Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

Tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ, tạo động lực mới để phát triển đất nước.

 - Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc”(1); “ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(2). Trên cơ sở phân tích Văn kiện Đại hội, bài viết đề xuất những giải pháp chủ yếu để ứng dụng khoa học và công nghệ, tạo động lực mới cho sự phát triển đất nước.

Tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ, tạo động lực mới để phát triển đất nước

Ảnh: baochinhphu.vn

1. Quan điểm mới của Đảng về ứng dụng khoa học - công nghệ

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII, Đảng ta đã nhận định: “Phát triển kinh tế số bước đầu được chú trọng”(3); trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, việc triển khai xây dựng chính quyền điện tử cũng được đánh giá là khẩn trương, tích cực(4). Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, nước ta cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm: (1) Năng lực và trình độ công nghệ của nền kinh tế còn thấp, công nghiệp vẫn chủ yếu gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng không cao, công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, tỷ lệ nội địa hóa thấp, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hiệu quả còn hạn chế, tốc độ tăng trưởng nông nghiệp chậm lại, chất lượng nhiều dịch vụ thấp; (2) Vẫn còn nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có công nghệ trung bình, gia công, lắp ráp, thiếu gắn kết, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phát triển; (3) Việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội(5).

Trong Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, Đảng ta chỉ rõ: (1) Phải “đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ”; (2) “Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới”(6).

Trước đó, trong Nghị quyết số 52-QĐ/TW ngày 27-9-2019, Bộ Chính trị cũng đã nêu 4 quan điểm và 8 định hướng: Về quan điểm, Đảng ta nhận thức rằng: (1) Phải chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (2) Phải nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội để nâng cao năng suất lao động và năng lực quản lý; (3) Phải đổi mới tư duy về quản lý, xây dựng và hoàn thiện thể chế; (4) Phát huy tối đa các nguồn lực để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư(7)

Về đổi mới mô hình tăng trưởng, Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ, cần chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên cơ sở tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư(8).

Để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, cần nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực của đất nước, tạo cơ sở đẩy mạnh, phát triển kinh tế số, song song với việc cơ cấu lại công nghiệp, nâng cao trình độ công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi sang công nghệ số(9).

Đối với mảng nghiên cứu, ứng dụng, cần tăng cường nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, điều tra tài nguyên, môi trường biển; xây dựng cơ sở dữ liệu số về biển, đảo, nâng cao năng lực giám sát môi trường biển, dự báo thiên tai, biến đổi khí hậu vùng biển, ven biển; tạo đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại.

Để hoàn thiện thể chế, cần phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ theo các phương thức tổ chức, giao dịch văn minh, hiện đại, thương mại điện tử; phát triển đồng bộ, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thị trường tài chính, tiền tệ trên nền tảng công nghệ số với kết cấu hạ tầng, công nghệ và phương thức giao dịch hiện đại(10).

Về đổi mới sáng tạo, cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại; có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư(11). Trong định hướng các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, Đảng ta còn xác định rõ chỉ tiêu kinh tế số đạt khoảng 20% GDP(12)

2. Những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng về ứng dụng khoa học - công nghệ

Về hệ thống tổ chức. Đảng ta nêu bốn yêu cầu: (1) Rà soát, sắp xếp lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ gắn với đổi mới toàn diện chính sách nhân lực khoa học và công nghệ; tăng cường đầu tư phát triển khoa học và công nghệ theo cơ chế thị trường trên cơ sở huy động hợp lý nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp và các cá nhân; (2) Hỗ trợ, khuyến khích các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát triển, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; (3) Chuyển đổi cơ chế đầu tư, quản lý tài chính khoa học và công nghệ theo nguyên tắc đặt hàng, dựa vào kết quả, hiệu quả cuối cùng; (4) Các ngành, các cấp có trách nhiệm trong việc thúc đẩy phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào lĩnh vực mình phụ trách.

Về phát triển. Đảng ta chủ trương: (1) Phát triển một số ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn, trực tiếp góp phần giải quyết các vấn đề cấp bách, phù hợp với điều kiện, nguồn lực của đất nước; (2) Ưu tiên chuyển giao, ứng dụng công nghệ tiên tiến vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh trọng yếu; (3) Phát triển hạ tầng số và bảo đảm an ninh mạng, tạo điều kiện cho người dân và các doanh nghiệp thuận lợi, an toàn tiếp cận nguồn tài nguyên số, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn (Big Data)(13).

Về nghiên cứu và ứng dụng. Đảng ta tiếp tục khẳng định: (1) Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; (2) Huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững(14).

Về các khâu đột phá chiến lược. Trong ba khâu: hoàn thiện đồng bộ thể chế; phát triển nguồn nhân lực; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, Đảng ta nhấn mạnh: việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số(15).

3. Giải pháp tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ 

Một là, về môi trường pháp lý cho công nghệ số

Cần sớm xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp luật, thể chế, chính sách, theo hướng khuyến khích các loại hình hoạt động dựa trên nền tảng công nghệ số. Nhà nước cần sớm khắc phục tình trạng môi trường pháp lý chưa hoàn thiện do các cơ quan quản lý chưa theo kịp tốc độ ứng dụng công nghệ mới, khiến hạn chế sự phát triển của các loại hình kinh tế số, các khu đô thị thông minh, doanh nghiệp ảo, ngân hàng ảo, đồng tiền kỹ thuật số, đồng thời tạo nguy cơ rủi ro pháp lý trong phòng, chống rửa tiền, xác minh danh tính của các thành viên, bảo mật dữ liệu, tài khoản và giới hạn giao dịch, thương mại điện tử...

Hai là, về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị đều nhận định, hiện nay cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu(16). Đối với ngành tài chính - ngân hàng, một trong những ngành trọng điểm số hóa, nhu cầu nhân lực chất lượng cao trong tương lai là rất lớn, nhất là nhân lực có thể làm chủ công nghệ 4.0. Đó là thách thức không nhỏ mà giới chuyên gia ngành tài chính hết sức quan tâm. Cơ quan dự báo nhân lực cho biết, đến năm 2020-2025, nhu cầu nhân lực cầu nhân lực cấp cao ngành tài chính - ngân hàng sẽ tăng khoảng 20%/năm. Chỉ riêng Thành phố Hồ Chí Minh, nhu cầu nhân lực nhóm ngành này cũng chiếm tỷ trọng 5% tổng số chỗ làm việc cần tuyển hàng năm (15.000 lao động), trong đó trình độ đại học, cao đẳng chiếm tỷ lệ 80,4% nhu cầu tuyển dụng. Đây vừa là cơ hội lớn, nhưng cũng là thách thức nếu các cơ sở đào tạo không chịu thay đổi phương pháp giảng dạy và “dịch chuyển” tư duy trong kỷ nguyên 4.0(17).

Vì thế, cần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực công nghệ thông tin; hình thành trung tâm đổi mới và vườn ươm sáng tạo, thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp. Theo đó, cần thay đổi phương thức hoạt động đào tạo nguồn nhân lực, phát triển cả kỹ năng mềm và tự học suốt đời. Tăng cường đầu tư, hiện đại hóa các cơ sở đào tạo, đáp ứng cao nhất yêu cầu đổi mới công nghệ, gắn kết giữa đào tạo với doanh nghiệp theo cơ chế hợp tác cùng có lợi, đưa nhanh các tiến bộ khoa học vào sản xuất và kinh doanh, khuyến khích tạo lập các quỹ đầu tư mạo hiểm, hỗ trợ khởi nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Ba là, về cơ chế, chính sách 

Nhà nước cần xây dựng chính sách ưu đãi đối với các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ, nhất là công nghệ lõi và sản phẩm đặc trưng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Công nghệ trí tuệ nhân tạo hiện là công nghệ cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; công nghệ thực tế ảo cũng được xếp trong Top 10/30 sản phẩm đặc trưng của thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Công nghệ trí tuệ nhân tạo và thực tế ảo đã được áp dụng trong các ngành, lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, dịch vụ; nghiên cứu khoa học, giảng dạy; khám bệnh, phẫu thuật; hoạt động quân sự, quốc phòng, an ninh... Khiến xuất hiện ngày càng nhiều mô hình kinh doanh dịch vụ mới xuyên quốc gia dựa trên nền tảng công nghệ số và internet đang tạo nhiều cơ hội việc làm, thu nhập, tiện ích, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; trong đó, ảo hóa đang phát triển như là một xu hướng tất yếu. Đây là một lĩnh vực mới mẻ, nên trong khi lựa chọn chiến lược, dự báo thị trường, xây dựng kế hoạch, sản phẩm, tìm kiếm giải pháp..., các nhà khoa học, đầu tư, giới kinh doanh vẫn có thể gặp sai lầm, rủi ro. Mặt khác, việc ứng phó với các sự cố trong chuỗi hoạt động trên công nghệ, thuật toán,... (chẳng hạn Blockchain trong ngân hàng ảo) vẫn có “lỗ hổng công nghệ” dẫn tới khả năng bị lợi dụng để giao dịch trái phép, trộm cắp tiền trong hệ thống... là điều có thể xẩy ra, cận chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, hóa giải bằng chính công nghệ.

Bốn là, về tăng cường quan hệ đối ngoại

Cần tiếp tục đẩy mạnh, tăng cường hợp tác quốc tế về kết nối số, chia sẻ dữ liệu, nâng cao hiệu quả các hình thức kết nối, hỗ trợ thương mại điện tử, chính phủ điện tử; hình thành mạng lưới giáo dục ASEAN; hợp tác bảo đảm an ninh mạng giữa các nước trong khu vực và thế giới. Thực hiện sáng kiến của Việt Nam về “một ASEAN phẳng”, thành lập Đại học Công nghệ Thông tin - Truyền thông (ICT) và Trung tâm chia sẻ thông tin về an ninh mạng ASEAN.

Trong quan hệ đối ngoại, nhất là việc ký kết và thực thi các FTA thế hệ mới, Việt Nam cần quan tâm thỏa đáng đến việc khai thác tiềm năng công nghệ số từ các nước lớn, các nước phát triển như: EU, Mỹ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, Israel… Các doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam cần chủ động, tích cực để khai thác có hiệu quả các thị trường rộng lớn này.

Năm là, về giải pháp an ninh công nghệ

Việc quản lý chặt chẽ thông tin trên internet, mạng xã hội trên cơ sở luật pháp và các điều ước quốc tế đã được nhà nước ta triển khai từ rất sớm. Tuy nhiên, để hoàn thiện hệ thống pháp luật về sử dụng internet và mạng xã hội, bảo đảm môi trường pháp lý bình đẳng và minh bạch, tạo ra khung pháp lý nhằm răn đe, xử lý cá nhân, tổ chức đưa tin xấu độc trên không gian mạng, cần hình thành các cơ quan kiểm soát và chống tin giả trên mạng và hợp tác với các nước có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. 

Cần tìm phương thức buộc các trang mạng xã hội phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với các bài viết bất hợp pháp, các thông tin đăng tải. Phối hợp với đại diện cấp cao của các mạng xã hội trên thế giới để xử lý, gỡ bỏ những thông tin có nội dung xấu độc tồn tại trên các mạng xã hội. Những trang web, mạng xã hội có lượng truy cập lớn hoặc những trang web đặt máy chủ tại Việt Nam, phải cung cấp đầu mối liên hệ cho Bộ Thông tin và Truyền thông và thực hiện việc phối hợp ngăn chặn xử lý thông tin xấu độc khi có yêu cầu. Xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng dân chủ, đưa tin bịa đặt, sai sự thật nhằm kích động, gây bất ổn xã hội.

Nhà nước cần tham khảo Bộ quy tắc ứng xử của EU đối với Facebook, Microsoft, Twitter và YouTube để sớm ban hành “Bộ quy tắc ứng xử cho mạng xã hội Việt Nam”, kết hợp việc tăng cường thực thi quản lý nhà nước với những quy định cụ thể và những biện pháp “mềm” mang tính đạo đức, hướng tới xây dựng môi trường an toàn và công bằng hơn cho người sử dụng. Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp tục ban hành các quy định mới, phù hợp với diễn biến thực tế của mạng xã hội, tiến hành đối thoại, kêu gọi sự hợp tác và trách nhiệm hơn từ các nhà cung cấp nền tảng mạng xã hội. Nghiên cứu, phát triển các mạng xã hội nội địa để cạnh tranh và kiềm chế hoạt động gần như độc quyền của các mạng của nước ngoài. Có các giải pháp lâu dài và bền vững cho cộng đồng sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam. Bên cạnh đó, cần đặc biệt coi trọng ứng dụng công nghệ mới có hiệu quả trong bảo đảm an ninh không gian mạng, quản lý và bảo đảm an ninh bằng khoa học công nghệ.

Một số tiếp cận mới của Đại hội XIII về xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam.

 - Quan điểm, cách tiếp cận của Đảng về hệ thống chính trị và đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam thường xuyên vận động, đổi mới, thể hiện qua Cương lĩnh, văn kiện đại hội, các nghị quyết và thực tiễn lãnh đạo của Đảng. Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung, phát triển nhiều vấn đề mới, đặc biệt là các tiếp cận mới về xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam. 

Một số tiếp cận mới của Đại hội XIII về xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII - Ảnh: dangcongsan.vn

Đại hội XIII của Đảng đã thể hiện các tiếp cận mới về xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam, cụ thể là: Đại hội dành nhiều hơn dung lượng nói về hệ thống chính trị, với nhiều quan điểm mới. Điều đó xuất phát từ điều kiện lịch sử đã chín muồi và những thách thức mới của thời đại đang đặt ra. Đó là: bối cảnh lịch sử những năm đầu của thập niên thứ ba, thế kỷ XXI, đường lối đổi mới đã thực hiện được 35 năm, hầu hết các mục tiêu ban đầu của đường lối đổi mới đề ra (1986) đã thực hiện đạt và vượt; tròn 30 năm tan rã hệ thống xã hội chủ nghĩa, bản lĩnh cách mạng của một đảng cầm quyền đã thể hiện rõ; 30 năm nước ta thực hiện Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) và 10 năm thực hiện Cương lĩnh  (bổ sung, phát triển năm 2011), 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, nước ta chưa bao giờ có cơ đồ, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay; thế giới và đất nước đang bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với rất nhiều thời cơ và thách thức...

Tại Đại hội XIII, Đảng có thời gian và điều kiện lịch sử để nhìn nhận lại con đường, mô hình phát triển của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) cả về lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở đó, Đại hội XIII có nhiệm vụ quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm, 10 năm và tầm nhìn đến năm 2045.

Thứ nhất, chủ đề Báo cáo chính trị tại Đại hội là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1). Như vậy, so với chủ đề của các Đại hội gần đây (X, XI, XII), Đại hội lần này đã đặt vấn đề xây dựng Đảng song song và đồng thời với xây dựng hệ thống chính trị, gắn bó chặt chẽ xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị. Điều này cho thấy, Đảng ta có cách tiếp cận mới về xây dựng Đảng, toàn diện hơn, hợp lý hơn, vì Đảng là một bộ phận hạt nhân của hệ thống chính trị Việt Nam. Nếu không xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh thì việc xây dựng Đảng cũng không thể thành công và ngược lại.

Thứ hai, một số nội dung quan trọng, mới, rõ ràng và cụ thể hơn về xây dựng hệ thống chính trị và đổi mới hệ thống chính trị.

Hệ thống chính trị là một tổ hợp có tính chỉnh thể, bao gồm các thể chế chính trị (tổ chức chính trị, nhà nước, chính trị - xã hội), được phân bổ theo một cơ cấu chức năng nhất định, vận hành theo những cơ chế, quan hệ và nguyên tắc cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị mà trung tâm là quyền lực nhà nước. Những quan điểm mới của Đại hội XIII như sau:

Đại hội nhấn mạnh thực hiện toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới hệ thống chính trị. Tất cả mọi vấn đề, từ tổ chức bộ máy, các mối quan hệ, các cơ chế, đến các nguyên tắc vận hành... luôn được nhìn nhận, tiếp cận một cách toàn diện, đồng bộ.

Về tổ chức bộ máy (các thể chế chính trị của hệ thống chính trị):

Về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quan điểm về xây dựng Nhà nước của Đảng đã được cụ thể hóa, với những nội dung và nguyên tắc của nhà nước pháp quyền Việt Nam, gắn chức năng kiến tạo phát triển với nhà nước pháp quyền trong chủ trương “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động”(2). Quan điểm mới ở Đại hội XIII là xác định rõ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị: “xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(3).

Đại hội đã cụ thể hóa các nguyên tắc pháp quyền: Đại hội “xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(4).

Trong bộ máy nhà nước, đặt nhiệm vụ hàng đầu là đổi mới tổ chức và hoạt động, đặc biệt là tính chuyên nghiệp của Quốc hội, Đại hội khẳng định: “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, phát huy dân chủ, pháp quyền, tăng tính chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao”(5).

Trong đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, Quốc hội nói riêng, những khoảng trống về lý luận, những hạn chế về thực tiễn tổ chức và hoạt động đều được Đại hội thẳng thắn chỉ ra, đó là: cơ chế bảo hiến, chất lượng ban hành luật, tính chuyên nghiệp của Quốc hội và hiệu lực, hiệu quả của giám sát tối cao.

Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, Đại hội tập trung vào những vấn đề, cho đến nay còn nhiều lúng túng, đó là: tính phục vụ, tính chuyên nghiệp, năng lực kiến tạo phát triển, năng lực quản lý vĩ mô; đi kèm với những điều đó là năng lực phân cấp, phân quyền; năng lực tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với từng loại lãnh thổ, địa bàn dân cư; năng lực xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cải cách phân cấp ngân sách theo hướng bảo đảm sự chủ động cho ngân sách địa phương... Đại hội nhấn mạnh: “Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương; khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất, đồng thời phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của từng cấp, từng ngành”(6).

Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân.

Đại hội chủ trương thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử, hướng tới chính phủ số, tăng cường sự kết nối, trao đổi thông tin thường xuyên giữa chính quyền các cấp, giữa chính quyền với người dân và doanh nghiệp, “chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số”(7).

Trong nhiệm vụ thứ 10 phát triển kinh tế - xã hội, ngoài nội dung tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, Đại hội nhấn mạnh “đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo đột phá trong cải cách hành chính”(8)

Về xây dựng, chỉnh đốn Đảng: Nội dung mới trong Văn kiện Đại hội XIII là tập trung xây dựng Đảng về đạo đức và đẩy mạnh xây dựng Đảng về tổ chức.

Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, có 5 nội dung mới: Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị (Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị); thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương (Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương); coi trọng kiểm tra, giám sát trong Đảng kết hợp với phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, báo chí và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên thực hiện các quy định nêu gương; nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày.

Để đẩy mạnh xây dựng Đảng về tổ chức, Đại hội chủ trương tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức “hai bộ máy”, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội, con người... đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và nền dân chủ XHCN.

Tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị, trên cơ sở tổng kết các mô hình thí điểm về tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị; đẩy mạnh thực hiện tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm. Thực hiện chủ trương bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị; cơ bản thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp, bí thư cấp ủy là chủ tịch ủy ban nhân dân, bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, tổ trưởng dân phố hoặc trưởng ban công tác mặt trận ở những nơi có điều kiện.

Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”. Tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Hoàn thiện thể chế, quy định về công tác cán bộ, tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ. Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý nghiêm minh, đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu.

Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Cải tiến, đổi mới phương pháp, quy trình, kỹ năng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, bảo đảm khách quan, dân chủ, khoa học, đồng bộ, thống nhất, thận trọng, chặt chẽ, khả thi. Trong đó, tập trung vào các cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên. Có chế tài để phòng ngừa, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm kỷ luật đảng. Kết hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với giám sát, thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Tăng cường phối hợp giữa giám sát, kiểm tra của Đảng với giám sát, thanh tra của Nhà nước và giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả.

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới. Trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, cách tiếp cận mới ở Đại hội XIII là cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng ở tất cả các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể và công khai để cán bộ, đảng viên và nhân dân biết, giám sát việc thực hiện. “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành nghị quyết của Đảng. Ban hành nghị quyết khi thật sự cần thiết, hợp lý, thiết thực, ngắn gọn, khả thi... Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi hoạt động của Đảng”(9). Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao năng lực cầm quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tinh thần đổi mới phương thức lãnh đạo được Đại hội nhấn mạnh, một mặt là đổi mới cách thức ban hành, triển khai các nghị quyết của Đảng, quy phạm hóa các hoạt động sinh hoạt Đảng, thực chất đó là vai trò của tập thể lãnh đạo và phải bảo đảm thực sự dân chủ; trên cơ sở đó là phân công cá nhân phụ trách (quản lý), trong đó quy định rõ trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu. Thể hiện rõ tính tập trung, thống nhất của hoạt động quản lý.  

Về Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội: Đại hội XIII nêu quan điểm mới: Mặt trận Tổ quốc là nòng cốt chính trị thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Cụ thể hóa vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp nhân dân, các tộc người, các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội dành một sự chú ý rõ ràng đến “phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi. Tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho doanh nhân khởi nghiệp sáng tạo, kinh doanh lành mạnh, cống hiến tài năng”(10). Khuyến khích doanh nhân thực hiện trách nhiệm xã hội và tham gia phát triển xã hội.

Các cơ chế và mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị 

Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở; tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, hoàn thiện, tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực từ bên trong bộ máy nhà nước, trong hệ thống chính trị và nhân dân đối với các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, đảng viên. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng hệ thống chính trị, động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế; góp phần quản lý xã hội thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hoạt động tự quản cộng đồng. Nắm vững và xử lý 10 mối quan hệ lớn. Trong các mối quan hệ lớn đã nêu từ Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011, quan hệ thứ 5, “giữa Nhà nước, thị trường và xã hội”(11) là mối quan hệ rất cơ bản mới được đưa vào Văn kiện Đại hội XIII, cần được nghiên cứu làm rõ và xử lý tốt.

Về các nguyên tắc vận hành của hệ thống chính trị

Văn kiện lần này không nêu các nguyên tắc mới, nhưng đưa ra các quan điểm chỉ đạo. Có 5 quan điểm chỉ đạo, được coi như là các nguyên tắc, “đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải quán triệt trong nhận thức và hoạt động thực tiễn”(12). Các quan điểm này định hướng cơ bản cho việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị: 

Quan điểm 1, “4 kiên định”: (1) Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; (2) kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; (3) kiên định đường lối đổi mới của Đảng; (4) kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm 2, sắp xếp đúng vị trí các vấn đề: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia; phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

Quan điểm 3, phát huy sức mạnh tinh thần dân tộc, phẩm chất con người Việt Nam, sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị: Đặc biệt chú ý trong quan điểm này là khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đây chính là khơi dậy động lực vô cùng to lớn để thực hiện các mục tiêu mà Đại hội vạch ra.

Quan điểm 4, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Trong quan điểm này, tính chất, quy mô của hội nhập quốc tế được nhìn nhận sâu sắc: chủ động, tích cực, toàn diện và sâu rộng, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất.

Quan điểm 5, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vai trò của hệ thống chính trị: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một yếu tố mang tính điều kiện cho sự thành công của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đổi mới hệ thống chính trị. “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(13).  Vì vậy, Đại hội cũng khẳng định cách tiếp cận mới, đẩy mạnh và mở rộng cuộc đấu tranh này. Đại hội xác định hai nội dung mới trong chống tham nhũng được nhấn mạnh là từng bước mở rộng phạm vi phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài Nhà nước, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng và đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, nâng cao thu nhập, có chính sách nhà ở, bảo đảm cuộc sống để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác.

Cũng cần nhấn mạnh là, các tiếp cận mới về xây dựng hệ thống chính trị được đề ra tại Đại hội XIII, không chỉ phản ảnh những nhu cầu phát triển nội tại của đất nước, dựa trên những thành tựu hơn 35 thực hiện đường lối đổi mới, mà còn phản ánh, cập nhật những đòi hỏi của thời đại, đặc biệt là thời đại công nghệ 4.0, yếu tố công nghệ đã làm thay đổi phương thức tạo ra của cải nói riêng, phương thức phát triển của nhân loại nói chung. Vì vậy, Đại hội XIII nhấn mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số quốc gia, xây dựng chính phủ số, xã hội số, nhà nước kiến tạo phát triển, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Có nhiều quan điểm mới của Đại hội XIII về hệ thống chính trị và đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam, trên đây bài viết chỉ nêu một số quan điểm nổi bật, có sự phát triển mới về cách tiếp cận và nội dung so với các đại hội trước.

__________________

- Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sức khỏe của nhân dân là vốn quý báu nhất của dân tộc, có quan hệ chặt chẽ với thắng lợi của cách mạng. Vì vậy, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân là trách nhiệm của Đảng, của hệ thống chính trị, của toàn dân, trong đó Ngành Y tế có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Để Ngành Y tế đảm đương được sứ mệnh vẻ vang, đòi hỏi phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ có đức, có tài, xứng danh “Lương y như từ mẫu”, trong đó có nội dung cốt lõi là vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của đội ngũ này trước Đảng, trước nhân dân. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế trong tình hình hiện nay Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) - Ảnh tư liệu, nguồn: TTXVN Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Là nhà tư tưởng lỗi lạc, lãnh tụ vĩ đại kính yêu của Đảng và dân tộc Việt Nam, Người dành sự quan tâm hàng đầu cho công tác cán bộ, trong đó có đội ngũ cán bộ Ngành Y tế, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ y tế nước ta có đức và có tài, luôn thực hành gương sáng về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân - một nhân tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Cả trong hoạt động lý luận và thực tiễn lãnh đạo xây dựng, phát triển Ngành y tế Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quan điểm vô cùng phong phú, hệ thống và sâu sắc về đoàn kết và nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ y tế Việt Nam trong chế độ mới. Nghề y là một nghề hết sức cao quý và đặc biệt, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người, được xã hội tôn vinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”(1). Theo Người, trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, sức khỏe của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng gần thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công. Song, để người dân có được sức khỏe “khang cường” cả về thể chất và tinh thần, có quan hệ mật thiết đến vai trò của người cán bộ y tế. Bởi vậy, Người coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ y tế toàn diện, cả về y đức, y thuật, y lý. Người nhấn mạnh quan điểm cán bộ phải luôn đoàn kết và thanh khiết, luôn nêu cao trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Quan điểm đó được thể hiện sâu sắc và toàn diện trong nhiều bức thư, bài viết, bài nói chuyện trong những dịp Người thăm và làm việc với ngành y hoặc cơ sở, cán bộ y tế. Người chỉ dẫn, căn dặn đội ngũ cán bộ y tế phải nêu cao tinh thần trách nhiệm và lòng nhân ái, tận tụy, đức hy sinh, vì nhân dân phục vụ: “Về chuyên môn: Cần thường xuyên học tập nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ. Về chính trị: Cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác"(2). Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”, vì thế “một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền"(3). Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc nǎm 1953, Người cǎn dặn cán bộ y tế phải: “Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân”(4). Trong Thư gửi hội nghị cán bộ Y tế, đăng trên Báo Nhân dân số 362 ngày 27 - 2 - 1955, Người nhấn mạnh: “Thương yêu người bệnh - Người bệnh phó thác tính mạng nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh, em ruột thịt của mình coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. "Lương y phải như từ mẫu" câu nói ấy rất đúng”(5). Để giữ trọn thanh danh cao quý của người thầy thuốc, cán bộ ngành y, một mặt, Người nhấn mạnh đến tài năng, đề ra yêu cầu cán bộ y tế "phải có chí chịu khó, chịu khổ, phải giàu lòng bác ái, hy sinh"(6). Mặt khác, để có thể hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang trước Đảng, trước nhân dân, đội ngũ cán bộ y tế phải chính tâm và đoàn kết, đoàn kết để tin tưởng, đoàn kết để tiến bộ thêm, đoàn kết để đi đến thành công trong sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đoàn kết là một vấn đề chiến lược trong xây dựng ngành cũng như đội ngũ cán bộ y tế. Ngành y và nghề y mang tính đặc thù cao, gắn liền với sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Sức khỏe nhân dân có quan hệ đến “sức mạnh tổng hợp của quốc gia”, vì “dân cường thì nước thịnh”. Do đó, để ngành y đảm đương được vai trò, chức năng của mình, rất cần sức mạnh nội tại của nguồn nhân lực, nhất là của đội ngũ cán bộ y tế. Nếu không có sự đoàn kết nhất trí trong đội ngũ cán bộ thì mọi chiến lược, chủ trương, kế hoạch phát triển của ngành y sẽ gặp khó khăn, thậm chí sai lầm, trả giá. Hồ Chí Minh đã từng nêu một luận điểm mang tính chân lý: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”(7); “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”(8); “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”(9); “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”(10). Người coi mục đích của Đảng là đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc. Muốn cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và phát triển ngành y tế ngang tầm đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, thì trong từng tổ chức Đảng, bộ máy và đội ngũ cán bộ ngành y cũng như trong toàn hệ thống chính trị nói chung phải ra sức chăm lo xây dựng khối đoàn kết thống nhất nội bộ. Người nhấn mạnh: "Trước hết là phải thật thà đoàn kết - Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích. Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các Bộ trưởng, Thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân"(11). Khi cán bộ ngành y tế đang cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đội ngũ cán bộ y tế phải: “Đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tinh thần tập thể, thi đua học tập và công tác để tiến bộ không ngừng về chính trị, tư tưởng, về chuyên môn kỹ thuật. Luôn luôn ghi nhớ rằng người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục vụ thương binh, bệnh binh, tích cực nâng cao sức khỏe của bộ đội, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”(12). Theo Người, phải nêu cao tinh thần đại đoàn kết ở mọi lúc, mọi nơi, mọi cá nhân, mọi tổ chức và cộng đồng, vì lợi ích chung là độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Cán bộ ngành y cũng như người cán bộ cách mạng nói chung, trong thực hành đoàn kết, phải lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân (mà sức khỏe là vốn quý hàng đầu) làm nền tảng, đồng thời quan tâm tới lợi ích chính đáng của cá nhân. Song, tôn trọng cái riêng thì đồng thời phải nêu cao tinh thần đoàn kết vì mục tiêu chung của ngành và của cách mạng. Hồ Chí Minh nói tới đoàn kết, đại đoàn kết cũng chính là giải quyết hài hòa các mối quan hệ về vấn đề lợi ích, như: cá nhân - tập thể; gia đình - xã hội; bộ phận - toàn cục. Chỉ dẫn đó của Người là cơ sở, nền tảng để ngành y và mỗi cán bộ y tế xây dựng văn hóa công sở, văn hóa công vụ, văn hóa đoàn kết trong giai đoạn hiện nay. Mỗi cá nhân, mỗi tổ chức trong hệ thống ngành y tế nước ta, có chức năng, nhiệm vụ khác nhau do tính đặc thù quy định. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế là tiêu chí cơ bản nhất để đánh giá chất lượng của đội ngũ này. Có trình độ chuyên môn tốt mới bảo đảm cho cán bộ ngành y hoàn thành công việc được giao. Trong giai đoạn hiện nay, khi khoa học - công nghệ y tế phát triển và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đội ngũ cán bộ y tế phải có trình độ về công nghệ, làm chủ khoa học - công nghệ trong lĩnh vực y tế, đồng thời phải có khả năng thích linh hoạt để đáp ứng được những thay đổi và yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong bối cảnh mới, phải nêu cao quyết tâm, tín tâm và tinh thần phụng sự. Cùng với nhấn mạnh vấn đề quan trọng hàng đầu là đoàn kết-một cội nguồn của thắng lợi, Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, đối với người cán bộ nói chung, cán bộ ngành y tế nói riêng, cần phải hội tụ được phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp. Phẩm chất đạo đức ấy phải được thể hiện rõ ở lòng trung thành, nhiệt tình cách mạng, ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân; ít lòng tham muốn về vật chất,… thể hiện qua sự tự giác và ý thức nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của ngành ytế, ở tinh thần trách nhiệm rất cao trước Đảng, trước nhân dân. Người luận giải: “Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy là không có tinh thần trách nhiệm. … Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ. … Tóm lại, phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân. Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm. Tách rời chính sách ra một đường, nhiệm vụ ra một đường là sai lầm. Tách rời chính sách và nhiệm vụ ra một đường, và đường lối quần chúng ra một đường cũng là sai lầm. Tinh thần trách nhiệm là gắn liền chính sách và đường lối quần chúng, để làm trọn nhiệm vụ. … Công việc kháng chiến kiến quốc ngày càng nhiều, càng mới, càng to, càng phức tạp. Cán bộ ta không khỏi vấp khuyết điểm trong tiến bộ. Nhưng với sự giáo dục của Đảng, của Chính phủ và của quần chúng, cùng với lòng kiên quyết dùi mài tinh thần trách nhiệm của cán bộ, chúng ta nhất định chiến thắng khuyết điểm”(13). Trong bối cảnh hiện nay, nâng cao tinh thần trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đây được xem là một trong những yêu cầu hàng đầu và là yếu tố đặc biệt quan trọng để cán bộ ngành y “nâng cao sức đề kháng”, miễn nhiễm với mọi sự tha hóa, biến chất, không sa vào chủ nghĩa cá nhân, không bị tác động, ảnh hưởng của những yếu tố tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, của những “viên đạn bọc đường”, của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu cao tỉnh thần đoàn kết và tinh thần trách nhiệm của người cán bộ y tế trước Đảng, trước nhân dân có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn trong xây dựng ngành y tế Việt Nam và đội ngũ cán bộ y tế cách mạng qua các thời kỳ, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Tư tưởng của Người hướng dẫn hành động cho mỗi cán bộ ngành y, nhắc nhở mỗi người, mỗi tổ chức, nhất là cấp ủy Đảng phải luôn thường trực tư tưởng và hành động đoàn kết thống nhất, trách nhiệm cao vì lợi ích chung của cách mạng. Đất nước ta đã trải qua hơn 35 năm đổi mới. Chưa bao giờ đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Thành tựu to lớn mang tầm vóc lịch sử đó sự đóng góp quan trọng của ngành y tế, trực tiếp nhất là đội ngũ cán bộ. Nhờ đó, như Đảng đã đánh giá, khẳng định: “Hệ thống tổ chức y tế tiếp tục được kiện toàn. Quy mô, năng lực, chất lượng y tế dự phòng, khám, chữa bệnh, phòng, chống dịch, chăm sóc sức khỏe nhân dân có bước phát triển, tiếp cận được nhiều kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, đạt nhiều kết quả quan trọng, nhất là trong phòng, chống đại dịch Covid-19”(14). Tuy nhiên, trong bối cảnh mới của ngành y tế hiện nay, vẫn nổi lên những hạn chế, khuyết điểm, bất cập, với nhiều khó khăn thách thức, nhất là trước sự công phá dữ dội của “giông tố” Covid-19, được coi là một phép thử khắc nghiệt đối với ngành y và mỗi cán bộ y tế nước nhà. Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác khám và chữa bệnh cho nhân dân, phòng, chống dịch bệnh Covid-19 có hiệu quả, rất cần phải tăng cường giáo dục cán bộ, nhân viên y tế về tinh thần đoàn kết và trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, để phát huy sức mạnh tổng hợp và thái độ, tinh thần phục vụ. Câu nói của Người: "Thầy thuốc phải như mẹ hiền" vừa là danh hiệu cao quý mà Người dành tặng, vừa là một yêu cầu, đòi hỏi, là tiêu chuẩn, tiêu chí đối với phẩm chất và tài năng của đội ngũ cán bộ y tế nước ta, cả trong kháng chiến, cũng như trong hòa bình, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong điều kiện hiện nay, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm, đòi hỏi ngành y tế và mỗi cán bộ y tế phải tiếp tục nhận thức và quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 23 - 2 - 2005 của Bộ Chính trị Về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới; Nghị quyết Hội Nghị Trung ương 6 khóa XII (Nghị quyết Số 20-NQ/TW ngày 25 - 10 - 2017) Về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, trong đó thấu suốt quan điểm của Đảng: Nghề y là một nghề đặc biệt; nhân lực y tế phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn và y đức; cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt. Mỗi cán bộ, nhân viên y tế phải không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn vững vàng, tiếp cận trình độ quốc tế, xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của Đảng, Nhà nước và xã hội: "Thầy thuốc phải như mẹ hiền". Điều đó lại càng đòi hỏi hơn bao giờ hết tinh thần phát huy dân chủ, ra sức tự phê bình và phê bình trong công tác và sinh hoạt hằng ngày như mỗi ngày “phải rửa mặt”, để tăng cường sự đoàn kết thống nhất và tinh thần trách nhiệm trong toàn ngành và của mỗi cán bộ y tế; thắp sáng truyền thống vẻ vang, niềm tự hào về danh dự, phẩm giá, lương tri của nghề y, ngành y, của người cán bộ y tế cách mạng. Quá trình đó đòi hỏi phải nêu cao bản lĩnh, dũng khí, phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để xây dựng đội ngũ cán bộ y tế thật sự “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, ngành ytế phải quán triệt thực hiện nghiêm túc, sâu sắc tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Tập trung xây dựng đội cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(15). Trong quá trình quán triệt thực hiện, bài học về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn luôn là “chìa khóa” để đội ngũ cán bộ y tế nước ta hoàn thành tốt nhiệm vụ và sứ mệnh vẻ vang, cao quý mà Đảng và nhân dân ta đã tin tưởng giao phó. Kỷ niệm Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2 năm nay diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và ngànhytế, mỗi cán bộ y tế nước ta đang nỗ lực phấn đấu đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, với ý chí và khát vọng xây dựng và phát triển nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Ý thức đầy đủ vinh dự, niềm tự hào chính đáng và nêu cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của người cán bộ y tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chính là một biểu hiện cao quý về đạo đức cách mạng của người cán bộ y tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là tiếp tục kiểm soát phòng, chống dịch bệnh, “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19” để phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững hơn, đáp ứng đòi hỏi, yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, vì “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”..

 - Lời Ban Biên tập: Thực hiện Thỏa thuận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; triển khai chương trình hợp tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn giữa hai Đảng, ngày 16-12-2021 đã diễn ra Hội thảo Lý luận lần thứ VIII giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào với chủ đề “Những vấn đề lý luận - thực tiễn mới trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam và Văn kiện Đại hội XI của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào” bằng hình thức trực tuyến. Tạp chí Lý luận chính trị trân trọng đăng bài phát biểu của GS, TS NGUYỄN XUÂN THẮNG, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Trưởng đoàn Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hội thảo.

Tư duy lý luận trong tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước giai đoạn mới

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương chủ trì Hội thảo - Ảnh: hcma.vn

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công rất tốt đẹp. Đại hội biểu thị sự thống nhất ý chí, tư duy mới và quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và nhân dân Việt Nam về xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, đến giữa thế kỷ XXI, trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Văn kiện Đại hội XIII là sự kết tinh trí tuệ, sáng tạo của toàn Đảng và toàn thể nhân dân Việt Nam, thể hiện tư duy lý luận và thực tiễn mang tầm nhìn chiến lược về công cuộc phát triển đất nước. Hệ thống các văn kiện thể hiện nhiều điểm mới, nổi bật trên mọi phương diện: từ trong cách tổ chức và quá trình chuẩn bị các dự thảo văn kiện, trong cách tiếp cận xây dựng văn kiện, trong xác định chủ đề đại hội, trong tổng kết các bài học kinh nghiệm, trong đề ra hệ quan điểm chỉ đạo, dự báo bối cảnh trong nước và quốc tế, trong việc xác định mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược phát triển đất nước.

Bám sát nguyên tắc kế thừa và phát triển và cách tiếp cận hệ thống, đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII gắn với việc tổng kết 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: những thành tựu đạt được trong nhiệm kỳ XII là kết quả của quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ qua nhiều nhiệm kỳ Đại hội của Đảng và nhân dân Việt Nam, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam qua 35 năm đổi mới(1). Đất nước Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(2).

Qua tổng kết thực tiễn sinh động, Văn kiện rút ra năm bài học kinh nghiệm lớn, cũng có thể được coi là năm vấn đề lý luận căn cốt của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Đó là: i) triển khai toàn diện, đồng bộ, thường xuyên công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; ii) quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”, nhân dân là chủ thể, là trung tâm của sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; iii) có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, tích cực, có bước đi phù hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách; iv) tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước; v) chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, không để bị động, bất ngờ.

Xác định phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ cho giai đoạn 2021-2025 gắn với mục tiêu, định hướng chiến lược đến năm 2030, tầm nhìn tới năm 2045, Văn kiện Đại hội XIII cho thấy một lộ trình phát triển đất nước cả trước mắt, trung hạn và dài hạn, với những kế thừa và phát triển sáng tạo mang tính bước ngoặt qua từng dấu mốc quan trọng, đó là: kỷ niệm 50 năm cả nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và 100 năm thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của thời đại, Nghị quyết Đại hội XIII khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, dân tộc hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc, đề ra mục tiêu phấn đấu đến giữa thế kỷ, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là tầm nhìn và khát vọng của Việt Nam, phản ánh bản lĩnh, trí tuệ, sức sáng tạo và ý chí, quyết tâm của nhân dân Việt Nam, do chính con người Việt Nam thực hiện; thể hiện tư duy lý luận sâu sắc, truyền cảm hứng mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để Việt Nam lập nên kỳ tích phát triển mới, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Để hiện thực hóa tầm nhìn và khát vọng đó, lần đầu tiên, Văn kiện Đại hội XIII đề ra hệ quan điểm chỉ đạo về những vấn đề có tính nguyên tắc trong tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; về chiến lược tổng thể phát triển đất nước nhanh và bền vững; về động lực và nguồn lực phát triển; và về những nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp sáng tạo vĩ đại của Đảng và nhân dân Việt Nam. Trong bài viết Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam thành công, trước hết phải luôn kiên định, vững vàng trên nền tảng tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc hết sức quan trọng, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Với tư cách là một học thuyết phát triển, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vừa mang tính phổ biến, vừa có tính đặc thù; các quốc gia tiến lên chủ nghĩa xã hội sẽ không giống nhau mà phải dựa vào những đặc điểm cụ thể của mỗi nước và phù hợp với tình hình quốc tế; phải liên tục bổ sung, phát triển những nhận thức mới trong cách tiếp cận, phương pháp hành động và bước đi cụ thể để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Hơn 35 năm qua, công cuộc đổi mới đã thực sự là sản phẩm sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của nhân dân Việt Nam mang tầm vóc và ý nghĩa to lớn trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam do nhân dân Việt Nam thực hiện. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới và quá trình thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước hoàn thiện và hiện thực hóa lý luận về đường lối đổi mới Việt Nam. Đây là sự vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện Việt Nam thời  kỳ mới; là sự sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phù hợp quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn đất nước và xu thế thời đại, trên cơ sở đúc kết những bài học thành công và thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới, kế thừa có chọn lọc tinh hoa, giá trị văn hóa và các thành tựu phát triển của nhân loại.

Lý luận về đường lối đổi mới thể hiện tầm nhìn và mục tiêu phát triển một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; 5 bài học kinh nghiệm, 5 quan điểm chỉ đạo và 10 mối quan hệ lớn phản ánh các quy luật mang tính biện chứng của cách mạng Việt Nam được đúc kết trong Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII, có ý nghĩa chỉ đạo đối với việc xây dựng, hoàn thiện ba trụ cột của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, đó là: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; và sự nghiệp này do Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, lãnh đạo. Quán triệt Văn kiện Đại hội XIII và những bài viết rất sâu sắc của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong thời gian gần đây, chúng tôi càng nhận thức đầy đủ hơn ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận về đường lối đổi mới trong hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, để tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới.

Văn kiện Đại hội XIII khẳng định tinh thần xuyên suốt, rất nổi bật và rõ ràng: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; nhân dân là trung tâm, là chủ thể của sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục “nhiệm vụ then chốt” đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, quán triệt sâu sắc bài học “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Văn kiện Đại hội XIII đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu mới về thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(3), Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rằng, nếu không dựa vào dân, không gắn bó mật thiết, bền chặt với nhân dân, Đảng sẽ mất đi cội nguồn sức mạnh và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của mình, không thể hoàn thành được mục tiêu, lý tưởng của quốc gia, dân tộc. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ yêu cầu: Đảng lấy sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và cán bộ, đảng viên; kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Niềm tin của nhân dân là thước đo cho sự vững mạnh của Đảng. Càng đi sâu vào quá trình đổi mới, đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp, khó khăn nảy sinh, Đảng càng phải coi trọng, khuyến khích sức sáng tạo thực tiễn của quần chúng nhân dân, từ kinh nghiệm phong phú trong nhân dân để tổng kết, nâng tầm lý luận và ban hành các đường lối chính sách phù hợp phục vụ chỉ đạo triển khai thực tiễn mới. Nghị quyết Đại hội XIII càng cho thấy ý nghĩa sâu sắc và tầm quan trọng của sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân” và trách nhiệm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực, ngang tầm nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Với 12 định hướng chiến lược, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá, Văn kiện Đại hội XIII không chỉ bao quát toàn diện mà còn nêu bật các nội dung rất quan trọng, mang tính đột phá trên các vấn đề, lĩnh vực phát triển của đất nước giai đoạn mới.

Thứ nhất, Văn kiện nhấn mạnh: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường(4)... Cần thấy rằng, nếu như các đại hội trước mới chỉ tập trung vào vấn đề hoàn thiện thể chế kinh tế thì việc đề ra định hướng: xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững là một điểm mới nổi bật của Văn kiện Đại hội XIII. Nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn 5 năm tới là xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập(5). Khâu đột phá là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trong đó, ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách và tập trung vào hai nội dung quan trọng: Một là, tháo gỡ những điểm nghẽn, tạo điều kiện để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển, nhất là các nguồn lực đất đai, tài chính, con người. Hai là, tạo đột phá phát triển, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi chủ thể xã hội, mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. 

Thứ hai, trong phát triển kinh tế - xã hội, Văn kiện Đại hội XIII thể hiện sâu sắc tinh thần đổi mới sáng tạo, sự thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thực tiễn và yêu cầu phát triển mới của đất nước, đề ra các định hướng, nhiệm vụ phát triển, cụ thể là: tiếp tục chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học và công nghệ, nhất là các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, xây dựng chính phủ số; thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo; tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Văn kiện đặc biệt chú trọng yêu cầu phát triển bền vững, chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu; quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, nhất là đất đai, nước và khoáng sản; xây dựng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường, phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn hiện đại và người nông dân văn minh; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ hiện đại cả về kinh tế và xã hội; phát triển con người toàn diện, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, chăm lo sức khỏe, sự an toàn và môi trường sống tốt cho nhân dân, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Đây là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của đất nước những năm tới; trong đó, có những chủ trương mới, có những chủ trương tuy không mới, nhưng nội hàm, cách thức triển khai lại hoàn toàn khác trước.  

Thứ ba, trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, Văn kiện Đại hội XIII yêu cầu kết hợp hài hòa, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng, giữa xây dựng với bảo vệ Đảng; gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh; không ngừng nâng cao năng lực, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới. Cách tiếp cận biện chứng này được thể hiện thống nhất, xuyên suốt trong 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp thể hiện đầy đủ chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đi đôi với các nhiệm vụ này là tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đi đôi với củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đi đôi với phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; khuyến khích, bảo vệ cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, quyết liệt hành động vì lợi ích chung; tăng cường thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng đi đôi với nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước; hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Thứ tư, trong quốc phòng, an ninh, đối ngoại, Văn kiện Đại hội XIII thể hiện rất rõ phương châm kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; gắn kết chặt chẽ quốc phòng - an ninh - đối ngoại; phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Với chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, Văn kiện xác định mục tiêu xây dựng một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh; tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, Văn kiện nhấn mạnh xây dựng nền ngoại giao hiện đại, toàn diện với chủ trương: i) chú trọng đẩy mạnh ngoại giao quốc phòng, an ninh để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; ii) tăng cường ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, tận dụng tối đa các cơ hội từ các quá trình hội nhập, nhất là tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; iii) mở rộng và nâng cao hiệu quả ngoại giao văn hóa, đóng góp thiết thực vào quảng bá hình ảnh, thương hiệu quốc gia và tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Việc vận dụng, triển khai Nghị quyết Đại hội XIII vào thực tiễn đòi hỏi các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là các cấp lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu trong toàn hệ thống chính trị nêu cao ý thức trách nhiệm, chủ động, tự giác, đổi mới tư duy, phát huy tinh thần sáng tạo, tránh giáo điều, rập khuôn, máy móc. Cần xây dựng các chương trình hành động sát thực, khả thi, hiệu quả, bám sát thực tiễn, nhất là những diễn biến mới, khó dự báo như tác động của đại dịch Covid-19 hiện nay, đi đôi với việc xây dựng các kế hoạch kiểm tra, giám sát, tổng kết, rút kinh nghiệm, kịp thời điều chỉnh ở từng thời điểm và nhiệm vụ cụ thể; khắc phục bằng được sự yếu kém, chậm trễ trong khâu tổ chức thực hiện, thể chế hóa nghị quyết của Đảng.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế trong tình hình hiện nay

 - Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sức khỏe của nhân dân là vốn quý báu nhất của dân tộc, có quan hệ chặt chẽ với thắng lợi của cách mạng. Vì vậy, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân là trách nhiệm của Đảng, của hệ thống chính trị, của toàn dân, trong đó Ngành Y tế có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Để Ngành Y tế đảm đương được sứ mệnh vẻ vang, đòi hỏi phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ có đức, có tài, xứng danh “Lương y như từ mẫu”, trong đó có nội dung cốt lõi là vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của đội ngũ này trước Đảng, trước nhân dân. 

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế trong tình hình hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) - Ảnh tư liệu, nguồn: TTXVN

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Là nhà tư tưởng lỗi lạc, lãnh tụ vĩ đại kính yêu của Đảng và dân tộc Việt Nam, Người dành sự quan tâm hàng đầu cho công tác cán bộ, trong đó có đội ngũ cán bộ Ngành Y tế, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ y tế nước ta có đức và có tài, luôn thực hành gương sáng về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân - một nhân tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. 

Cả trong hoạt động lý luận và thực tiễn lãnh đạo xây dựng, phát triển Ngành y tế Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quan điểm vô cùng phong phú, hệ thống và sâu sắc về đoàn kết và nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ y tế Việt Nam trong chế độ mới.

Nghề y là một nghề hết sức cao quý và đặc biệt, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người, được xã hội tôn vinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”(1)

Theo Người, trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, sức khỏe của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng gần thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công. Song, để người dân có được sức khỏe “khang cường” cả về thể chất và tinh thần, có quan hệ mật thiết đến vai trò của người cán bộ y tế. Bởi vậy, Người coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ y tế toàn diện, cả về y đức, y thuật, y lý. Người nhấn mạnh quan điểm cán bộ phải luôn đoàn kết và thanh khiết, luôn nêu cao trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Quan điểm đó được thể hiện sâu sắc và toàn diện trong nhiều bức thư, bài viết, bài nói chuyện trong những dịp Người thăm và làm việc với ngành y hoặc cơ sở, cán bộ y tế. 

Người chỉ dẫn, căn dặn đội ngũ cán bộ y tế phải nêu cao tinh thần trách nhiệm và lòng nhân ái, tận tụy, đức hy sinh, vì nhân dân phục vụ: “Về chuyên môn: Cần thường xuyên học tập nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ. Về chính trị: Cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác"(2)

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”, vì thế “một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền"(3). Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc nǎm 1953, Người cǎn dặn cán bộ y tế phải: “Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân(4)

Trong Thư gửi hội nghị cán bộ Y tế, đăng trên Báo Nhân dân số 362 ngày 27 - 2 - 1955, Người nhấn mạnh: “Thương yêu người bệnh - Người bệnh phó thác tính mạng nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh, em ruột thịt của mình coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. "Lương y phải như từ mẫu" câu nói ấy rất đúng”(5)

Để giữ trọn thanh danh cao quý của người thầy thuốc, cán bộ ngành y, một mặt, Người nhấn mạnh đến tài năng, đề ra yêu cầu cán bộ y tế "phải có chí chịu khó, chịu khổ, phải giàu lòng bác ái, hy sinh"(6). Mặt khác, để có thể hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang trước Đảng, trước nhân dân, đội ngũ cán bộ y tế phải chính tâm và đoàn kết, đoàn kết để tin tưởng, đoàn kết để tiến bộ thêm, đoàn kết để đi đến thành công trong sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. 

Đoàn kết là một vấn đề chiến lược trong xây dựng ngành cũng như đội ngũ cán bộ y tế. Ngành y và nghề y mang tính đặc thù cao, gắn liền với sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Sức khỏe nhân dân có quan hệ đến “sức mạnh tổng hợp của quốc gia”, vì “dân cường thì nước thịnh”. Do đó, để ngành y đảm đương được vai trò, chức năng của mình, rất cần sức mạnh nội tại của nguồn nhân lực, nhất là của đội ngũ cán bộ y tế. Nếu không có sự đoàn kết nhất trí trong đội ngũ cán bộ thì mọi chiến lược, chủ trương, kế hoạch phát triển của ngành y sẽ gặp khó khăn, thậm chí sai lầm, trả giá. 

Hồ Chí Minh đã từng nêu một luận điểm mang tính chân lý: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”(7); “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”(8); “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”(9); “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”(10). Người coi mục đích của Đảng là đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc. 

Muốn cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và phát triển ngành y tế ngang tầm đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, thì trong từng tổ chức Đảng, bộ máy và đội ngũ cán bộ ngành y cũng như trong toàn hệ thống chính trị nói chung phải ra sức chăm lo xây dựng khối đoàn kết thống nhất nội bộ. 

Người nhấn mạnh: "Trước hết là phải thật thà đoàn kết - Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích. Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các Bộ trưởng, Thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân"(11).

Khi cán bộ ngành y tế đang cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đội ngũ cán bộ y tế phải: “Đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tinh thần tập thể, thi đua học tập và công tác để tiến bộ không ngừng về chính trị, tư tưởng, về chuyên môn kỹ thuật. Luôn luôn ghi nhớ rằng người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục vụ thương binh, bệnh binh, tích cực nâng cao sức khỏe của bộ đội, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”(12)

Theo Người, phải nêu cao tinh thần đại đoàn kết ở mọi lúc, mọi nơi, mọi cá nhân, mọi tổ chức và cộng đồng, vì lợi ích chung là độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Cán bộ ngành y cũng như người cán bộ cách mạng nói chung, trong thực hành đoàn kết, phải lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân (mà sức khỏe là vốn quý hàng đầu) làm nền tảng, đồng thời quan tâm tới lợi ích chính đáng của cá nhân. Song, tôn trọng cái riêng thì đồng thời phải nêu cao tinh thần đoàn kết vì mục tiêu chung của ngành và của cách mạng. 

Hồ Chí Minh nói tới đoàn kết, đại đoàn kết cũng chính là giải quyết hài hòa các mối quan hệ về vấn đề lợi ích, như: cá nhân - tập thể; gia đình - xã hội; bộ phận - toàn cục. Chỉ dẫn đó của Người là cơ sở, nền tảng để ngành y và mỗi cán bộ y tế xây dựng văn hóa công sở, văn hóa công vụ, văn hóa đoàn kết trong giai đoạn hiện nay. 

Mỗi cá nhân, mỗi tổ chức trong hệ thống ngành y tế nước ta, có chức năng, nhiệm vụ khác nhau do tính đặc thù quy định. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế là tiêu chí cơ bản nhất để đánh giá chất lượng của đội ngũ này. Có trình độ chuyên môn tốt mới bảo đảm cho cán bộ ngành y hoàn thành công việc được giao. 

Trong giai đoạn hiện nay, khi khoa học - công nghệ y tế phát triển và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đội ngũ cán bộ y tế phải có trình độ về công nghệ, làm chủ khoa học - công nghệ trong lĩnh vực y tế, đồng thời phải có khả năng thích linh hoạt để đáp ứng được những thay đổi và yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong bối cảnh mới, phải nêu cao quyết tâm, tín tâm và tinh thần phụng sự. 

Cùng với nhấn mạnh vấn đề quan trọng hàng đầu là đoàn kết-một cội nguồn của thắng lợi, Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, đối với người cán bộ nói chung, cán bộ ngành y tế nói riêng, cần phải hội tụ được phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp. Phẩm chất đạo đức ấy phải được thể hiện rõ ở lòng trung thành, nhiệt tình cách mạng, ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân; ít lòng tham muốn về vật chất,… thể hiện qua sự tự giác và ý thức nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của ngành ytế, ở tinh thần trách nhiệm rất cao trước Đảng, trước nhân dân.

Người luận giải: “Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy là không có tinh thần trách nhiệm.

… Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ.

… Tóm lại, phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân. 

Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm. 

Tách rời chính sách ra một đường, nhiệm vụ ra một đường là sai lầm. Tách rời chính sách và nhiệm vụ ra một đường, và đường lối quần chúng ra một đường cũng là sai lầm. Tinh thần trách nhiệm là gắn liền chính sách và đường lối quần chúng, để làm trọn nhiệm vụ. 

… Công việc kháng chiến kiến quốc ngày càng nhiều, càng mới, càng to, càng phức tạp. Cán bộ ta không khỏi vấp khuyết điểm trong tiến bộ. Nhưng với sự giáo dục của Đảng, của Chính phủ và của quần chúng, cùng với lòng kiên quyết dùi mài tinh thần trách nhiệm của cán bộ, chúng ta nhất định chiến thắng khuyết điểm”(13)

Trong bối cảnh hiện nay, nâng cao tinh thần trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đây được xem là một trong những yêu cầu hàng đầu và là yếu tố đặc biệt quan trọng để cán bộ ngành y “nâng cao sức đề kháng”, miễn nhiễm với mọi sự tha hóa, biến chất, không sa vào chủ nghĩa cá nhân, không bị tác động, ảnh hưởng của những yếu tố tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, của những “viên đạn bọc đường”, của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu cao tỉnh thần đoàn kết và tinh thần trách nhiệm của người cán bộ y tế trước Đảng, trước nhân dân có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn trong xây dựng ngành y tế Việt Nam và đội ngũ cán bộ y tế cách mạng qua các thời kỳ, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Tư tưởng của Người hướng dẫn hành động cho mỗi cán bộ ngành y, nhắc nhở mỗi người, mỗi tổ chức, nhất là cấp ủy Đảng phải luôn thường trực tư tưởng và hành động đoàn kết thống nhất, trách nhiệm cao vì lợi ích chung của cách mạng.

Đất nước ta đã trải qua hơn 35 năm đổi mới. Chưa bao giờ đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Thành tựu to lớn mang tầm vóc lịch sử đó sự đóng góp quan trọng của ngành y tế, trực tiếp nhất là đội ngũ cán bộ. Nhờ đó, như Đảng đã đánh giá, khẳng định: “Hệ thống tổ chức y tế tiếp tục được kiện toàn. Quy mô, năng lực, chất lượng y tế dự phòng, khám, chữa bệnh, phòng, chống dịch, chăm sóc sức khỏe nhân dân có bước phát triển, tiếp cận được nhiều kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, đạt nhiều kết quả quan trọng, nhất là trong phòng, chống đại dịch Covid-19”(14).

Tuy nhiên, trong bối cảnh mới của ngành y tế hiện nay, vẫn nổi lên những hạn chế, khuyết điểm, bất cập, với nhiều khó khăn thách thức, nhất là trước sự công phá dữ dội của “giông tố” Covid-19, được coi là một phép thử khắc nghiệt đối với ngành y và mỗi cán bộ y tế nước nhà. 

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác khám và chữa bệnh cho nhân dân, phòng, chống dịch bệnh Covid-19 có hiệu quả, rất cần phải tăng cường giáo dục cán bộ, nhân viên y tế về tinh thần đoàn kết và trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, để phát huy sức mạnh tổng hợp và thái độ, tinh thần phục vụ. Câu nói của Người: "Thầy thuốc phải như mẹ hiền" vừa là danh hiệu cao quý mà Người dành tặng, vừa là một yêu cầu, đòi hỏi, là tiêu chuẩn, tiêu chí đối với phẩm chất và tài năng của đội ngũ cán bộ y tế nước ta, cả trong kháng chiến, cũng như trong hòa bình, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Trong điều kiện hiện nay, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm, đòi hỏi ngành y tế và mỗi cán bộ y tế phải tiếp tục nhận thức và quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 23 - 2 - 2005 của Bộ Chính trị Về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới; Nghị quyết Hội Nghị Trung ương 6 khóa XII (Nghị quyết Số 20-NQ/TW ngày 25 - 10 - 2017) Về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, trong đó thấu suốt quan điểm của Đảng: Nghề y là một nghề đặc biệt; nhân lực y tế phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn và y đức; cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt. Mỗi cán bộ, nhân viên y tế phải không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn vững vàng, tiếp cận trình độ quốc tế, xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của Đảng, Nhà nước và xã hội: "Thầy thuốc phải như mẹ hiền". Điều đó lại càng đòi hỏi hơn bao giờ hết tinh thần phát huy dân chủ, ra sức tự phê bình và phê bình trong công tác và sinh hoạt hằng ngày như mỗi ngày “phải rửa mặt”, để tăng cường sự đoàn kết thống nhất và tinh thần trách nhiệm trong toàn ngành và của mỗi cán bộ y tế; thắp sáng truyền thống vẻ vang, niềm tự hào về danh dự, phẩm giá, lương tri của nghề y, ngành y, của người cán bộ y tế cách mạng. 

Quá trình đó đòi hỏi phải nêu cao bản lĩnh, dũng khí, phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để xây dựng đội ngũ cán bộ y tế thật sự “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, ngành ytế phải quán triệt thực hiện nghiêm túc, sâu sắc tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Tập trung xây dựng đội cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(15)

Trong quá trình quán triệt thực hiện, bài học về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn luôn là “chìa khóa” để đội ngũ cán bộ y tế nước ta hoàn thành tốt nhiệm vụ và sứ mệnh vẻ vang, cao quý mà Đảng và nhân dân ta đã tin tưởng giao phó.

Kỷ niệm Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2 năm nay diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và ngànhytế, mỗi cán bộ y tế nước ta đang nỗ lực phấn đấu đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, với ý chí và khát vọng xây dựng và phát triển nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Ý thức đầy đủ vinh dự, niềm tự hào chính đáng và nêu cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của người cán bộ y tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chính là một biểu hiện cao quý về đạo đức cách mạng của người cán bộ y tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là tiếp tục kiểm soát phòng, chống dịch bệnh, “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19” để phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững hơn, đáp ứng đòi hỏi, yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, vì “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.