Thứ Tư, 6 tháng 4, 2022

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU BÔI NHỌ PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ Vào thời điểm Đảng bộ Quân đội và toàn quân đang mở một đợt sinh hoạt chính trị, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt, sớm đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, vào thực tiễn cách mạng và hoạt động quân sự, thì những kẻ hiềm khích cùng thế lực thù địch, ráo riết triển khai một đợt cao điểm chống phá, hòng hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội. Chúng cố tình bôi nhọ, hạ bệ hình tượng Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội và chia rẽ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân-dân. Xét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là nhằm tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, chuyển hướng chính trị Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản. Cùng với đó, những thủ đoạn cũng chĩa mũi nhọn vào bôi đen những giá trị chuẩn mực đạo đức Bộ đội Cụ Hồ, tạo sự lệch chuẩn trong nhận thức và hành động của một số cán bộ, chiến sĩ ở các cơ quan, đơn vị. Từ đó, hòng làm cho bộ đội ta mất phương hướng chính trị, không phân biệt rõ bạn-thù, đối tượng-đối tác; xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; tha hóa về đạo đức, lối sống; rệu rã về mặt tổ chức, không còn là công cụ sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân. Để thực hiện mưu đồ đó, chúng tìm trăm phương nghìn kế để chống phá, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội trong thời gian dài, nhưng “xới lên” rầm rộ ở từng thời điểm, mà dịp Quân đội ta triển khai Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương như vừa qua là một ví dụ. Theo đó, các thế lực thù địch tập trung sự xuyên tạc vào những vấn đề cơ bản về chính trị, bản chất giai cấp, hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đến những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, công tác cán bộ, vũ khí, trang bị, mối quan hệ đoàn kết quân dân, mối quan hệ cán bộ-chiến sĩ, tình trạng vi phạm kỷ luật của bộ đội... Các thế lực thù địch liên tục sử dụng nhiều chiêu bài khác nhau, tung hỏa mù hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ lung lạc, mất phương hướng, không phân biệt được đúng-sai, khó nhận diện và đề phòng trước âm mưu, thủ đoạn chống phá. Chúng còn đánh đồng bản chất với hiện tượng, nhằm xóa nhòa ranh giới giữa quân đội cách mạng với phản cách mạng; giữa xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị với sự thờ ơ, vô cảm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, đứng ngoài các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; xóa nhòa cái đẹp, cái tốt của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ với những “mực thước” mà chúng tự bịa đặt về công lý, nhân quyền, hay sự lừa bịp “quân đội chỉ cần hiếu với dân, chứ không cần trung thành với Đảng”... Thế nhưng, dù mưu mô, thủ đoạn có nham hiểm, tinh vi thế nào, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam vẫn vững vàng trước thử thách, luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Thực tế cho thấy, dù không thể đạt mục đích và dã tâm đề ra, song mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch vẫn chưa bao giờ và không bao giờ thay đổi. Chúng tìm đủ mọi thủ đoạn, cách thức mới, thâm độc và xảo quyệt hơn, triệt để lợi dụng mọi cơ hội, điều kiện, kẽ hở... nhằm đạt cho bằng được mưu đồ bẩn thỉu; trong đó, bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội được cho là công cụ chủ đạo. Không khó để nhận ra nhiều bài viết trên các trang mạng xã hội thời gian gần đây đưa ra những luận điệu bịa đặt, cố tình suy diễn rằng “mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội đã thay đổi” nên bị “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển, đảo của nước ngoài”. Qua đó, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, cổ xúy, kêu gọi “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Lợi dụng việc xử lý vi phạm kỷ luật một số cán bộ cấp cao trong quân đội vừa qua, chúng chủ ý xuyên tạc công tác quản lý, giáo dục, tạo kẽ hở cho cán bộ vi phạm; dựa trên một số thông tin, tư liệu trong các sự kiện, nhân chứng chưa được làm sáng tỏ để tán phát nhiều tin, bài, video clip, phóng sự, bình luận, suy diễn, áp đặt ý kiến chủ quan gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa cán bộ, sĩ quan quân đội với cựu chiến binh, giữa cựu chiến binh với nhân chứng lịch sử; phát động phong trào đòi xét lại lịch sử dân tộc, quân đội... Nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng những bức xúc cá nhân liên quan đến đời sống riêng tư, gia đình... hòng “đánh tráo khái niệm”, “đổi trắng thay đen” cho đó thuộc phạm trù bản chất, truyền thống quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ với chiến sĩ; từ đó, sử dụng chiêu trò “dương đông kích tây”, đưa thông tin hiện trường vụ việc, gây bán tín bán nghi, làm dư luận bị cuốn theo; đẩy “nóng vấn đề”, kích động cộng đồng mạng “tạo áp lực, yêu sách” với quân đội, nhen nhóm dư luận tiêu cực trong nhân dân nhằm tẩy chay, không cho con em nhập ngũ... Thông qua những sự việc này, chúng còn nói xấu, hạ thấp uy tín đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, làm phai nhạt hình tượng quân đội cách mạng được nhân dân tôn vinh, trân quý từ ngày thành lập đến nay, hòng dễ bề phân rã về tư tưởng, chia rẽ sự đoàn kết quân dân, làm phai nhạt phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong lòng nhân dân. Có thể nói, bất kỳ một sự việc, hiện tượng nào trong quân đội có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá theo kiểu “thổi tàn thành lửa” là chúng có thể tận dụng kỳ được, kích hoạt a dua, kéo bè kéo cánh, dùng mọi thủ đoạn để công kích, nói xấu, bội nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Quân đội ta. Đặc biệt, trong các đợt phòng, chống dịch Covid-19 hai năm vừa qua thì sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị càng thể hiện rõ dã tâm và không từ bỏ bất kỳ mưu mô, thủ đoạn nào. Từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát tới nay, hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ QĐND được huy động phối hợp với các lực lượng chức năng tham gia giải quyết những vấn đề nóng về dịch bệnh tại nhiều địa phương trong cả nước. Với tinh thần: Giúp dân là mệnh lệnh trái tim của Bộ đội Cụ Hồ; ở đâu dân cần, ở đâu khó khăn thì ở đó có Bộ đội Cụ Hồ và quyết tâm thực hiện “ba nhất”: Nhận thức, trách nhiệm cao nhất; giúp đỡ nhân dân được nhiều nhất; chấp hành pháp luật, bảo đảm an toàn tốt nhất. Tất cả những việc làm đó góp phần làm giảm gánh nặng phòng, chống dịch cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương. Thế nhưng, trên mạng xã hội, một số tổ chức, cá nhân thù địch lại cố tình rêu rao, xuyên tạc, bôi đen nghĩa cử cao đẹp ấy của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Để tăng phần hấp dẫn những người nhẹ dạ cả tin, chúng cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip... lồng vào tin, bài bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong giúp dân phòng, chống dịch. Một số kẻ đăng trên mạng xã hội nhiều bài viết có nội dung suy diễn, xuyên tạc chủ trương đưa quân đội, công an tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là “trái Hiến pháp, pháp luật”, là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch. Khi nói về việc bộ đội đi chợ, đảm trách cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân thì họ suy diễn mang tính chủ quan, phiến diện, một chiều: “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”, vì theo họ: “Bộ đội vốn được huấn luyện, đào tạo để nhằm phục vụ cho sức mạnh trấn áp đối phương chứ nào phải để làm chuyện chi li nhỏ mọn là chợ búa...”...Tất cả những giọng điệu, chiêu trò ấy của lực lượng thù địch, chống phá không nhằm mục đích nào khác là bóp méo, xuyên tạc chủ trương, giải pháp phòng, chống dịch của Đảng và Chính phủ ta; bôi nhọ phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp uy tín, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Quân đội ta. Lịch sử gần 78 năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam cho thấy, quân đội luôn đồng hành với dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đánh bại đế quốc, thực dân, đưa non sông thu về một mối và hiện nay đang giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, giúp nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Trải qua các giai đoạn cách mạng, trong bất luận mọi tình huống, trước mọi nhiệm vụ hay khó khăn, thử thách tột cùng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn tỏa sáng trên mọi lĩnh vực, vai trò của quân đội luôn được khẳng định, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, cùng bạn bè bốn bể, năm châu
Xung đột giữa Nga và Ukraine - những vấn đề không thể “xuyên tạc” Một vấn đề từ lâu dần trở thành quy luật trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống Việt Nam, đó là mỗi khi tình hình chính trị khu vực và thế giới biến động phức tạp thì các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội, bất mãn chống đối lại “thừa nước đục thả câu”, “bới lông tìm vết”, tung ra những luận điệu phản tuyên truyền… nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Chiêu bài đó, đã và đang được thực hiện lại trong những ngày qua, khi chính trường thế giới liên tục dậy sóng trước những căng thẳng leo thang xoay quanh quan hệ giữa Nga và Ukraine mà điểm nút là khi Tổng thống Nga Putin phát động chiến dịch quân sự tại Ukraine (24/02/2022). Trên các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân thù địch, chống đối liên tục đăng tải tin, bài có nội dung phê phán, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam trong quan điểm, cách nhìn nhận, ứng xử trước các vấn đề liên quan đến xung đột giữa Nga và Ukraine… từ đó hướng dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam. Ở phương diện khác, từ những ý kiến, lời bình của các chuyên gia, nhà nghiên cứu Việt Nam về tình hình chiến sự tại Ukraine trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các đối tượng đã “cắt xén”, “thêm thắt”, bịa đặt, làm sai lệch thông tin để quy kết cho phần lớn lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam ủng hộ Nga, chính quyền Putin cũng như cuộc chiến tranh “xâm lược Ukraine”… Có thể thấy, dù trực tiếp hay gián tiếp, công khai hay lập lờ, truyên truyền đen hay tuyên truyền xám thì các luận điệu này cũng đều nhuốm màu “lệch lạc”, “sai trái”, “thù địch”, nhằm công kích vào quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam nói chung cũng như quan điểm và ứng xử đối với diễn biến tại chính trường Ukraine; hạ thấp vai trò, uy tín và tầm ảnh hưởng vốn đã được gây dựng bấy lâu của Đảng, Nhà nước cũng như dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế; tác động tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với Nga, Ukraine và cộng đồng quốc tế nhằm phục vụ cho ý đồ trước mắt và lâu dài. Để thấy rõ được tính chất sai trái, xuyên tạc trong luận điệu, đồng thời chủ động trong nhận diện, phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả, thiết nghĩ, cần công tâm, khách quan, thấu đáo trong nhìn nhận, xem xét từ thực tiễn công tác đối ngoại của Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ nói chung cũng như trước những bất ổn về chính trị xảy ra tại Ukraine thời gian qua ở mấy vấn đề sau: Thứ nhất, phải khẳng định rằng Việt Nam là quốc gia yêu chuộng và luôn đề cao hòa bình, hòa hợp dân tộc. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước, đi qua những cuộc chiến tranh khốc liệt, gian khổ, với muôn vàn đau thương, mất mát và hy sinh. Hơn ai hết toàn thể Nhân dân Việt Nam ý thức rõ được giá trị của nền hòa bình, độc lập, tự do. Chính vì thế, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam không muốn đất nước phải chịu cảnh chiến tranh và cũng không bao giờ muốn chiến tranh xảy ra với bất kỳ quốc gia nào, như đã và đang xảy ra tại Ukraine. Điều dễ dàng nhận thấy, trên các phương tiện truyền thông đại chúng Việt Nam những ngày qua liên tục phát đi “thông điệp” thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam không ủng hộ xung đột quân sự xảy ra tại Ukraine, đồng thời tích cực kêu gọi các bên liên quan hết sức kiềm chế, tránh những động thái gây bất ổn cho tình hình chính trị thế giới, ảnh hưởng xấu đến hòa bình, ổn định toàn cầu; đe dọa nghiêm trọng đến sinh mệnh của binh lính và người dân vô tội ở các nơi xảy ra xung đột. Thứ hai, khi đề cập đến đường lối ngoại giao nhân dân của Việt Nam, không thể bỏ qua dấu ấn đậm nét tư tưởng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi, sinh thời, Bác Hồ luôn đề cao tình yêu thương con người, quý trọng sinh mạng con người, trong quá trình hoạt động ngoại giao cho dân tộc, Bác luôn tìm mọi cách để ngăn ngừa xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình, với tinh thần “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo";... Không những thế, Người nhiều lần căn dặn “phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ” để biết mình, biết người, biết thời, biết thế; hiểu rõ vị trí chiến lược Việt Nam trong mối quan hệ giữa các nước lớn, để “cương nhu kết hợp”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” vì lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc. Tư tưởng cốt lõi ấy đã và đang được Đảng, Nhà nước ta vận dụng khéo léo, linh hoạt, uyển chuyển trong đề ra và thực hiện chính sách đối ngoại nói chung cũng như trong bày tỏ quan điểm và thể hiện hành động trước tình hình căng thẳng trong quan hệ giữa Nga và Ukraine thời gian qua. Cùng với việc kêu gọi kiềm chế, giảm xung đột leo thang, Đảng, Nhà nước ta bày tỏ mong muốn Nga và Ukraine nhanh chóng chấm dứt việc dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực, thay vào đó là những cái bắt tay, những vòng đàm phán, những phiên đối thoại, những thỏa thuận, hòa giải nhằm tìm kiếm những giải pháp căn cơ, lâu dài cho các tranh chấp, xung đột bằng biện pháp hòa bình. Thứ ba, thực tế đã chứng minh, trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Nhân dân Việt Nam luôn phấn đấu vì một nền đối ngoại giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa; sẵn sàng giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân cũng như nhân loại tiến bộ trên thế giới. Kiên định đường lối đối ngoại trung lập, độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển; tôn trọng và đảm bảo lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hiệp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, đôi bên cùng có lợi. Đây là nguyên tắc bất biến, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo, điều hành, tổ chức và quản lý công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Đặc biệt, trong quan hệ đối ngoại, Đảng, Nhà nước ta luôn kiên trì thực hiện chính sách “năm không”: Không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam và không liên kết nước này để chống nước kia. Do đó, đối với vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine vừa qua, Việt Nam luôn đứng ở vị trí trung lập để xem xét, nhìn nhận, đánh giá, phát ngôn và hành động. Thông qua các phát biểu gần đây của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng tại buổi họp báo diễn ra vào ngày 23/2 cũng như phát biểu của Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hiệp quốc tại phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên Hiệp quốc ngày 01/3 đều khẳng định quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng. Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. Hơn thế nữa, trên con đường hội nhập và phát triển, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại trên tinh thần Nhân dân Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, trong đó có cả Nga và Ukraine. Dù là Nga hay Ukraine, Việt Nam vẫn luôn coi trọng, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại một cách bình đẳng, trên tinh thần hợp tác, cùng phát triển, phấn đầu vì một môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho sự nghiệp đối nội, cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thêm một điều không thể phủ nhận đó là, Việt Nam - một trong những quốc gia đóng góp nhiều sáng kiến hòa bình cho khu vực cũng như thế giới, luôn tích cực tham gia đấu tranh cho hòa bình nhân loại. Thực tế cho thấy, việc giải quyết vấn đề xung đột trong quan hệ giữa Nga và Ukraine, trước tiên phải là trách nhiệm của các bên liên quan, Việt Nam sẽ tham gia khi đảm bảo các điều kiện về đối nội và đối ngoại, có nghĩa là khi cộng đồng quốc tế chính thức vào cuộc và lợi ích quốc gia – dân tộc được đảm bảo. Trong ngày thứ 2 của phiên họp đặc biệt do Đại hội đồng Liên Hiệp quốc tổ chức về tình hình Ukraine, đại diện Việt Nam khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam về giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và hiến chương Liên Hiệp quốc; đồng thời bày tỏ sự quan ngại sâu sắc và kêu gọi kiềm chế, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài. Cùng với đó, Việt Nam cũng đã tích cực kêu gọi và đề nghị cộng đồng quốc tế thúc đẩy viện trợ nhân đạo cho dân thường, đảm bảo an ninh an toàn của người dân cũng như các cơ sở hạ tầng thiết yếu theo luật nhân đạo quốc tế. Những phát ngôn ấy đã được cộng đồng quốc tế đón nhận, ủng hộ và hoan nghênh. Thực tế đó, đã phần nào minh chứng được, vai trò và sự tham gia tích cực, đúng đắn của Việt Nam trong giải quyết xung đột giữa Nga và Ukraine cũng như gìn giữ hòa bình thế giới. Từ những vấn đề trên, có thể khẳng định rằng, tinh thần hòa bình, hữu nghị, nhân văn, thận thiện, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa trong chính sách ngoại giao của Việt Nam nói chung, đặc biệt là đối với xung đột giữa Nga và Ukraine thời gian qua, không đơn thuần là sự tiến bộ, cách mạng của chính sách, chủ trương, mà tinh thần ấy đã trở thành một trong những nét đẹp của bản sắc Việt, là tinh hoa, là hồn cốt của dân tộc Việt Nam. Tinh thần ấy, chính sách ấy, quan điểm ấy vừa cứng rắn vừa mềm dẻo; vừa tuân thủ nguyên tắc, định hướng vừa linh hoạt, uyển chuyển; hội tụ đầy đủ, toàn diện, phù hợp với các quy luật của lịch sử, hiện tại và tương lai, đảm bảo lợi ích tối thượng của quốc gia, dân tộc, góp phần khẳng định và nâng tầm Việt Nam trên trường quốc tế. Và như vậy, thêm một lần nữa, chính sách ấy lại chứng minh được giá trị của mình và quan trọng là nó đã góp phần đập tan những âm mưu, ý đồ, chiêu trò chống phá sự nghiệp cách mạng nước nhà./.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC HÌNH TƯỢNG CAO QUÝ

 

Mặc dù các thế lực thù địch ra sức chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ, nhưng thực tế cho thấy: Bộ đội Cụ Hồ mãi là danh xưng bình dị, gần gũi mà cao quý; giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vẫn đặc biệt thiêng liêng, mãi trường tồn theo thời gian.

Thực tiễn xã hội Việt Nam ở thời điểm hiện tại cho thấy, danh hiệu và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ đã thấm đẫm vào hàng triệu con tim, khối óc của người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế; trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng; luôn vận động, phát triển qua các giai đoạn cách mạng và yêu cầu xây dựng quân đội trong từng thời kỳ. Nói đến phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là nói đến những giá trị chuẩn mực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân cách mạng, tựu trung lại là: Lý tưởng chiến đấu cao đẹp, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sự gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn; tình đoàn kết quân dân cá-nước, trách nhiệm với nhân dân, sẵn sàng hy sinh tính mạng vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh... Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy, phản ánh bản chất cách mạng, nhân cách và là sức mạnh nội sinh được tích hợp ở một trình độ cao trong quá trình xây dựng, chiến đấu và công tác của Quân đội ta. Từ thực tiễn công tác huấn luyện, SSCĐ, giúp dân phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ngày càng được thể hiện rõ nét, lan tỏa trên mọi lĩnh vực, có sức cảm hóa mãnh liệt trong đời sống xã hội.

Nét nổi bật trong phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ là lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân. Tiếp thu học thuyết Mác-Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam từ các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng; thường xuyên được giáo dục, rèn luyện qua thực tiễn huấn luyện, công tác, SSCĐ và chiến đấu, bảo đảm cho quân đội luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; là công cụ bạo lực của Nhà nước, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và CNXH, được nhân dân suy tôn Bộ đội Cụ Hồ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ ngày càng tỏa sáng, thực sự là đội quân có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc, nhân dân và luôn có ý chí quyết tâm, sức mạnh chiến đấu cao trước mọi kẻ thù xâm lược. Sự trung thành của Bộ đội Cụ Hồ đối với Đảng, với Tổ quốc là vấn đề có tính nguyên tắc, bất di bất dịch, luôn song hành cùng nhau, dù trong hoàn cảnh, điều kiện nào cũng không thay đổi, nó thuộc về bản chất, truyền thống đã được hun đúc, bồi đắp trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta.

Thực tế đó cho thấy, mọi mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch đòi: “Quân đội chỉ cần trung thành với lợi ích của quốc gia, dân tộc”, “Tổ quốc trên hết”, “chuyên nghiệp hóa quân đội và công an càng sớm càng tốt”; “Quân đội và công an là của nhân dân nên không cần phải diễu võ dương oai”... là không có cơ sở và cũng không thể thực hiện được. Những luận điệu đó chỉ nhằm phục vụ mưu đồ của các thế lực thù địch muốn tách sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam với QĐND Việt Nam, làm lu mờ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ Ðảng, Nhà nước và nhân dân... mà sự nghiệp cách mạng của dân tộc đã trao cho QĐND Việt Nam-Bộ đội Cụ Hồ.

Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, Bộ đội Cụ Hồ luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân chở che, đùm bọc, kề vai sát cánh cả trong đấu tranh cách mạng cũng như trong thời bình. Tình quân dân đã trở thành mẫu mực trong đời sống của người dân đất Việt và được khẳng định trong thực tiễn thông qua công tác dân vận của quân đội. “Đi dân nhớ, ở dân thương”, “Quân với dân như cá với nước”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”... đã đi vào tiềm thức đẹp khi nói về mối quan hệ đoàn kết quân dân. Phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ được thể hiện rõ khi cán bộ, chiến sĩ quân đội tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, gắn bó với cấp ủy, chính quyền các cấp; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương; xây dựng bản làng văn hóa, bài trừ các hủ tục, lối sống lạc hậu. Đồng thời, tư vấn, hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn; giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; đưa chính sách của Đảng, Nhà nước đến với đồng bào các dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo... Các binh đoàn, đoàn kinh tế-quốc phòng, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, tạo công ăn việc làm cho người dân, giúp dân chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, bao tiêu sản phẩm, nâng cao chất lượng cuộc sống, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn đóng quân. Bộ đội Cụ Hồ đã chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, để họ không mắc mưu trước âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết quân dân của các thế lực thù địch, tin tưởng cấp ủy, chính quyền địa phương, đoàn kết các dân tộc anh em và tình hữu nghị với các nước láng giềng.

Càng trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ càng tỏa sáng, có sức thuyết phục, sống động, góp phần bồi dưỡng nhận thức, tư tưởng, tình cảm, khơi dậy và nhân lên mặt tích cực trong nhân dân. Điển hình là trong phòng, chống thiên tai, thảm họa môi trường và đại dịch Covid-19, quân đội đã khẳng định được vai trò là lực lượng xung kích, đi đầu; hoàn thành tốt chức năng “đội quân công tác”; được cấp ủy, chính quyền các cấp và nhân dân ghi nhận, biết ơn. Cán bộ, chiến sĩ quân đội đã không hề do dự, tính toán thiệt hơn, có lệnh là lên đường làm nhiệm vụ; ở đâu xuất hiện điểm nóng về dịch Covid-19, những điểm sạt lở do bão lũ gây ra là cán bộ, chiến sĩ quân đội có mặt, xông pha trên tuyến đầu, không nề hà bất cứ công việc gì. Những suy nghĩ, cử chỉ, hành động, việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong phòng, chống thiên tai, đại dịch một lần nữa khẳng định tinh thần “vì nhân dân quên mình”, “vì nhân dân phục vụ”, kế thừa và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới.

Một trong những phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ là “sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Ra đời trong các cuộc đấu tranh cách mạng, dù thời bình hay thời chiến, với chức năng, nhiệm vụ được giao, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay; làm tốt công tác tham mưu, chỉ đạo chiến lược về công tác quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Bộ đội luôn tích cực, hăng say, sáng tạo trong huấn luyện, diễn tập, SSCĐ và xử lý các tình huống quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thực thi pháp luật trên biển, tuần tra bảo vệ đường biên, mốc giới... không nề hà khó khăn, vất vả, hiểm nguy. Trong bất kỳ nhiệm vụ nào, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn được phát huy và tỏa sáng; nhân cách của quân đội cách mạng luôn được khẳng định trong thực tiễn; vị thế, vai trò của quân đội ngày càng thể hiện rõ nét. Hành động của Bộ đội Cụ Hồ trên hết, trước hết là vì nền độc lập, lợi ích quốc gia, dân tộc, vì CNXH và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Việc làm của họ tự thân đã khẳng định rằng những giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ đang tiếp tục được vun đắp mà không một thế lực nào có thể bôi nhọ, hạ bệ hay phủ nhận...

 

TẠI SAO PHẢI GIẢ VỜ KHÔNG BIẾT Vụ kit test Việt Á vẫn đang trong quá trình điều tra, làm rõ trách nhiệm của các cá nhân tổ chức có liên quan và sẽ đưa ra biện pháp xử lý phù hợp với mỗi đối tượng. Mới đây, Ủy ban Kiểm tra Trung ương họp xem xét kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban cán sự Đảng Bộ Y tế và Ban cán sự Đảng Bộ Khoa học và Công nghệ. Không thể phủ nhận, vụ Việt Á đã để lại rất nhiều bức xúc trong lòng người dân, ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của nhân dân với chế độ. Đặc biệt, vụ việc còn có liên quan tới 2 sĩ quan quân đội, làm xấu đi hình ảnh “bộ đội Cụ Hồ”. Có thể thấy, việc Ban cán sự Đảng, lãnh đạo của Bộ Y tế và Bộ Khoa học và Công nghệ bị nêu tên trong vụ Việt Á đã thể hiện sự lãnh đạo kiên quyết của Thủ tướng và thực hiện theo đúng phương châm “đốt lò” của cụ Tổng. Thế nhưng, trang VNTB vừa rồi đã đăng tải một bài viết với những luận điệu “nực cười” cho rằng vụ Việt Á cũng phải xem xét lại trách nhiệm của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam. Chúng cho rằng, PTT Đam phải là người chịu trách nhiệm chính trong vụ Việt Á và việc không xét tới trách nhiệm của ông là việc “cố tình”. Thứ nhất, chúng cho rằng phó thủ tướng Đam là người trực tiếp phê duyệt kit test, nếu không phê duyệt kit test của Việt Á thì sẽ không có những đợt truy vết thần tốc, xét nghiệm diện rộng như trong thành phố HCM. Chẳng cần Việt Á, Đảng và Nhà nước cũng sẽ vẫn đủ khả năng để thực hiện chiến dịch trên, ngoại giao vắc xin của chúng ta còn đạt hiệu quả đến vậy thì nói gì đến que test. Thứ hai, chúng phủ nhận hoàn toàn công lao của PTT Đam với những luận điệu đả kích, bôi nhọ. Chẳng ai có thể quên hình ảnh một người PTT trực tiếp xuống địa phương kiểm tra công tác phòng dịch, người đầy mồ hôi, thăm hỏi F0 ngay trong viện. Chẳng ai có thể phủ nhận mức độ hiệu quả của những chỉ đạo, chính sách chống dịch của ông. Mọi cá nhân, tổ chức có liên quan, có trách nhiệm trong vụ Việt Á sẽ được đưa ra ánh sáng, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề một cách khách quan chứ không nên đổ thừa một cách bừa bãi. Chỉ là những kẻ “bới lông tìm vết” với những luận điệu cùn, cố tình phủ nhận đi những thành quả trong công tác .
NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ LỰC LƯỢNG QUỐC PHÒNG, AN NINH GIAI ĐOẠN 2021 - 2025 TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cách mạng Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định nhất quán mục tiêu đó và bổ sung rõ hơn, rộng lớn hơn, toàn diện hơn nhiều vấn đề mới, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Những vấn đề đó được thể hiện bao quát và toàn diện ở cả mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ, phương thức, giải pháp, sức mạnh, lực lượng… của quốc phòng, an ninh trong bảo vệ Tổ quốc. Những điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIII về lực lượng và sức mạnh quốc phòng, an ninh được thể hiện trên một số vấn đề sau: Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”[1]. Đó là sức mạnh tổng hợp tiếp tục được Đảng ta khẳng định nhất quán, là sức mạnh, lực lượng của toàn thể dân tộc, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Đó còn là sức mạnh mạnh bên trong, kết hợp với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đặc biệt, điểm mới trong văn kiện lần này, Đảng ta đã xác định rõ phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó có một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”[2]; trong đó tiếp tục nhấn mạnh và chỉ rõ việc xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân “vững mạnh về chính trị”, v.v... Quan điểm trên thể hiện đúng ý chí, quyết tâm và nỗ lực của Đảng ta trong suốt các nhiệm kỳ Đại hội trước đó, nhằm xây dựng lực lượng vũ trang tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Và ở văn kiện lần này, Đảng ta đã xác định rõ các mốc thời gian cụ thể đó là: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiến đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Đây là định hướng đặc biệt quan trọng trong thời gian tới để phát triển tiềm lực và sức mạnh của quân đội và công an đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện, phải lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở, bảo đảm cho lực lượng vũ trang luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, gắn bó máu thịt với nhân dân; không mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác; tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” của các thế lực thù địch. Một điểm mới và điểm nhấn quan trọng nữa cần nói rõ thêm về lực lượng và sức mạnh của quốc phòng, an ninh, đó là việc trong văn kiện lần này, Đảng ta đã xác định rõ: “triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác”[3]. Trải qua quá trình nghiên cứu và đúc kết từ thực tiễn, chúng ta đã xây dựng được tổng thể và đồng bộ các chiến lược để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên mọi phương diện. Đây là các chiến lược rất quan trọng và là một thể thống nhất, liên quan mật thiết với nhau, tác động trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi phải thực hiện toàn diện và đồng bộ. Các chiến lược đó phản ánh tư duy chiến lược toàn diện của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc, thể hiện quan điểm quốc phòng, an ninh toàn diện, tổng hợp của đất nước. Vì vậy, việc triển khai đồng bộ các chiến lược đó sẽ tạo ra thế và lực, lực lượng và sức mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên trong quân đội cần tích cực học tập, quán triệt quan điểm, đường lối quân sự quốc phòng của Đảng, nhất là những điểm mới về lực lượng và sức mạnh quốc phòng, an ninh giai đoạn 2021 - 2025 trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng; nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong thực hiện các nhiệm vụ được giao, góp phần tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.
VAI TRÒ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG NGỪA HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG QUAN HỆ DÂN TỘC XUYÊN BIÊN GIỚI CHỐNG PHÁ NƯỚC TA Vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới thể hiện ở các cấp độ, mức độ và phạm vi khác nhau tùy theo chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, lực lượng trong thực hiện công tác đối ngoại. Xét trong tổng thể công tác đối ngoại của các cấp, các ngành, các lực lượng liên quan, gắn với thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới, công tác đối ngoại giữ vai trò “tiên phong”, là lực lượng nòng cốt góp phần quan trọng ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới thể hiện cụ thể trên những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, trực tiếp góp phần nhận diện, phát hiện “từ sớm, từ xa” âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là vai trò quan trọng, đồng thời là thế mạnh của công tác đối ngoại trong đấu tranh, phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới. Do tính chất phức tạp, nhạy cảm và liên quốc gia trong quan hệ dân tộc xuyên biên giới mà các tổ chức, lực lượng hoạt động trong phạm vi nội địa khó nắm bắt kịp thời âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của các thế lực thù địch, dẫn tới bị động trong giải quyết những vấn đề nảy sinh. Thực tế những năm qua, công tác đối ngoại đã “phát huy được thế mạnh để hóa giải, xử lý từ sớm, từ xa các nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, nhất là thông qua thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa, tận dụng hiệu quả các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế”(3). Trên cơ sở đó, kịp thời thông tin đến các tổ chức, lực lượng và quần chúng nhân dân nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác, chủ động xây dựng phương án và tổ chức đấu tranh hiệu quả, không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Thứ hai, thông qua hoạt động đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân của các cấp, các ngành, công tác đối ngoại đã trực tiếp tham gia đấu tranh, làm thất bại các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới trên tất cả các bình diện, ở mọi phạm vi và quy mô. Những năm qua, công tác đối ngoại đã phát huy tốt vai trò trong đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nói chung, hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá nước ta nói riêng, qua đó vừa giữ vững được ổn định chính trị - xã hội trong nước, vừa giải tỏa thành công sức ép của các nước phương Tây trong một số vấn đề; “ngăn chặn, vô hiệu hóa những âm mưu, thủ đoạn móc nối, lôi kéo, phá hoại nội bộ Đảng và Nhà nước Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động”(4), góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định đất nước, phát triển bền vững khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta. Thứ ba, phối hợp hiệu quả với các cấp, các ngành, các tổ chức, lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách quản lý và bảo vệ vùng biên giới, tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh với các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trên cơ sở phối hợp triển khai công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước, thực hiện quản lý biên giới và cửa khẩu theo các văn kiện pháp lý, thỏa thuận về biên giới đã ký kết với các nước; thống nhất quản lý các hoạt động đối ngoại theo Quyết định số 272-QĐ/TW, ngày 21-1-2015, của Bộ Chính trị khóa XI, “Về việc ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại”, công tác đối ngoại phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh; giữa các cơ quan, bộ, ngành liên quan; chủ động phối hợp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương các biện pháp trong giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bổ sung, kiện toàn các phương án xử lý những tình huống nảy sinh từ quan hệ dân tộc xuyên biên giới. Thứ tư, công tác đối ngoại góp phần quan trọng trong quản lý biên giới quốc gia, tạo môi trường hòa bình, ổn định khu vực biên giới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc vùng biên giới; tham gia xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, tạo “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hành động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới của các thế lực thù địch, phản động. Trong những năm qua, cùng với những hoạt động khác, các cấp, các ngành luôn phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại; chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương huy động nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vững mạnh; tạo thế chủ động trong phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động. Có thể nói, vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nhằm chống phá Việt Nam, đã được khẳng định và phát huy mạnh mẽ trong thực tiễn thời gian qua. Tuy nhiên, có những thời điểm nhất định, vai trò của công tác đối ngoại ở một số tổ chức, lực lượng chưa thực sự được phát huy đầy đủ. Đặc biệt, “nhận thức của một số sở, ngành địa phương và một số cán bộ, đảng viên về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc, công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số chưa sâu sắc, toàn diện. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc triển khai thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc thiếu đồng bộ, việc nắm bắt thông tin từ cơ sở chưa đầy đủ, còn chậm, thiếu và chưa sát với tình hình thực tiễn”(5). Hơn nữa, trong thời gian tới, bên cạnh những thuận lợi, vấn đề dân tộc ở Việt Nam được dự báo tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá nước ta, đòi hỏi các cấp, các ngành cần tiếp tục phát huy tốt vai trò của công tác đối ngoại nhằm đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam.../.

Hiểu đúng về tự do ngôn luận, tự do sáng tác ở Việt Nam


Gần đây các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn đã đăng tải nhiều bài viết cho rằng ở Việt Nam không có hạnh phúc. Chúng dẫn lời các đối tượng là văn nghệ sĩ bất mãn, thường xuyên có những lời nói, bài viết, hành động gây rối, kích động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa như Tuấn Khanh, Mai Khôi, Nguyễn Hữu Vinh… rồi quy chụp, xuyên tạc về hạnh phúc của người dân, nhất là tự do ngôn luận, tự do sáng tác ở Việt Nam.

Thứ nhất, bảo đảm tự do ngôn luận chứ không cổ súy thứ ngôn luận tự do vô chính phủ

Khi nói đến quyền tự do ngôn luận, một số phần tử cho rằng, tự do ngôn luận là được quyền tự do phát ngôn, bình luận, chia sẻ, phát tán thông tin mà không chịu bất cứ sự ngăn cản nào; vì thế nếu ai hạn chế quyền đó là vi phạm quyền tự do ngôn luận của công dân. Nhận thức như vậy là phiến diện, sai lầm, ngụy biện. Bởi trên thực tế, không có quyền tự do nào là tuyệt đối, mà chỉ có quyền tự do tương đối. Nếu để tự do tuyệt đối nghĩa là tự do vô giới hạn, vô chính phủ sẽ dẫn đến tình trạng mất kiểm soát, gây ra rối loạn xã hội. Quyền tự do ngôn luận cũng vậy. Nếu ai cũng phát ngôn tùy tiện, chia sẻ thông tin bất chấp đúng - sai, thật - giả lẫn lộn, không chỉ làm cho xã hội rơi vào tình trạng nhiễu loạn thông tin, mà còn gây mất ổn định an ninh chính trị, xã hội.

Bất cứ quốc gia nào cũng vậy, quyền lợi luôn gắn liền với trách nhiệm. Con người muốn có tự do phải hiểu rõ nghĩa vụ, bổn phận của mình được làm những gì, không được phép làm những gì. Công dân muốn được hưởng đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, tự do tiếp cận thông tin thì nhất thiết phải tuân thủ các quy định pháp luật để thực hiện quyền tự do của mình nhưng không được gây hại đến quyền tự do của người khác và tác động tiêu cực đến cộng đồng, đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nhà nước bảo đảm tự do ngôn luận cho người dân nhưng cũng xử lý nghiêm minh hành vi tự do vô tổ chức, vô chính phủ. Lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân.

Thứ hai, tự do sáng tác phải nằm trong khuôn khổ pháp luật

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, nhất là số văn nghệ sĩ bất mãn đã ra sức hô hào, cổ vũ, đòi hỏi “tự do sáng tác” trong văn học nghệ thuật. Chúng cho rằng, văn nghệ sĩ có quyền tự do sáng tác và công bố tác phẩm mà không bị ràng buộc bởi pháp luật như ở phương Tây, như “hạnh phúc” mà Mai Khôi ước ao: “trong tương lai hệ thống kiểm duyệt của Việt Nam, vốn hạn chế hạnh phúc sáng tác của người nghệ sĩ, sẽ không còn tồn tại, để nghệ sĩ được tự do sáng tác, được tự do ca hát, và những người thưởng thức âm nhạc sẽ được nghe những bài hát mà trước đây bị cấm. Chắc lúc đó mọi người sẽ rất hạnh phúc”. Thực tế đã chứng minh, đó chỉ là sự dối trá, bịp bợm, núp bóng văn nghệ sĩ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta mà thôi.

Ở phương Tây, các tác giả trước khi hoàn thành bản thảo phải “tự kiểm duyệt”, sau đó ban biên tập nhà xuất bản sẽ tiến hành kiểm tra (kiểm duyệt nội bộ) và quyết định có được in hay không. Sau khi tác phẩm được công bố, nếu phát hiện vi phạm sẽ bị tịch thu. Việc làm này dựa vào các tiêu chí mà họ đưa ra trên cơ sở của pháp luật hiện hành. Ví dụ, ở Đức, cơ sở pháp lý để nhà xuất bản kiểm tra là những điều bị cấm được quy định trong các bộ luật, như trong Bộ Luật hình sự có các tội danh: “phổ biến tài liệu tuyên truyền của những tổ chức vi hiến”, “phỉ báng Nhà nước Đức và các biểu tượng quốc gia đã quy định”…. Người đọc cũng rất ít biết về các cuốn sách bị cấm và tịch thu vì lý do chính trị. Một số nước mà các thế lực thù địch, phản động tung hô là “hình mẫu về dân chủ” thường tự hào rằng nghệ sĩ của nước họ có quyền tự do sáng tác, rồi lớn tiếng đòi hỏi các quốc gia khác cũng phải theo. Nhưng sự thực lại không như vậy, ngay tại quốc gia đó, họ lại sử dụng nhiều nguyên tắc luật pháp để quản lý quá trình sáng tác và công bố tác phẩm văn học nghệ thuật. Xét đến cùng, tự do sáng tác theo quan niệm của họ cũng chỉ là chiêu bài nhằm gây sự mơ hồ về chế độ xã hội, thậm chí kích động thái độ chống đối hơn là tạo điều kiện giúp đỡ nghệ sĩ sáng tác.

Như vậy, những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động đưa ra về tự do ngôn luận, tự do sáng tác để có được “hạnh phúc” chỉ là sự lừa bịp. Phải lên án, đấu tranh bác bỏ thứ ngôn luận tự do, tự do sáng tác kiểu vô trách nhiệm, vô tổ chức, cố tình đăng tải, phát tán những thông tin sai trái, bịa đặt, đổi trắng thành đen, xuyên tạc truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam, bôi nhọ anh hùng dân tộc, phỉ báng chính quyền, sử dụng chiêu bài tự do thông tin, tự do ngôn luận để lèo lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực, đen tối và tạo ra một góc nhìn sai lệch về Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam./.

 

TÌNH YÊU VÀ TÌNH BÁO Tên bà là Nguyễn Thị Mỹ Nhung, tức Tám Thảo - AHLLVTND, một nữ tình báo viên với vẻ đẹp trời phú, đẹp "nghiêng nước nghiêng thành" của Cụm tình báo chiến lược H.63 anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Có viết về bà bao nhiêu, kể về bà bao nhiêu cũng không đủ bởi đằng sau những chiến công của bà còn là những hy sinh vô bờ bến của một người phụ nữ xinh đẹp đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc trong ngành tình báo quốc phòng mà ít được người ta viết đến. Không ít lần được gặp bà trong các buổi giao lưu truyền thống cách mạng cùng với chú Tư Cang, bà đã để lại trong tôi rất nhiều ấn tượng. Tôi xin phép được viết về bà, bà chỉ cười rồi bảo : ôi, báo chí họ viết hà rầm mấy chục năm nay rồi, có gì con phải viết thêm đâu ? Con là chỗ thân quen với chú Tư, chú kể con nghe hoài về cô rồi còn gì... Cứ vậy, bà chẳng muốn kể gì cho tôi cả. Đúng là trong những câu chuyện của chú Tư đã kể, khi nhắc tới cô Tám Thảo, giọng chú như chùng lại, trong đôi mắt của chú bao giờ cũng đượm buồn nhiều khi rất lâu sau khoảng lặng chú mới nói được với cách kể chuyện thật nhẹ nhàng chan chứa bao niềm yêu thương người đồng đội của mình. Tôi không phải là nhà tâm lý học, nhưng nhìn ánh mắt của ông bà hôm nay trao nhau ở cái tuổi U100 như thế này thì cũng đủ hình dung ra những bối rối đầy yêu thương của cả 2 người hơn nửa thế kỷ trước khi vào vai một cặp nhân tình khoác vai nhau đi giữa Sài Gòn thực thi sứ mệnh tình báo. Chú Tư kể, dạo hoạt động ở Sài Gòn, chú ở nhà cô Tám Thảo. Nào đâu dám ghé về nhà thăm vợ con ở cách đó đâu xa vì phải giữ nguyên tắc bí mật. Có lần chú Tư tay trong tay với cô Tám Thảo đi ở trung tâm thành phố trao nhau những cử chỉ yêu thương. Ở phía bên kia đường vô tình vợ chú Tư cùng với đám bạn đang rủ nhau đi coi cinema nhìn thấy. Sau này bà kể lại với chú Tư, tui thấy anh trong vai bồ bịch của cô Tám, vẫn biết anh đang phải đóng kịch, nhưng trái tim người vợ như bị tổn thương, tui nói đám bạn là tui bị chóng mặt, xin đi về. Về nhà bịnh mất mấy hôm... Chuyện tình yêu, tình báo với người điệp viên rất nghiệt ngã, chỉ một sai lầm dù nhỏ trong sinh hoạt cũng dẫn đến sự đổ vỡ dây chuyền gây thiệt hại cho cách mạng khó lường. Thấu hiểu tất cả những điều như thế, cả chú Tư và cô Tám , họ đã không đi quá lằn ranh đỏ thổn thức của tỉnh yêu để cùng nhau đối mặt với những khó khăn có khi phải đánh đổi bằng mạng sống của mình để xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ mà Tổ quốc giao phó. Trong những ngày tháng 4 lịch sử này, họ sẽ lại không ít lần trong bộ quân phục của người lính bộ đội cụ Hồ lắp lánh trên ngực áo không chỉ ngôi sao vàng vinh danh AHLLVTND mà còn có huy hiệu 70 năm tuổi Đảng, những người có công với đất nước. Những ai đã từng được nghe chú Tư kể chuyện tình báo của ông thời đánh Mỹ, về đồng đội của ông trong Cụm H.63 anh hùng thì không thể quên những câu chuyện của ông về cô Tám và gia đình, cô ấy dù có muốn hay không cũng đã ghi dấu ấn trong trái tim ông trong cuộc đời này không phải vì cô ấy đã cứu mạng sống cho ông trong dịp tổng tiến công Xuân Mậu thân 1968 mà đó còn là một tình yêu giữa những người đồng đội sống chết bên nhau đang thực thi nhiệm vụ tình báo hết sức khó khăn.

Xây dựng tiêu chí về chuẩn mực đạo đức cách mạng trong giai đoạn mới

 

Chiều 6/4 tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức tọa đàm “Xây dựng tiêu chí về chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới”. Đồng chí Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì Tọa đàm

Tham dự Tọa đàm có Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tạ Quang Đông; đông đảo các chuyên gia, nhà khoa học cùng đại biểu một số bộ, ban, ngành Trung ương, địa phương và đại diện lãnh đạo các vụ, đơn vị trong Ban Tuyên giáo Trung ương.

Phát biểu khai mạc, đồng chí Lê Hải Bình nhấn mạnh, việc nghiên cứu để xác định các tiêu chí về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới là cần thiết và cấp bách, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Đại hội XIII của Đảng đặc biệt nhấn mạnh xây dựng Đảng gắn liền với chỉnh đốn Đảng, tập trung xây dựng Đảng về đạo đức. Đảng phải thực sự tiêu biểu cho đạo đức “là đạo đức, là văn minh” như chỉ dẫn của Hồ Chí Minh.

Tình hình thế giới và khu vực hiện nay đang đặt ra những cơ hội và thách thức đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác xây dựng Đảng phải được đẩy mạnh hơn nữa; mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao trách nhiệm của mình.

Thực hiện nhiệm vụ của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đề ra, Ban Tuyên giáo Trung ương có kế hoạch xây dựng tiêu chí về chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, qua đó làm cơ sở để tham mưu cho Đảng xem xét ban hành các nghị quyết, chỉ thị về xây dựng Đảng về đạo đức và văn hóa.

Đây là Tọa đàm đầu tiên trong kế hoạch tổ chức một số cuộc tọa đàm cùng chủ đề của Ban Tuyên giáo Trung ương trong năm 2022. Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Lê Hải Bình đề nghị các nhà khoa học đóng góp ý kiến để từng bước xây dựng, hình thành hệ thống tiêu chí, chuẩn mực đạo đức cán bộ, đảng viên trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu lên gần đây là làm sao để dễ nhớ, dễ hiểu, dễ làm, dễ kiểm tra; đóng góp thiết thực cho công cuộc xây dựng Đảng, đồng thời thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Theo GS. TS. Hoàng Chí Bảo, chưa bao giờ vấn đề nêu gương và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao được nhấn mạnh như hiện nay. Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh “Một tấm gương sống còn có giá trị và ý nghĩa, còn quý hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền” và “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Quy định về trách nhiệm nêu gương không chỉ là quy định mà còn hàm chứa cả những chế tài xử lý theo kỷ luật Đảng để phòng ngừa những vi phạm trong cán bộ, đảng viên do xem nhẹ, coi thường việc nêu gương, việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị và đạo đức dẫn tới suy thoái, thậm chí phạm tội, làm tổn thương uy tín, danh dự của Đảng trong sự nhìn nhận, đánh giá của nhân dân.

GS. TS. Mạch Quang Thắng nhận định, ở nước ta hiện nay đang có tình trạng sự phát triển về văn hóa đạo đức chưa tương xứng với sự tăng trưởng về kinh tế. Sự nghiệp đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Nhìn chung, các mặt, các lĩnh vực đều có sự phát triển, nhất là về kinh tế. Nhưng, thẳng thắn nhìn nhận, kết quả về xây dựng văn hóa, trong đó có đạo đức chưa tương xứng, thậm chí có không ít những biểu hiện môi trường văn hóa đạo đức bị ô nhiễm, có lúc có nơi nghiêm trọng. Nhiều tổ chức của hệ thống chính trị, nhiều cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa có nhận thức đúng về vai trò của vấn đề đạo đức trong xã hội, điều mà Hồ Chí Minh đã không ít lần bày tỏ quan điểm của mình về vai trò cực kỳ quan trọng của đạo đức cách mạng trong Đảng và ngoài xã hội.

Các ý kiến phát biểu tại Tọa đàm đều thống nhất cho rằng, mục đích việc xây dựng các tiêu chí về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên nhằm: 1) Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đạo đức cách mạng, tạo chuyển biến tốt trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng chỉnh đốn Đảng về đạo đức; 2) Xây dựng các chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, làm căn cứ cho cán bộ, đảng viên tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện, đáp ứng yêu cầu của đất nước và thời đại trong thời kỳ mới; 3) Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Theo đó, để xây dựng được khung tiêu chí chung như một hệ giá trị, hệ chuẩn mực, cũng là những yêu cầu phấn đấu, cần học tập, vận dụng những chỉ dẫn rất cụ thể, rất thiết thực của Bác Hồ, khi Người viết “Tư cách của một người cách mệnh” từ năm 1927. Đó là một gợi ý quý báu về tiêu chí.

Các chuyên gia, nhà khoa học cũng nhấn mạnh, việc xây dựng hệ tiêu chí, chuẩn mực đạo đức cách mạng phải dựa trên các văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết của Trung ương, các chỉ thị, quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Để xây dựng được hệ tiêu chí chung, có tính phổ biến, làm cơ sở cho việc vận dụng thực hiện trong toàn Đảng, từ cơ sở tới Trung ương, từ các địa phương đến các ngành, các cấp, trước hết cần thống nhất nhận thức về những vấn đề lý luận cơ bản và yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn mới đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII và các nghị quyết của Trung ương, các chỉ thị, quy định của Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Đạo đức cách mạng, chuẩn mực đạo đức cách mạng và tiêu chí chuẩn mực đạo đức cách mạng là những vấn đề lý luận cơ bản phải làm rõ, từ góc nhìn đạo đức học trong Chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quan điểm của Đảng, nhấn mạnh “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức” theo Văn kiện Đại hội XIII.

Cùng với các ý kiến phát biểu trách nhiệm, tâm huyết, Tọa đàm cũng nhận được nhiều tham luận có giá trị lý luận và thực tiễn của các chuyên gia, nhà khoa học, như: “Tiêu chí về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới” của GS. TS. Hoàng Chí Bảo; “Vai trò của đạo đức trong tình hình hiện nay ở Việt Nam” của GS. TS. Mạch Quang Thắng; “Cần, kiệm, liêm chính - chuẩn mực đạo đức cơ bản của cán bộ, đảng viên” của PGS. TS. Lý Việt Quang; “Thực hành tự phê bình và phê bình - tiêu chí quan trọng  về chuẩn mực đạo đức của đảng viên hiện nay” của Trung tướng, PGS. TS. Trần Vi Dân; “Xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” của TS. Lê Thị Hằng...

HAIVAN

Hướng đến Chào mừng Kỷ niệm 47 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2022) Chúng tôi - những người lính trẻ luôn tự hào với Chiến thắng 30/4 lịch sử Giải phóng miền Nam 30/4/1975, thống nhất đất nước, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Nhân dân ta, là chiến thắng oanh liệt nhất, vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. 47 năm trôi qua, chúng tôi những người lính trẻ sinh sau ngày giải phóng, được sống trong hòa bình, phải sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh cao cả của thế hệ cha anh, xứng đáng với sự tin yêu và kỳ vọng của Đảng, Bác Hồ và của cả dân tộc Việt Nam. Có những ngày tháng không thể quên và không được phép quên! Không có nỗi đau nào bằng nỗi đu chia li, không có niềm vui nào bằng niềm vui đoàn tụ. Niềm vui ấy được nhân lên gấp bội khi đó không còn là cuộc đoàn tụ của riêng ai mà là niềm vui thống nhất của cả dân tộc Việt Nam anh hùng. Chiến thắng ngày 30/4/1975, ngày non song thu về một mối, thoả bao nỗi mong chờ của Nhân dân cả nước, sẽ mãi là một mốc son chói lọi trong lịch sử, dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Mãi là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đỉnh cao của khí phách và trí tuệ của con người Việt Nam. Dù không được sống trong thời khắc lịch sử thiêng liêng ấy, nhưng lòng tôi và bao thế hệ trẻ vẫn luôn rộn ràng, bồi hồi mỗi lần nghe những lời ca: "Ta đi trong muôn ánh sao vàng rừng cờ tung bay, rộn ràng và mê say. Sài Gòn ơi! Vững tin đã bao năm rồi một ngày vui giải phóng...". Nghe, đọc, xem những thước phim về những ngày 30/4 lịch sử, tôi đã từng lặng người, để mường tượng những đau thương chia cắt một thời, rồi tự hỏi và tự trả lời cho bản thân mình, sao đất nước hình chữ S nhỏ bé lại khiến những kẻ đế quốc xâm lược hùng mạnh khiếp sợ? Đất nước tôi chưa giàu, chưa có vũ khí hiện đại, tất cả những gì dân tộc chúng tôi có là lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết. Chính cái sức mạnh ấy đã làm nên những chiến thắng lịch sử huy hoàng. Để cả thế giới phải khâm phục trước dân tộc Việt Nam nhỏ bé mà vĩ đại. Từ đó ngày càng trân trọng biết ơn những thế hệ cha anh đã hi sinh xương máu để chúng tôi được sống trong hòa bình như ngày hôm nay. Tôi - người Việt trẻ sống trong hòa bình gợi nhớ về một ngày tháng 4 lịch sử như thế. Tôi luôn tự nhắc nhở bản thân mình và sẽ nhắc cả những thế hệ con cháu sau này của tôi: Có những ngày tháng không thể quên và không được phép quên! Nhớ để gìn gìn giữ mãi mãi hòa bình Thế đó, dù không sống trong ngày những ngày chiến tranh gian khổ nhưng tôi vẫn cảm nhận hết giá trị của những năm tháng hoà bình và sự thống nhất, toàn vẹn Tổ quốc. Hơn ai hết, tôi cũng như bất cứ người Việt Nam nào, đều quý trọng những ngày tháng hôm nay, trân trọng những thành quả có được sau gần 35 năm đổi mới, đất nước hòa bình, xã hội ổn định và phát triển. Chúng tôi cũng tuyệt đối không cho phép bất kỳ ai xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc chiến thắng 30/4 lịch sử. Tinh thần chiến thắng 30/4 đang cổ vũ dân tộc Việt Nam, nhất là những người trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hôm nay ý chí quyết chiến, quyết thắng, không cam chịu cảnh nghèo nàn lạc hậu, chậm phát triển, phải làm hết sức mình để xây dựng đất nước. Bài học lớn nhất mà chúng tôi tiếp thu từ lớp cha anh chính là lòng yêu nước và phát huy sức mạnh đoàn kết. Chiến tranh càng lùi xa, chúng ta càng phải có trách nhiệm gìn giữ và phát huy tối đa giá trị tinh thần mà ngày chiến thắng 30/4 mang lại, để dân tộc mãi mãi hoà bình và thịnh vượng. Viết tiếp tương lai Nhắc, nhớ về giây phút mà Việt Nam ngẩng cao đầu và tự hào nói với thế giới rằng Việt Nam độc lập, không chỉ để sống và tự hào với thời khắc lịch sử ấy mà còn truyền lửa đến lớp lớp thế hệ trẻ ngày nay phải thức tỉnh được rằng: Mọi chiến thắng đều không dễ dàng và tuổi trẻ cần làm gì viết tiếp tương lai, dựng xây sự phồn vinh của đất nước. Vì có ơn lớp cha trước nên có lớp con sau phải luôn kế thừa và phát huy dựa trên nền tảng đó, mọi sự phát triển, mọi nền văn minh đều được xây dựng trên nền tảng của hòa bình. Sẽ không gì có thể ngăn được sức sống của người Việt Nam, của tuổi trẻ Việt Nam đã và đang ngày đêm lao động vì tương lai đất nước. Tuổi trẻ với sức khỏe, kiến thức và trí tuệ đang vươn ra biển lớn, hướng đến những giá trị cao đẹp của nhân loại và có điều kiện để phát huy toàn bộ những năng lực của mình. Dù ở vị trí nào, làm công việc gì, đều đóng góp với vai trò tiên phong, gương mẫu của mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiên phong cả về tư tưởng, sự hiểu biết và hành động thực tế; những nơi nào khó khăn nhất, gian khổ nhất, hy sinh nhiều nhất thì cần sự có mặt của thanh niên. Chiến thắng 30/4 đã qua 47 năm nhưng không khí hào hùng của ngày ấy như vẫn còn trong mọi ngõ hẽm, góc phố, ngã đường Việt Nam, dường như nó đã đi vào tiềm thức mỗi người dân Việt như muốn nhắc nhở lòng yêu nước và tự tôn dân tộc ở bất cứ thời đại nào. Gấp trang sử sách với những tự hào cùng những biến cố lịch sử đó lại nhưng mở ra là những điều mà thế hệ trẻ cần cố gắng và nỗ lực viết tiếp tương lai, đúng như những câu thơ nhà văn Hoàng Trung Thông đã từng viết: Ta lại viết bài thơ trên báng súng Con lớn lên viết tiếp theo cha Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống Người hôm nay viết tiếp người hôm qua…/.
NHIỀU CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ ĐỐI VỚI HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG QUÂN SỰ Chiều 4-4, Ban Tuyển sinh quân sự (TSQS) Bộ Quốc phòng tổ chức thông tin về công tác tuyển sinh quân sự năm 2022. Đây là nội dung được nhiều phụ huynh và học sinh trong cả nước quan tâm. Đặc biệt trong đó là những điểm chú ý về chỉ tiêu, phương thức tuyển sinh, tiêu chuẩn sơ tuyển, quyền lợi của thí sinh khi trúng tuyển vào học trong các nhà trường quân đội... được thông tin rõ. Nhiều trường hợp được xét tuyển thẳng Theo Ban TSQS Bộ Quốc phòng, năm 2022, quân đội có 17 học viện, nhà trường được giao chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo đại học, cao đẳng quân sự như: Học viện Quân y, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Không quân... Trong đó, Trường Sĩ quan Không quân được giao tuyển sinh đào tạo cao đẳng quân sự, ngành Kỹ thuật hàng không. Phương thức xét tuyển của các nhà trường quân đội được thực hiện theo hai hình thức. Một là xét tuyển thẳng đối với thí sinh là Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Chiến sĩ thi đua toàn quốc; thí sinh được triệu tập tham dự cuộc thi chọn đội tuyển quốc gia tham dự Olympic quốc tế, trong đội tuyển quốc gia tham dự cuộc thi khoa học kỹ thuật quốc tế; thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia. Ngoài ra còn một số đối tượng khác theo quy định tại Điều 7, Quy chế tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tất cả các đối tượng được xét tuyển thẳng đều phải bảo đảm điều kiện tốt nghiệp THPT và qua sơ tuyển đạt yêu cầu. Phương thức xét tuyển thứ hai là xét tuyển thí sinh từ kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT. Theo đó, các trường sẽ tiếp nhận hồ sơ xét tuyển của thí sinh. Sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT, hội đồng xét tuyển sẽ căn cứ vào điểm số theo tổ hợp để xét tuyển với mức điểm từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Các thí sinh đăng ký xét tuyển phải đủ điều kiện tiêu chuẩn về lý lịch chính trị, sức khỏe, độ tuổi và trình độ văn hóa. Điểm khác biệt mà các thí sinh cần lưu ý khi đăng ký xét tuyển vào các trường quân đội so với các trường khác là thí sinh bắt buộc phải qua sơ tuyển. Việc sơ tuyển được thực hiện ngay tại Ban TSQS cấp quận (huyện, thị xã, thành phố) trực thuộc tỉnh nơi thí sinh có hộ khẩu thường trú. Thời gian sơ tuyển từ ngày 15-3 đến hết ngày 20-5. Trong đó, thời gian khám sức khỏe sơ tuyển cho thí sinh được tổ chức thành hai đợt. Đợt một vào tuần thứ 3 của tháng 4-2022, đợt hai vào tuần thứ 2 của tháng 5-2022. Sau khi khám xong đợt hai, nếu còn thí sinh đăng ký, hội đồng sơ tuyển sẽ tiếp tục khám sơ tuyển cho đến hết ngày 20-5. Đối với các trường quân sự, thí sinh chỉ được đăng ký một nguyện vọng cao nhất (nguyện vọng 1) ngay từ khi làm hồ sơ sơ tuyển. Các nguyện vọng còn lại, thí sinh có thể đăng ký vào các trường ngoài quân đội theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các trường tuyển sinh với thí sinh trên địa bàn toàn quốc. Riêng Trường Sĩ quan Lục quân 1, chỉ tuyển thí sinh từ Quảng Bình trở ra; Trường Sĩ quan Lục quân 2 tuyển thí sinh từ Quảng Trị trở vào. Đối tượng đào tạo đại học quân sự đối với nam giới là hạ sĩ quan, binh sĩ đang tại ngũ, công nhân viên chức quốc phòng có thời gian phục vụ quân đội từ 12 tháng trở lên; quân nhân chuyên nghiệp; thanh niên ngoài quân đội, kể cả quân nhân đã xuất ngũ và công dân hoàn thành nghĩa vụ Công an nhân dân. Đối với nữ giới, tuyển theo chỉ tiêu phân bổ cho các ngành như: Tuyển 10% chỉ tiêu cho các ngành bác sĩ quân y tại Học viện Quân y và các ngành đào tạo ngoại ngữ, quan hệ quốc tế tại Học viện Khoa học Quân sự. Tuyển không quá 6% trên tổng chỉ tiêu các ngành: Công nghệ thông tin, Điện tử viễn thông, Điện tử y sinh, Khí tài quang, Địa tin học tại Học viện Kỹ thuật Quân sự. Thí sinh đăng ký xét tuyển vào các trường quân sự phải bảo đảm các điều kiện sơ tuyển cơ bản như: Lý lịch chính trị gia đình và bản thân rõ ràng, đủ điều kiện để có thể kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam; có phẩm chất đạo đức tốt. Yêu cầu về văn hóa, tính đến thời điểm xét tuyển thí sinh đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương. Về sức khỏe cần đạt yêu cầu theo các tiêu chí về thể lực: Mắt; tai-mũi-họng, răng-hàm-mặt; nội khoa; tâm thần kinh, ngoại khoa; da liễu... theo quy định. Trong đó, yêu cầu riêng đối với các trường đào tạo sĩ quan chỉ huy, chỉ tuyển thí sinh nam cao 1,65m trở lên, cân nặng 50kg trở lên (với nữ là 1,54m và nặng 48kg); không tuyển thí sinh mắc tật khúc xạ cận thị. Đối với các trường đào tạo sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, tiêu chí giảm hơn, được quy định cụ thể tùy vào yêu cầu của mỗi ngành nghề... Học viên và gia đình được hưởng nhiều quyền lợi Theo thông tin từ Ban TSQS Bộ Quốc phòng, khi thí sinh trúng tuyển vào đào tạo sĩ quan sẽ được quân đội bảo đảm về ăn, ở, mặc, phụ cấp hằng tháng. Học viên không phải đóng học phí, được bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng phục vụ học tập. Bên cạnh đó, thân nhân của học viên như bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi hợp pháp nếu chưa có bảo hiểm y tế cũng sẽ được quân đội mua, cấp thẻ bảo hiểm cho thân nhân ngay khi học viên nhập học. Học tập trong môi trường quân đội, bên cạnh tiếp thu các kiến thức chuyên ngành, học viên sẽ được nghiên cứu, trang bị kiến thức toàn diện về chính trị, đạo đức, lối sống, sinh hoạt... theo Điều lệnh Quản lý bộ đội; được nghỉ cuối tuần, nghỉ lễ theo quy định. Học viên có cơ hội được cử đi học tập ở nước ngoài để nâng cao trình độ. Học viên xếp loại học tập xuất sắc, loại giỏi, có các thành tích đặc biệt trong học tập, rèn luyện sẽ được hưởng các chế độ khen thưởng theo quy định của Bộ Quốc phòng. Khi tốt nghiệp ra trường, các em được cấp văn bằng tốt nghiệp đại học thuộc hệ thống văn bằng quốc gia; được Bộ Quốc phòng phong quân hàm sĩ quan. Đối với học viên tốt nghiệp loại giỏi, loại xuất sắc, bên cạnh được ưu tiên phong bậc quân hàm còn được xem xét nguyện vọng khi phân công công tác. Năm 2022, 17 học viện, nhà trường trong quân đội tuyển sinh gần 5.000 chỉ tiêu. Trong đó, một số trường có chỉ tiêu cao, như: Học viện Kỹ thuật Quân sự hơn 500 chỉ tiêu; Học viện Quân y hơn 300 chỉ tiêu; Học viện Hậu cần hơn 250 chỉ tiêu... Một số trường có chỉ tiêu gửi đi đào tạo ở nước ngoài như: Học viện Kỹ thuật Quân sự 105 chỉ tiêu; Học viện Quân y 12 chỉ tiêu... Các trường quân đội xét tuyển điểm tốt nghiệp THPT với 7 tổ hợp môn phù hợp yêu cầu của từng ngành: A00 (Toán, Lý, Hóa); A01 (Toán, Lý, tiếng Anh); B00 (Toán, Hóa, Sinh); C00 (Văn, Sử, Địa), D01 (Toán, Văn, tiếng Anh), D02 (Toán, Văn, tiếng Nga); D04 (Toán, Văn, tiếng Trung Quốc)./.
Phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới đã và đang đặt ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp, trong đó sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam giữ vai trò rất quan trọng. Đại hội XIII của Đảng xác định “Phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam”(1). Sức mạnh mềm là sức mạnh nội sinh, có ý nghĩa góp phần quyết định đến tăng cường tiềm lực và sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Chiến lược đúng đắn để thúc đẩy đất nước phát triển Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam là khả năng huy động, phát huy những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần của dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam đến các quốc gia trên thế giới, đồng thời tăng cường uy tín, vị thế của dân tộc Việt Nam trong các quan hệ quốc tế. Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam bao gồm sức mạnh của những giá trị văn hóa tinh thần và sức mạnh của những giá trị văn hóa vật thể. Những giá trị văn hóa tinh thần được thể hiện rất phong phú, đa dạng như lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết cộng đồng, sẵn sàng sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau, ý chí quật cường, tinh thần kiên quyết đấu tranh giành độc lập dân tộc, tinh thần yêu chuộng hòa bình, lòng nhân nghĩa, hòa hiếu, khoan dung... Những giá trị văn hóa tinh thần không những tạo nên nét đặc sắc của văn hóa dân tộc, hun đúc nên bản lĩnh Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam còn được thể hiện ở những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc, phản ánh những nét độc đáo về giá trị tinh thần của người Việt qua các thời đại. Với bề dày lịch sử, cùng với vị trí địa lý đặc biệt, Việt Nam có nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh độc đáo, tạo nên một đất nước Việt Nam có nền văn hóa đa dạng, giàu bản sắc và luôn tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hóa chung của nhân loại. Trong xu thế phát triển hiện nay, ngày càng có nhiều quốc gia coi trọng chiến lược phát huy sức mạnh mềm của văn hóa. Với lợi thế của một nền văn hóa có nhiều nét độc đáo, mang lại nhiều ấn tượng tốt đẹp đối với bạn bè quốc tế, việc phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam là một chiến lược đúng đắn để thực hiện các mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Vì vậy, xây dựng, phát triển văn hóa luôn được Đảng xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, là một trong những động lực để phát triển kinh tế-xã hội. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Xây dựng, phát huy yếu tố văn hóa để thực sự là đột phá phát triển kinh tế-xã hội, hội nhập quốc tế”(2). Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam được coi là một trong những sức mạnh nội tại đặc biệt. Năm 2007, khi Giáo sư Joseph Nye, tác giả của học thuyết “Sức mạnh mềm” đến Việt Nam, đã nhận định rằng, những điểm làm nên sức hấp dẫn nhất của sức mạnh mềm Việt Nam hiện nay là tinh thần tự chủ, độc lập dân tộc, chính sách phát triển kinh tế và nền văn hóa, trong đó văn hóa của Việt Nam luôn hấp dẫn và có sức lôi cuốn các nước phương Tây. Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam phải thường xuyên đương đầu với các cuộc chiến tranh xâm lược của các cường quốc trong khu vực và thế giới. Để giữ vững nền độc lập dân tộc, cha ông ta đã tìm ra nhiều cách thức phù hợp và hiệu quả, trong đó, sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam đã được sử dụng như một “bảo bối” để bảo vệ đất nước, duy trì nền độc lập dân tộc trước sự xâm lăng của các cường quốc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tạo ra sức mạnh nội sinh, động lực thúc đẩy đất nước phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Tuy vậy, nhìn nhận một cách nghiêm túc, việc phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam vẫn chưa mang lại hiệu quả như kỳ vọng, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của văn hóa dân tộc. Khai thác, phát huy tối đa sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam Trong những năm tới, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu rộng đến mọi quốc gia, dân tộc. Các quốc gia ngày càng mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện, tăng cường khai thác và phát huy tối đa các sức mạnh mềm, nhất là lợi thế về sức mạnh mềm của văn hóa, nhằm tạo ra sức mạnh nội lực, sức lôi cuốn, hấp dẫn đối với các quốc gia khác nhằm đạt được mục tiêu, lợi ích của mình. Sở dĩ nhiều nước phát triển, nhất là một số nước châu Á có nhiều nét lịch sử văn hóa tương đồng với nước ta đã phát triển một cách thần kỳ, ngoạn mục trong những thập niên gần đây như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc..., bởi các quốc gia này luôn coi trọng yếu tố văn hóa, coi văn hóa dân tộc nói chung, ngành công nghiệp văn hóa nói riêng là chiếc cầu nối gần gũi nhất, phương tiện quảng bá sức mạnh, vị thế, hình ảnh dân tộc hữu hiệu đến với bạn bè thế giới. Văn hóa biểu hiện sức sống, sức sáng tạo, sức mạnh tiềm tàng của quốc gia, dân tộc; đồng thời là cốt cách, vị thế, tầm vóc của cả cộng đồng dân tộc. Để hoàn thành các mục tiêu cả trước mắt và lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng đã xác định, chúng ta cần phải phát huy mạnh mẽ và toàn diện những tiềm năng, lợi thế sẵn có của đất nước, trong đó phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam. Muốn vậy, giải pháp đầu tiên là cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chiến lược về phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và tiếp thu kinh nghiệm của các nước trên thế giới, tiếp tục hoàn thiện chủ trương, đường lối về phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam phù hợp với các thế mạnh của dân tộc trong bối cảnh mới. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về văn hóa; rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch, kế hoạch phát triển văn hóa phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển đất nước. Trước mắt, chú trọng hoàn thành việc xây dựng hệ giá trị quốc gia, với những giá trị cốt lõi, định hình bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực tiễn mới của thời đại. Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tính đến tháng 12-2021, cả nước ta có 166 bảo tàng với hơn 3 triệu hiện vật; 3.486 di tích được xếp hạng quốc gia, trong đó có 105 di tích quốc gia đặc biệt, 288 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, 27 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Đây là những giá trị văn hóa được kết tinh, lưu truyền từ hàng nghìn năm qua. Do vậy, cần chọn lọc những giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam để quảng bá ra thế giới, qua đó góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế đất nước trên trường quốc tế. Một việc làm cần thiết hiện nay là chú trọng khôi phục, đẩy mạnh các hoạt động du lịch để truyền thông, quảng bá các giá trị văn hóa Việt Nam ra toàn thế giới, qua đó khẳng định Việt Nam là điểm đến an toàn, thân thiện, hấp dẫn. Cùng với đó, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa. Tập trung đầu tư phát triển có trọng điểm một số ngành công nghiệp văn hóa mà Việt Nam có lợi thế, nhất là các ngành: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, quảng cáo; “phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP; mức tăng trưởng giá trị gia tăng hằng năm trung bình đạt 7%” như Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 12-11-2021. Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam là một thành tố cốt lõi cấu thành nên sức mạnh tổng hợp quốc gia, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quan hệ quốc tế, trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Với lợi thế của một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, đa dạng, độc đáo và hấp dẫn, Việt Nam có đủ các điều kiện phát huy sức mạnh mềm của văn hóa, nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đủ sức “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn.
Trò hề của những kẻ lợi dụng vấn đề Nga và Ucraina để chống phá đất nước. Một vấn đề từ lâu dần trở thành quy luật trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống Việt Nam, đó là mỗi khi tình hình chính trị khu vực và thế giới biến động phức tạp thì các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội, bất mãn chống đối lại “thừa nước đục thả câu”, “bới lông tìm vết”, tung ra những luận điệu phản tuyên truyền… nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Trên các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân thù địch, chống đối liên tục đăng tải tin, bài có nội dung phê phán, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam trong quan điểm, cách nhìn nhận, ứng xử trước các vấn đề liên quan đến xung đột giữa Nga và Ukraine… từ đó hướng dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam. Ở phương diện khác, từ những ý kiến, lời bình của các chuyên gia, nhà nghiên cứu Việt Nam về tình hình chiến sự tại Ukraine trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các đối tượng đã “cắt xén”, “thêm thắt”, bịa đặt, làm sai lệch thông tin để quy kết cho phần lớn lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam ủng hộ Nga, chính quyền Putin cũng như cuộc chiến tranh “xâm lược Ukraine”… Có thể thấy, dù trực tiếp hay gián tiếp, công khai hay lập lờ, truyên truyền đen hay tuyên truyền xám thì các luận điệu này cũng đều nhuốm màu “lệch lạc”, “sai trái”, “thù địch”, nhằm công kích vào quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam nói chung cũng như quan điểm và ứng xử đối với diễn biến tại chính trường Ukraine; hạ thấp vai trò, uy tín và tầm ảnh hưởng vốn đã được gây dựng bấy lâu của Đảng, Nhà nước cũng như dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế; tác động tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với Nga, Ukraine và cộng đồng quốc tế nhằm phục vụ cho ý đồ trước mắt và lâu dài. Để thấy rõ được tính chất sai trái, xuyên tạc trong luận điệu, đồng thời chủ động trong nhận diện, phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả, thiết nghĩ, cần công tâm, khách quan, thấu đáo trong nhìn nhận, xem xét từ thực tiễn công tác đối ngoại của Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ nói chung cũng như trước những bất ổn về chính trị xảy ra tại Ukraine thời gian qua ở mấy vấn đề sau: - Đầu tiên, phải khẳng định rằng Việt Nam là quốc gia yêu chuộng và luôn đề cao hòa bình, hòa hợp dân tộc. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước, đi qua những cuộc chiến tranh khốc liệt, gian khổ, với muôn vàn đau thương, mất mát và hy sinh. Hơn ai hết toàn thể Nhân dân Việt Nam ý thức rõ được giá trị của nền hòa bình, độc lập, tự do. Chính vì thế, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam không muốn đất nước phải chịu cảnh chiến tranh và cũng không bao giờ muốn chiến tranh xảy ra với bất kỳ quốc gia nào, như đã và đang xảy ra tại Ukraine. Điều dễ dàng nhận thấy, trên các phương tiện truyền thông đại chúng Việt Nam những ngày qua liên tục phát đi “thông điệp” thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam không ủng hộ xung đột quân sự xảy ra tại Ukraine, đồng thời tích cực kêu gọi các bên liên quan hết sức kiềm chế, tránh những động thái gây bất ổn cho tình hình chính trị thế giới, ảnh hưởng xấu đến hòa bình, ổn định toàn cầu; đe dọa nghiêm trọng đến sinh mệnh của binh lính và người dân vô tội ở các nơi xảy ra xung đột. - Khi đề cập đến đường lối ngoại giao nhân dân của Việt Nam, không thể bỏ qua dấu ấn đậm nét tư tưởng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi, sinh thời, Bác Hồ luôn đề cao tình yêu thương con người, quý trọng sinh mạng con người, trong quá trình hoạt động ngoại giao cho dân tộc, Bác luôn tìm mọi cách để ngăn ngừa xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình, với tinh thần “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo";... Không những thế, Người nhiều lần căn dặn “phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ” để biết mình, biết người, biết thời, biết thế; hiểu rõ vị trí chiến lược Việt Nam trong mối quan hệ giữa các nước lớn, để “cương nhu kết hợp”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” vì lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc. Tư tưởng cốt lõi ấy đã và đang được Đảng, Nhà nước ta vận dụng khéo léo, linh hoạt, uyển chuyển trong đề ra và thực hiện chính sách đối ngoại nói chung cũng như trong bày tỏ quan điểm và thể hiện hành động trước tình hình căng thẳng trong quan hệ giữa Nga và Ukraine thời gian qua. Cùng với việc kêu gọi kiềm chế, giảm xung đột leo thang, Đảng, Nhà nước ta bày tỏ mong muốn Nga và Ukraine nhanh chóng chấm dứt việc dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực, thay vào đó là những cái bắt tay, những vòng đàm phán, những phiên đối thoại, những thỏa thuận, hòa giải nhằm tìm kiếm những giải pháp căn cơ, lâu dài cho các tranh chấp, xung đột bằng biện pháp hòa bình. - Thực tế đã chứng minh, trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Nhân dân Việt Nam luôn phấn đấu vì một nền đối ngoại giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa; sẵn sàng giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân cũng như nhân loại tiến bộ trên thế giới. Kiên định đường lối đối ngoại trung lập, độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển; tôn trọng và đảm bảo lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hiệp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, đôi bên cùng có lợi. Đây là nguyên tắc bất biến, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo, điều hành, tổ chức và quản lý công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Đặc biệt, trong quan hệ đối ngoại, Đảng, Nhà nước ta luôn kiên trì thực hiện chính sách “năm không”: Không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam và không liên kết nước này để chống nước kia. Do đó, đối với vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine vừa qua, Việt Nam luôn đứng ở vị trí trung lập để xem xét, nhìn nhận, đánh giá, phát ngôn và hành động. Thông qua các phát biểu gần đây của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng tại buổi họp báo diễn ra vào ngày 23/2 cũng như phát biểu của Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hiệp quốc tại phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên Hiệp quốc ngày 01/3 đều khẳng định quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng. Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. - Hơn thế nữa, trên con đường hội nhập và phát triển, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại trên tinh thần Nhân dân Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, trong đó có cả Nga và Ukraine. Dù là Nga hay Ukraine, Việt Nam vẫn luôn coi trọng, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại một cách bình đẳng, trên tinh thần hợp tác, cùng phát triển, phấn đầu vì một môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho sự nghiệp đối nội, cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Thêm một điều không thể phủ nhận đó là, Việt Nam - một trong những quốc gia đóng góp nhiều sáng kiến hòa bình cho khu vực cũng như thế giới, luôn tích cực tham gia đấu tranh cho hòa bình nhân loại. Thực tế cho thấy, việc giải quyết vấn đề xung đột trong quan hệ giữa Nga và Ukraine, trước tiên phải là trách nhiệm của các bên liên quan, Việt Nam sẽ tham gia khi đảm bảo các điều kiện về đối nội và đối ngoại, có nghĩa là khi cộng đồng quốc tế chính thức vào cuộc và lợi ích quốc gia – dân tộc được đảm bảo. Trong ngày thứ 2 của phiên họp đặc biệt do Đại hội đồng Liên Hiệp quốc tổ chức về tình hình Ukraine, đại diện Việt Nam khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam về giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và hiến chương Liên Hiệp quốc; đồng thời bày tỏ sự quan ngại sâu sắc và kêu gọi kiềm chế, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài. Cùng với đó, Việt Nam cũng đã tích cực kêu gọi và đề nghị cộng đồng quốc tế thúc đẩy viện trợ nhân đạo cho dân thường, đảm bảo an ninh an toàn của người dân cũng như các cơ sở hạ tầng thiết yếu theo luật nhân đạo quốc tế. Những phát ngôn ấy đã được cộng đồng quốc tế đón nhận, ủng hộ và hoan nghênh. Thực tế đó, đã phần nào minh chứng được, vai trò và sự tham gia tích cực, đúng đắn của Việt Nam trong giải quyết xung đột giữa Nga và Ukraine cũng như gìn giữ hòa bình thế giới. Từ những vấn đề trên, có thể khẳng định rằng, tinh thần hòa bình, hữu nghị, nhân văn, thận thiện, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa trong chính sách ngoại giao của Việt Nam nói chung, đặc biệt là đối với xung đột giữa Nga và Ukraine thời gian qua, không đơn thuần là sự tiến bộ, cách mạng của chính sách, chủ trương, mà tinh thần ấy đã trở thành một trong những nét đẹp của bản sắc Việt, là tinh hoa, là hồn cốt của dân tộc Việt Nam. Tinh thần ấy, chính sách ấy, quan điểm ấy vừa cứng rắn vừa mềm dẻo; vừa tuân thủ nguyên tắc, định hướng vừa linh hoạt, uyển chuyển; hội tụ đầy đủ, toàn diện, phù hợp với các quy luật của lịch sử, hiện tại và tương lai, đảm bảo lợi ích tối thượng của quốc gia, dân tộc, góp phần khẳng định và nâng tầm Việt Nam trên trường quốc tế. Và như vậy, thêm một lần nữa, chính sách ấy lại chứng minh được giá trị của mình và quan trọng là nó đã góp phần đập tan những âm mưu, ý đồ, chiêu trò chống phá sự nghiệp cách mạng nước nhà.
NƠI NÀO MỸ NÉM BOM, BẮN PHÁ THÌ ĐÓ CHÍNH LÀ VÙNG GIẢI PHÓNG CỦA CHÚNG TÔI Trong 4 năm đàm phán, bà Bình đi thăm nhiều nước để tranh thủ sự ủng hộ của họ. Tháng 4-1969, thăm Anh, một nước luôn ủng hộ Mỹ. Chuyến thăm tốt đẹp hơn cả mong đợi. Kết thúc buổi đón tiếp long trọng, Madam Bình từ trên đài cao bước xuống, đi diễu hành giữa hai hàng cảnh binh bảo vệ. Giữa quãng trường Trafalgar lớn, rừng người hô vang khẩu hiệu "Đoàn kết với Việt Nam!", "Chấm dứt chiến tranh!". Chuyến thăm Thụy Điển năm 1970, được đích thân Thủ tướng Olof Palme (1927-1986) tiếp và cùng Madam Bình dẫn đầu cuộc biểu tình ủng hộ Việt Nam. Nữ nhà văn Sara Lidman (1923-1976) nổi tiếng ở Bắc Âu, tiếp và nói: "Chị Bình ơi, Việt Nam đang có một nền văn hóa dân tộc vô cùng quý giá…". Cuối tháng 4/1969, bà Bình về Hà Nội nhận chỉ thị mới và thăm cha đang bệnh nặng, và được Bác Hồ dặn phải vận động nhân dân các nước ủng hộ Việt Nam. Không ngờ đó là lần bà gặp cha và Bác cuối cùng. Mặt trận đối ngoại là một chiến trường, có thể nói đấu lý lần nào chúng ta cũng giành thắng lợi. Có nhà báo hỏi: "Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?". Bà Bình trả lời: "Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược". Nhà báo hỏi: "Vùng giải phóng ở đâu?". Bà Bình trả lời dứt khoát: "Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?". Giữa năm 1971, truyền hình Pháp tổ chức cuộc họp báo ở hai đầu Paris và Washington, có 20 nhà báo tham gia, 10 người phần lớn là Mỹ bảo vệ lập trường của Mỹ, 10 người, phần lớn là Pháp trung lập. Bà Bình một mình giữa các nhà báo sừng sỏ, dưới ánh đèn sáng chói đã bình tĩnh đối đáp đàng hoàng, mạnh mẽ nhưng hòa nhã, nêu rõ thiện chí muốn tìm giải pháp chính trị chấm dứt chiến tranh. Ông Xuân Thủy gọi điện khen: "Cô rất dũng cảm". Thật khâm phục người Phụ nữ nhỏ bé, một mình đương đầu với cả một dàn Nhà báo Phương Tây sừng sỏ, nhiều thủ đoạn, chiêu trò dồn ép, đổ lỗi cho phía Việt Nam DCCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam phá vỡ Hội Nghị Pari...! Nhưng với bản lĩnh tuyệt vời, ý kiến sắc bén, sát đúng với tình hình đang diễn ra ở cả hai miền Việt Nam. Một mình bà dung dung, tự tại trên Chiến Trường Ngoại giao. Kính phục, thật kính phục bà.