Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

- Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sức khỏe của nhân dân là vốn quý báu nhất của dân tộc, có quan hệ chặt chẽ với thắng lợi của cách mạng. Vì vậy, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân là trách nhiệm của Đảng, của hệ thống chính trị, của toàn dân, trong đó Ngành Y tế có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Để Ngành Y tế đảm đương được sứ mệnh vẻ vang, đòi hỏi phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ có đức, có tài, xứng danh “Lương y như từ mẫu”, trong đó có nội dung cốt lõi là vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của đội ngũ này trước Đảng, trước nhân dân. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế trong tình hình hiện nay Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) - Ảnh tư liệu, nguồn: TTXVN Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Là nhà tư tưởng lỗi lạc, lãnh tụ vĩ đại kính yêu của Đảng và dân tộc Việt Nam, Người dành sự quan tâm hàng đầu cho công tác cán bộ, trong đó có đội ngũ cán bộ Ngành Y tế, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ y tế nước ta có đức và có tài, luôn thực hành gương sáng về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân - một nhân tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Cả trong hoạt động lý luận và thực tiễn lãnh đạo xây dựng, phát triển Ngành y tế Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quan điểm vô cùng phong phú, hệ thống và sâu sắc về đoàn kết và nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ y tế Việt Nam trong chế độ mới. Nghề y là một nghề hết sức cao quý và đặc biệt, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người, được xã hội tôn vinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”(1). Theo Người, trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, sức khỏe của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng gần thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công. Song, để người dân có được sức khỏe “khang cường” cả về thể chất và tinh thần, có quan hệ mật thiết đến vai trò của người cán bộ y tế. Bởi vậy, Người coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ y tế toàn diện, cả về y đức, y thuật, y lý. Người nhấn mạnh quan điểm cán bộ phải luôn đoàn kết và thanh khiết, luôn nêu cao trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Quan điểm đó được thể hiện sâu sắc và toàn diện trong nhiều bức thư, bài viết, bài nói chuyện trong những dịp Người thăm và làm việc với ngành y hoặc cơ sở, cán bộ y tế. Người chỉ dẫn, căn dặn đội ngũ cán bộ y tế phải nêu cao tinh thần trách nhiệm và lòng nhân ái, tận tụy, đức hy sinh, vì nhân dân phục vụ: “Về chuyên môn: Cần thường xuyên học tập nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ. Về chính trị: Cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác"(2). Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”, vì thế “một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền"(3). Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc nǎm 1953, Người cǎn dặn cán bộ y tế phải: “Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân”(4). Trong Thư gửi hội nghị cán bộ Y tế, đăng trên Báo Nhân dân số 362 ngày 27 - 2 - 1955, Người nhấn mạnh: “Thương yêu người bệnh - Người bệnh phó thác tính mạng nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh, em ruột thịt của mình coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. "Lương y phải như từ mẫu" câu nói ấy rất đúng”(5). Để giữ trọn thanh danh cao quý của người thầy thuốc, cán bộ ngành y, một mặt, Người nhấn mạnh đến tài năng, đề ra yêu cầu cán bộ y tế "phải có chí chịu khó, chịu khổ, phải giàu lòng bác ái, hy sinh"(6). Mặt khác, để có thể hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang trước Đảng, trước nhân dân, đội ngũ cán bộ y tế phải chính tâm và đoàn kết, đoàn kết để tin tưởng, đoàn kết để tiến bộ thêm, đoàn kết để đi đến thành công trong sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đoàn kết là một vấn đề chiến lược trong xây dựng ngành cũng như đội ngũ cán bộ y tế. Ngành y và nghề y mang tính đặc thù cao, gắn liền với sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Sức khỏe nhân dân có quan hệ đến “sức mạnh tổng hợp của quốc gia”, vì “dân cường thì nước thịnh”. Do đó, để ngành y đảm đương được vai trò, chức năng của mình, rất cần sức mạnh nội tại của nguồn nhân lực, nhất là của đội ngũ cán bộ y tế. Nếu không có sự đoàn kết nhất trí trong đội ngũ cán bộ thì mọi chiến lược, chủ trương, kế hoạch phát triển của ngành y sẽ gặp khó khăn, thậm chí sai lầm, trả giá. Hồ Chí Minh đã từng nêu một luận điểm mang tính chân lý: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”(7); “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”(8); “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”(9); “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”(10). Người coi mục đích của Đảng là đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc. Muốn cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và phát triển ngành y tế ngang tầm đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, thì trong từng tổ chức Đảng, bộ máy và đội ngũ cán bộ ngành y cũng như trong toàn hệ thống chính trị nói chung phải ra sức chăm lo xây dựng khối đoàn kết thống nhất nội bộ. Người nhấn mạnh: "Trước hết là phải thật thà đoàn kết - Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích. Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các Bộ trưởng, Thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân"(11). Khi cán bộ ngành y tế đang cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đội ngũ cán bộ y tế phải: “Đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tinh thần tập thể, thi đua học tập và công tác để tiến bộ không ngừng về chính trị, tư tưởng, về chuyên môn kỹ thuật. Luôn luôn ghi nhớ rằng người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục vụ thương binh, bệnh binh, tích cực nâng cao sức khỏe của bộ đội, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”(12). Theo Người, phải nêu cao tinh thần đại đoàn kết ở mọi lúc, mọi nơi, mọi cá nhân, mọi tổ chức và cộng đồng, vì lợi ích chung là độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Cán bộ ngành y cũng như người cán bộ cách mạng nói chung, trong thực hành đoàn kết, phải lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân (mà sức khỏe là vốn quý hàng đầu) làm nền tảng, đồng thời quan tâm tới lợi ích chính đáng của cá nhân. Song, tôn trọng cái riêng thì đồng thời phải nêu cao tinh thần đoàn kết vì mục tiêu chung của ngành và của cách mạng. Hồ Chí Minh nói tới đoàn kết, đại đoàn kết cũng chính là giải quyết hài hòa các mối quan hệ về vấn đề lợi ích, như: cá nhân - tập thể; gia đình - xã hội; bộ phận - toàn cục. Chỉ dẫn đó của Người là cơ sở, nền tảng để ngành y và mỗi cán bộ y tế xây dựng văn hóa công sở, văn hóa công vụ, văn hóa đoàn kết trong giai đoạn hiện nay. Mỗi cá nhân, mỗi tổ chức trong hệ thống ngành y tế nước ta, có chức năng, nhiệm vụ khác nhau do tính đặc thù quy định. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế là tiêu chí cơ bản nhất để đánh giá chất lượng của đội ngũ này. Có trình độ chuyên môn tốt mới bảo đảm cho cán bộ ngành y hoàn thành công việc được giao. Trong giai đoạn hiện nay, khi khoa học - công nghệ y tế phát triển và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đội ngũ cán bộ y tế phải có trình độ về công nghệ, làm chủ khoa học - công nghệ trong lĩnh vực y tế, đồng thời phải có khả năng thích linh hoạt để đáp ứng được những thay đổi và yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong bối cảnh mới, phải nêu cao quyết tâm, tín tâm và tinh thần phụng sự. Cùng với nhấn mạnh vấn đề quan trọng hàng đầu là đoàn kết-một cội nguồn của thắng lợi, Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, đối với người cán bộ nói chung, cán bộ ngành y tế nói riêng, cần phải hội tụ được phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp. Phẩm chất đạo đức ấy phải được thể hiện rõ ở lòng trung thành, nhiệt tình cách mạng, ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân; ít lòng tham muốn về vật chất,… thể hiện qua sự tự giác và ý thức nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của ngành ytế, ở tinh thần trách nhiệm rất cao trước Đảng, trước nhân dân. Người luận giải: “Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy là không có tinh thần trách nhiệm. … Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ. … Tóm lại, phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân. Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm. Tách rời chính sách ra một đường, nhiệm vụ ra một đường là sai lầm. Tách rời chính sách và nhiệm vụ ra một đường, và đường lối quần chúng ra một đường cũng là sai lầm. Tinh thần trách nhiệm là gắn liền chính sách và đường lối quần chúng, để làm trọn nhiệm vụ. … Công việc kháng chiến kiến quốc ngày càng nhiều, càng mới, càng to, càng phức tạp. Cán bộ ta không khỏi vấp khuyết điểm trong tiến bộ. Nhưng với sự giáo dục của Đảng, của Chính phủ và của quần chúng, cùng với lòng kiên quyết dùi mài tinh thần trách nhiệm của cán bộ, chúng ta nhất định chiến thắng khuyết điểm”(13). Trong bối cảnh hiện nay, nâng cao tinh thần trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đây được xem là một trong những yêu cầu hàng đầu và là yếu tố đặc biệt quan trọng để cán bộ ngành y “nâng cao sức đề kháng”, miễn nhiễm với mọi sự tha hóa, biến chất, không sa vào chủ nghĩa cá nhân, không bị tác động, ảnh hưởng của những yếu tố tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, của những “viên đạn bọc đường”, của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu cao tỉnh thần đoàn kết và tinh thần trách nhiệm của người cán bộ y tế trước Đảng, trước nhân dân có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn trong xây dựng ngành y tế Việt Nam và đội ngũ cán bộ y tế cách mạng qua các thời kỳ, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Tư tưởng của Người hướng dẫn hành động cho mỗi cán bộ ngành y, nhắc nhở mỗi người, mỗi tổ chức, nhất là cấp ủy Đảng phải luôn thường trực tư tưởng và hành động đoàn kết thống nhất, trách nhiệm cao vì lợi ích chung của cách mạng. Đất nước ta đã trải qua hơn 35 năm đổi mới. Chưa bao giờ đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Thành tựu to lớn mang tầm vóc lịch sử đó sự đóng góp quan trọng của ngành y tế, trực tiếp nhất là đội ngũ cán bộ. Nhờ đó, như Đảng đã đánh giá, khẳng định: “Hệ thống tổ chức y tế tiếp tục được kiện toàn. Quy mô, năng lực, chất lượng y tế dự phòng, khám, chữa bệnh, phòng, chống dịch, chăm sóc sức khỏe nhân dân có bước phát triển, tiếp cận được nhiều kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, đạt nhiều kết quả quan trọng, nhất là trong phòng, chống đại dịch Covid-19”(14). Tuy nhiên, trong bối cảnh mới của ngành y tế hiện nay, vẫn nổi lên những hạn chế, khuyết điểm, bất cập, với nhiều khó khăn thách thức, nhất là trước sự công phá dữ dội của “giông tố” Covid-19, được coi là một phép thử khắc nghiệt đối với ngành y và mỗi cán bộ y tế nước nhà. Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác khám và chữa bệnh cho nhân dân, phòng, chống dịch bệnh Covid-19 có hiệu quả, rất cần phải tăng cường giáo dục cán bộ, nhân viên y tế về tinh thần đoàn kết và trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, để phát huy sức mạnh tổng hợp và thái độ, tinh thần phục vụ. Câu nói của Người: "Thầy thuốc phải như mẹ hiền" vừa là danh hiệu cao quý mà Người dành tặng, vừa là một yêu cầu, đòi hỏi, là tiêu chuẩn, tiêu chí đối với phẩm chất và tài năng của đội ngũ cán bộ y tế nước ta, cả trong kháng chiến, cũng như trong hòa bình, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong điều kiện hiện nay, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm, đòi hỏi ngành y tế và mỗi cán bộ y tế phải tiếp tục nhận thức và quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 23 - 2 - 2005 của Bộ Chính trị Về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới; Nghị quyết Hội Nghị Trung ương 6 khóa XII (Nghị quyết Số 20-NQ/TW ngày 25 - 10 - 2017) Về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, trong đó thấu suốt quan điểm của Đảng: Nghề y là một nghề đặc biệt; nhân lực y tế phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn và y đức; cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt. Mỗi cán bộ, nhân viên y tế phải không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn vững vàng, tiếp cận trình độ quốc tế, xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của Đảng, Nhà nước và xã hội: "Thầy thuốc phải như mẹ hiền". Điều đó lại càng đòi hỏi hơn bao giờ hết tinh thần phát huy dân chủ, ra sức tự phê bình và phê bình trong công tác và sinh hoạt hằng ngày như mỗi ngày “phải rửa mặt”, để tăng cường sự đoàn kết thống nhất và tinh thần trách nhiệm trong toàn ngành và của mỗi cán bộ y tế; thắp sáng truyền thống vẻ vang, niềm tự hào về danh dự, phẩm giá, lương tri của nghề y, ngành y, của người cán bộ y tế cách mạng. Quá trình đó đòi hỏi phải nêu cao bản lĩnh, dũng khí, phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để xây dựng đội ngũ cán bộ y tế thật sự “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, ngành ytế phải quán triệt thực hiện nghiêm túc, sâu sắc tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Tập trung xây dựng đội cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(15). Trong quá trình quán triệt thực hiện, bài học về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn luôn là “chìa khóa” để đội ngũ cán bộ y tế nước ta hoàn thành tốt nhiệm vụ và sứ mệnh vẻ vang, cao quý mà Đảng và nhân dân ta đã tin tưởng giao phó. Kỷ niệm Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2 năm nay diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và ngànhytế, mỗi cán bộ y tế nước ta đang nỗ lực phấn đấu đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, với ý chí và khát vọng xây dựng và phát triển nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Ý thức đầy đủ vinh dự, niềm tự hào chính đáng và nêu cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của người cán bộ y tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chính là một biểu hiện cao quý về đạo đức cách mạng của người cán bộ y tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là tiếp tục kiểm soát phòng, chống dịch bệnh, “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19” để phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững hơn, đáp ứng đòi hỏi, yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, vì “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”..

 - Lời Ban Biên tập: Thực hiện Thỏa thuận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; triển khai chương trình hợp tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn giữa hai Đảng, ngày 16-12-2021 đã diễn ra Hội thảo Lý luận lần thứ VIII giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào với chủ đề “Những vấn đề lý luận - thực tiễn mới trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam và Văn kiện Đại hội XI của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào” bằng hình thức trực tuyến. Tạp chí Lý luận chính trị trân trọng đăng bài phát biểu của GS, TS NGUYỄN XUÂN THẮNG, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Trưởng đoàn Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hội thảo.

Tư duy lý luận trong tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước giai đoạn mới

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương chủ trì Hội thảo - Ảnh: hcma.vn

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công rất tốt đẹp. Đại hội biểu thị sự thống nhất ý chí, tư duy mới và quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và nhân dân Việt Nam về xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, đến giữa thế kỷ XXI, trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Văn kiện Đại hội XIII là sự kết tinh trí tuệ, sáng tạo của toàn Đảng và toàn thể nhân dân Việt Nam, thể hiện tư duy lý luận và thực tiễn mang tầm nhìn chiến lược về công cuộc phát triển đất nước. Hệ thống các văn kiện thể hiện nhiều điểm mới, nổi bật trên mọi phương diện: từ trong cách tổ chức và quá trình chuẩn bị các dự thảo văn kiện, trong cách tiếp cận xây dựng văn kiện, trong xác định chủ đề đại hội, trong tổng kết các bài học kinh nghiệm, trong đề ra hệ quan điểm chỉ đạo, dự báo bối cảnh trong nước và quốc tế, trong việc xác định mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược phát triển đất nước.

Bám sát nguyên tắc kế thừa và phát triển và cách tiếp cận hệ thống, đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII gắn với việc tổng kết 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: những thành tựu đạt được trong nhiệm kỳ XII là kết quả của quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ qua nhiều nhiệm kỳ Đại hội của Đảng và nhân dân Việt Nam, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam qua 35 năm đổi mới(1). Đất nước Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(2).

Qua tổng kết thực tiễn sinh động, Văn kiện rút ra năm bài học kinh nghiệm lớn, cũng có thể được coi là năm vấn đề lý luận căn cốt của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Đó là: i) triển khai toàn diện, đồng bộ, thường xuyên công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; ii) quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”, nhân dân là chủ thể, là trung tâm của sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; iii) có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, tích cực, có bước đi phù hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách; iv) tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước; v) chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, không để bị động, bất ngờ.

Xác định phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ cho giai đoạn 2021-2025 gắn với mục tiêu, định hướng chiến lược đến năm 2030, tầm nhìn tới năm 2045, Văn kiện Đại hội XIII cho thấy một lộ trình phát triển đất nước cả trước mắt, trung hạn và dài hạn, với những kế thừa và phát triển sáng tạo mang tính bước ngoặt qua từng dấu mốc quan trọng, đó là: kỷ niệm 50 năm cả nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và 100 năm thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của thời đại, Nghị quyết Đại hội XIII khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, dân tộc hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc, đề ra mục tiêu phấn đấu đến giữa thế kỷ, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là tầm nhìn và khát vọng của Việt Nam, phản ánh bản lĩnh, trí tuệ, sức sáng tạo và ý chí, quyết tâm của nhân dân Việt Nam, do chính con người Việt Nam thực hiện; thể hiện tư duy lý luận sâu sắc, truyền cảm hứng mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để Việt Nam lập nên kỳ tích phát triển mới, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Để hiện thực hóa tầm nhìn và khát vọng đó, lần đầu tiên, Văn kiện Đại hội XIII đề ra hệ quan điểm chỉ đạo về những vấn đề có tính nguyên tắc trong tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; về chiến lược tổng thể phát triển đất nước nhanh và bền vững; về động lực và nguồn lực phát triển; và về những nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp sáng tạo vĩ đại của Đảng và nhân dân Việt Nam. Trong bài viết Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam thành công, trước hết phải luôn kiên định, vững vàng trên nền tảng tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc hết sức quan trọng, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Với tư cách là một học thuyết phát triển, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vừa mang tính phổ biến, vừa có tính đặc thù; các quốc gia tiến lên chủ nghĩa xã hội sẽ không giống nhau mà phải dựa vào những đặc điểm cụ thể của mỗi nước và phù hợp với tình hình quốc tế; phải liên tục bổ sung, phát triển những nhận thức mới trong cách tiếp cận, phương pháp hành động và bước đi cụ thể để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Hơn 35 năm qua, công cuộc đổi mới đã thực sự là sản phẩm sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của nhân dân Việt Nam mang tầm vóc và ý nghĩa to lớn trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam do nhân dân Việt Nam thực hiện. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới và quá trình thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước hoàn thiện và hiện thực hóa lý luận về đường lối đổi mới Việt Nam. Đây là sự vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện Việt Nam thời  kỳ mới; là sự sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phù hợp quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn đất nước và xu thế thời đại, trên cơ sở đúc kết những bài học thành công và thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới, kế thừa có chọn lọc tinh hoa, giá trị văn hóa và các thành tựu phát triển của nhân loại.

Lý luận về đường lối đổi mới thể hiện tầm nhìn và mục tiêu phát triển một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; 5 bài học kinh nghiệm, 5 quan điểm chỉ đạo và 10 mối quan hệ lớn phản ánh các quy luật mang tính biện chứng của cách mạng Việt Nam được đúc kết trong Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII, có ý nghĩa chỉ đạo đối với việc xây dựng, hoàn thiện ba trụ cột của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, đó là: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; và sự nghiệp này do Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, lãnh đạo. Quán triệt Văn kiện Đại hội XIII và những bài viết rất sâu sắc của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong thời gian gần đây, chúng tôi càng nhận thức đầy đủ hơn ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận về đường lối đổi mới trong hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, để tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới.

Văn kiện Đại hội XIII khẳng định tinh thần xuyên suốt, rất nổi bật và rõ ràng: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; nhân dân là trung tâm, là chủ thể của sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục “nhiệm vụ then chốt” đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, quán triệt sâu sắc bài học “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Văn kiện Đại hội XIII đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu mới về thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(3), Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rằng, nếu không dựa vào dân, không gắn bó mật thiết, bền chặt với nhân dân, Đảng sẽ mất đi cội nguồn sức mạnh và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của mình, không thể hoàn thành được mục tiêu, lý tưởng của quốc gia, dân tộc. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ yêu cầu: Đảng lấy sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và cán bộ, đảng viên; kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Niềm tin của nhân dân là thước đo cho sự vững mạnh của Đảng. Càng đi sâu vào quá trình đổi mới, đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp, khó khăn nảy sinh, Đảng càng phải coi trọng, khuyến khích sức sáng tạo thực tiễn của quần chúng nhân dân, từ kinh nghiệm phong phú trong nhân dân để tổng kết, nâng tầm lý luận và ban hành các đường lối chính sách phù hợp phục vụ chỉ đạo triển khai thực tiễn mới. Nghị quyết Đại hội XIII càng cho thấy ý nghĩa sâu sắc và tầm quan trọng của sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân” và trách nhiệm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực, ngang tầm nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Với 12 định hướng chiến lược, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá, Văn kiện Đại hội XIII không chỉ bao quát toàn diện mà còn nêu bật các nội dung rất quan trọng, mang tính đột phá trên các vấn đề, lĩnh vực phát triển của đất nước giai đoạn mới.

Thứ nhất, Văn kiện nhấn mạnh: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường(4)... Cần thấy rằng, nếu như các đại hội trước mới chỉ tập trung vào vấn đề hoàn thiện thể chế kinh tế thì việc đề ra định hướng: xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững là một điểm mới nổi bật của Văn kiện Đại hội XIII. Nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn 5 năm tới là xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập(5). Khâu đột phá là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trong đó, ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách và tập trung vào hai nội dung quan trọng: Một là, tháo gỡ những điểm nghẽn, tạo điều kiện để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển, nhất là các nguồn lực đất đai, tài chính, con người. Hai là, tạo đột phá phát triển, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi chủ thể xã hội, mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. 

Thứ hai, trong phát triển kinh tế - xã hội, Văn kiện Đại hội XIII thể hiện sâu sắc tinh thần đổi mới sáng tạo, sự thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thực tiễn và yêu cầu phát triển mới của đất nước, đề ra các định hướng, nhiệm vụ phát triển, cụ thể là: tiếp tục chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học và công nghệ, nhất là các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, xây dựng chính phủ số; thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo; tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Văn kiện đặc biệt chú trọng yêu cầu phát triển bền vững, chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu; quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, nhất là đất đai, nước và khoáng sản; xây dựng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường, phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn hiện đại và người nông dân văn minh; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ hiện đại cả về kinh tế và xã hội; phát triển con người toàn diện, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, chăm lo sức khỏe, sự an toàn và môi trường sống tốt cho nhân dân, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Đây là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của đất nước những năm tới; trong đó, có những chủ trương mới, có những chủ trương tuy không mới, nhưng nội hàm, cách thức triển khai lại hoàn toàn khác trước.  

Thứ ba, trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, Văn kiện Đại hội XIII yêu cầu kết hợp hài hòa, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng, giữa xây dựng với bảo vệ Đảng; gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh; không ngừng nâng cao năng lực, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới. Cách tiếp cận biện chứng này được thể hiện thống nhất, xuyên suốt trong 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp thể hiện đầy đủ chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đi đôi với các nhiệm vụ này là tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đi đôi với củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đi đôi với phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; khuyến khích, bảo vệ cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, quyết liệt hành động vì lợi ích chung; tăng cường thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng đi đôi với nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước; hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Thứ tư, trong quốc phòng, an ninh, đối ngoại, Văn kiện Đại hội XIII thể hiện rất rõ phương châm kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; gắn kết chặt chẽ quốc phòng - an ninh - đối ngoại; phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Với chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, Văn kiện xác định mục tiêu xây dựng một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh; tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, Văn kiện nhấn mạnh xây dựng nền ngoại giao hiện đại, toàn diện với chủ trương: i) chú trọng đẩy mạnh ngoại giao quốc phòng, an ninh để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; ii) tăng cường ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, tận dụng tối đa các cơ hội từ các quá trình hội nhập, nhất là tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; iii) mở rộng và nâng cao hiệu quả ngoại giao văn hóa, đóng góp thiết thực vào quảng bá hình ảnh, thương hiệu quốc gia và tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Việc vận dụng, triển khai Nghị quyết Đại hội XIII vào thực tiễn đòi hỏi các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là các cấp lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu trong toàn hệ thống chính trị nêu cao ý thức trách nhiệm, chủ động, tự giác, đổi mới tư duy, phát huy tinh thần sáng tạo, tránh giáo điều, rập khuôn, máy móc. Cần xây dựng các chương trình hành động sát thực, khả thi, hiệu quả, bám sát thực tiễn, nhất là những diễn biến mới, khó dự báo như tác động của đại dịch Covid-19 hiện nay, đi đôi với việc xây dựng các kế hoạch kiểm tra, giám sát, tổng kết, rút kinh nghiệm, kịp thời điều chỉnh ở từng thời điểm và nhiệm vụ cụ thể; khắc phục bằng được sự yếu kém, chậm trễ trong khâu tổ chức thực hiện, thể chế hóa nghị quyết của Đảng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét