Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

Quán triệt quan điểm Đại hội XIII vào giáo dục quốc phòng, an ninh.

 - Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cách mạng Việt Nam. Bài viết khái quát nhận thức, tư duy mới trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN và đề xuất giải pháp tăng cường giáo dục quốc phòng, an ninh. 

Quán triệt quan điểm Đại hội XIII vào giáo dục quốc phòng, an ninh

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Hội nghị Quân uỷ Trung ương lần thứ ba - Ảnh: baochinhphu.vn

Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc là nhiệm vụ quan trọng, luôn được đề cập trong văn kiện các Ðại hội Ðảng. Qua mỗi kỳ Ðại hội, quan điểm của Ðảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc luôn có sự bổ sung, phát triển, ngày càng hoàn thiện, phù hợp với tình hình thực tiễn của từng giai đoạn cách mạng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. 

Trên cơ sở đánh giá tình hình trong nước, khu vực, quốc tế và xu thế của thời đại, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển những quan điểm cơ bản về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới.

1. Về mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc

Đại hội XIII xác định: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1)

Như vậy, mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ của quốc phòng an ninh tiếp tục được Đảng ta khẳng định nhất quán, xuyên suốt nhưng có sự bổ sung rõ hơn, toàn diện hơn về nội hàm và phạm vi bảo vệ. 

Đại hội XIII đã chỉ rõ, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc không đơn thuần là để đối phó với chiến tranh, mà vấn đề quan trọng và thiết yếu là tạo ra sức mạnh để giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình nhằm xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng, là sự vận dụng nhuần nhuyễn lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; bảo vệ phải gắn với xây dựng, xây dựng phải đi đôi với bảo vệ. 

Mục tiêu của bảo vệ là để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho xây dựng và phát triển đất nước; và xây dựng phát triển đất nước tạo cơ sở, tiền đề bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc về mặt tự nhiên - lịch sử với việc bảo vệ Tổ quốc về mặt chính trị - xã hội là mối quan hệ biện chứng trong tính chỉnh thể thống nhất. Vì vậy, phải gắn chặt việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ XHCN. Phải gắn chặt việc giữ vững ổn định chính trị, xã hội với bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đây là quan điểm biện chứng khách quan, cụ thể, lịch sử và phát triển, đáp ứng sự phát triển của tình hình thế giới, khu vực, của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng an ninh trong tình hình mới. 

Điểm mới trong văn kiện lần này là việc khẳng định, bảo đảm an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước. Đây là vấn đề quan trọng trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay, phản ánh đúng xu thế và đặc điểm tình hình đất nước. Bởi suy cho cùng, mọi vấn đề đều xuất phát từ con người và tất cả mọi vấn đề lại đều quay trở về với con người. Con người là vấn đề có tính chiến lược, là trung tâm của mọi hoạt động, là mục tiêu và động lực phát triển đất nước, và bản chất chế độ XHCN mà nước ta đang xây dựng đều hướng đến bảo vệ cuộc sống bình yên, đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Vì vậy, trong bối cảnh mới hiện nay, vấn đề bảo đảm an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để mang lại hạnh phúc thực sự cho nhân dân là đặc biệt quan trọng. Xét ở khía cạnh trình bày, nét mới trong văn kiện lần này là các nội dung, vấn đề trong mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng an ninh được đặt trong một tổng thể chung, quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại theo một trục thống nhất, không tách rời. Đây là cơ sở và định hướng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

2. Về phương thức và giải pháp tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục có những bước phát triển mới trong tư duy về phương thức và giải pháp bảo vệ Tổ quốc XHCN: “Xác định: “chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe doạ an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế”(2). Đây là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm “giữ nước từ lúc chưa nguy”, phát triển tư tưởng bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” để xác định rõ phương thức, giải pháp “chủ động phòng ngừa” là chính. Bước phát triển này cũng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng về quốc phòng an ninh trong tình hình mới, nhằm chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi, giải tỏa các điểm nóng, các nguy cơ dẫn đến xung xung đột vũ trang; nhất là việc chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống đang ngày càng hiện hữu và đe dọa trực tiếp đối với toàn cầu hiện nay. 

Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định: “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”(3)

Quan điểm trên vừa thể hiện sự nhất quán với các quan điểm trước đó của Đảng, đồng thời nhấn mạnh việc phát huy mạnh mẽ và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, coi đó là một trong những phương thức hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc.

Điểm mới ở kỳ Đại hội lần này là Đảng ta đã đặt các thành tố kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng an ninh trong một chỉnh thể gắn kết, thống nhất. Đây cũng là bước phát triển, bổ sung mới về phương thức bảo vệ Tổ quốc, làm tăng khả năng phát huy nội lực, tiềm năng, bản sắc và truyền thống của dân tộc Việt Nam trong bảo vệ Tổ quốc cũng như trong xây dựng đất nước hiện nay; phát huy và làm sâu sắc thêm tính chất toàn dân, toàn diện của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN. 

Xét trong tính tổng thể, các phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc được sử dụng một cách tổng hợp, linh hoạt, mềm dẻo, đặt trong mối quan hệ và sự tương tác lẫn nhau để huy động sức mạnh tổng hợp và vai trò của mọi lĩnh vực, mọi lực lượng, mọi người và các tổ chức trên các phương diện của đời sống xã hội để bảo vệ Tổ quốc, thể hiện sâu sắc tính chất toàn dân, toàn diện của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. 

Một nét mới khác về phương thức và giải pháp tăng cường quốc phòng an ninh, bảo vệ Tổ quốc, đó là việc Đảng xác định rõ: Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo; có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng an ninh. Đó là bước phát triển mới về mặt tư duy trong định hướng phát triển công nghiệp quốc phòng an ninh, phản ánh đúng yêu cầu thực tiễn. Giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo sức mạnh tổng hợp cho cả quốc phòng an ninh và các nhiệm vụ khác, tạo ra nguồn lực lớn cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới. 

3. Về lực lượng và sức mạnh quốc phòng an ninh bảo vệ Tổ quốc

Đại hội XIII của Đảng khẳng định nhất quán “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”(4). Đặc biệt, trong văn kiện lần này, Đảng đã xác định rõ phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”(5); tiếp tục nhấn mạnh và chỉ rõ việc xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân “vững mạnh về chính trị”. Quan điểm trên thể hiện đúng ý chí, quyết tâm và nỗ lực của Đảng ta trong suốt các nhiệm kỳ Đại hội trước đó, nhằm xây dựng lực lượng vũ trang tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Ở văn kiện lần này, Đảng đã xác định rõ các mốc thời gian cụ thể: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là định hướng đặc biệt quan trọng để phát triển tiềm lực và sức mạnh của Quân đội và Công an đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện, phải lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở, bảo đảm lực lượng vũ trang luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, gắn bó máu thịt với nhân dân; không mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác; tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” của các thế lực thù địch. 

Một điểm nhấn quan trọng nữa, đó là Đảng ta đã xác định rõ: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác”(6). Trải qua quá trình nghiên cứu và đúc kết từ thực tiễn, chúng ta đã xây dựng được tổng thể và đồng bộ các chiến lược để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên mọi phương diện. Đây là các chiến lược rất quan trọng và là một thể thống nhất, liên quan mật thiết với nhau, tác động trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi phải thực hiện toàn diện và đồng bộ. Các chiến lược đó phản ánh tư duy chiến lược toàn diện của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc, thể hiện quan điểm quốc phòng an ninh toàn diện, tổng hợp của đất nước. Vì vậy, việc triển khai đồng bộ các chiến lược đó sẽ tạo ra thế và lực, lực lượng và sức mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. 

4. Quán triệt quan điểm Đại hội XIII về quốc phòng an ninh, nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng an ninh

Giáo dục quốc phòng an ninh là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác quốc phòng của Đảng, Nhà nước nhằm bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn của dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Quán triệt quan điểm Đại hội XIII về quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN gắn với nâng cao chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh, cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Quán triệt sâu sắc quan điểm mới của Đại hội XIII về quốc phòng an ninh trong tình hình mới là yêu cầu cơ bản, là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho học viên trong các nhà trường hiện nay. Đặc biệt, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương tám khóa XI “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, những điểm mới trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng về nhiệm vụ quốc phòng an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Luật Giáo dục quốc phòng và các thông tư, chỉ thị của Bộ giáo dục và đào tạo, Bộ Quốc phòng về giáo dục quốc phòng an ninh. Nâng cao hơn nữa vai trò của các cấp ủy Đảng, hệ thống chỉ huy các cấp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, giáo dục, quán triệt nhiệm vụ bồi dưỡng, giáo dục kiến thức quốc phòng an ninh cho các đối tượng. 

Mặt khác, từng cán bộ, giảng viên, học viên cần nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng, giáo dục kiến thức quốc phòng an ninh, trên cơ sở đó nêu cao ý thức, trách nhiệm trong việc học tập, quán triệt nắm vững những kiến thức quốc phòng an ninh, coi đây là trách nhiệm của tập thể và từng cá nhân.

Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh. Đây là giải pháp quan trọng để chuyển tải nội dung giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh. Trên cơ sở nội dung, chương trình khung giáo dục quốc phòng an ninh, cần cụ thể hóa chương trình, kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng sát với từng đối tượng cụ thể. Do tính đặc thù chương trình giáo dục quốc phòng an ninh thường “khô cứng”, người học dễ nhàm chán; bởi vậy, cùng với việc cập nhật kịp thời, bổ sung sự phát triển mới của nhiệm vụ quốc phòng an ninh, bảo vệ Tổ quốc vào nội dung giảng dạy, các nhà trường cần đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với từng đối tượng và sự phát triển của nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Bám sát chương trình theo quy định, mỗi giảng viên cần đề cao trách nhiệm, tích cực, chủ động nghiên cứu cập nhật, bổ sung nội dung từng chuyên đề cho phù hợp với tình hình thực tiễn; trong đó, tập trung cả phần kiến thức quốc phòng an ninh chung và những vấn đề thực tiễn đặt ra về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. 

Cùng với đổi mới nội dung, chương trình, cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp theo hướng phát huy tính sáng tạo, tích cực của người học. Theo đó, trước hết cần nâng cao chất lượng soạn giáo án, ứng dụng công nghệ thông tin vào nghiên cứu, trao đổi, cập nhật, khai thác thông tin, tư liệu trong biên soạn giáo án điện tử, tạo sự sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn người học. Mặt khác, trong quá trình lên lớp, giảng viên cần sử dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy, huấn luyện, tích hợp các phương pháp dạy - học trong cùng một bài giảng; khắc phục lối truyền thụ một chiều, tăng tính đối thoại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, rèn luyện cho người học năng lực tư duy, vận dụng kiến thức vào thực hành và thông qua thực hành để tiếp thu kiến thức lý thuyết. 

Tăng cường bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới, góp phần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, giảng viên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục quốc phòng an ninh. Đây là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng, giáo dục kiến thức quốc phòng an ninh. Đội ngũ giảng viên giữ vai trò quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo. Tăng cường hoạt động bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, trao đổi kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy, qua đó nâng cao năng lực và phương pháp, kỹ năng sư phạm. Đồng thời, động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho đội ngũ giảng viên học tập, nghiên cứu cập nhật những kiến thức, thông tin mới về quốc phòng an ninh để không ngừng nâng cao trình độ.

Vụ Việt Á và những luận điệu chống phá Đảng, Nhà nước Vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á đã gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với công tác phòng, chống dịch và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban chỉ đạo) đã thống nhất đưa vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á vào diện được Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Theo đó, cần xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân sai phạm, cảnh báo, răn đe mạnh mẽ hơn nữa, ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của nhân dân. Ngày 20/1/2022, khi kết luận cuộc họp Ban Chỉ đạo, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo đã nhấn mạnh: Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả rõ rệt, có mặt cao hơn năm trước, khẳng định quyết tâm mạnh mẽ, không ngừng, không nghỉ, không vì chống dịch mà chùng xuống, không xử lý. Theo đó, Tổng Bí thư yêu cầu Đảng ủy Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan, chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung lực lượng, khẩn trương, quyết liệt, mở rộng điều tra làm rõ bản chất của vụ án, xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định của pháp luật; không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu bất kỳ sự can thiệp trái pháp luật của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Trước đó, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Bộ Công an chủ trì, mở rộng vụ án xảy ra tại Công ty cổ phần công nghệ Việt Á, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt và thất thoát, sớm đưa các đối tượng ra xét xử. Hiện nay, các cơ quan chức năng đang khẩn trương điều tra, làm rõ vụ án để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; đồng thời rà soát, thu hồi triệt để tài sản cho Nhà nước. Cùng với đó, Ban Chỉ đạo giao Ủy ban Kiểm tra Trung ương tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên có liên quan để kịp thời xử lý nghiêm theo quy định của Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng, tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khẩn trương kiểm tra, thanh tra, điều tra xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng công tác phòng, chống dịch bệnh để tham nhũng, tiêu cực. Giao Ban Nội chính Trung ương - Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng đôn đốc, kiểm tra, tham mưu Thường trực Ban Chỉ đạo để chỉ đạo xử lý kịp thời, nghiêm minh. Như vậy, từ khi vụ việc tại Công ty Việt Á được phát giác đến nay, các cơ quan chức năng đã khẩn trương đẩy nhanh tốc độ, mở rộng điều tra vụ án; ban đầu điều tra các đối tượng của một địa phương, sau đó mở rộng sang các đối tượng của địa phương khác. Điều đó thể hiện những nỗ lực, quyết tâm cao, hành động xuyên suốt, nhất quán. Thời gian qua, đối với những tổ chức, cá nhân có các hành vi tham nhũng chính sách, lợi dụng tình hình dịch bệnh COVID -19 để trục lợi đều bị xử lý nghiêm minh, không có việc Đảng, Nhà nước “tránh trách nhiệm”. Vậy nhưng, trên một số trang mạng xã hội của các tổ chức, hội nhóm ngoài nước, hãng thông tấn như: Việt Tân, RFA, VOA… lợi dụng vụ việc này tung ra những luận điệu bôi xấu chế độ, xuyên tạc bản chất vụ việc. Nhiều bài viết vu cáo Việt Nam chống tham nhũng bằng cách hô hào khẩu hiệu, hướng lái dư luận, đổ lỗi việc để xảy ra những vụ án như vậy là do chế độ, lỗi do Đảng, Nhà nước. RFA viết rằng: “Vụ Việt Á, mọi việc trở nên tồi tệ”, rồi rêu rao, hạ thấp vai trò của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn phỏng vấn, phát tán các video, hình ảnh, bài viết với nội dung sai trái, cực đoan của những đối tượng gắn mác “chuyên gia”, “học giả”, những cá nhân tự cho mình là những “nhà phản biện” để ra sức bóp méo, đả phá xung quanh vụ việc trên. Tung ra nhiều bài viết cho rằng “Ban Chỉ đạo vào cuộc chỉ để giải quyết hậu quả”; đưa ra luận điệu quy kết vấn nạn tham nhũng “thủng từ gốc”. Từ vụ việc tại Việt Á, các đối tượng xâu chuỗi những vụ án tham nhũng lớn gần đây rồi quy kết, công cuộc chống tham nhũng “chỉ trên khẩu hiệu”, không đạt kết quả đáng kể nào do “chế độ độc đảng”. Với những thông tin mà các hội, nhóm, cá nhân trên đưa ra cho thấy sự suy diễn, thổi phồng, nhiều bài viết bịa đặt, xuyên tạc tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Về vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á, qua các chiêu trò của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại được nhào nặn, chế biến thành công cụ, phương tiện rất nguy hại nhằm đánh lận hiện tượng để quy kết bản chất. Các đối tượng nhào nặn vụ án rồi suy diễn thành “lỗi hệ thống”, bóp méo chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta. Từ đó, gây hoài nghi trong nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo hoài nghi về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội. Việc xử lý vụ Việt Á, chứng minh chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” của Đảng, Nhà nước ta được thực thi trên thực tế chứ không phải “khẩu hiệu suông, mị dân” như luận điệu kẻ xấu. Điều đó cho thấy, chống tham nhũng, tiêu cực phải đi liền với chống lợi ích nhóm, suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thấy rõ sự vào cuộc đồng bộ, mạnh mẽ, quyết tâm cao trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của cả hệ thống chính trị; đồng thời, chúng ta cũng thấy rõ những tác hại của vấn nạn tham nhũng gây ra. Bên cạnh đó, với tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh chống “đạn bọc đường” và âm mưu của kẻ địch lợi dụng cuộc đấu tranh đó để chống phá Đảng, Nhà nước, đòi hỏi mỗi người phải luôn nâng cao cảnh giác, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn, xuyên tạc phá hoại công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, không để bị lôi kéo, kích động, dẫn dắt bởi những luận điệu xuyên tạc.
ĐẠO ĐỨC LÀ CÁI GỐC CỦA NGƯỜI CÁCH MẠNG Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Người nói: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Cách mạng là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và phức tạp, đòi hỏi người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, người cán bộ, đảng viên thành người có chức, có quyền. Quyền lực là một nhân tố dễ làm tha hóa, biến chất con người. Sớm tiên lượng vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những căn bệnh của người có chức, có quyền và đặt lên hàng đầu việc giáo dục, rèn luyện đạo đức. Người nhắc nhở: Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc đục khoét nhân dân. Đến khi lộ ra, bị phạt thì mất hết cả danh giá, mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng. Vì vậy, những người trong công sở phải lấy chữ liêm làm đầu. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội chưa phải ở mức sống vật chất cao mà trước hết là ở giá trị đạo đức của nó, ở phẩm chất cao đẹp của những người cộng sản. Hồ Chí Minh thường nêu tấm gương đạo đức của V.I. Lê-nin để nói về ảnh hưởng lớn lao của đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy cách mạng đối với các dân tộc châu á, đã khiến cho trái tim họ hướng về lãnh tụ cách mạng tháng Mười Nga không gì ngăn cản nổi. Ngày nay, nếu cán bộ, đảng viên chúng ta để mất đi những giá trị đó, là nguy cơ đối với Đảng và chế độ, như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ta đã cảnh báo.
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẦN CÓ TÁC PHONG CÔNG TÁC KHOA HỌC Trong tình hình hiện nay, để xây dựng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị có phẩm chất năng lực, có phương pháp tác phong công tác khoa học, cụ thể, tỉ mỉ, sâu sát, dân chủ, Cần thực hiện tốt một số biện pháp sau đây: Phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của đảng đối với quân đội. Đây là biện pháp hàng đầu, có ý nghĩa pháp lý và nguyên tắc về xây dựng và phát huy vai trò người cán bộ chính trị, bảo đảm cho đảng lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Những vấn để cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo hiện nay là phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn nữa chức năng, chức trách phạm vi, quyền hạn của tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo chỉ huy và bộ máy công tác đảng, công tác chính trị cần phải cụ thề hoá hơn nữa nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nhất là trong công tác cán bộ, trong các quyết định về kinh tế, tài chính, trong quản lý hành chính. Cơ chế lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam là tổng thể cơ cấu tổ chức và các nguyên tắc, chế độ quy định hoạt động của hệ thống ấy để thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mội mặt của đảng đối với quân đội trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, tình huống. Đổi mới hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội thực chất là tiến hành những bổ sung, điều chỉnh, thay đổi cần thiết, hợp quy luật để tối ưu hoá việc tổ chức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trên cơ sở nhận thức đầy đủ, đúng đắn các quy luật khách quan và thực tiễn của hoạt động lãnh đạo. Phát hiện ra và khắc phục cho được những bất cập nảy sinh trong quá trình tổ chức thực hiện sự lãnh đạo để giữ vững và tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, tránh chủ quan, bảo thủ, chống ách tắc, trì chệ dẫn đến làm suy giảm hiệu lực lãnh đạo.
NÂNG CAO BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ NĂNG LỰC TOÀN DIỆN CỦA CÁN BỘ QUÂN ĐỘI TRONG TÌNH HÌNH MỚI Nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực toàn diện trước hết là năng lực chính trị và quân sự để cán bộ chính trị thực sự là tri thức quân sự cách mạng. Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ có tác động và ảnh hưởng rất lớn đến mức độ hoàn thành nhiệm vụ, đặc biệt là những lúc khó khăn, những bước ngoặc của cách mạng hoặc trong chiến tranh gian khổ, ác liệt. Bản lĩnh chính trị hiện nay trước hết thể hiện ở sự trung thành với đường lối đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta, trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng hy sinh bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Bồi dưỡng bản lĩnh chính trị cho cán bộ, ngoài yêu cầu chung mang tính bản chất, cốt lõi về phẩm chất, nhân cách, quan điểm lập trường cần phải bám sát vào tình hình thực tiễn hiện nay, với từng đối tượng vì vậy, tiếp tục bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ chính trị hiện nay là hết sức cần thiết. Mặt khác cán bộ chính trị trong quân đội là những người chuyên trách công tác xây dựng Đảng, công tác đảng, công tác chính trị. Lĩnh vực đặc thù này đặt ra yêu cầu không những phải giỏi công tác tư tưởng, công tác tổ chức mà phải còn biết thạo công tác chỉ huy tham mưu quân sự. Nếu không có năng lực chính trị, năng lực quân sự, người cán bộ chính trị không thể hoàn thành được nhiệm vụ. Vì vậy quá trình xây dựng bồi dưỡng phải bảo đảm có một khối lượng kiến thức đủ để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Ngoài xây dựng đào tạo ở nhà trường, cần coi trọng đào tạo bồi dưỡng tại đơn vị, cần có giải pháp cụ thể qui định thành chế độ, cụ thể hoá thành kế hoạch hàng năm.Tổ chức Đảng phải coi trọng đó là nhiệm vụ lãnh đạo thường xuyên, hệ thống tổ chức chỉ huy và cơ quan chính trị cần có giải pháp cụ thể kiểm tra, giám sát kết quả học tập của từng cán bộ. Mặt khác, từng cán bộ phải tự giác học tập, căn cứ vào khả năng, trình độ của mình để kịp thời bổ sung những kiến thức còn thiếu, còn yếu với tinh thần học nữa, học mãi.
ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Mục tiêu cách mạng của nước ta là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hôi, thực hiện một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược đó, điều quyết định nhất là phải phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực theo tư tưởng Hồ Chí Minh và điều đó đã được tổng kết thành bài học từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Đảng là phát huy tinh thần tự lực tự cường và tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế. Việc tranh thủ ngoại lực ngày nay có thuận lợi là thế giới đang trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế. Trong quá trình đổi mới, việc hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế vì hoà bình, hợp tác và phát triển, chúng ta đã tạo lập được vị thế quốc tế đáng tự hào và những điều kiện cần thiết để phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực tốt hơn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hôi và bảo vệ Tổ quốc. Để đất nước phát triển bền vững về mọi phương diện trong hoàn cảnh mới khi đã trở thành thành viên WTO, với những quy định thị trường tự do trong khuôn khổ của tổ chức này, càng đòi hỏi chúng ta phải kiên định mục tiêu đã chọn. Hơn nữa, cơ hội không phải tự nó đến, mà vẫn đòi hỏi rất cao tính chủ động của Đảng, Nhà nước và toàn dân, toàn quân nắm bắt thời cơ, thuận lợi; ngăn ngừa, khắc phục mọi trở lực, đặc biệt là những yếu tố xâm phạm tớí chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và làm chệch định hướng chủ nghĩa xã hôi; đồng thời đòi hỏi những nỗ lực chủ quan rất lớn mới chuyển được ngoại lực thành nội lực. Theo phương châm “Xây dựng kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần của xã hội”, thì xét đến cùng, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có vai trò quyết định trong việc nhanh chóng đưa nước ta thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển. Hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập WTO là điều kiện cho phép chúng ta tranh thủ ngoại lực để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức. Nhà nước pháp quyền chủ nghĩa xã hôi của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần của xã hội; thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội, làm xích lại gần nhau về trình độ phát triển và chất lượng sống giữa các tầng lớp lao động, giữa các dân tộc, giữa thành thị và nông thôn.
TIÊU CHUẨN VỀ CÁN BỘ CÁCH MẠNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI Tiêu chuẩn chung của cán bộ trong thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng, trước hết là, phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm. Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Các tiêu chuẩn có quan hệ mật thiết với nhau. Coi trọng cả đức và tài, đức là gốc. Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật; thuyết phục và tổ chức nhân dân thực hiện. Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Gương mẫu về đạo đức, lối sống. Có tác phong dân chủ, khoa học, có khả năng tập hợp quần chúng, đoàn kết cán bộ. Có kiến thức về khoa học lãnh đạo quản lý. Cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đoàn thể cần học tập có hệ thống ở các trường của Đảng; trải qua hoạt động thực tiễn có hiệu quả. Đảng ta chủ trương quy hoạch cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý phải thể hiện được sự kết hợp chặt chẽ giữa sắp xếp, kiện toàn cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Hai mặt này gắn bó khăng khít với nhau. Có tích cực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nâng cao trình độ kiến thức mọi mặt của cán bộ thì mới có thể sắp xếp, kiện toàn cán bộ đủ sức đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ tổ chức. Trước những nhiệm vụ cách mạng nặng nề, công tác quản lý cán bộ ngày nay đã trở nên vô cùng rộng lớn về quy mô, phong phú về nội dung. Đảng đã vạch rõ nhiệm vụ, phương hướng của công tác cán bộ, góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng của nhân dân ta trong giai đoạn mới. Nội dung công tác cán bộ được cụ thể hóa trong những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đang tạo ra động lực to lớn trong xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc.

 


Đẩy mạnh việc cụ thể hóa, thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng thành những chính sách, pháp luật, quy định cụ thể về đại đoàn kết toàn dân tộc và về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhất là những chính sách, pháp luật, quy định liên quan đến từng giai cấp, tầng lớp, đặc biệt là đối với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài… Nhà nước có quy định cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm về hoạt động kinh tế, tài chính đối với mỗi tổ chức của mặt trận.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể; thực hiện tốt vai trò Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hoá, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 


Để đề ra được nội dung và phương thức lãnh đạo phù hợp đối với Mặt trận hiện nay, Đảng cần nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc và phương thức lãnh đạo của Đảng; nắm được vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm của mỗi tổ chức trong Mặt trận; nắm được thực tiễn và quan hệ giữa Đảng với Mặt trận. Đảng tuyệt đối không bao biện, làm thay hoặc buông lỏng, khoán trắng, khắc phục tình trạng can thiệp một cách chủ quan, tùy tiện, hạn chế tính chủ động, sáng tạo của Mặt trận.

Vấn đề cốt lõi trong sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận là định hướng về chính trị, tổ chức, cán bộ và hoạt động của Mặt trận. Trước hết, Đảng định hướng về chính trị, tư tưởng cho Mặt trận. Đó là định hướng về mục tiêu, phương hướng phát triển lâu dài và trước mắt của Mặt trận; về xây dựng Điều lệ; về phương hướng hoạt động trong từng thời kỳ. Đảng định hướng chính trị, tư tưởng cho Mặt trận bằng các phương thức chủ yếu: thông qua việc xây dựng chỉ thị, nghị quyết của Đảng về Mặt trận. Chỉ thị, nghị quyết phải thể hiện được: trách nhiệm của Đảng và cơ quan nhà nước đối với Mặt trận, nhiệm vụ phải thi hành của cán bộ, đảng viên; trách nhiệm của bản thân Mặt trận trong việc xây dựng tổ chức, xây dựng phong trào hành động cách mạng của nhân dân. Thứ hai, Đảng định hướng về tổ chức và cán bộ. Nguyên tắc chung của Đảng là, thống nhất lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của Mặt trận, đồng thời phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo và trách nhiệm của tổ chức trong việc xây dựng, đổi mới tổ chức và cán bộ cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới.  Thứ ba, Đảng lãnh đạo bằng việc kiểm tra, giám sát hoạt động của Mặt trận thông qua Đảng đoàn, Mặt trận và thông qua các tổ chức đảng, đảng viên hoạt động trong các cơ quan của Mặt trận; qua đó trao đổi, bàn bạc với Mặt trận cùng nhau giải quyết. Để thực hiện tốt nội dung trên đây, Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng về các mặt; coi trọng nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng.

Giải pháp chống " Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng

 


Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc mang tính toàn cầu, là chiến lược phản cách mạng, phá hoại toàn diện trên các lĩnh vực, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, quân sự, không giới hạn thời gian, không gian, nhằm đẩy đối phương suy yếu, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, rối loạn nội bộ rồi tự sụp đổ. Các thế lực thù địch đã tiến hành các nội dung, biện pháp, thủ đoạn hết sức tinh vi, vô cùng xảo quyệt. Đặc biệt chúng tận dụng triệt để những thay đổi của tình hình thế giới để chống phá. Trong đó, chống phá về chính trị - tư tưởng là trọng tâm; đồng thời, coi trọng và đi sâu chống phá nội bộ Đảng cộng sản, chính quyền, chuyển hóa đội ngũ cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, “phi chính trị hóa quân đội và công an”.

Trong tình hình hiện nay, Âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, tuy chưa thể làm cho Quân đội ta “biến chất”, mất phương hướng và mục tiêu chính trị, nhưng tác động của nó vô cùng nguy hiểm. Bởi vì, âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch đã và đang ít nhiều có ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm lực chính trị - tinh thần của Quân đội ta, đến tư tưởng, đạo đức lối sống của cán bộ, chiến sĩ.

Để phòng chống “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta hiện nay, cần làm tốt những giải pháp cơ bản sau:

Một là: Thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.

Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và từng đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của bộ đội, V.I. Lênin đã từng khẳng định: “Thắng lợi hay thất bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc vào tâm trạng của người cầm súng đang đổ máu trên chiến trường”. Do đó, sức mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta đều bắt nguồn từ một niềm tin vững chắc với bản lĩnh chính trị vững vàng. Đó là niềm tin sắt đá vào con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn, niềm tin tất thắng vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội đã tạo nên sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Quân đội và Nhân dân ta.

Hơn nữa, vấn đề cốt lõi của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng đã tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của Quân đội ta. Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho mỗi cán bộ, chiến sĩ là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Yêu cầu bản lĩnh chính trị của bộ đội hiện nay là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội, có niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa và thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Phải luôn nhạy bén về chính trị, ứng xử kịp thời và đúng đắn các vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của quân đội và từng đơn vị. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Để nâng cao bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong quân đội, trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong mọi tình huống, đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị. Xây dựng bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị tư tưởng cho bộ đội phải triệt để quán triệt vào trong quá trình giáo dục huấn luyện để nâng cao tri thức và hiểu biết toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; phải gắn chặt thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và các mặt công tác khác. Trong đó, nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị là vấn đề rất quan trọng. Giải quyết tốt giữa toàn diện và trọng điểm, hết sức coi trọng các khu trọng điểm.

Nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho bộ đội. Đồng thời, quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng và các mối quan hệ xã hội của cán bộ, chiến sĩ trong từng đơn vị và giải quyết kịp thời đúng đắn, dứt điểm những diễn biến chính trị, tư tưởng phức tạp, những vấn đề mới nảy sinh, tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Hai là: Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xây dựng mọi phương án chiến đấu, luyện tập thành thạo các phương án không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra.

Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, luyện tập và thành thạo các phương án chiến đấu là một trong những nhân tố bảo đảm cho các đơn vị trong quân đội đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống. Đồng thời, đây còn là giải pháp trực tiếp đánh bại âm mưu thủ đoạn của kẻ thù hòng phá hoại quân đội về tổ chức, làm suy giảm khả năng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội ảnh hưởng trực tiếp đến yếu tố chính trị, tư tưởng của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện với xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch vững mạnh, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, xây dựng tổ chức đảng là then chốt. Duy trì chặt chẽ đơn vị theo nền nếp chính quy và các chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm đơn vị luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Ba là: Thường xuyên củng cố và phát huy vai trò các tổ chức, quản lý chặt chẽ đơn vị về mọi mặt thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”.

Phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị, trước hết là ở các đơn vị cơ sở trong quân đội. Quá trình thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phải thường xuyên làm tốt công tác xây dựng địa bàn, trực tiếp tiếp xúc với các thành phần xã hội và tiến hành công tác vận động quần chúng, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của địch, đồng thời cán bộ, chiến sĩ cũng là những đối tượng mà địch chú ý tác động phá hoại; kẻ địch thường lợi dụng những kẽ hở, khâu yếu, điểm yếu của ta, những địa bàn, đơn vị có những vấn đề phức tạp, bộc lộ những yếu kém để chọn làm điểm đột phá, từ đó phát triển chống phá ta trên phạm vi rộng hơn.

Trước hết, đối với tổ chức đảng, cấp ủy, phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo đơn vị thực hiện nhiệm vụ, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Phải thường xuyên quán triệt, giáo dục làm cho mọi tổ chức đảng, đảng viên nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, xây dựng tinh thần cảnh giác cách mạng, ý chí quyết tâm làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Thường xuyên kiện toàn cấp ủy, chi bộ, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Chăm lo xây dựng và phát huy vai trò tính tiền phong của đội ngũ đảng viên, thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, chỉ huy các cấp ở đơn vị cơ sở cả về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đặc biệt coi trọng bồi dưỡng nâng cao giác ngộ chính trị, lập trường tư tưởng kiên định, kinh nghiệm tổ chức chỉ huy, nhất là trong lúc khó khăn, gian khổ, phức tạp để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống.

 Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội đồng quân nhân là nơi tập trung mọi cán bộ, chiến sĩ trong các phong trào hành động cách mạng, thực hiện nhiệm vụ, phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Bốn là: Phối hợp với địa phương và các đơn vị bạn xây dựng địa bàn vững mạnh, an toàn, kịp thời ngăn chặn và đập tan khi có tình huống bạo loạn xảy ra.

Xây dựng cơ sở vững mạnh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay, là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh là một nhiệm vụ của các đơn vị quân đội, là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phòng chống “Diễn biến hòa bình” và trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với Quân đội ta.

Để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống “Diễn biến hòa bình” của địch có hiệu quả, thì một trong những biện pháp quan trọng là phải không ngừng tăng cường đẩy mạnh các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, nhằm tạo cơ sở chính trị, tinh thần cho quá trình thực hiện nhiệm vụ, phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi người trong và ngoài đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hào bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với quân đội bằng nhiều thủ đoạn vô cùng tinh vi, xảo quyệt. Do đó, thực hiện đồng bộ những giải pháp trên sẽ góp phần phòng, chống và làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.

 

 

Nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho toàn dân, hệ thống chính về sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc

 


Hiện nay, nhận thức và trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc còn nhiều hạn chế, dẫn đến chưa quan tâm đúng mức đến việc chăm lo khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Vì vậy phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân trước vận mệnh đất nước.

Phải coi đại đoàn kết dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân trong lúc này là vấn đề sống còn của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Làm cho mọi người dân đất Việt nhận thức rõ tư tưởng của Bác Hồ kính yêu: Đất nước Việt Nam, giang sơn Việt Nam cùng mọi thành quả của nền văn hóa Việt Nam không phải là của riêng ai, của một giai cấp hay đảng phái nào, mà là tài sản chung của mọi người Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam. Vì thế, mọi người Việt Nam đều có trách nhiệm và có quyền được đóng góp vào việc tô điểm cho giang sơn đó, làm giàu thêm và đẹp thêm cho nền văn hóa đó. Làm cho mọi tầng lớp nhân dân thấy được thời cơ cũng như thách thức của cách mạng hiện nay; thấy được nhiệm vụ cách mạng càng khó khăn phức tạp bao nhiêu càng đòi hỏi phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng khối đoàn kết dân tộc. Từng bước hoàn thiện hệ thống quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng trong xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ mới. Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế tri thức. Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước càng đi vào chiều sâu, nhiệm vụ càng khó khăn, phức tạp hơn, đòi hỏi phải phát huy cao độ sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều đó, đã và đang đặt ra yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, trong đó có nội dung lãnh đạo công tác xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Giữ vững tính định hướng chính trị trong xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo đó, phải quán triệt sâu sắc mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc theo mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất Tổ quốc

 


Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

 Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Đây chính là mẫu số chung để kết dính “mọi con dân nước Việt”. Mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là ước vọng ngàn đời của mọi người Việt Nam yêu nước, thương nòi. Yêu nước, đoàn kết cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước đã trở thành lẽ sống của cả dân tộc, của mọi người mang trong mình dòng máu con Lạc, cháu Hồng. Đây cũng là hoài bão, là ham muốn tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[1]. Đây cũng là điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chủ tịch được ghi trong Di chúc trước lúc Người đi xa: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[2].

 Xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung..., để tập hợp mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội.

Nước ta là nước có nhiều dân tộc, nhiều tôn giáo, tín ngưỡng và có một bộ phận không nhỏ người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Nhân dân ta đã từng trải qua hơn một phần ba thế kỷ buộc phải cầm súng chống thực dân, đế quốc. Đất nước cũng đã từng tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Tuy đất  nước đã thống nhất được hơn ba mươi năm, nhưng những mặc cảm, những khoảng cách còn lại ở nơi này, nơi khác thậm chí trong một số gia đình, nhất là ở các tỉnh phía Nam, trong một bộ phận đồng bào có đạo và đồng bào ta định cư ở nước ngoài vẫn còn tồn tại với những mức độ khác nhau. Mặt khác, chấp nhận phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng có nghĩa là chấp nhận thu nhập khác nhau, mức sống, lối sống không như nhau và chấp nhận sự tồn tại những lợi ích khác nhau giữa các giai tầng xã hội. Vì vậy, đại đoàn kết toàn dân tộc phải dưạ trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG 2002, tập 4, tr 161

[2] Sđd: Tập 12, tr 512

Những điểm mới về hệ quan điểm chỉ đạo trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

 - Bài viết phân tích một số điểm mới trong hệ 5 quan điểm chỉ đạo được nêu trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, đồng thời làm rõ để người học nắm vững, vận dụng các quan điểm chỉ đạo đó; góp phần tạo dựng và củng cố được niềm tin vững chắc, khơi dậy ý chí, khí thế và khát vọng phát triển mạnh mẽ của toàn thể dân tộc để thực hiện cho được các mục tiêu mà Đại hội XIII đã đặt ra.

Những điểm mới về hệ quan điểm chỉ đạo trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Ảnh: Trung tâm Hội nghị quốc gia nơi đón 1.587 đại biểu đại diện cho gần 5,2 triệu đảng viên trong cả nước về dự Đại hội XIII. Nguồn: dangcongsan.vn

1. Quan điểm chỉ đạo đầu tiên của Đại hội XIII mang tính nguyên tắc quán xuyến, nhất quán, không thay đổi, bất di bất dịch trong đường lối của Đảng là “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(1).

Như vậy là, trong quan điểm chỉ đạo này có bốn vế rất quan trọng đòi hỏi phải “kiên định”. Điểm cần nhấn mạnh ở đây khi truyền đạt để nắm vững Nghị quyết là chúng ta vừa phải kiên định nhưng lại vừa phải vận dụng sáng tạo; phải không ngừng đổi mới để đất nước ngày càng phát triển. Sẽ chệch định hướng xã hội chủ nghĩa nếu không “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, song nếu kiên định một cách giáo điều và chủ quan, duy ý chí như đã từng xảy ra mà không tiếp tục đổi mới, không chú ý sáng tạo thì rất có thể sẽ rơi vào bảo thủ, dẫn đến trì trệ và do vậy cũng chẳng thể có sự phát triển.

Nhận thức đúng và giải quyết một cách biện chứng mối quan hệ giữa kiên định với đổi mới và phát triển là yêu cầu cần quán triệt sâu sắc cả trong hoạch định đường lối, chính sách và trong chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Những thành tựu của công cuộc đổi mới đạt được thời gian qua đã thể hiện rõ sự tài tình của Đảng ta trong việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ này. Đó cũng là sự bảo đảm cho những thành công trong thời gian tới.

Trong quan điểm chỉ đạo số một này có một điểm rất quan trọng là “kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Trong đó, quan trọng bậc nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ. Quá trình dân chủ hóa đời sống chính trị - xã hội, trong công tác tổ chức và sinh hoạt Đảng từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đến nay đã khơi dậy sức sáng tạo mạnh mẽ, lòng tự hào dân tộc và trách nhiệm công dân của mỗi người dân, của các đảng viên đối với Tổ quốc.

Mục tiêu của môn lý luận chính trị là làm cho học viên hiểu được rằng, từ xưa đến nay, trong lịch sử nhân loại chưa một xã hội có sự phân chia giai cấp nào lại có dân chủ vô bờ bến, dân chủ vô nguyên tắc, dân chủ bất chấp điều kiện lịch sử - xã hội, bất chấp luật pháp, dân chủ vô chính phủ. Giáo dục chính trị cần trình bày một cách thuyết phục, có lý lẽ, vững vàng điểm này để phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, vu khống của các thế lực chống đối cả ở trong và ngoài nước, rằng chế độ xã hội chủ nghĩa không có dân chủ, phản dân chủ, là chế độ toàn trị, là chế độ đảng trị cộng sản chuyên quyền!

Không thể có dân chủ vô bờ bến, nhưng mặt khác cũng không thể dân chủ hình thức, càng không thể thiếu tập trung. Nếu dân chủ mà không có tập trung thì nhất định sẽ dẫn đến tình trạng vô tổ chức, vô nguyên tắc, thậm chí là hỗn loạn. Dân chủ và tập trung là hai mặt không thể tách rời. Thực hiện tập trung dân chủ trong một thể thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đã động viên được tinh thần sáng tạo, củng cố sức mạnh của Đảng và của dân tộc trước mọi biến động bất lợi của tình hình thế giới trong những năm qua. Việc kiên định thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai cũng sẽ là một bảo đảm cho sự thống nhất và sức mạnh của Đảng và của toàn thể dân tộc.

2. Quan điểm chỉ đạo thứ hai của Đại hội XIII thể hiện rõ tầm chiến lược nhằm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đó là “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”(2).

Yêu cầu phát triển nhanh để tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế và cũng là để rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển là một thách thức to lớn đối với nước ta trong kỷ nguyên công nghệ số. Yêu cầu phát triển nhanh nhưng đồng thời phải bảo đảm phát triển bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội, bền vững về môi trường và bền vững về văn hóa; đặc biệt, phải “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế”. Dù bất cứ hoàn cảnh nào thì quyền lợi hay lợi ích quốc gia - dân tộc vẫn phải được đặt lên hàng đầu. Chúng ta đều nhớ vào năm 1941 trong “Kính cáo đồng bào”, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”(3). Trong thời đại hiện nay cũng như vậy, khi mà tình hình thế giới đang biến động từng ngày, đầy bất trắc và rất khó lường, chúng ta càng không được mơ hồ về lợi ích quốc gia dân tộc, đất nước. Bởi vậy, Nhà nước phải ra sức bảo đảm xây dựng một nền quốc phòng vững mạnh, giữ gìn bờ cõi, biên cương, hải đảo của Tổ quốc, bảo đảm có được nền an ninh xã hội vững chắc và thường xuyên.

Một trong những điểm rất mới trong các Văn kiện Đại hội XIII là nhấn mạnh đến việc phải phát triển văn hóa, công nghiệp văn hóa, đặc biệt là phải “phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam”(4). Sức mạnh mềm của văn hóa cũng chính là sức mạnh mềm của quốc gia; đó là truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào tương lai, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc; là tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam. Khơi dậy, phát huy được sức mạnh mềm cùng với những tài nguyên, nguồn lực văn hóa sẵn có, với khát vọng phát triển mãnh liệt của mỗi người thì nhất định đất nước sẽ giàu mạnh, phồn vinh và nhân dân sẽ hạnh phúc.

3. Quan điểm chỉ đạo thứ ba là động lực phát triển đất nước: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững”(5). Đất nước chỉ có thể phát triển nhanh và bền vững khi huy động được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phải phát huy và thực hành dân chủ rộng rãi cả trong xã hội và trong tổ chức Đảng và hệ thống chính trị.

Một nhiệm vụ rất quan trọng nữa là phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài; khơi dậy và lan tỏa khát vọng phát triển của mọi người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong thời gian qua, như đánh giá của Đại hội, chúng ta vẫn còn “Thiếu cơ chế, chính sách tuyển chọn và trọng dụng người tài”(6); “Thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích và bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm cả ở khu vực nhà nước và khu vực tư nhân”(7); hơn nữa “Cơ chế và chính sách cán bộ trong hoạt động khoa học và công nghệ còn nặng về hành chính hóa, chưa tạo được môi trường thuận lợi để phát huy sức sáng tạo, thu hút nhân tài”(8).

Đại hội XIII đã chỉ rõ, để khắc phục những thiếu sót đó, trên bình diện quốc gia, Đảng và Nhà nước cần có chiến lược, quốc sách, chính sách chọn nhân tài; “Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài, nhất là các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học có khả năng chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng”(9). Đồng thời, “Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp, nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người”(10). Như vậy, cần xây dựng chiến lược, hình thành cho được quốc sách và luật hóa được việc phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài trong cuộc cách mạng chuyển đổi số để có thể góp phần thúc đẩy nhanh sự phát triển đất nước.

Một điểm rất mới nữa trong quan điểm chỉ đạo thứ ba là chỉ tiêu hạnh phúc của nhân dân. Mục đích phát triển kinh tế - xã hội của chúng ta không có gì khác hơn và không có gì cao quý hơn là hạnh phúc của nhân dân, của toàn thể dân tộc. Bởi vậy, việc xây dựng được chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm mang lại cuộc sống ngày càng tốt hơn, mang lại hạnh phúc cho nhân dân là thiết thực cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo của Đại hội Đảng. Giáo dục lý luận chính trị nhất định phải góp phần đắc lực vào nhiệm vụ này để khơi dậy và hiện thực hóa khát vọng phát triển của mọi người.

4. Quan điểm thứ tư về nguồn lực phát triển. Nghị quyết Đại hội XIII chỉ rõ: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất”(11).

Chúng ta đang sống trong thế giới toàn cầu hóa mạnh mẽ về rất nhiều mặt, trên rất nhiều lĩnh vực. Các nước đều bị cuốn vào quá trình toàn cầu hóa hiện nay. Vì vậy, nước ta cũng không thể tự tách mình ra khỏi quá trình ấy. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó quan trọng nhất là chuyển đổi công nghệ số (digital transformation) và trí tuệ nhân tạo (AI), ngoài ra còn có các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud computing), công nghệ chuỗi khối (blockchain), thực tế ảo (VR) đang diễn ra với tốc độ rất nhanh và làm cho toàn cầu hóa càng trở nên mạnh mẽ hơn. Đảng và Nhà nước ta chủ trương tranh thủ ngoại lực, tiếp thu và áp dụng những thành tựu do hội nhập quốc tế mang lại để rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển.

Tuy nhiên, để làm được điều này thì cần phải có các nguồn lực nội sinh, trong đó “nguồn lực con người là quan trọng nhất”. Song, thứ mà nước ta đang thiếu nhất trong nguồn lực con người hiện nay, cũng là khâu phải đột phá, là điểm nghẽn nhất cần tháo gỡ chính là thiếu những người tài trong nhiều lĩnh vực quan trọng như khoa học, công nghệ, tổ chức, kinh doanh và quản lý xã hội. Bởi vậy, khâu đột phá đầu tiên phải được tính đến là công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng sao cho thật hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là tầng lớp trí thức tinh hoa của dân tộc. Song, cho đến nay, Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 nhận định, “Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển”(12). Bởi vậy, việc phát triển toàn diện con người Việt Nam phải “trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội”(13).

Từ nhận định và đánh giá thẳng thắn đó có thể thấy, muốn cho đất nước phát triển, đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội do Đại hội đề ra thì phải phát hiện sớm người tài, chọn đúng người tài cho từng lĩnh vực của hoạt động xã hội; phải thật sự trọng dụng người tài; tạo môi trường thuận lợi để người tài có điều kiện sáng tạo, phát minh; phải dùng người tài đúng lúc, đúng việc, đúng chỗ và không kém phần quan trọng là có chính sách trọng đãi xứng đáng đối với người tài nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ cho các lĩnh vực sáng tạo khoa học, phát minh công nghệ, điều hành, quản lý và tổ chức xã hội. Đây chính là một phần của khâu đột phá hết sức quan trọng trong công tác tổ chức - cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại.

5. Quan điểm chỉ đạo thứ năm nêu những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Đại hội XIII viết: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”(14).

Quan điểm chỉ đạo này gồm nhiều nội dung quan trọng. Dưới đây chỉ phân tích một số nội dung cơ bản.

Đối với một đảng cầm quyền thì việc chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đủ sức gánh vác trọng trách nặng nề, đưa dân tộc đến bến bờ vinh quang, nhân dân hạnh phúc, đất nước phát triển là nhiệm vụ, là trách nhiệm phải làm thường xuyên, liên tục và không ngừng nghỉ. Về tư cách của một đảng chân chính cách mạng, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(15). Trong truyền thống vinh quang của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam không hề che giấu khuyết điểm, bởi vì “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”(16). Bởi vậy, Đảng đã thi hành kỷ luật khai trừ khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng và pháp luật Nhà nước, bất kể là giữ cương vị nào, kể cả Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị. Sự nghiêm minh đó của Đảng không hề làm giảm sức mạnh của Đảng; trái lại, nó càng củng cố thêm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Đặc biệt, tiếp theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ”, Đại hội lần này chú trọng vào nhiệm vụ “xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược”. Vậy đội ngũ cán bộ này cần phải có những phẩm chất gì? Trước hết, người cán bộ lãnh đạo và quản lý cấp chiến lược phải có đạo đức tốt, có nền tảng văn hóa đạo đức vững vàng. Tuy nhiên, có được văn hóa đạo đức mới chỉ là một mặt. Còn nhiều mặt khác mà người cán bộ cấp chiến lược cần phải chú ý tự trang bị cho mình. Chẳng hạn, phải đáp ứng những đòi hỏi quan trọng khác về văn hóa, trong đó có trình độ học vấn, trình độ hiểu biết nhiều mặt về khoa học hiện đại liên quan đến tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, v.v.. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, với nhiều thách thức và biến động khó lường như hiện nay, đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo và quản lý cấp chiến lược phải có tầm hiểu biết rộng về tình hình chính trị thế giới, trong đó có tri thức về địa chính trị, về những nguy cơ và những thách thức đặt ra với Việt Nam.

Bên cạnh đó, tri thức về địa lý, về lịch sử - văn hóa dân tộc là một phần không thể thiếu của cán bộ cấp chiến lược. Bởi vì, khi những tri thức này chuyển hóa thành tình cảm yêu nước chân chính sẽ tạo động lực to lớn để người cán bộ tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, biến thách thức thành cơ hội phát triển. Muốn có tri thức, nhất là những tri thức mới thuộc các lĩnh vực khác nhau thì người cán bộ cấp chiến lược phải là người có văn hóa tự học, thực học và học tập suốt đời, nhất là có tư duy triết học biện chứng duy vật, vì triết học như C.Mác đã nói, là “linh hồn sống của văn hóa...”(17).

Có được những phẩm chất văn hóa đó thì mỗi cán bộ, nhất là các cán bộ cấp chiến lược, đều là vốn quý của dân tộc trên bước đường đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống và biến Nghị quyết Đại hội thành hiện thực. Đúng như Hồ Chí Minh đã nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(18); “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”(19).

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chứa đựng nhiều điểm mới, nội dung hết sức phong phú và quan trọng. Các cấp ủy và tổ chức Đảng, các thành viên trong hệ thống chính trị có trách nhiệm phổ biến, tuyên truyền sâu rộng nội dung, quán triệt Nghị quyết Đại hội trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đó cũng là nhiệm vụ của ngành giáo dục chính trị, của các học viện, nhà trường thuộc tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân nước nhà trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó, tạo dựng và củng cố niềm tin, khơi dậy ý chí, khí thế và khát vọng phát triển mạnh mẽ của toàn thể dân tộc để thực hiện cho được các mục tiêu mà Đại hội XIII đã đặt ra.