Thứ Tư, 6 tháng 4, 2022

LUẬN CHỨNG PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SAI TRÁI HIỆN NAY VỀ HÌNH ẢNH VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Trong giai đoạn hiện nay, để tấn công trực diện vào những vấn đề cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta, nhất là xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nham hiểm của các thế lực thù địch. Các đối tượng tung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch về hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các tổ chức phản động lưu vong, nhất là những phần tử trong chế độ cũ; những phần tử cơ hội, cực đoan, bất mãn chính trị trong nước; những đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái, biến chất, “trở cờ”,… Phương thức và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhất là khoác áo “khách quan khoa học”, đội lốt “phản biện xã hội” để ngụy tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh; triệt để lợi dụng những đặc tính vốn là ưu thế nổi trội của các phương tiện truyền thông xã hội biến thành công cụ đắc lực chống phá con đường và sự nghiệp cách mạng Việt Nam… Việc nhận diện bản chất, bóc trần các thủ đoạn, từ đó xây dựng hệ luận cứ căn bản để phản bác những luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng. 

Thứ nhất, phản bác luận điệu liên quan đến việc phủ nhận Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng thiên tài, nhà lý luận kiệt xuất. Tư tưởng của Người không chỉ ở những câu chữ hoặc trước tác mà nằm ở chiều sâu nội dung và ý nghĩa cao cả của nó, vừa kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chứa đựng khát vọng cháy bỏng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm đẫm triết lý nhân sinh, thân dân... Ở Hồ Chí Minh thể hiện sự thống nhất, hòa quyện giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách; giữa lý luận và thực tiễn; giữa tri và hành; giữa lời nói và việc làm. Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, xuất phát từ thực tiễn và nguyện vọng của quần chúng bị áp bức, Hồ Chí Minh đã thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc mình và góp phần giải phóng các dân tộc thuộc địa. Do đó, có thể hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với ý nghĩa là “học thuyết”, là một hệ thống những luận điểm, quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam được xây dựng trên một nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, được hình thành theo đúng quy luật phát triển và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

Các thế lực thù địch công kích, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, coi tư tưởng của Người chỉ là sự sao chép nguyên bản, áp dụng khiên cưỡng chủ nghĩa Mác - Lê-nin hoặc “đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin” Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thắng lợi cuộc cách mạng ở Việt Nam, mở đường cho các dân tộc và thuộc địa vùng lên thực hiện sự nghiệp giải phóng. Những tư tưởng của Người đã được kiểm nghiệm trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, mở ra những tiềm năng chưa từng có cho các phong trào giải phóng dân tộc”.

Thứ hai, phản bác luận điệu khẳng định không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh chọn giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, để đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột tàn bạo, vô nhân đạo, đấu tranh xóa bỏ nghèo nàn, “giặc dốt” và lạc hậu, nhằm tạo ra một xã hội mới theo mục tiêu, lý tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề hiện hữu trên thế giới, có ý nghĩa thời đại cấp bách cần phải giải quyết. Cống hiến lớn của Bác cho cách mạng Việt Nam là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sự lựa chọn duy nhất đúng, một đột phá lý luận rất cơ bản về con đường, mục tiêu và phương thức phát triển của cách mạng. Từ cách mạng giải phóng dân tộc phải đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa và trong khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiến hành giải phóng dân tộc theo phương thức thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng. Theo Người, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa thì trước hết phải giành cho kỳ được độc lập dân tộc.

Thứ ba, phản bác luận điệu cho rằng không có nghị quyết của UNESCO tôn vinh Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất. Luận điệu xuyên tạc trên không chỉ nhằm bôi nhọ, hạ thấp hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh, mà còn tấn công vào những giá trị của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở hệ giá trị tư tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, mà ở Người chính là sự hội tụ và phát huy đến mức cao nhất những tinh hoa văn hóa đó.

Thứ tư, phản bác luận điệu cho rằng tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, không còn phù hợp. Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, hiện nay là thời đại của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ hiện đại..., nên những tư tưởng hay những quan niệm về đạo đức của Hồ Chí Minh đã bộc lộ những “sự lỗi thời”, “lạc hậu”, “khắc kỷ”, “không còn phù hợp” với thời đại Sự thật là, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên sức sống và giá trị thời đại, bởi bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chính những tư tưởng, đạo đức đó và bởi sự vận dụng sáng tạo những tư tưởng vượt trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, của Đảng Cộng sản Việt Nam, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược cách mạng trong toàn bộ tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện tấm gương ngời sáng của người cộng sản mẫu mực, người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Người đã thâu thái những giá trị văn hóa đạo đức của nhân loại để làm giàu trí tuệ của mình, định hướng giá trị đạo đức trong thời đại mới về tinh thần quốc tế trong sáng, chống chia rẽ, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc. Giá trị thời đại trong tư tưởng, đạo đức của Người còn được đánh giá cao bởi sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích dân tộc và lợi ích cộng đồng quốc tế, giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, phù hợp với xu thế vận động, phát triển của quan hệ quốc tế hiện đại. Đạo đức và tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, trước sau như một của Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam và nhân loại. Giá trị đạo đức Hồ Chí Minh không phải là con số cộng cơ học của những giá trị trên, mà là sự tổng hòa, hội tụ, hòa hợp tự nhiên tất cả lại để làm giàu trí tuệ và phẩm chất của mình. Đó là một giá trị đạo đức phổ quát mà nhân loại đang nỗ lực xây dựng, phát huy, tôn vinh và học hỏi để nâng tầm thời đại và tiến bộ trong xã hội văn minh hiện đại ngày nay./.

                                                                                 VHT.

 

Hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động.

 Phó Thủ tướng Lê Minh Khái vừa ký Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động.



Theo đó, hai đối tượng sẽ được nhận hỗ trợ là người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp và người lao động quay trở lại thị trường lao động, với mức 500.000 đồng/người/tháng và 1.000.000 đồng/người/tháng.

Hỗ trợ người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp

Cụ thể, Quyết định quy định người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp tại khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc khu vực kinh tế trọng điểm được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện sau: (1) Ở thuê, ở trọ trong khoảng thời gian từ ngày 1-2-2022 đến ngày 30-6-2022; (2) Có hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 01 tháng trở lên được giao kết và bắt đầu thực hiện trước ngày 1-4-2022; (3) Đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của cơ quan bảo hiểm xã hội) tại tháng liền kề trước thời điểm doanh nghiệp lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

Trường hợp người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11-11-2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc thì phải có tên trong danh sách trả lương của doanh nghiệp của tháng liền kề trước thời điểm doanh nghiệp lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

Người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp đáp ứng đủ các điều kiện trên thì được nhà nước hỗ trợ 500.000 đồng/người/tháng. Thời gian hỗ trợ tối đa 3 tháng. Phương thức chi trả hằng tháng.

Hỗ trợ người lao động quay trở lại thị trường lao động

Quyết định quy định người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh tại khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc khu vực kinh tế trọng điểm được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện sau: (1) Ở thuê, ở trọ trong khoảng thời gian từ ngày 1-4-2022 đến ngày 30-6-2022; (2) Có hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 1 tháng trở lên được giao kết và thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày 1-4-2022 đến ngày 30-6-2022, trừ hợp đồng lao động giao kết tiếp nối của hợp đồng lao động đã giao kết và thực hiện trước đó; (3) Đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của cơ quan bảo hiểm xã hội) tại tháng liền kề trước thời điểm người sử dụng lao động lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

Trường hợp người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11-11-2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động mới tuyển dụng và có giao kết hợp đồng lao động nhưng chưa có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của cơ quan bảo hiểm xã hội thì phải có tên trong danh sách trả lương của người sử dụng lao động của tháng liền kề trước thời điểm người sử dụng lao động lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

Mức hỗ trợ áp dụng cho đối tượng này là 1.000.000 đồng/người/tháng. Thời gian hỗ trợ tối đa 3 tháng. Phương thức chi trả hằng tháng.

Hồ sơ đơn giản

Quyết định nêu rõ hồ sơ đề nghị hỗ trợ gồm: Danh sách người lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà có xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội. Trường hợp trong danh sách có người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động mới được tuyển dụng thì bổ sung thêm bản sao danh sách trả lương của tháng liền kề trước thời điểm đề nghị.

Về trình tự, thủ tục, thời gian thực hiện chủ yếu tại doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, thời gian từ lúc Ủy ban nhân dân cấp huyện tiếp nhận hồ sơ đến khi Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định hỗ trợ và chi trả cho người lao động là 4 ngày.

Trình tự, thủ tục cụ thể như sau: Người sử dụng lao động tổng hợp danh sách người lao động đề nghị hỗ trợ trên cơ sở đơn đề nghị của người lao động, niêm yết công khai tại nơi làm việc ít nhất 3 ngày làm việc. Người sử dụng lao động chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực thông tin của người lao động.

Sau đó, người sử dụng lao động gửi cơ quan bảo hiểm xã hội để xác nhận người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội (thời gian xử lý của cơ quan bảo hiểm xã hội là 2 ngày). Người sử dụng lao động nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ đến Ủy ban nhân dân cấp huyện để thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định phê duyệt danh sách, kinh phí hỗ trợ và chỉ đạo thực hiện chi trả hỗ trợ (thời gian xử lý của Ủy ban nhân dân cấp huyện là 2 ngày, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là 2 ngày).

Người sử dụng lao động chi trả cho người lao động trong vòng 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kinh phí hỗ trợ.

HỘI THẢO XÂY DỰNG NGHỊ QUYẾT CỦA QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

 

          Sáng 5-4, Ban chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 86 Bộ Quốc phòng tổ chức Hội thảo xây dựng Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về công tác giáo dục và đào tạo theo hình thức trực tuyến. Trung tướng Ngô Minh Tiến, Phó tổng Tham mưu trưởng, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo chủ trì hội thảo.

          Thực hiện các chỉ thị, quyết định của thủ trưởng Bộ Quốc phòng về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 86/NQ-ĐUQSTW ngày 29-3-2007 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về công tác giáo dục, đào tạo trong tình hình mới và xây dựng Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về công tác giáo dục và đào tạo, thời gian qua, Cục Nhà trường (Bộ Tổng Tham mưu) đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị xây dựng, xin ý kiến các cấp vào các dự thảo bảo đảm chặt chẽ, chất lượng, đúng thời gian.

          Tại hội thảo, các ý kiến thống nhất đề nghị lấy tên nghị quyết mới là “Nghị quyết về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới”. Bố cục gồm 4 phần, trong đó đề xuất các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ, nhất là nhấn mạnh các giải pháp: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp với đổi mới công tác giáo dục và đào tạo; xây dựng nhà trường quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiện đại, đổi mới căn bản công tác quản lý; tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ quy trình, chương trình, nội dung đào tạo, hình thức, phương pháp giảng dạy.

          Xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ số lượng, hợp lý về cơ cấu, đạt chuẩn theo định; đổi mới toàn diện công tác quy hoạch, tạo nguồn, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng nhân lực đã được đào tạo, bồi dưỡng. Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học với giáo dục và đào tạo; chuẩn hóa, hiện đại hóa trang thiết bị đào tạo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số…

          Phát biểu kết luận hội thảo, Trung tướng Ngô Minh Tiến ghi nhận, đánh giá cao Cục Nhà trường-Cơ quan thường trực Ban chỉ đạo đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị xây dựng các dự thảo công phu, chất lượng. Đồng thời yêu cầu, sau hội thảo này, Cục Nhà trường tổng hợp, tiếp thu có chọn lọc các ý kiến đóng góp, tiếp tục làm tốt công tác phối hợp, bổ sung, hoàn thiện báo cáo tổng kết và dự thảo nghị quyết trình Quân ủy Trung ương xem xét, thông qua trong thời gian tới. QĐND.

                                                                                      St PQ

HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC!

 

          * Cách đây 99 năm, ngày 4-4-1923, Nguyễn Ái Quốc cùng Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Văn Ái họp tại trụ sở Hội Liên hiệp Thuộc địa ở Paris để bàn về tờ báo “Le Paria” (Người Cùng Khổ) lúc này đang gặp khó khăn về tài chính. Nguyễn Ái Quốc nêu ý kiến rằng, bằng mọi giá tờ báo phải sống, vì nếu tờ báo chết trong lúc này sẽ gây thiệt hại lớn cho việc tuyên truyền, trong khi hơn lúc nào hết nhân dân vô sản thế giới đang phải lên tiếng chống lại những kẻ bóc lột.

          * Ngày 4-4-1926, với bút danh Mộng Liên, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Về sự bất công” đăng trên mục “Dành cho phụ nữ” của báo “Thanh Niên” xuất bản tại Quảng Châu, Trung Quốc. Bài báo nêu lên những quan niệm khinh rẻ phụ nữ của xã hội cũ: “Đại đức Khổng Tử nói: Chồng phải dạy vợ. Đức Mạnh Tử lại lưu ý rằng: Đàn bà và trẻ con khó dạy bảo... Người Trung Quốc thường so sánh phụ nữ với con gà mái. Ở An Nam, chúng ta nói: Đàn bà phải quanh quẩn trong bếp”; rồi nêu vấn đề: “Trong xã hội và trong gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng chút quyền gì. Hỡi chị em! Vì sao chị em lại phải chịu sự áp bức bất công này!?”.

          * Ngày 4-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội đồng Chính phủ họp phiên bất thường để thông báo việc mình đã gặp để thảo luận trực tiếp với Đô đốc D’Argenlieu. Bác cho biết, sau 2 lần sửa chữa, phía Pháp đã phải chấp nhận một thông báo gần đúng với chủ trương của ta, đồng thời J. Sainteny đã phải đưa ra đề nghị tổ chức hội nghị trù bị ở Đà Lạt.

          * Ngày 4-4-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi Đặc phái viên Chính phủ tại Thanh Hóa là Vũ Đình Huỳnh giao nhiệm vụ cùng Giám mục Lê Hữu Từ “dàn xếp việc xích mích giữa đồng bào lương - giáo để thực hiện đoàn kết kháng chiến. Vì vậy, cần phải khôn khéo và cẩn thận từ lời nói đến việc làm” và bằng mọi cách để giải tỏa những việc hiểu lầm dẫn đến có hại cho đoàn kết. Cùng ngày, Bác ký sắc lệnh thành lập một Ủy ban Hành chính đặc biệt miền thượng du Thanh Hóa để giúp tỉnh giải quyết công việc của địa phương này.

          * Ngày 4-4-1952, Bác viết bài “Có tiền mua tiên cũng được” đăng trên báo Cứu Quốc (ký tên là Đ.X), bình luận việc một số nước tẩy chay, không nhận các khoản cho vay của Mỹ. Bài báo kết thúc bằng việc liên hệ đến nền tài chính kháng chiến của ta: “Việt Nam ta đang phát động phong trào sản xuất và tiết kiệm; Chính phủ, đoàn thể và nhân dân đồng tâm nhất trí thì nhất định thành công: Không tiền ta tạo ra tiền/ Kháng chiến thắng lợi là tiên trên đời”.

          * Ngày 4-4-1963, chuẩn bị cho các cuộc gặp và hội đàm với Trung Quốc và Liên Xô của Đoàn đại biểu Đảng, tại cuộc họp của Bộ Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò: “Nói ít mà tốt. Biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự”.                                                                                              St PQ

GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ "ĐỐI TÁC" VÀ ĐỐI TƯỢNG TRONG CỤC DIỆN THẾ GIỚI MỚI

 

          Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế... Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn hợp tác, thỏa hiệp, nhưng đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới... Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn”.

          Trên thực tế, tình hình thế giới, nhất là ngay trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á, đã có những diễn biến phức tạp, nguy cơ xung đột vũ trang tăng cao liên quan đến chủ quyền và tranh chấp lãnh thổ, đe dọa đến an ninh khu vực. Không chỉ có vậy, từ khi chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” của Mỹ được thực thi, đến nay, khu vực này đã trở thành trọng tâm điều chỉnh chính sách an ninh và đối ngoại của các nước trong và ngoài khu vực. Một số nước châu Âu như Pháp, Đức, Anh cũng đã đưa ra chiến lược riêng về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, từng bước gia tăng can dự vào khu vực Biển Đông.

          Là một quốc gia nằm ở khu vực địa - chính trị đang có sự cạnh tranh gay gắt và với mạng lưới quan hệ đối ngoại sâu rộng có lợi ích đan xen, Việt Nam chịu những ảnh hưởng và tác động nhất định. Trước tình hình đó, cách tiếp cận và hướng giải quyết mối quan hệ “đối tác” và “đối tượng” trong chính sách đối ngoại của Việt Nam cần:

          Một là, kiên định nguyên tắc và kiên trì những vấn đề mang tính chiến lược, nhưng khôn khéo và linh hoạt trong sách lược và triển khai thực hiện. “Dĩ bất biến ứng vạn biến” cần luôn là phương châm đối ngoại của Việt Nam trong mọi hoàn cảnh, với mọi vấn đề, giữa Việt Nam và các “đối tác”, trong mối quan hệ chuyển hóa giữa “đối tác” và “đối tượng”.

          Hai là, linh hoạt trong cách nhìn nhận “đối tác” và “đối tượng”. Cần tránh quan điểm “nếu không ủng hộ ta thì là kẻ thù của ta”. Trong thực tiễn hoạt động đối ngoại, một mặt, Việt Nam phải luôn tỉnh táo nhận thức rằng “không có đồng minh vĩnh viễn”; mặt khác, cần biết tranh thủ những mặt xung đột của các “đối tượng” để có lợi cho ta. Trong quan hệ quốc tế, điều căn bản nhất đối với mọi quốc gia chính là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.

          Ba là, “đối tác” và “đối tượng” trong chính sách đối ngoại được Đại hội XIII của Đảng thông qua phản ánh mối quan hệ hữu cơ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và dựa trên nền tảng của các nghị quyết trước đây, nhất là Nghị quyết số 28-NQ/TW. Tuy nhiên, thực tế luôn vận động và biến đổi, do vậy, Đảng ta đã có kế hoạch tổng kết về chiến lược, trong đó bao gồm cả vấn đề xác định “đối tác” và “đối tượng”. Việc tổng kết này cần được tiến hành trên tinh thần cầu thị, lắng nghe để định hướng chính sách mang tầm chiến lược, tránh những quan điểm lợi dụng nhằm xuyên tạc và cách tiếp cận bị ảnh hưởng bởi quan điểm có tính “phe phái” trong quan hệ quốc tế. Bài học lịch sử cho thấy, dứt khoát không và không ai có thể buộc Việt Nam phải “chọn phe”. Việc ai là “đối tác” sẽ do Việt Nam chủ động thúc đẩy, nhưng đồng thời cũng rộng mở đón nhận thiện chí từ phía muốn Việt Nam là đối tác của họ trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc được bảo đảm. Còn về “đối tượng”, trong quá trình cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII, nên chăng cần sử dụng khái niệm mềm hơn, cách diễn đạt uyển chuyển hơn, phù hợp với “những nhận thức mới và tư duy mới về an ninh quốc gia”, nhưng cũng kiên quyết bảo vệ những vấn đề thuộc về nguyên tắc, thuộc về lợi ích căn bản và cốt lõi của Việt Nam. Với cách tiếp cận đó, nên chăng đề xuất cách diễn đạt rõ hơn các nội dung có tính lượng hóa về “đối tượng”, đó là: Tất cả những thách thức phương hại đến an ninh quốc gia; ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội; sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa, khối đại đoàn kết dân tộc; độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đều là đối tượng cần đấu tranh nhằm bảo đảm lợi ích tối thượng của quốc gia - dân tộc. Những thách thức ở đây bao gồm cả âm mưu, hành động của các “thế lực thù địch”, những diễn biến và nguy cơ xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, những vấn đề an ninh phi truyền thống. Khái niệm “thách thức” ở đây mang tính định lượng, giúp chúng ta có thể minh định rõ ràng “đối tượng” trong ứng xử.

          Việc xác định rõ “đối tác” và “đối tượng” trong chính sách đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng thể hiện sự kết hợp giữa hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX và Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI đã nhất quán trong việc xác định “đối tác” và “đối tượng” là cơ sở để thể chế hóa “đối tác” và “đối tượng” trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong tình hình mới. Kết quả của việc thực hiện chính sách đối ngoại “đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”, sự linh hoạt trong nhận diện và triển khai nguyên tắc “đối tác” và “đối tượng” đã góp phần làm cho đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay./.

 

 

 

SỰ XUYÊN TẠC BỈ ỔI CỦA JACKHAMMER NGUYỄN Càng gần đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, các thế lực thù địch càng tăng cường xuyên tạc, bóp méo tình hình sự thật ở Việt Nam và vu khống, bôi nhọ nói xấu Đảng, nhằm hạ thấp vai trò và uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, chia rẽ tình cảm của nhân dân với Đảng. Với bài viết: “Sự lãng mạn chính trị của người Việt” của Jackhammer Nguyễn là một dạng xuyên tạc đó. Toàn bộ nội dung bài viết của Jackhammer Nguyễn là sự phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam. Y cho rằng, nhân dân Việt Nam tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lãng mạn chính trị, không có thật. Đây là sự xuyên tạc bỉ ổi của Jackhammer Nguyễn, bởi. Thực tiễn đã chứng minh, từ khi ra đời cho đến nay, trong toàn bộ hoạt động của mình Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, “cán bộ là công bộc của nhân dân”, Đảng luôn chăm lo xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Đây là một sự thật hiển nhiên, thế nhưng, thật nực cười khi Jackhammer Nguyễn há miệng nói càn, trong bài viết của mình Y cho rằng “những người cộng sản đã hết lãng mạn chủ nghĩa từ lâu họ trở thành những kẻ cực kỳ thực dụng, hiểu rõ dân chúng mà họ đang cai trị… ” (!). Thử hỏi, trước khi có Đảng đất nước và người dân như thế nào? Sau khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước và người dân Việt Nam như thế nào? Câu trả lời không chỉ người dân Việt Nam mà cả những người yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới biết rõ điều đó. Trước khi có Đảng đất nước lầm than, cả dân tộc Việt Nam sống trong kiếp nô lệ ngựa trâu, chịu muôn vàn đau khổ, tủi nhục dưới hai tầng áp bức bóc lột. Sau khi có Đảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đã đứng lên đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến giành độc lập cho dân tộc và quyền làm chủ cho nhân dân và giờ đây dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đang vững bước trên con đường đổi mới, thế và lực của đất nước không ngừng được củng cố và phát triển. Mới đây, năm 2020 ngoài cảnh khó khăn chung của thế giới do đại dịch COVID-19, Việt Nam còn chịu nhiều thiên tai bão lũ, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, toàn hệ thống chính trị và đồng bào, chiến sĩ cả nước đã vào cuộc đồng bộ, quyết liệt, kiểm soát tốt dịch bệnh, ứng phó kịp thời với thiên tai, bão lũ, từng bước khắc phục có hiệu quả thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh gây ra. Việt Nam vẫn hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra với nhiều điểm mới vượt trội và dấu ấn nổi bật. Việt Nam được bạn bè quốc tế đánh giá cao, được coi là điểm sáng về phòng, chống dịch bệnh và phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân. Sự thay đổi về chất ấy không người dân Việt Nam nào dù ở trong nước hay ở nước ngoài là không biết. Đó không phải là kết quả ngẫu nhiên mà là sự hy sinh cống hiến, phục vụ tận tụy của lớp lớp cán bộ đảng viên và sự hết lòng tin yêu, ủng hộ của quần chúng nhân dân. Nên nói như Jackhammer Nguyễn là sự xuyên tạc bỉ ổi của Y. Điều đó chứng tỏ, Jackhammer Nguyễn chỉ là một kẻ đang bị hận thù và lợi ích cá nhân làm cho mờ mắt, cay cú hậm hực với thành quả của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Y là một kẻ vô liêm sỉ, bất chấp tất cả, trà đạp lên lợi ích quốc gia dân tộc, trắng trợn vu khống tình hình chính trị xã hội ở Việt Nam, xuyên tạc bản chất chế độ; hạ thấp uy tín của Đảng, phá hoại niềm tin của quân chúng nhân dân với Đảng. Dẫu biết rằng, dù có xuyên tạc bỉ ổi thế nào đi chăng nữa Jackhammer Nguyễn cũng không thể làm lung lạc được tình cảm, niềm tin son sắt mà nhân dân Việt Nam giành cho Đảng của mình./.
NGUYỄN VĂN ĐÀI, BỘ MẶT THẬT CỦA KẺ LƯU VONG CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA Đôi nét về con đường học vấn và sự nghiệp chống đối của Nguyễn Văn Đài: Nguyễn Văn Đài sinh 06/5/1969, tại thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, trong một gia đình công chức. Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, không đỗ Đại học, Nguyễn Văn Đài đã đi học Trung học Kỹ thuật điện ở Sóc Sơn, Hà Nội. Đài từng làm việc tại Cộng hòa Dân chủ Đức trong một thời gian. Sau khi bức tường Berlin sụp đổ, Đài đã trở về Việt Nam năm 1990 và theo học tại Đại học Luật Hà Nội. Năm 1995, tốt nghiệp đại học, Đài làm việc cho một số văn phòng luật sư. Tuy nhiên, khởi đầu anh không là thành viên của Đoàn Luật sư Hà Nội. Đến năm 1999, Đài xin làm thành viên đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2002 thì chuyển về Đoàn Luật sư Hà Nội. Năm 1997, Đài tự ứng cử đại biểu cho Quốc hội Việt Nam khóa XI nhưng không trúng cử. Năm 2003, Đài thành lập và làm giám đốc Công ty TNHH Dịch thuật và Tư vấn Việt Luật; đồng thời là Trưởng Văn phòng Luật sư Thiên Ân, có trụ sở tại số 10 Đoàn Trần Nghiệp, Hà Nội. Tháng 4 năm 2004, Đài cùng với 11 luật sư thành lập nhóm “Luật sư Vì Công lý”, nhưng sau đó 11 luật sư này đều rút tên vì sợ bị thu giấy phép hành nghề. Nguyễn Văn Đài từng đứng ra bảo vệ nhiều vụ án nhân quyền và tôn giáo như vụ xử Mục sư Nguyễn Hồng Quang và nhà truyền đạo Phạm Ngọc Thạch năm 2004. Trong quá trình hoạt động và công tác của mình, Đài từng tham gia và cổ súy cho nhiều nhóm phản động, chống đối cực đoan trong và ngoài nước như: Khối 8406 và Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006, Hội Anh em dân chủ từ ngày 23/4/2013. Riêng tổ chức Hội Anh em dân chủ, đây là tổ chức được lập ra nhằm tập hợp các phần tử chống Nhà nước để tiến hành hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân, tổ chức các cuộc kích động và biểu tình gây rối trên phạm vi toàn quốc, được điều hành, chỉ đạo bởi trung ương tổ chức khủng bố Việt Tân tại Mỹ. Vào ngày 06/3/2007, Nguyễn Văn Đài cùng người cộng sự đắc lực của mình là Lê Thị Công Nhân bị bắt và sau đó ngày 11/5, TAND thành phố Hà Nội đã tuyên án Nguyễn Văn Đài 5 năm tù giam. Ngày 27/11, tòa án phúc thẩm giảm bản án xuống 1 năm còn 4 năm về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, nhưng vẫn giữ thời gian quản chế 4 năm. Sau khi ra tù, mặc dù đang trong thời gian quản chế tại địa phương nhưng Đài vẫn tiếp tục thực hiện các hoạt động có tính chống phá Nhà nước, bên cạnh đó còn liên kết với nhiều đối tượng cộm cán khác để lập nên Hội Anh em dân chủ làm nơi tụ họp và công khai các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Đến ngày 30/7/2017, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã ra Quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với 06 bị can trong vụ án “Nguyễn Văn Đài cùng đồng bọn hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” xảy ra tại Hà Nội và một số địa phương khác. Đến ngày 7 tháng 6 năm 2018, Nguyễn Văn Đài và cộng sự Lê Thu Hà được đưa ra khỏi nhà tù tới sân bay quốc tế Nội Bài để sang Đức xin tị nạn chính trị và ở lại Đức từ đó tới nay. Nguyễn Văn Đài như “con chó xổng xích” sau khi tị nạn chính trị tại Đức hắn và đồng bọn điên cuồng tiếp tục chống phá Đảng, Nhà nước ta; nói xấu, vu khống một cách trắng trợn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, đặc biệt trước các sự kiện chính trị lớn của đất nước. Hắn đã lập ra các kênh trên Youtube, Facebook để tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Những hành động của hắn sau khi xin tị nạn ở Đức rất rễ để đoán được, nhưng cái khốn nạn của Đài ở việc: Thứ nhất, hắn được nhận chính sách nhân đạo của Việt Nam cho xuất cảnh sang Đức cùng với vợ để định cư nhưng sẵn lòng quay đầu cắn lại đất mẹ bằng việc liên tục trả lời báo chí phản động với lời lẽ xuyên tạc, kích động, vu cáo chính quyền, kêu gọi những hành động chống lại Đảng, Nhà nước. Đây là điều không thể chấp nhận được đối với một công dân Việt Nam; Thứ hai, việc Đài bỏ mặc đồng bọn vốn kề vai sát cánh với hắn trong tù tội để có vé sang Đức định cư chắc chắn nằm trong những toan tính bấy lâu của hắn, đây vốn là hành động của một kẻ tiểu nhân bỉ ổi. Thứ ba, một kẻ mạt hạng như vậy lại ngang nhiên công khai trên facebook và trang mạng của “Hội anh em dân chủ” đòi lại quyền kiểm soát cho bản thân, trong đó hắn đòi tước hết mọi vị trí cầm đầu, cốt cán của những kẻ khác vốn là đồng đảng với hắn ở trong nước cũng như những kẻ đang trong tù, đòi quyền chủ xị thuộc về hắn, đòi chuyển toàn bộ hoạt động chỉ đạo ra ngoài nước hòng dễ bề thâu tóm uy quyền, ép những kẻ khác trong nước vào hoạt động bí mật để dễ bề phủi tay khi chẳng may có đứa nào bị bắt. Chính điều này đang tạo sự mâu thuẫn lớn ngay trong tổ chức phản động này, có rất nhiều kẻ đã chống lại cái ý tưởng của Đài bởi nhận ra được bộ mặt thật của hắn và cũng thấy rõ được cái mục đích của tổ chức này là phản động, lưu manh như đúng bản chất của hắn.
LỢI DỤNG DIỄN BIẾN HAI VỤ ÁN “NÓNG” ĐỂ XUYÊN TẠC, BÔI NHỌ THỂ CHẾ Những ngày cuối tháng 3, cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra hai vụ án hình sự liên quan đến những cá nhân nổi tiếng cả về kinh tế và sự ảnh hưởng trong đời sống xã hội, dư luận đặc biệt quan tâm. Cụ thể, ngày 29/3, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Tập đoàn FLC. Lực lượng chức năng làm việc tại trụ sở FLC. Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN Trước đó, ngày 24/3, Cơ quan CSĐT Công an TP Hồ Chí Minh đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, quy định tại Điều 331, BLHS, đồng thời khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng, SN 1971, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam, về hành vi nêu trên. Bà Nguyễn Phương Hằng nghe cơ quan điều tra tống đạt quyết định khởi tố, lệnh bắt tạm giam. Đây là hai cá nhân nổi tiếng trước hết đến từ sự giàu có và các hoạt động kinh doanh trên thương trường. Với bị can Trịnh Văn Quyết, ngoài danh tiếng Tập đoàn FLC mà ông với vai trò Chủ tịch HĐQT thì khối tài sản đồ sộ của cá nhân thuộc top đầu cả nước, trong đó đỉnh điểm năm 2016, thị trường chứng khoán Việt Nam diễn ra sự kiện hoán đổi vị trí người giàu nhất Việt Nam và ông Trịnh Văn Quyết vươn lên dẫn đầu (thời điểm đó, khối tài sản của ông Quyết vào khoảng 34.000 tỉ đồng đến từ 289,6 triệu cổ phiếu ROS (tương đương 67,34% cổ phần FLC Faros) và 114,2 triệu cổ phiếu FLC (tương đương 17,9% cổ phần), chưa kể khối tài sản động sản, bất động sản ở các vùng miền. Với bà Nguyễn Phương Hằng, Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc điều hành CTCP Đại Nam cũng sở hữu khối tài sản rất lớn và bà từng tiết lộ qua livestream: “Nếu nói về tài sản thì 500, 700 triệu đô đến 1 tỷ đô tôi có... Mỗi lần tôi xuất hiện sẽ có một bộ trang sức khác. Kim cương của tôi lên đến hàng ký… Tôi đi những chiếc xe 40, 50 chục tỷ, có đến vài chiếc là chuyện bình thường. Tôi ở bao nhiêu căn nhà mặt tiền, sổ đỏ tôi cân ký”… Sau khi hai cá nhân trên bị khởi tố, bắt tạm giam, trên nhiều trang mạng hải ngoại, các tổ chức và cá nhân chống phá đã đặt ra những câu hỏi nhằm đánh tráo bản chất, hướng lái vụ án sang chiều hướng tiêu cực. Thủ đoạn của các đối tượng là: Thứ nhất, xuyên tạc việc khởi tố, điều tra các bị can trên là “nhắm vào giới doanh nhân, giới siêu giàu”. Trang Việt Tân rêu rao “Chiến dịch đánh tư sản bắt đầu”, từ đó suy diễn: “Nhiều tỷ phú lần lượt bị bắt giam, một số khác đang được dự đoán sẽ xộ khám trong thời gian tới. Trong bối cảnh kinh tế đất nước đang lâm vào cảnh khánh kiệt, nhiều đồn đoán về chiến dịch đánh tư sản tại Việt Nam”! Nguy hiểm hơn, bài viết bịa ra chuyện Nhà nước “khánh kiệt” tài sản sau đại dịch COVID-19, nói rằng trong 3 năm tới phải trả 1,2 triệu tỷ nợ công nên “đó là lý do giới nhà giàu lên thớt”! Từ việc đưa ra những lời lẽ trên, bài viết nhắm vào việc thu hút các bình luận chỉ trích Đảng, Nhà nước, cho rằng đang có chủ trương “đánh” vào doanh nhân, tập đoàn, công ty tư nhân để “răn đe” và “cướp vốn”. Đây là kiểu xuyên tạc nguy hiểm, cố tình đánh tráo bản chất vụ án, hướng lái sang vấn đề chính trị, từ đó kích động chống phá. Thứ hai, các đối tượng bịa ra chuyện “đang có đấu đá quyền lực”, cho rằng những cá nhân bị khởi tố là các quân bài bị đưa ra mổ xẻ. Trong một bài viết có tên “Những con mồi của Đảng không thể bỏ qua” đăng trên trang Việt Tân, người viết đã tráo trở biến việc khởi tố các bị can thành “hai đại gia về bất động sản Nguyễn Phương Hằng và Trịnh Văn Quyết đã trở thành miếng mồi ngon của những thế lực đang đấu đá với nhau”, từ đó miệt thị “sống dưới chế độ độc tài cộng sản hiện nay, những đại gia, tài phiệt hoặc người giàu có tài sản đều là những người nằm trong tầm ngắm của các lãnh đạo Đảng Cộng sản, cho dù họ làm ăn chân chính cũng không thoát khỏi”! Một số bình luận cũng cổ suý cho luận điệu này, quy kết việc khởi tố, bắt tạm giam các bị can là “có ý đồ chính trị” để hướng lái, xuyên tạc vụ án hình sự sang “nghi vấn đấu đá nội bộ”. Thứ ba, các đối tượng tiếp tục chỉ trích tội danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, quy định tại Điều 331, BLHS, từ đó xuyên tạc rằng việc khởi tố, bắt tạm giam bị can Nguyễn Phương Hằng là tuỳ tiện, bóp nghẹt dân chủ. Một số bài viết xâu chuỗi những vụ án trước đây cùng tội danh này để đưa ra bức tranh xám về tự do, dân chủ ở Việt Nam, cho rằng Điều 331-BLHS “chỉ nhằm phục vụ đảng”, bỏ tù những ai “đảng không thích”. Thứ tư, từ việc đưa ra những nghi vấn thiếu cơ sở để suy diễn, chỉ trích cơ quan tiến hành tố tụng, chỉ trích Đảng, Nhà nước. Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với bị can Trịnh Văn Quyết về hành vi thao túng thị trường chứng khoán. Theo cơ quan điều tra, ông Quyết bị khởi tố, bắt giam để làm rõ những sai phạm liên quan đến việc bán “chui” 74,8 triệu cổ phiếu FLC trước đó. Cũng liên quan đến vụ bán “chui” cổ phiếu này, ông Quyết đã bị phạt hành chính 1,5 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động chứng khoán 5 tháng bởi quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “không báo cáo về giao dịch dự kiến” từ Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Về vụ việc này, có người đặt câu hỏi: Vì sao UBCKNN đã ra quyết định xử phạt ông Trịnh Văn Quyết 1,5 tỷ đồng và đình chỉ hoạt động chứng khoán 5 tháng nhưng vẫn bị khởi tố? Từ đó cho rằng, một hành vi vừa xử lý hành chính lại xử lý hình sự là thể hiện sự “lộng quyền”, hình sự hoá vấn đề hành chính. Qua đó, suy diễn vụ án là bị đẩy lên hình sự để phục vụ mục đích, ý đồ khác! Luận điệu trên có thể khiến những người thiếu hiểu biết bị các đối tượng đánh lạc hướng, cho rằng đang có khuất tất phía sau vụ án, cơ quan CSĐT phạm luật. Thực tế, vấn đề này đã được Cơ quan CSĐT Bộ Công an giải thích rõ. Thiếu tướng Lê Văn Tân, Phó Chánh Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ Công an cho biết, tháng 1/2022, ông Quyết bị xử phạt hành chính về hành vi không báo cáo, không công bố thông tin trước khi thực hiện giao dịch theo Nghị định 128/2020/NĐ-CP về xử phạt trong lĩnh vực chứng khoán. Sau khi vào cuộc xác minh, điều tra, cơ quan chức năng phát hiện trong vụ việc bán chui cổ phiếu ngày 10/1/2022, ông Quyết đã có nhiều thủ đoạn, mánh khóe tinh vi để tạo cung, cầu giả, đẩy giá cổ phiếu nhằm thu lời bất chính số tiền từ 500 triệu đồng trở lên. Do đó, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố về hành vi thao túng thị trường chứng khoán. “Trong trường hợp cơ quan chức năng đã xử phạt hành chính mà sau đó xác định hành vi vi phạm đủ cấu thành tội phạm, phải xử lý hình sự thì cơ quan điều tra sẽ khởi tố để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Theo đó, sau khi bị khởi tố, điều tra thì toàn bộ quyết định xử phạt hành chính trước đây đều không có hiệu lực” – Thiếu tướng Lê Văn Tân nêu rõ. Theo CQĐT, hành vi thao túng thị trường chứng khoán của ông Quyết tác động tiêu cực tới thị trường và gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư. Ngoài ông Quyết đã bị khởi tố, bắt tạm giam, hiện nay, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đang tích cực điều tra những cá nhân giúp sức tích cực để bị can thực hiện hành vi vi phạm. Trong quá trình xác minh điều tra, cơ quan Công an sẽ xem xét, làm rõ mục đích, vai trò của từng người để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Nếu những người đó thực hiện hành vi dưới danh nghĩa công ty (pháp nhân) nhằm trục lợi bất chính cho đơn vị thì tùy theo mức độ thiệt hại gây ra cho nhà đầu tư và số tiền thu lợi bất chính, pháp nhân này có thể bị phạt tiền từ 2- 10 tỷ đồng. Trường hợp người thực hiện hành vi dưới danh nghĩa cá nhân, tiếp tay làm lũng đoạn thị trường nhằm tư lợi bất chính, gây thiệt hại cho nhà đầu tư, nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm sẽ bị xử lý hình sự. Ngoài ra, những đối tượng này còn phải bồi thường dân sự cho những nhà đầu tư bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Như vậy, không có chuyện một hành vi “thích thì xử lý hành chính, không thích thì hình sự hoá” và không phải một hành vi bị xử lý cả hành chính lẫn hình sự. Lý giải này đã được Cơ quan CSĐT giải thích rõ nhưng một số đối tượng vẫn tỏ ra “không biết” để tìm cách bôi nhọ, chỉ trích. Ở đây, chúng ta cần thấy rằng, hai vụ án trên dư luận đặc biệt quan tâm vì chủ thể tội phạm là những cá nhân có vị thế kinh tế giàu có cùng những ảnh hưởng trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, tính chất đó của chủ thể tội phạm không làm thay đổi bản chất vụ án. Việc khởi tố, điều tra là căn cứ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có các hành vi phạm vào tội danh quy định trong BLHS, như với ông Quyết là sai phạm về hoạt động chứng khoán, với bà Hằng là sai phạm về lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Sai phạm đó đủ yếu tố cấu thành tội phạm và cơ quan CSĐT khởi tố để điều tra, làm rõ. Không thể viện bất cứ lý do nào để hướng lái vụ án sang vấn đề chính trị, không thể lấy lý do bị can là những doanh nhân giàu có để xuyên tạc thành “chiến dịch đánh tư sản”, “tấn công vào kinh tế tư nhân”. Mọi bị can khi bị khởi tố, điều tra đều căn cứ vào hành vi, khách thể bị xâm hại, các yếu tố lỗi, không có bất cứ lý do nào để ngụy biện thành việc phân biệt kinh tế tư nhân với các thành phần kinh tế khác. Mọi thành phần kinh tế đều được tạo điều kiện phát triển, trong đó kinh tế tư nhân đã được Đảng ta xác định “thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế”. Đây là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng vừa thúc đẩy kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển, vừa phát huy vai trò của thành phần kinh tế này trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng. Những thành công đạt được của Tập đoàn FLC cũng như vai trò cá nhân của ông Trịnh Văn Quyết có được là nhờ chủ trương nhất quán đó của Đảng, được tạo điều kiện để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, tất cả đều có hành lang pháp lý điều chỉnh, hành vi nào xâm phạm vào quy định của pháp luật hình sự, gây nguy hiểm cho xã hội thì sẽ bị điều tra, xử lý theo quy định và việc xử lý không phân biệt chủ thể phạm pháp thuộc thành phần kinh tế nào, dù là tỷ phú, triệu phú hay ở các tầng lớp khác. Do đó, không thể bôi nhọ rồi xuyên tạc, đánh lận bản chất vụ án./.
CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU BÔI NHỌ PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ - KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC HÌNH TƯỢNG CAO QUÝ Mặc dù các thế lực thù địch ra sức chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ, nhưng thực tế cho thấy: Bộ đội Cụ Hồ mãi là danh xưng bình dị, gần gũi mà cao quý; giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vẫn đặc biệt thiêng liêng, mãi trường tồn theo thời gian. Thực tiễn xã hội Việt Nam ở thời điểm hiện tại cho thấy, danh hiệu và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ đã thấm đẫm vào hàng triệu con tim, khối óc của người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế; trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng; luôn vận động, phát triển qua các giai đoạn cách mạng và yêu cầu xây dựng quân đội trong từng thời kỳ. Nói đến phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là nói đến những giá trị chuẩn mực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân cách mạng, tựu trung lại là: Lý tưởng chiến đấu cao đẹp, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sự gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn; tình đoàn kết quân dân cá-nước, trách nhiệm với nhân dân, sẵn sàng hy sinh tính mạng vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh... Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy, phản ánh bản chất cách mạng, nhân cách và là sức mạnh nội sinh được tích hợp ở một trình độ cao trong quá trình xây dựng, chiến đấu và công tác của Quân đội ta. Từ thực tiễn công tác huấn luyện, SSCĐ, giúp dân phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ngày càng được thể hiện rõ nét, lan tỏa trên mọi lĩnh vực, có sức cảm hóa mãnh liệt trong đời sống xã hội. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 301, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội giúp dân chống tràn đê tả sông Bùi (xã Thanh Bình, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội). Nét nổi bật trong phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ là lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân. Tiếp thu học thuyết Mác-Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam từ các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng; thường xuyên được giáo dục, rèn luyện qua thực tiễn huấn luyện, công tác, SSCĐ và chiến đấu, bảo đảm cho quân đội luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; là công cụ bạo lực của Nhà nước, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và CNXH, được nhân dân suy tôn Bộ đội Cụ Hồ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ ngày càng tỏa sáng, thực sự là đội quân có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc, nhân dân và luôn có ý chí quyết tâm, sức mạnh chiến đấu cao trước mọi kẻ thù xâm lược. Sự trung thành của Bộ đội Cụ Hồ đối với Đảng, với Tổ quốc là vấn đề có tính nguyên tắc, bất di bất dịch, luôn song hành cùng nhau, dù trong hoàn cảnh, điều kiện nào cũng không thay đổi, nó thuộc về bản chất, truyền thống đã được hun đúc, bồi đắp trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Thực tế đó cho thấy, mọi mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch đòi: “Quân đội chỉ cần trung thành với lợi ích của quốc gia, dân tộc”, “Tổ quốc trên hết”, “chuyên nghiệp hóa quân đội và công an càng sớm càng tốt”; “Quân đội và công an là của nhân dân nên không cần phải diễu võ dương oai”... là không có cơ sở và cũng không thể thực hiện được. Những luận điệu đó chỉ nhằm phục vụ mưu đồ của các thế lực thù địch muốn tách sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam với QĐND Việt Nam, làm lu mờ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ Ðảng, Nhà nước và nhân dân... mà sự nghiệp cách mạng của dân tộc đã trao cho QĐND Việt Nam-Bộ đội Cụ Hồ. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, Bộ đội Cụ Hồ luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân chở che, đùm bọc, kề vai sát cánh cả trong đấu tranh cách mạng cũng như trong thời bình. Tình quân dân đã trở thành mẫu mực trong đời sống của người dân đất Việt và được khẳng định trong thực tiễn thông qua công tác dân vận của quân đội. “Đi dân nhớ, ở dân thương”, “Quân với dân như cá với nước”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”... đã đi vào tiềm thức đẹp khi nói về mối quan hệ đoàn kết quân dân. Phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ được thể hiện rõ khi cán bộ, chiến sĩ quân đội tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, gắn bó với cấp ủy, chính quyền các cấp; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương; xây dựng bản làng văn hóa, bài trừ các hủ tục, lối sống lạc hậu. Đồng thời, tư vấn, hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn; giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; đưa chính sách của Đảng, Nhà nước đến với đồng bào các dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo... Các binh đoàn, đoàn kinh tế-quốc phòng, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, tạo công ăn việc làm cho người dân, giúp dân chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, bao tiêu sản phẩm, nâng cao chất lượng cuộc sống, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn đóng quân. Bộ đội Cụ Hồ đã chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, để họ không mắc mưu trước âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết quân dân của các thế lực thù địch, tin tưởng cấp ủy, chính quyền địa phương, đoàn kết các dân tộc anh em và tình hữu nghị với các nước láng giềng. Càng trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ càng tỏa sáng, có sức thuyết phục, sống động, góp phần bồi dưỡng nhận thức, tư tưởng, tình cảm, khơi dậy và nhân lên mặt tích cực trong nhân dân. Điển hình là trong phòng, chống thiên tai, thảm họa môi trường và đại dịch Covid-19, quân đội đã khẳng định được vai trò là lực lượng xung kích, đi đầu; hoàn thành tốt chức năng “đội quân công tác”; được cấp ủy, chính quyền các cấp và nhân dân ghi nhận, biết ơn. Cán bộ, chiến sĩ quân đội đã không hề do dự, tính toán thiệt hơn, có lệnh là lên đường làm nhiệm vụ; ở đâu xuất hiện điểm nóng về dịch Covid-19, những điểm sạt lở do bão lũ gây ra là cán bộ, chiến sĩ quân đội có mặt, xông pha trên tuyến đầu, không nề hà bất cứ công việc gì. Những suy nghĩ, cử chỉ, hành động, việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong phòng, chống thiên tai, đại dịch một lần nữa khẳng định tinh thần “vì nhân dân quên mình”, “vì nhân dân phục vụ”, kế thừa và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. Một trong những phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ là “sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Ra đời trong các cuộc đấu tranh cách mạng, dù thời bình hay thời chiến, với chức năng, nhiệm vụ được giao, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay; làm tốt công tác tham mưu, chỉ đạo chiến lược về công tác quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Bộ đội luôn tích cực, hăng say, sáng tạo trong huấn luyện, diễn tập, SSCĐ và xử lý các tình huống quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thực thi pháp luật trên biển, tuần tra bảo vệ đường biên, mốc giới... không nề hà khó khăn, vất vả, hiểm nguy. Trong bất kỳ nhiệm vụ nào, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn được phát huy và tỏa sáng; nhân cách của quân đội cách mạng luôn được khẳng định trong thực tiễn; vị thế, vai trò của quân đội ngày càng thể hiện rõ nét. Hành động của Bộ đội Cụ Hồ trên hết, trước hết là vì nền độc lập, lợi ích quốc gia, dân tộc, vì CNXH và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Việc làm của họ tự thân đã khẳng định rằng những giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ đang tiếp tục được vun đắp mà không một thế lực nào có thể bôi nhọ, hạ bệ hay phủ nhận..

 

Những định hướng về đường lối đổi mới trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”

Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân Việt Nam, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Đây là chân lý đã được thử thách và kiểm nghiệm trong thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam hơn 90 năm qua, nhất là qua hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước.

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nỗ lực tìm tòi, đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp ở mỗi thời kỳ; qua đó, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây, cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Đại hội XIII của Đảng đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn mới với 12 định hướng lớn phát triển toàn diện, bền vững đất nước. Những định hướng đó, được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập khá toàn diện, sâu sắc trong cuốn sách: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, được dư luận rất quan tâm và đánh giá cao.

Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, với sự kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn nhất quán khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, là khát vọng của dân tộc và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam vì độc lập của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đảng ta đã từng bước đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và đề ra đường lối đổi mới, đánh dấu bước chuyển to lớn, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Sự nghiệp đổi mới là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là quá trình thay đổi sâu sắc, toàn diện về nhận thức, tư duy lý luận, về chủ trương, đường lối xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; thật sự trở thành sản phẩm sáng tạo vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Nhờ sự kiên trì và nỗ lực của toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thành tựu đó đã, đang củng cố vững chắc niềm tin; khơi dậy khát vọng mạnh mẽ và quyết tâm cao vươn lên của mọi người vì sự phát triển bền vững và phồn vinh của Tổ quốc và cũng vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là điều kiện và tiền đề quan trọng để chúng ta vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra cho giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục bổ sung, phát triển, với những định hướng cơ bản sau.

Định hướng đầu tiên hết sức quan trọng là phải “xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường”. Việc Văn kiện của Đại hội XIII đặt yêu cầu phát triển bền vững về văn hóa ngang hàng với các lĩnh vực khác là nét nổi bật và là sự bổ sung quan trọng rất cần được làm sâu sắc thêm. Điều đó cũng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.

Định hướng thứ 2 là “hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”4. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”. Để thực hiện tốt chủ trương này, điều quan trọng là phải tạo được môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và nhất là sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội hiện có nhằm thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh, đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ hiện đại; từ đó đẩy mạnh công cuộc chuyển đổi số, xây dựng quốc gia số, xã hội số; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Định hướng thứ 3 nhằm “tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”. Định hướng này xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh về trọng dụng người tài: “Kiến thiết cần có nhân tài” và việc phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài để có nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước là nhiệm vụ quan trọng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt, trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng đãi ngộ người tài”.

Định hướng thứ 4 về phát triển con người và xây dựng nền văn hóa Việt Nam được Tổng Bí thư quan tâm và luôn coi đó là một trong những trọng tâm, nội dung nổi bật trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Nghị quyết Đại hội XIII chỉ rõ: “phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc để văn hóa và con người Việt Nam thực sự là sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”. Việc coi con người và văn hóa vừa là động lực, vừa là sức mạnh nội sinh để thúc đẩy phát triển đất nước nhằm mục tiêu “đến năm 2030,… là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” và “đến năm 2045: trở thành nước phát triển, thu nhập cao”9 là sự phát triển nhận thức lý luận rất quan trọng về sự phát triển bền vững của Đảng ta.

Định hướng thứ 5 là bảo đảm an ninh con người. Phát triển toàn diện con người phải “trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội”; con người phải được coi là mục đích cao nhất của sự phát triển, mọi người phải “được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế”. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, phải: “… quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người”.

Trọng tâm của định hướng thứ 6 là khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường, do “khai thác tài nguyên thiếu bền vững, hiệu quả quản lý, sử dụng chưa cao”. Định hướng này đòi hỏi chúng ta tuyệt đối không thể vì tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng kinh tế. Bởi vậy, phải: “… chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ thiên tai, phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân; quản lý, khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên, chú trọng bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững”.

Định hướng thứ 7 phải “giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, cần: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”.

Định hướng thứ 8, “tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”. Việc chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả sẽ giúp chúng ta tranh thủ được sức mạnh và cơ hội nhiều mặt do thời đại tạo ra, nhất là về khoa học, công nghệ, thương mại nhằm rút ngắn khoảng cách và trình độ phát triển của nước ta với thế giới. Do vậy, cần: “… thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả”.

Định hướng thứ 9, thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ thực chất trong xã hội là tiền đề quan trọng tạo nên sự đồng thuận và đoàn kết xã hội vì sự phát triển của đất nước. Do vậy, cần “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội”.

Định hướng thứ 10 chỉ rõ, “xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước”. Khi Nhà nước thực hiện đầy đủ và hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng” thì sức mạnh của đất nước sẽ tăng lên gấp bội, Nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ được toàn dân triệt để ủng hộ và ngày càng trở nên vững bền. Do đó, phải “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực”.

Định hướng thứ 11 về sự trong sạch, vững mạnh của hệ thống chính trị và năng lực cầm quyền hiệu quả của Đảng là một đảm bảo vững chắc cho chế độ xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “… xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ”.

Định hướng thứ 12, “Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”. Định hướng này bổ sung mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, đảm bảo kỷ cương xã hội. Nhấn mạnh mối quan hệ này nhằm: chống lại sự đòi hỏi dân chủ quá trớn, bất chấp kỷ cương, pháp luật; nhấn mạnh mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm; giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân đối với đất nước.

Như vậy, có thể thấy, cuốn sách của Tổng Bí thư góp phần quan trọng tổng kết, khẳng định: từ thực tiễn hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới và hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hình thành, từng bước hoàn thiện và hiện thực hóa lý luận về đường lối đổi mới Việt Nam. Đồng thờithể hiện tầm nhìn, mục tiêu và các định hướng phát triển đất nước, đúc kết những bài học kinh nghiệm, những quan điểm chỉ đạo, những mối quan hệ lớn phù hợp với quy luật khách quan, để tiếp tục bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn mới./.