Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Thế giới đang trải
qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo.
Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều
trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ
tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng
rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế... Cục diện thế
giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn hợp
tác, thỏa hiệp, nhưng đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn. Chủ nghĩa dân
tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ
quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ, đứng trước
nhiều khó khăn, thách thức mới... Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó
Đông Nam Á có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay
gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn”.
Trên thực tế, tình hình thế giới, nhất là ngay trong khu vực Đông Á và Đông
Nam Á, đã có những diễn biến phức tạp, nguy cơ xung đột vũ trang tăng cao liên
quan đến chủ quyền và tranh chấp lãnh thổ, đe dọa đến an ninh khu vực. Không
chỉ có vậy, từ khi chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở”
của Mỹ được thực thi, đến nay, khu vực này đã trở thành trọng tâm điều chỉnh
chính sách an ninh và đối ngoại của các nước trong và ngoài khu vực. Một số
nước châu Âu như Pháp, Đức, Anh cũng đã đưa ra chiến lược riêng về Ấn Độ Dương
- Thái Bình Dương, từng bước gia tăng can dự vào khu vực Biển Đông.
Là một quốc gia nằm ở khu vực địa - chính trị đang có sự cạnh tranh gay gắt
và với mạng lưới quan hệ đối ngoại sâu rộng có lợi ích đan xen, Việt Nam chịu
những ảnh hưởng và tác động nhất định. Trước tình hình đó, cách tiếp cận và
hướng giải quyết mối quan hệ “đối tác” và “đối tượng” trong chính sách đối
ngoại của Việt Nam cần:
Một là, kiên định nguyên tắc và kiên trì những vấn đề mang tính chiến lược,
nhưng khôn khéo và linh hoạt trong sách lược và triển khai thực hiện. “Dĩ bất
biến ứng vạn biến” cần luôn là phương châm đối ngoại của Việt Nam trong mọi
hoàn cảnh, với mọi vấn đề, giữa Việt Nam và các “đối tác”, trong mối quan hệ
chuyển hóa giữa “đối tác” và “đối tượng”.
Hai là, linh hoạt trong cách nhìn nhận “đối tác” và “đối tượng”. Cần tránh
quan điểm “nếu không ủng hộ ta thì là kẻ thù của ta”. Trong thực tiễn hoạt động
đối ngoại, một mặt, Việt Nam phải luôn tỉnh táo nhận thức rằng “không có đồng
minh vĩnh viễn”; mặt khác, cần biết tranh thủ những mặt xung đột của các “đối
tượng” để có lợi cho ta. Trong quan hệ quốc tế, điều căn bản nhất đối với mọi
quốc gia chính là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.
Ba là, “đối tác” và “đối tượng” trong chính sách đối ngoại được Đại hội
XIII của Đảng thông qua phản ánh mối quan hệ hữu cơ giữa hai nhiệm vụ chiến
lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và dựa trên nền tảng của các nghị quyết trước
đây, nhất là Nghị quyết số 28-NQ/TW. Tuy nhiên, thực tế luôn vận động và biến
đổi, do vậy, Đảng ta đã có kế hoạch tổng kết về chiến lược, trong đó bao gồm cả
vấn đề xác định “đối tác” và “đối tượng”. Việc tổng kết này cần được tiến hành
trên tinh thần cầu thị, lắng nghe để định hướng chính sách mang tầm chiến lược,
tránh những quan điểm lợi dụng nhằm xuyên tạc và cách tiếp cận bị ảnh hưởng bởi
quan điểm có tính “phe phái” trong quan hệ quốc tế. Bài học lịch sử cho thấy,
dứt khoát không và không ai có thể buộc Việt Nam phải “chọn phe”. Việc ai là
“đối tác” sẽ do Việt Nam chủ động thúc đẩy, nhưng đồng thời cũng rộng mở đón
nhận thiện chí từ phía muốn Việt Nam là đối tác của họ trên cơ sở lợi ích quốc
gia - dân tộc được bảo đảm. Còn về “đối tượng”, trong quá trình cụ thể hóa Nghị
quyết Đại hội XIII, nên chăng cần sử dụng khái niệm mềm hơn, cách diễn đạt uyển
chuyển hơn, phù hợp với “những nhận thức mới và tư duy mới về an ninh quốc gia”,
nhưng cũng kiên quyết bảo vệ những vấn đề thuộc về nguyên tắc, thuộc về lợi ích
căn bản và cốt lõi của Việt Nam. Với cách tiếp cận đó, nên chăng đề xuất cách
diễn đạt rõ hơn các nội dung có tính lượng hóa về “đối tượng”, đó là: Tất cả
những thách thức phương hại đến an ninh quốc gia; ổn định chính trị, trật tự và
an toàn xã hội; sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa,
khối đại đoàn kết dân tộc; độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đều là đối
tượng cần đấu tranh nhằm bảo đảm lợi ích tối thượng của quốc gia - dân tộc.
Những thách thức ở đây bao gồm cả âm mưu, hành động của các “thế lực thù địch”,
những diễn biến và nguy cơ xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt
Nam, những vấn đề an ninh phi truyền thống. Khái niệm “thách thức” ở đây mang
tính định lượng, giúp chúng ta có thể minh định rõ ràng “đối tượng” trong ứng
xử.
Việc xác định rõ “đối tác” và “đối tượng” trong chính sách đối ngoại của
Đại hội XIII của Đảng thể hiện sự kết hợp giữa hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng
là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX và Nghị
quyết Trung ương 8 khóa XI đã nhất quán trong việc xác định “đối tác” và “đối
tượng” là cơ sở để thể chế hóa “đối tác” và “đối tượng” trong chính sách đối
ngoại của Việt Nam trong tình hình mới. Kết quả của việc thực hiện chính sách
đối ngoại “đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế; Việt Nam là bạn, là
đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”, sự linh hoạt trong nhận
diện và triển khai nguyên tắc “đối tác” và “đối tượng” đã góp phần làm cho đất
nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét