pháp hết sức quan trọng để nâng cao đạo đức cách mạng. C.Mác chỉ ra “khi ra đời, con người ta không phải đã mang theo một cái gương và cũng không phải đã là nhà triết học theo kiểu Phi-stơ để nói: “Tôi là tôi”, cho nên người ta lúc đầu phải nhìn vào người khác, như nhìn vào một cái gương mới nhận thấy mình được”(9). Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trong giáo dục đạo đức bằng phương pháp nêu gương. Người cho rằng: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”(10).

Vận dụng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương trong giáo dục đạo đức, Đảng ta đã ban hành Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương; Quy định Số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương.

Để tiếp tục đưa các quy định về nêu gương đạo đức đi vào cuộc sống, Đại hội XIII chủ trương: “Kịp thời biểu dương những điển hình tiên tiến, những tấm gương sáng về đạo đức, lối sống; đấu tranh mạnh mẽ với các biểu hiện lệch lạc và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm đạo đức, lối sống”(11). Đại hội nhấn mạnh, trước mắt phải thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Nêu gương phải thực sự trở thành một nội dung quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng ta hiện nay.

Ba là, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Đại hội XIII của Đảng đề ra chủ trương: nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. “Xây dựngcác chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng”(12). Điều này sẽ tạo ra hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị đạo đức để mọi người dân Việt Nam, trong đó có cán bộ, đảng viên lấy đó làm tiêu chí để đánh giá ý thức cũng như hành vi, quan hệ đạo đức của mình, trên cơ sở đó mỗi cán bộ, đảng viên “tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh hành vi, tích cực rèn luyện đạo đức, lối sống, tác phong công tác”(13),góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, tiên phong, gương mẫu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bốn là, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, kết hợp với phát huy vai trò giám sát của báo chí và nhân dân đối với việc thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ chức đảng, của đảng viên để xem xét, đánh giá về ưu điểm, khuyết điểm hay các vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng và là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, bảo đảm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi… Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích… Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn “pha”. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”(14). Do đó, cần tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát. Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, quyết định của Đảng để phát huy ưu điểm, phòng ngừa và khắc phục kịp thời sai lầm, khuyết điểm.

Đại hội XIII của Đảng đánh giá “Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng chuyển biến chưa đều; công tác phòng ngừa chưa được quan tâm đúng mức… việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ cơ quan, đơn vị còn yếu; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong một số cơ quan, đơn vị khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi. Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội”(15).

Đại hội XIII chủ trương: tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Trước mắt, tập trung hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; xử lý kịp thời, kiên quyết, triệt để, đồng bộ, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm; tăng cường phối hợp giữa giám sát của Đảng với giám sát của Nhà nước và giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả(16).

Năm là, chủ động phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.

Hội nghị Trung ương 4 khóa XII nhận định: “Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ súy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa; đồng thời, cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn”(17).

Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục chỉ rõ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(18). Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta cần chủ động, tích cực phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN.

Thực hiện quyết liệt, thường xuyên các giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình” trong giai đoạn hiện nay

 


Trong tình hình mới, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" luôn nhiệm vụ cấp bách, cần làm ngay và thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong đó, năm 1994 Đảng xác định âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là “4 nguy cơ trước mắt” của Đảng. Tới nay, cùng với các nguy cơ đã được Đảng chỉ ra, nguy cơ âm mưu “diễn biến hòa bình” vẫn đang tồn tại, thậm chí có phần gay gắt, phức tạp hơn. Đáng chú ý, thời gian gần đây các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết liệt, hòng làm gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch tập trung lợi dụng triệt để sử dụng Internet, các trang mạng xã hội, để truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của  Nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá vô cùng nguy hiểm của các thế lực thù địch, đòi hỏi chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục:

Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.

Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập.

Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.

Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.

Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá…/.

TRIỂN MỖ ( Theo TS Nguyễn Thị Minh Huệ, Học viện ANND)

 

Âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” hiện nay

 


Chống phá cách mạng Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch có sự điều chỉnh về thủ đoạn “diễn biến hòa bình” rất nguy hiểm. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này. Âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch không mới nhưng được đẩy mạnh và điều chỉnh

Khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại.

Và hiện nay, “Diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau, đó là “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”, “vượt trên hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”… Có thể khẳng định “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị. Chiến lược “diễn biến hòa bình” liên tục được điều chỉnh, bổ sung trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta thấy ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do chủ nghĩa đế quốc phát kiến, nhưng hiện là “sản phẩm” của họ và trên cơ sở tiếp thu tư tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch.

Mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình” là nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu. Để đạt được mục đích đó, các thế lực thù địch đặt ra những mục tiêu cụ thể như: (1) Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản; (2) Âm mưu thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” trong các nước xã hội chủ nghĩa; (3) Gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ thì lôi kéo, tiến hành bạo loạn chính trị; (4) Làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế trong các nước xã hội chủ nghĩa; (5) Chuyển hoá văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo “giá trị Mỹ”, phương Tây; (6) Thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” để “vô hiệu hoá” quân đội trong các nước xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, có thể hiểu “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ tiến hành.

Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an…

Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự...

Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp.

Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi các chiến lược. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

Cuộc đấu tranh này được Đảng và nhà nước ta xác định là vẫn còn tiếp tục. Vì thế, chúng ta cần đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, đổi mới tư duy, có phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng, phản bác một cách mạnh mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn chặn sự chống phá về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch dưới bất cứ hình thức nào.

Điều quan trọng là làm cho tư tưởng, lý luận của Đảng thấm sâu trong mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với thế hệ trẻ để chính họ là những chủ thể mạnh mẽ, vững chắc làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch.

TRIỂN MỖ ( Theo TS Nguyễn Thị Minh Huệ, Học viện ANND)

Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng - Những vấn đề lý luận

  - Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta sử dụng phổ biến cụm từ phương thức lãnh đạo của Đảng. Trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, cùng với khái niệm phương thức lãnh đạo của Đảng, lần đầu tiên Đảng sử dụng khái niệm phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Bài viết góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về phương thức lãnh đạo của Đảng, phương thức cầm quyền của Đảng; quan hệ giữa phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng; phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng - Những vấn đề lý luận

Ảnh minh họa - dangcongsan.vn

1. Về phương thức lãnh đạo của Đảng

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng các khái niệm: cách lãnh đạo, lối làm việc... của Đảng. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng cho đến trước thời kỳ đổi mới, Đảng ta dùng đồng thời các khái niệm: phương pháp lãnh đạo, phương pháp công tác, phong cách lãnh đạo, phong cách công tác, lề lối làm việc, quy chế công tác, quy trình làm việc... nhưng chủ yếu áp dụng đối với cá nhân cán bộ lãnh đạo, chưa đề cập đối với các tổ chức đảng. Từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3-1989) Đảng ta chính thức dùng khái niệm “phương thức lãnh đạo của Đảng” với cách đặt vấn đề “phương thức lãnh đạo” là khái niệm ở tầm tổng quát và cao hơn. Phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các cách thức, hình thức, phương pháp, quy chế, quy định, quy trình, lề lối làm việc... mà Đảng sử dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết và các nội dung lãnh đạo của Đảng trong từng thời kỳ cách mạng. 

Nội dung của phương thức lãnh đạo của Đảng (hay các phương thức lãnh đạo của Đảng), lần đầu tiên được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) kế thừa và bổ sung những nội dung cơ bản của phương thức lãnh đạo của Đảng được nêu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Điều 41 Điều lệ Đảng do Đại hội XI của Đảng thông qua đã quy định rõ các phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng một lần nữa xác định phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước: “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát;... Các tổ chức của Đảng và đảng viên, nhất là tổ chức, đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước vừa phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nêu cao vai trò tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối, các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(1)

Qua các văn kiện của Đảng, có thể khái quát phương thức lãnh đạo của Đảng gồm: một là, Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; hai là, Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động; ba là, Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị và bằng công tác tổ chức, cán bộ; bốn là, Đảng lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát; năm là, Đảng lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đó là những cách thức chủ yếu trong phương thức lãnh đạo của Đảng.

Trên thực tế, trong hoạt động lãnh đạo, Đảng còn sử dụng nhiều hình thức, biện pháp, quy chế, quy định, quy trình, lề lối làm việc cụ thể, như: tổ chức hội nghị phổ biến nghị quyết (trong cấp ủy, tổ chức đảng và đối với cán bộ chủ chốt các tổ chức trong hệ thống chính trị); hình thức giao ban giữa các cơ quan lãnh đạo đảng với lãnh đạo cơ quan nhà nước, MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; các cuộc làm việc giữa đại diện lãnh đạo cấp ủy đảng với lãnh đạo cơ quan nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội; cấp ủy viên cấp ủy cấp trên trực tiếp dự sinh hoạt của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới; đối thoại giữa đại diện cấp ủy, tổ chức đảng với một số cá nhân; chỉ đạo làm thí điểm; xây dựng, hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy, trong đó xác định đúng và rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân và các chế độ công tác chủ yếu, nhất là chế độ hội họp, chế độ thông tin, chế độ báo cáo; xây dựng các quy chế phối hợp công tác giữa các tổ chức, cơ quan có liên quan; việc phân công cấp ủy viên phụ trách một số tổ chức, một số lĩnh vực; phân công đảng viên theo dõi, phụ trách lĩnh vực công tác, đơn vị, hộ gia đình; tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết của Đảng; sử dụng văn bản và các hình thức thông tin khác; v.v.. Trong đánh giá thực trạng thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng, văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhắc đến các hình thức, phương pháp, quy trình cụ thể này. Có thể xem đây là nội hàm của khái niệm “chỉ đạo” vẫn thường được dùng sau từ “lãnh đạo”.

2. Về phương thức cầm quyền của Đảng

Trên bình diện chung nhất có thể định nghĩa: Phương thức cầm quyền của Đảng là tổng thể các cách thức, hình thức, phương pháp, quy chế, quy định, quy trình, lề lối làm việc... mà Đảng cầm quyền sử dụng để tác động vào các tổ chức, trước hết là Nhà nước, nhằm thực hiện đúng đắn, đầy đủ ý chí chính trị, quyền và trách nhiệm của Đảng cầm quyền, quyền làm chủ của nhân dân, nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết của Đảng và phát triển đất nước trong từng thời kỳ xây dựng CNXH.

Về nội dung của phương thức cầm quyền của Đảng, hiện nay đang có các cách trình bày khác nhau ít nhiều. 

Các trình bày thứ nhất - gắn phương thức cầm quyền của Đảng với phương thức lãnh đạo của Đảng. 

Khái niệm “phương thức cầm quyền của Đảng” gắn liền với khái niệm Đảng cầm quyền, chỉ phương diện hoạt động của Đảng cầm quyền. Ở nước ta chỉ có một Đảng duy nhất, đồng thời là Đảng cầm quyền, nên hiện nay trên tổng thể, phương thức cầm quyền của Đảng cơ bản cũng là phương thức lãnh đạo của Đảng, chỉ có sự khác biệt là - xét từ vị thế, trách nhiệm của Đảng cầm quyền và đối tượng tác động chủ yếu của Đảng - cần nhấn mạnh một số nội dung trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Theo đó, có thể xác định các phương thức cầm quyền của Đảng gồm:

Một là, Đảng cầm quyền bằng sử dụng Cương lĩnh, chiến lược, các nghị quyết, kết luận của Đảng làm căn cứ và chỉ đạo để Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa thành pháp luật, chính sách, kế hoạch, chương trình và tổ chức thực hiện; MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch công tác và tổ chức thực hiện.

Hai là, Đảng cầm quyền bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động (nhất là đối với các đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp không là đảng viên) để các cơ quan nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tán thành, hăng hái thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng.

Ba là, Đảng cầm quyền bằng phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng và bố trí đúng, đề cao trách nhiệm của đảng viên giữ cương vị lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội; Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác tổ chức và công tác cán bộ của các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Bốn là, Đảng cầm quyền bằng công tác kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng và đảng viên công tác trong các tổ chức của hệ thống chính trị, qua đó kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Năm là, Đảng cầm quyền bằng phát huy vai trò, trách nhiệm, nhất là trách nhiệm nêu gương, của đảng viên công tác trong các tổ chức của hệ thống chính trị. 

Cách trình bày thứ hai - nhấn mạnh phương thức cầm quyền đối với Nhà nước. 

Một là, Đảng cầm quyền bằng pháp luật và tuân theo pháp luật

Trong phương thức này nhấn mạnh việc Đảng lãnh đạo Quốc hội thể chế hóa Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật; khi đường lối, chủ trương của Đảng đã trở thành Hiến pháp, pháp luật, thì tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân đều phải chấp hành; chấp hành Hiến pháp, pháp luật cũng tức là đã chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng. Nếu đường lối, chủ trương của Đảng chỉ có hiệu lực tuyệt đối đối với các tổ chức đảng và đảng viên, còn đối với xã hội thì chỉ là sự định hướng, nhưng khi đường lối, chủ trương của Đảng đã được Quốc hội luật hóa thành Hiến pháp, pháp luật thì đường lối, chủ trương của Đảng trở thành bắt buộc, có hiệu lực cao nhất đối với cả xã hội; bản thân các tổ chức đảng và mọi đảng viên đều có trách nhiệm chấp hành, không được đứng ngoài, đứng trên pháp luật, hơn nữa phải gương mẫu trong chấp hành pháp luật; nếu có vi phạm, thì ngoài kỷ luật đảng, đảng viên còn bị xử lý theo pháp luật với tư cách là công dân. Phương thức này cũng bao hàm cả nghĩa Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình: quyết định về đường lối và quyết định việc lãnh đạo Quốc hội thể chế hóa đường lối của Đảng thành pháp luật, Quốc hội và Chính phủ cụ thể hóa đường lối của Đảng thành chính sách, quy định.

Hai là, Đảng cầm quyền bằng công tác tư tưởng

Thông qua các tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, Đảng tuyên truyền, phổ biến để thành viên của các cơ quan, tổ chức này không là đảng viên nắm được đường lối, chủ trương của Đảng; thuyết phục họ tán thành, nhất trí với đường lối, chủ trương của Đảng, đề ra chương trình, kế hoạch thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình; vận động họ hăng hái, sáng tạo trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chương trình, kế hoạch công tác của cơ quan, tổ chức đã đề ra. Đảng sử dụng các cơ quan truyền thông của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội để tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước tới tất cả các tầng lớp nhân dân, tạo lập sự đồng thuận xã hội, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, qua đó củng cố uy tín của Đảng.

Ba là, Đảng cầm quyền bằng nắm công tác tổ chức, cán bộ của Nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội  

Sau khi giành được chính quyền, Đảng lãnh đạo nhân dân thiết lập bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị để thực hiện đường lối của Đảng và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Đảng thống nhất nắm, chỉ đạo công tác xây dựng tổ chức không chỉ của Đảng, mà của cả các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt chú trọng tổ chức bộ máy nhà nước. Đảng định hướng chính trị hoạt động của Nhà nước; thông qua các tổ chức đảng và cán bộ đảng trong các cơ quan nhà nước để sắp xếp, kiện toàn tổ chức và nắm chặt bộ máy nhà nước theo đúng đường lối chính trị và đường lối tổ chức của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với toàn bộ hệ thống tổ chức của cả hệ thống chính trị. Đảng dùng đa số đảng viên trong Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp để bầu các đại biểu là đảng viên do cấp ủy đảng giới thiệu nắm giữ các vị trí then chốt của bộ máy nhà nước, nhất là ở cấp trung ương; để nắm quyền điều khiển, định hướng hoạt động của cơ quan nhà nước theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng. Đồng thời, Đảng cũng bố trí đảng viên tham gia, nắm giữ những vị trí then chốt của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, một số tổ chức xã hội quan trọng.

Bốn là, Đảng cầm quyền bằng việc kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên trong việc thực thi quyền lực nhà nước

Đảng thực hiện việc kiểm soát quyền lực nhà nước bằng việc trực tiếp kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên trong cơ quan nhà nước thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và lãnh đạo tổ chức đảng, đảng viên trong cơ quan nhà nước kiểm soát quyền lực nhà nước. Các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên không chỉ phải nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng, mà còn phải thực hiện nghiêm pháp luật, chính sách của Nhà nước. Đảng giám sát hoạt động của đội ngũ đảng viên làm việc trong bộ máy nhà nước; giám sát việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước; giám sát, kiểm soát việc thực thi Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan, công chức nhà nước, nhằm bảo đảm Nhà nước thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định. Các đảng viên nắm giữ những chức vụ trong bộ máy nhà nước có trách nhiệm báo cáo công tác trước tổ chức đảng (đảng đoàn, ban cán sự đảng), cấp ủy đảng, chi bộ nơi sinh hoạt đảng về mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Qua kiểm tra, Đảng xử lý nghiêm minh, kịp thời những đảng viên vi phạm kỷ luật đảng và pháp luật.

Như vậy, trong thực chất, hai cách trình bày nêu trên về các nội dung phương thức cầm quyền của Đảng cơ bản là giống nhau, cách trình bày thứ hai nhấn mạnh một số khía cạnh trong cách trình bày thứ nhất về các phương thức cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước. 

3. Quan hệ giữa phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng

Các phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và được Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định lại. Phương thức lãnh đạo gắn liền với hoạt động lãnh đạo của Đảng, nên được hình thành từ khi Đảng ra đời lãnh đạo cách mạng; là vấn đề cơ bản, xuyên suốt, có tính chất bao trùm và chi phối toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng. Do Đảng cầm quyền chỉ là Đảng lãnh đạo trong thời kỳ có chính quyền, nên phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền có sự giống nhau trên những nội dung cơ bản, chỉ có sự khác biệt nhất định về phạm vi, mức độ; trong đó, phương thức cầm quyền chỉ hình thành trong thời kỳ Đảng có chính quyền và nhấn mạnh hai nội dung của phương thức lãnh đạo: một là, Đảng sử dụng quyền lực của mình để tác động, chi phối việc xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước; hai là, Đảng bố trí nhân sự chủ chốt của các cơ quan nhà nước, nhất là ở cấp trung ương.

Giữa phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng có quan hệ mật thiết với nhau, vừa tương đồng, vừa có sự khác biệt nhất định. Tương đồng ở chỗ: cả phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền đều là của cùng một chủ thể là Đảng; trong điều kiện có chính quyền, đều tác động tới các đối tượng là Nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, các lực lượng vũ trang, các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập và nhân dân; cùng nhằm mục tiêu cao nhất là thực hiện có hiệu quả Cương lĩnh, chiến lược, đường lối, mục tiêu chính trị của Đảng; đều phải sử dụng các phương pháp tư tưởng, hành chính, tổ chức, kiểm tra, giám sát, nêu gương... Khác biệt ở chỗ: phương thức cầm quyền chú trọng việc chỉ đạo các cơ quan nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa cương lĩnh, chiến lược, đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách và định hướng hoạt động của Nhà nước; nắm công tác tổ chức, cán bộ của Nhà nước bằng việc định hướng kiện toàn tổ chức và đưa cán bộ, đảng viên vào nắm giữ quyền lực và trực tiếp điều hành, thực thi quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước; cùng với các phương pháp dân chủ, tuyên truyền, thuyết phục, vận động, Đảng sử dụng quyền lực của Đảng cầm quyền và các nguyên tắc của Đảng để tác động, chi phối hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị. 

Tuy nhiên, phương thức cầm quyền thực chất là phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng trong điều kiện có chính quyền, kể cả khi là lực lượng duy nhất cầm quyền, nên sự phân biệt giữa phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo chỉ là tương đối. Ví dụ, Đảng cầm quyền cũng phải sử dụng các biện pháp công tác tư tưởng để tuyên truyền, thuyết phục, vận động và bảo vệ đường lối của Đảng. Đó cũng là phương thức lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động để đưa đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đội ngũ đảng viên và nhân dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Khi nói Đảng cầm quyền bằng tổ chức, bằng công tác cán bộ, bằng công tác tư tưởng... thì khó có thể phân biệt rạch ròi với Đảng lãnh đạo bằng tổ chức, bằng cán bộ, bằng sự tác động tư tưởng.

4. Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Đại hội XIII của Đảng lần đầu tiên chính thức dùng “khái niệm kép” “phương thức lãnh đạo, cầm quyền” của Đảng mà không phải là “phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền” hay “phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền” của Đảng. Việc sử dụng “khái niệm kép” này chứng tỏ, giữa phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng hiện nay cơ bản là giống nhau (nên không tách bạch riêng phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền), nhưng có sự khác biệt nhất định (nên phải bổ sung từ “cầm quyền” sau từ “lãnh đạo”). Việc bổ sung từ “cầm quyền” là để: một là, nhấn mạnh phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng là Đảng cầm quyền, Đảng vừa có quyền lãnh đạo, vừa phải chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo của mình; hai là, nhấn mạnh trọng tâm cầm quyền của Đảng là đối với Nhà nước.

Từ quan niệm về phương thức lãnh đạo của Đảng và phương thức cầm quyền của Đảng, bước đầu có thể quan niệm: Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng là toàn bộ các cách thức, hình thức, biện pháp, quy trình, lề lối làm việc mà Đảng sử dụng quyền lực của Đảng cầm quyền để tác động, chi phối Nhà nước và xã hội nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, đường lối của Đảng, xứng đáng với vai trò, vị thế và trách nhiệm của Đảng duy nhất cầm quyền. 

Có thể quan niệm phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng gồm các nội dung chính sau: 

Một là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng Cương lĩnh, chiến lược, nghị quyết và định hướng chủ trương, chính sách lớn; bằng đa số đảng viên để lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa thành pháp luật, chính sách, chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện; lãnh đạo MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác của tổ chức mình và tổ chức thực hiện.

Bằng đa số đảng viên trong Quốc hội, Đảng tác động vào công tác xây dựng pháp luật; bằng đa số đảng viên trong Quốc hội, Chính phủ, hội đồng nhân dân các cấp, ủy ban nhân dân các cấp, Đảng tác động vào việc ban hành các chính sách, chương trình, kế hoạch công tác của các cơ quan nhà nước và tổ chức thực hiện tốt pháp luật, các chính sách, chương trình, kế hoạch công tác đã đề ra; thông qua đảng viên là cán bộ chủ chốt trong cơ quan lãnh đạo của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, Đảng tác động vào việc xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác của các tổ chức này để bảo đảm theo đúng quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và chức năng, vai trò của mỗi tổ chức. Nghị quyết của Đảng cũng là căn cứ để đánh giá, kiểm tra, giám sát việc thực hiện của tổ chức đảng, đảng viên trong các tổ chức của hệ thống chính trị.

Hai là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động các tổ chức trong hệ thống chính trị và cả xã hội tán thành, ủng hộ và tích cực thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bằng hệ thống các cơ quan tuyên giáo, hệ thống cơ quan truyền thông của Đảng và Nhà nước, Đảng tuyên truyền, phổ biến để các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là thành viên trong cơ quan lãnh đạo của tổ chức này không là đảng viên, nắm được đầy đủ, đúng đắn, kịp thời các đường lối, chủ trương của Đảng; thuyết phục các tổ chức và cá nhân tán thành, nhất trí với đường lối, chủ trương của Đảng, từ đó đề ra chương trình, kế hoạch thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình; vận động các tổ chức và cá nhân tích cực, sáng tạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chương trình, kế hoạch của tổ chức đã đề ra; tuyên truyền sâu rộng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước tới tất cả các tầng lớp nhân dân, tạo lập và củng cố sự đồng thuận xã hội; phê phán các tư tưởng sai trái, đấu tranh chống các luận điệu thù địch.

Ba là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng việc giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ứng cử các chức danh chủ chốt trong các cơ quan lãnh đạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị; thống nhất lãnh đạo công tác tổ chức và công tác cán bộ của cả hệ thống chính trị.

Bằng việc đa số đảng viên là đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp phải chấp hành nghị quyết, chủ trương của cấp ủy trong việc bầu các đảng viên do cấp ủy đảng cùng cấp giới thiệu, Đảng nắm giữ các vị trí chủ chốt của bộ máy nhà nước, trước hết là cấp trung ương, để những cán bộ này nắm quyền theo quy định của pháp luật trực tiếp điều hành, định hướng cơ quan nhà nước thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng và kịp thời phản ánh với Đảng những vấn đề cần lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Đồng thời, Đảng cũng giới thiệu và thông qua đảng viên trong MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội để hiệp thương, bầu đảng viên tham gia, nắm giữ những vị trí chủ chốt trong cơ quan lãnh đạo của từng tổ chức. 

Bằng công tác tuyên truyền, Đảng động viên, lãnh đạo nhân dân tích cực tham gia xây dựng Nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Đảng thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện công tác tổ chức của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt chú trong tổ chức bộ máy nhà nước. Đảng lãnh đạo, định hướng chính trị hoạt động của Nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội; thông qua các tổ chức đảng và cán bộ đảng trong các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội để sắp xếp, kiện toàn tổ chức theo đúng đường lối chính trị và đường lối tổ chức của Đảng. 

Bốn là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền thông qua các tổ chức đảng, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nhất là cấp ủy viên, đảng viên ở cương vị người đứng đầu trong các tổ chức của hệ thống chính trị.

Đảng lập các tổ chức đảng (Đảng đoàn, ban cán sự đảng, cấp ủy đảng) trong các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội; chỉ định cấp ủy viên là người đứng đầu Đảng đoàn, ban cán sự đảng để các tổ chức này trực tiếp lãnh đạo cơ quan nhà nước, cơ quan lãnh đạo của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước cấp ủy về chất lượng nội bộ và toàn bộ hoạt động của cơ quan, tổ chức; đề xuất với cấp ủy các chủ trương, thông qua đó Đảng thực hiện sự lãnh đạo đối với các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Phương thức này vừa bảo đảm sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vừa thực hiện đúng nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật: Đảng không chỉ thị, giao nhiệm vụ cho cơ quan nhà nước, chỉ chỉ thị, giao nhiệm vụ cho tổ chức đảng và cán bộ đảng trong các cơ quan nhà nước. Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng hành động gương mẫu của đảng viên, nhất là người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp. 

Năm là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Trong các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đều có tổ chức đảng và đa số thành viên cơ quan lãnh đạo của các tổ chức này là đảng viên, người đứng đầu các cơ quan nhà nước là cấp ủy viên, nên Đảng dùng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng để kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng, đảng viên ở đó. Tuy chỉ là kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên, nhưng thực chất cũng là việc kiểm tra, giám sát của Đảng đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội mà không vi phạm Hiến pháp, pháp luật.