Thứ Tư, 6 tháng 4, 2022
KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC HÌNH TƯỢNG CAO QUÝ
Mặc dù
các thế lực thù địch ra sức chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ, nhưng thực tế
cho thấy: Bộ đội Cụ Hồ mãi là danh xưng bình dị, gần gũi mà cao quý; giá trị phẩm
chất Bộ đội Cụ Hồ vẫn đặc biệt thiêng liêng, mãi trường tồn theo thời gian.
Thực tiễn
xã hội Việt Nam ở thời điểm hiện tại cho thấy, danh hiệu và hình tượng Bộ đội Cụ
Hồ đã thấm đẫm vào hàng triệu con tim, khối óc của người dân Việt Nam và bạn bè
quốc tế; trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng; luôn
vận động, phát triển qua các giai đoạn cách mạng và yêu cầu xây dựng quân đội
trong từng thời kỳ. Nói đến phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là nói đến những giá trị chuẩn
mực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân
cách mạng, tựu trung lại là: Lý tưởng chiến đấu cao đẹp, yêu nước, yêu chế độ,
trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; tinh thần quyết chiến,
quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sự gan dạ, dũng cảm,
kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; tình đồng chí, đồng
đội gắn bó keo sơn; tình đoàn kết quân dân cá-nước, trách nhiệm với nhân dân, sẵn
sàng hy sinh tính mạng vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân; tính kỷ luật
tự giác, nghiêm minh... Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy, phản ánh bản chất
cách mạng, nhân cách và là sức mạnh nội sinh được tích hợp ở một trình độ cao
trong quá trình xây dựng, chiến đấu và công tác của Quân đội ta. Từ thực tiễn
công tác huấn luyện, SSCĐ, giúp dân phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ngày càng được
thể hiện rõ nét, lan tỏa trên mọi lĩnh vực, có sức cảm hóa mãnh liệt trong đời
sống xã hội.
Nét nổi
bật trong phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ là lòng trung thành tuyệt đối với Đảng,
với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân. Tiếp thu học thuyết Mác-Lênin về xây
dựng quân đội kiểu mới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo xây dựng
Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam từ các phong trào đấu tranh cách mạng của quần
chúng; thường xuyên được giáo dục, rèn luyện qua thực tiễn huấn luyện, công
tác, SSCĐ và chiến đấu, bảo đảm cho quân đội luôn mang bản chất giai cấp công
nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; là công cụ bạo lực của Nhà nước,
chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và CNXH, được nhân
dân suy tôn Bộ đội Cụ Hồ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và trải qua thực tiễn đấu
tranh cách mạng, phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ ngày càng tỏa sáng, thực sự
là đội quân có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng,
Nhà nước, Tổ quốc, nhân dân và luôn có ý chí quyết tâm, sức mạnh chiến đấu cao
trước mọi kẻ thù xâm lược. Sự trung thành của Bộ đội Cụ Hồ đối với Đảng, với Tổ
quốc là vấn đề có tính nguyên tắc, bất di bất dịch, luôn song hành cùng nhau,
dù trong hoàn cảnh, điều kiện nào cũng không thay đổi, nó thuộc về bản chất,
truyền thống đã được hun đúc, bồi đắp trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu
và trưởng thành của Quân đội ta.
Thực tế
đó cho thấy, mọi mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch
đòi: “Quân đội chỉ cần trung thành với lợi ích của quốc gia, dân tộc”, “Tổ quốc
trên hết”, “chuyên nghiệp hóa quân đội và công an càng sớm càng tốt”; “Quân đội
và công an là của nhân dân nên không cần phải diễu võ dương oai”... là không có
cơ sở và cũng không thể thực hiện được. Những luận điệu đó chỉ nhằm phục vụ mưu
đồ của các thế lực thù địch muốn tách sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam với
QĐND Việt Nam, làm lu mờ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến
đấu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ Ðảng, Nhà nước và nhân dân... mà sự
nghiệp cách mạng của dân tộc đã trao cho QĐND Việt Nam-Bộ đội Cụ Hồ.
Từ nhân
dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, Bộ đội Cụ Hồ luôn gắn bó máu thịt với nhân
dân, được nhân dân chở che, đùm bọc, kề vai sát cánh cả trong đấu tranh cách mạng
cũng như trong thời bình. Tình quân dân đã trở thành mẫu mực trong đời sống của
người dân đất Việt và được khẳng định trong thực tiễn thông qua công tác dân vận
của quân đội. “Đi dân nhớ, ở dân thương”, “Quân với dân như cá với nước”, “Xe
chưa qua, nhà không tiếc”... đã đi vào tiềm thức đẹp khi nói về mối quan hệ
đoàn kết quân dân. Phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ được thể hiện rõ khi cán bộ,
chiến sĩ quân đội tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, gắn
bó với cấp ủy, chính quyền các cấp; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định
của địa phương; xây dựng bản làng văn hóa, bài trừ các hủ tục, lối sống lạc hậu.
Đồng thời, tư vấn, hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính
trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn; giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng
nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh,
tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; đưa chính sách của Đảng, Nhà nước đến với đồng bào
các dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải
đảo... Các binh đoàn, đoàn kinh tế-quốc phòng, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển
kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, tạo công ăn việc làm cho người dân, giúp
dân chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, bao tiêu sản phẩm, nâng cao chất lượng cuộc
sống, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn đóng quân. Bộ đội Cụ Hồ đã chủ
động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, để họ
không mắc mưu trước âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết
quân dân của các thế lực thù địch, tin tưởng cấp ủy, chính quyền địa phương,
đoàn kết các dân tộc anh em và tình hữu nghị với các nước láng giềng.
Càng
trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ càng tỏa sáng,
có sức thuyết phục, sống động, góp phần bồi dưỡng nhận thức, tư tưởng, tình cảm,
khơi dậy và nhân lên mặt tích cực trong nhân dân. Điển hình là trong phòng, chống
thiên tai, thảm họa môi trường và đại dịch Covid-19, quân đội đã khẳng định được
vai trò là lực lượng xung kích, đi đầu; hoàn thành tốt chức năng “đội quân công
tác”; được cấp ủy, chính quyền các cấp và nhân dân ghi nhận, biết ơn. Cán bộ,
chiến sĩ quân đội đã không hề do dự, tính toán thiệt hơn, có lệnh là lên đường
làm nhiệm vụ; ở đâu xuất hiện điểm nóng về dịch Covid-19, những điểm sạt lở do
bão lũ gây ra là cán bộ, chiến sĩ quân đội có mặt, xông pha trên tuyến đầu,
không nề hà bất cứ công việc gì. Những suy nghĩ, cử chỉ, hành động, việc làm của
cán bộ, chiến sĩ quân đội trong phòng, chống thiên tai, đại dịch một lần nữa khẳng
định tinh thần “vì nhân dân quên mình”, “vì nhân dân phục vụ”, kế thừa và phát
huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới.
Một
trong những phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ là “sẵn sàng chiến đấu, hy sinh
vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn
nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Ra đời trong các cuộc đấu tranh
cách mạng, dù thời bình hay thời chiến, với chức năng, nhiệm vụ được giao, cán
bộ, chiến sĩ quân đội luôn thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ
quốc ngày nay; làm tốt công tác tham mưu, chỉ đạo chiến lược về công tác quân sự,
quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ trong mọi
tình huống. Bộ đội luôn tích cực, hăng say, sáng tạo trong huấn luyện, diễn tập,
SSCĐ và xử lý các tình huống quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ, bảo vệ chủ
quyền biển, đảo, thực thi pháp luật trên biển, tuần tra bảo vệ đường biên, mốc
giới... không nề hà khó khăn, vất vả, hiểm nguy. Trong bất kỳ nhiệm vụ nào, phẩm
chất Bộ đội Cụ Hồ luôn được phát huy và tỏa sáng; nhân cách của quân đội cách mạng
luôn được khẳng định trong thực tiễn; vị thế, vai trò của quân đội ngày càng thể
hiện rõ nét. Hành động của Bộ đội Cụ Hồ trên hết, trước hết là vì nền độc lập,
lợi ích quốc gia, dân tộc, vì CNXH và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân
dân. Việc làm của họ tự thân đã khẳng định rằng những giá trị phẩm chất Bộ đội
Cụ Hồ đang tiếp tục được vun đắp mà không một thế lực nào có thể bôi nhọ, hạ bệ
hay phủ nhận...
Hiểu đúng về tự do ngôn luận, tự do sáng tác ở Việt Nam
Gần đây
các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn đã đăng tải
nhiều bài viết cho rằng ở Việt Nam không có hạnh phúc. Chúng dẫn lời các đối tượng
là văn nghệ sĩ bất mãn, thường xuyên có những lời nói, bài viết, hành động gây
rối, kích động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa
như Tuấn Khanh, Mai Khôi, Nguyễn Hữu Vinh… rồi quy chụp, xuyên tạc về hạnh phúc
của người dân, nhất là tự do ngôn luận, tự do sáng tác ở Việt Nam.
Thứ nhất,
bảo đảm tự do ngôn luận chứ không cổ súy thứ ngôn luận tự do vô chính phủ
Khi nói
đến quyền tự do ngôn luận, một số phần tử cho rằng, tự do ngôn luận là được quyền
tự do phát ngôn, bình luận, chia sẻ, phát tán thông tin mà không chịu bất cứ sự
ngăn cản nào; vì thế nếu ai hạn chế quyền đó là vi phạm quyền tự do ngôn luận của
công dân. Nhận thức như vậy là phiến diện, sai lầm, ngụy biện. Bởi trên thực tế,
không có quyền tự do nào là tuyệt đối, mà chỉ có quyền tự do tương đối. Nếu để
tự do tuyệt đối nghĩa là tự do vô giới hạn, vô chính phủ sẽ dẫn đến tình trạng
mất kiểm soát, gây ra rối loạn xã hội. Quyền tự do ngôn luận cũng vậy. Nếu ai
cũng phát ngôn tùy tiện, chia sẻ thông tin bất chấp đúng - sai, thật - giả lẫn
lộn, không chỉ làm cho xã hội rơi vào tình trạng nhiễu loạn thông tin, mà còn
gây mất ổn định an ninh chính trị, xã hội.
Bất cứ
quốc gia nào cũng vậy, quyền lợi luôn gắn liền với trách nhiệm. Con người muốn
có tự do phải hiểu rõ nghĩa vụ, bổn phận của mình được làm những gì, không được
phép làm những gì. Công dân muốn được hưởng đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, tự
do tiếp cận thông tin thì nhất thiết phải tuân thủ các quy định pháp luật để thực
hiện quyền tự do của mình nhưng không được gây hại đến quyền tự do của người
khác và tác động tiêu cực đến cộng đồng, đến an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội. Nhà nước bảo đảm tự do ngôn luận cho người dân nhưng cũng xử lý nghiêm
minh hành vi tự do vô tổ chức, vô chính phủ. Lợi dụng tự do ngôn luận để chống
phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, phá hoại cuộc sống bình yên của
nhân dân.
Thứ hai,
tự do sáng tác phải nằm trong khuôn khổ pháp luật
Trong thời
gian qua, các thế lực thù địch, phản động, nhất là số văn nghệ sĩ bất mãn đã ra
sức hô hào, cổ vũ, đòi hỏi “tự do sáng tác” trong văn học nghệ thuật. Chúng cho
rằng, văn nghệ sĩ có quyền tự do sáng tác và công bố tác phẩm mà không bị ràng
buộc bởi pháp luật như ở phương Tây, như “hạnh phúc” mà Mai Khôi ước ao: “trong
tương lai hệ thống kiểm duyệt của Việt Nam, vốn hạn chế hạnh phúc sáng tác của
người nghệ sĩ, sẽ không còn tồn tại, để nghệ sĩ được tự do sáng tác, được tự do
ca hát, và những người thưởng thức âm nhạc sẽ được nghe những bài hát mà trước
đây bị cấm. Chắc lúc đó mọi người sẽ rất hạnh phúc”. Thực tế đã chứng minh, đó
chỉ là sự dối trá, bịp bợm, núp bóng văn nghệ sĩ để chống phá Đảng, Nhà nước,
chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta mà thôi.
Ở phương
Tây, các tác giả trước khi hoàn thành bản thảo phải “tự kiểm duyệt”, sau đó ban
biên tập nhà xuất bản sẽ tiến hành kiểm tra (kiểm duyệt nội bộ) và quyết định
có được in hay không. Sau khi tác phẩm được công bố, nếu phát hiện vi phạm sẽ bị
tịch thu. Việc làm này dựa vào các tiêu chí mà họ đưa ra trên cơ sở của pháp luật
hiện hành. Ví dụ, ở Đức, cơ sở pháp lý để nhà xuất bản kiểm tra là những điều bị
cấm được quy định trong các bộ luật, như trong Bộ Luật hình sự có các tội danh:
“phổ biến tài liệu tuyên truyền của những tổ chức vi hiến”, “phỉ báng Nhà nước
Đức và các biểu tượng quốc gia đã quy định”…. Người đọc cũng rất ít biết về các
cuốn sách bị cấm và tịch thu vì lý do chính trị. Một số nước mà các thế lực thù
địch, phản động tung hô là “hình mẫu về dân chủ” thường tự hào rằng nghệ sĩ của
nước họ có quyền tự do sáng tác, rồi lớn tiếng đòi hỏi các quốc gia khác cũng
phải theo. Nhưng sự thực lại không như vậy, ngay tại quốc gia đó, họ lại sử dụng
nhiều nguyên tắc luật pháp để quản lý quá trình sáng tác và công bố tác phẩm
văn học nghệ thuật. Xét đến cùng, tự do sáng tác theo quan niệm của họ cũng chỉ
là chiêu bài nhằm gây sự mơ hồ về chế độ xã hội, thậm chí kích động thái độ chống
đối hơn là tạo điều kiện giúp đỡ nghệ sĩ sáng tác.
Như vậy,
những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động đưa ra về tự do ngôn luận,
tự do sáng tác để có được “hạnh phúc” chỉ là sự lừa bịp. Phải lên án, đấu tranh
bác bỏ thứ ngôn luận tự do, tự do sáng tác kiểu vô trách nhiệm, vô tổ chức, cố
tình đăng tải, phát tán những thông tin sai trái, bịa đặt, đổi trắng thành đen,
xuyên tạc truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam, bôi nhọ anh hùng dân tộc,
phỉ báng chính quyền, sử dụng chiêu bài tự do thông tin, tự do ngôn luận để lèo
lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực, đen tối và tạo ra một góc nhìn sai lệch
về Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam./.
Xây dựng tiêu chí về chuẩn mực đạo đức cách mạng trong giai đoạn mới
Chiều
6/4 tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức tọa đàm “Xây dựng tiêu chí về chuẩn mực
đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới”. Đồng chí Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó
trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì Tọa đàm
Tham dự Tọa đàm có Thứ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tạ Quang Đông; đông đảo các chuyên gia, nhà
khoa học cùng đại biểu một số bộ, ban, ngành Trung ương, địa phương và đại diện
lãnh đạo các vụ, đơn vị trong Ban Tuyên giáo Trung ương.
Phát biểu khai mạc, đồng chí Lê
Hải Bình nhấn mạnh, việc nghiên cứu để xác định các tiêu chí về chuẩn mực đạo
đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn
mới là cần thiết và cấp bách, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
làm cho Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.
Đại hội XIII của Đảng đặc biệt
nhấn mạnh xây dựng Đảng gắn liền với chỉnh đốn Đảng, tập trung xây dựng Đảng về
đạo đức. Đảng phải thực sự tiêu biểu cho đạo đức “là đạo đức, là văn minh” như
chỉ dẫn của Hồ Chí Minh.
Tình
hình thế giới và khu vực hiện nay đang đặt ra những cơ hội và thách thức đối
với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác xây dựng Đảng phải
được đẩy mạnh hơn nữa; mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao trách nhiệm của mình.
Thực hiện nhiệm vụ của Bộ Chính
trị, Ban Bí thư đề ra, Ban Tuyên giáo Trung ương có kế hoạch xây dựng tiêu chí
về chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, qua
đó làm cơ sở để tham mưu cho Đảng xem xét ban hành các nghị quyết, chỉ thị về
xây dựng Đảng về đạo đức và văn hóa.
Đây là Tọa đàm đầu tiên trong
kế hoạch tổ chức một số cuộc tọa đàm cùng chủ đề của Ban Tuyên giáo Trung ương
trong năm 2022. Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Lê Hải Bình đề nghị các nhà
khoa học đóng góp ý kiến để từng bước xây dựng, hình thành hệ thống tiêu chí,
chuẩn mực đạo đức cán bộ, đảng viên trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu như
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu lên gần đây là làm sao để dễ nhớ, dễ hiểu, dễ
làm, dễ kiểm tra; đóng góp thiết thực cho công cuộc xây dựng Đảng, đồng thời
thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực
hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh.
Theo GS. TS. Hoàng Chí Bảo,
chưa bao giờ vấn đề nêu gương và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên,
trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao được nhấn mạnh như hiện nay. Hồ
Chí Minh đã từng nhấn mạnh “Một tấm gương sống còn có giá trị và ý nghĩa, còn
quý hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền” và “đảng viên đi trước, làng nước
theo sau”. Quy định về trách nhiệm nêu gương không chỉ là quy định mà còn hàm
chứa cả những chế tài xử lý theo kỷ luật Đảng để phòng ngừa những vi phạm trong
cán bộ, đảng viên do xem nhẹ, coi thường việc nêu gương, việc tu dưỡng, rèn
luyện phẩm chất chính trị và đạo đức dẫn tới suy thoái, thậm chí phạm tội, làm
tổn thương uy tín, danh dự của Đảng trong sự nhìn nhận, đánh giá của nhân dân.
GS. TS. Mạch Quang Thắng nhận
định, ở nước ta hiện nay đang có tình trạng sự phát triển về văn hóa đạo đức
chưa tương xứng với sự tăng trưởng về kinh tế. Sự nghiệp đổi mới đã đạt được
những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Nhìn chung, các mặt, các lĩnh vực
đều có sự phát triển, nhất là về kinh tế. Nhưng, thẳng thắn nhìn nhận, kết quả
về xây dựng văn hóa, trong đó có đạo đức chưa tương xứng, thậm chí có không ít
những biểu hiện môi trường văn hóa đạo đức bị ô nhiễm, có lúc có nơi nghiêm
trọng. Nhiều tổ chức của hệ thống chính trị, nhiều cán bộ, đảng viên, công
chức, viên chức chưa có nhận thức đúng về vai trò của vấn đề đạo đức trong xã
hội, điều mà Hồ Chí Minh đã không ít lần bày tỏ quan điểm của mình về vai trò
cực kỳ quan trọng của đạo đức cách mạng trong Đảng và ngoài xã hội.
Các ý kiến phát biểu tại Tọa
đàm đều thống nhất cho rằng, mục đích việc xây dựng các tiêu chí về chuẩn mực
đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên nhằm: 1) Nâng cao nhận thức về tầm quan
trọng của đạo đức cách mạng, tạo chuyển biến tốt trong tu dưỡng, rèn luyện đạo
đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng chỉnh đốn Đảng về đạo
đức; 2) Xây dựng các chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, làm căn
cứ cho cán bộ, đảng viên tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện, đáp ứng yêu cầu của đất
nước và thời đại trong thời kỳ mới; 3) Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ
thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa”.
Theo đó, để xây dựng được khung
tiêu chí chung như một hệ giá trị, hệ chuẩn mực, cũng là những yêu cầu phấn
đấu, cần học tập, vận dụng những chỉ dẫn rất cụ thể, rất thiết thực của Bác Hồ,
khi Người viết “Tư cách của một người cách mệnh” từ năm 1927. Đó là một gợi ý
quý báu về tiêu chí.
Các chuyên gia, nhà khoa học
cũng nhấn mạnh, việc xây dựng hệ tiêu chí, chuẩn mực đạo đức cách mạng phải dựa
trên các văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết của Trung ương, các chỉ thị, quy
định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Để xây dựng được hệ tiêu chí chung, có tính
phổ biến, làm cơ sở cho việc vận dụng thực hiện trong toàn Đảng, từ cơ sở tới
Trung ương, từ các địa phương đến các ngành, các cấp, trước hết cần thống nhất nhận
thức về những vấn đề lý luận cơ bản và yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn mới
đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII
và các nghị quyết của Trung ương, các chỉ thị, quy định của Bộ Chính trị và Ban
Bí thư. Đạo đức cách mạng, chuẩn mực đạo đức cách mạng và tiêu chí chuẩn mực
đạo đức cách mạng là những vấn đề lý luận cơ bản phải làm rõ, từ góc nhìn đạo
đức học trong Chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong
quan điểm của Đảng, nhấn mạnh “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức” theo Văn
kiện Đại hội XIII.
Cùng với các ý kiến phát biểu
trách nhiệm, tâm huyết, Tọa đàm cũng nhận được nhiều tham luận có giá trị lý
luận và thực tiễn của các chuyên gia, nhà khoa học, như: “Tiêu chí về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán
bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới” của GS. TS. Hoàng Chí Bảo; “Vai trò của đạo đức trong tình hình hiện nay ở
Việt Nam” của GS. TS. Mạch Quang
Thắng; “Cần, kiệm, liêm chính -
chuẩn mực đạo đức cơ bản của cán bộ, đảng viên” của PGS. TS. Lý Việt Quang; “Thực hành tự phê bình và phê bình - tiêu chí
quan trọng về chuẩn mực đạo đức của đảng viên hiện nay” của Trung tướng, PGS. TS. Trần Vi Dân; “Xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán
bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” của TS. Lê Thị Hằng...
HAIVAN
