TCCS - Trong lịch sử nhân loại, hiếm có
học thuyết, tư tưởng nào mà trong suốt quá trình hình thành và phát triển lại
chịu nhiều sự đả kích, xuyên tạc, bóp méo của các thế lực chống đối như chủ
nghĩa Mác - Lê-nin. Hành trình gần hai thế kỷ kể từ khi C. Mác, Ph. Ăng-ghen
đặt nền móng đầu tiên tại Đức, V.I. Lê-nin kế tục và phát triển tại Nga, Chủ
tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam,
cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là nền tảng tư tưởng vững chắc của các
đảng cộng sản cầm quyền, trong đó có Việt Nam.
Giá trị và sức sống của chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay
Vượt lên trên mọi giới hạn về không
gian và thời gian, những nguyên lý, khái niệm, phạm trù, quy luật và phương
pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin tiếp tục là “chìa khóa” giải đáp
những vấn đề tư tưởng, soi sáng những nhiệm vụ lịch sử chín muồi của nhân loại,
đó là giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, mọi sự tha hóa.
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin có giá trị bền vững và tính thời đại bởi bản thân nó là
một học thuyết phát triển và nhân văn, luôn hướng tới sự tiến bộ của xã hội.
Những giá trị cơ bản đó được thể hiện sinh động, nhất quán từ chủ nghĩa Mác đến
chủ nghĩa Lê-nin và trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nói học thuyết Mác là học thuyết phát triển bởi nó mang bản chất
khoa học, cách mạng triệt để nhất. Ngày nay, mặc dù thế giới có nhiều đổi thay,
bản thân các nước tư bản cũng có sự điều chỉnh để thích nghi với hoàn cảnh mới,
nhưng bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản vẫn không hề thay đổi. Những hạn
chế, khuyết tật vốn có của chủ nghĩa tư bản, như ô nhiễm môi trường, xung đột,
khủng bố, bạo lực và bất ổn xã hội, khủng hoảng kinh tế, bất bình đẳng xã
hội,... vẫn diễn ra hết sức gay gắt và phức tạp ở các nước tư bản. Thậm chí,
học giả Allen W. Wood còn chỉ ra rằng: “Phần lớn mọi người đều cho rằng Mỹ là
quốc gia giàu có nhất trên thế giới, nhưng đó cũng là quốc gia bất bình đẳng
nhất trên thế giới: 400 người giàu nhất nước Mỹ sở hữu khối lượng tài sản cao
hơn tổng số tài sản của 150 triệu người nghèo nhất. Những người giàu nhất chiếm
1% dân số nhưng lại sở hữu hơn 1/3 tổng lượng tài sản của toàn xã hội, vượt quá
tổng lượng tài sản của những người có thu nhập thấp nhất nước Mỹ - đối tượng
chiếm tới 95% dân số”(1). Với những mâu thuẫn mang tính bản chất đó,
theo sự vận động của quy luật xã hội, xu hướng diệt vong tất yếu của chủ nghĩa
tư bản vẫn là vấn đề thời sự của không chỉ thời Mác sống mà ngay cả tới tận
ngày nay.
V.I. Lê-nin từng chỉ rõ: “Học thuyết của Mác là học thuyết vạn
năng vì nó là một học thuyết chính xác. Nó là một học thuyết hoàn bị và chặt
chẽ; nó cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thỏa hiệp với
bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào”(2). Cũng vì đó
là học thuyết phát triển, học thuyết mở nên sẽ là sai lầm nếu tuyệt đối hóa mặt
này hay mặt kia của nó. Chính Ph. Ăng-ghen từng nói rõ: “Lý luận của chúng tôi
là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải
học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”(3). Sau này, V.I. Lê-nin
cũng khẳng định và nhấn mạnh: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một
cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý
luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần
phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc
hậu đối với cuộc sống”(4).
Với chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà cốt lõi là lý luận về hình thái
kinh tế - xã hội, C. Mác đã chỉ ra quy luật phát triển của xã hội loài người thực chất là sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội, thông qua cách mạng xã hội. Sự thay thế đó là một quá trình lâu dài và được quyết định bởi những mâu thuẫn nội tại của
các hình thái kinh tế - xã hội ấy. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội được xem như là một cơ thể sống, một cơ cấu xã hội hoàn chỉnh, luôn luôn biến động bởi sự tác động tổng hợp của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất, của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong sự tác động đó, con
người luôn giữ vai trò trung tâm và quan trọng nhất, quyết định sự phát triển
của các hình thái kinh tế - xã hội. Vì thế, C. Mác khẳng định: “Trong tất cả
những công cụ sản xuất, thì lực lượng sản xuất hùng mạnh nhất là bản thân giai
cấp cách mạng”(5).
Trong khi khẳng định tính tất yếu của hình thái kinh tế - xã hội
tư bản chủ nghĩa, C. Mác cũng chứng minh tính tất yếu của hình thái kinh tế -
xã hội mà hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa nhất thiết phải chuyển
sang, đó là hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, trong đó giai đoạn
đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa. Sự vận động, phát triển, thay thế các hình thái
kinh tế - xã hội từ thấp đến cao là quy luật tất yếu của lịch sử xã hội loài
người, chứ không phải của riêng một dân tộc hay quốc gia nào.
Đối chiếu với lịch sử phát triển xã hội loài người cũng như thực
tiễn phát triển xã hội của nhân loại ngày nay, có thể thấy, sự tổng kết nói
trên của C. Mác là hoàn toàn đúng đắn, vượt xa thời đại mà ông sống về tư duy
cũng như tầm nhìn. Quan điểm duy vật lịch sử cùng với lý luận về hình thái kinh
tế - xã hội của C. Mác là nền tảng trong việc hình thành nhận thức về xã hội tư
bản chủ nghĩa hiện đại và xã hội xã hội chủ nghĩa với đầy đủ những đặc điểm về
bản chất, mâu thuẫn, xu hướng vận động, phát triển cũng như con đường đưa chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trở thành hiện thực.
Lý luận kinh tế chính trị của C. Mác với học thuyết giá trị thặng
dư lại chỉ ra mục đích và bản chất của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị
thặng dư và lợi nhuận tối đa, là nguồn gốc dẫn tới sự bất công, bất bình đẳng
trong xã hội. Nhiều học giả tư sản cố gắng phủ nhận học thuyết giá trị thặng dư
của C. Mác bằng cách lý giải rằng, chính máy móc tạo ra giá trị, còn sức lao
động của công nhân thì được trả công sòng phẳng, vì thế, nhà tư bản không hề
bóc lột công nhân, mà họ làm giàu chính đáng nhờ “bóc lột” máy móc. Tuy nhiên,
C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã chỉ ra những mâu thuẫn cũng như khuyết tật cố hữu của
chủ nghĩa tư bản, đồng thời cung cấp căn cứ lý luận xác đáng để đi đến khẳng
định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là
tất yếu như nhau”(6).
Ngày nay, trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, dưới tác động của cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với quá trình toàn cầu hóa và kinh tế tri
thức, giá trị thặng dư được tạo ra ngày càng nhiều hơn cho nhà tư bản. Vai trò,
vị trí của giai cấp công nhân, người lao động mặc dù được đề cao và đời sống
của họ cũng được cải thiện nhiều mặt; song, xét về địa vị, họ vẫn là những
người lao động làm thuê, phục vụ mục đích làm gia tăng giá trị thặng dư cho nhà
tư bản. Bản chất áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản hiện đại không hề thay
đổi. Những mâu thuẫn vốn có của xã hội tư bản chủ nghĩa, nhất là mâu thuẫn giữa
tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và chế độ chiếm hữu
tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng trở nên sâu sắc. Trước thực tiễn đó, bản
thân chủ nghĩa tư bản, dù ở phương Đông hay phương Tây, đều phải điều chỉnh để
thích nghi và tồn tại.
Theo chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội có mục đích trực tiếp là giải
phóng giai cấp vô sản, song bản chất và mục đích sâu xa của chủ nghĩa xã hội
hay của chủ nghĩa cộng sản là giải phóng con người, tạo điều kiện cho con người
được tự do và phát triển toàn diện. Quan điểm này của chủ nghĩa Mác vừa bao hàm
giá trị khoa học, biện chứng, vừa thấm đẫm tính nhân văn, nhân đạo cao cả. Chủ
nghĩa Mác, bằng lý luận hoàn bị của mình, khẳng định việc thiết lập chế độ xã
hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân, người lao động là tất yếu khách quan,
thay thế cho chế độ tư bản chủ nghĩa vốn đã bộc lộ quá nhiều khiếm khuyết và
mâu thuẫn; đồng thời, luận giải một cách khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản và khả năng quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở các nước lạc hậu... Phương pháp
tiếp cận khoa học, biện chứng cùng quan điểm có tính cách mạng và nhân văn về
bản chất, mục tiêu, động lực phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa là những
giá trị không thể phủ nhận của chủ nghĩa Mác.
Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xuất phát từ thực tiễn nước
Nga và bối cảnh chủ nghĩa tư bản thế giới chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh
sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I. Lê-nin đã bổ sung, phát triển lý luận
của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, hình thành nên chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Sự bổ sung,
phát triển đó của V.I. Lê-nin diễn ra toàn diện, cả trên lĩnh vực triết học,
kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, nhằm ứng dụng vào thực tiễn
cách mạng nước Nga. V.I. Lê-nin là người sáng lập ra học thuyết về chính đảng
kiểu mới của giai cấp công nhân và đưa ra luận điểm: Cách mạng vô sản có thể nổ
ra và thắng lợi ở một số nước, thậm chí ở một nước lạc hậu. Luận điểm này đã
được chứng minh bởi thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, là sự bổ
sung, phát triển sáng tạo của V.I. Lê-nin đối với học thuyết của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, bởi trước đó, hai ông nhận định, chủ nghĩa xã hội chỉ có thể giành thắng lợi trước tiên ở các nước công nghiệp phát triển phương Tây.
V.I. Lê-nin còn nhận thấy vai trò to lớn và mối quan hệ mật thiết
của cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời đại
mới, của độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của Cách mạng Tháng
Mười Nga đưa đến sự ra đời của nước Nga Xô-viết, đồng thời mở ra thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Sau cuộc nội chiến, nước Nga
lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, V.I. Lê-nin đã đề xướng cải cách
chủ nghĩa xã hội với “Chính sách kinh tế mới” (NEP), thay cho “Chính sách cộng
sản thời chiến”, đưa nước Nga ra khỏi cuộc khủng hoảng.
“Chính sách kinh tế mới” chủ trương dùng lợi ích kinh tế để tạo
động lực thúc đẩy tính tự giác, tích cực của công nhân, nông dân và người lao
động, giải phóng lực lượng sản xuất cùng mọi tiềm năng sáng tạo của con người
để thúc đẩy xã hội phát triển. Theo đó, việc thực hiện các hình thức “quá độ
gián tiếp”, “quá độ đặc biệt”, những “biện pháp trung gian” được thừa nhận như
là giải pháp hữu hiệu nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Chúng ta phải lợi dụng
chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà
nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm
phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất
lên”(7).
Có thể nói, tư tưởng của V.I. Lê-nin về cách mạng vô sản, về xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước tiểu nông, có chủ nghĩa tư bản phát triển ở
mức độ trung bình; về đặc điểm, tính chất, biện pháp trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội; về vai trò của đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa...,
đều là những sáng tạo vô giá, giúp bổ sung, làm giàu thêm cho lý luận của chủ
nghĩa Mác. Nhờ đó, chủ nghĩa Mác - Lê-nin trở thành ngọn hải đăng soi sáng con
đường cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người
cho hàng triệu người dân lao động ở các nước thuộc địa trên thế giới, cũng là
cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới hiện nay.
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên vận dụng và
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của đất nước.
Ngay sau khi được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn
đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lê-nin, Người xác định, con
đường tất yếu của cách mạng Việt Nam là phải tiến hành cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa để giải phóng dân tộc, giai cấp và
con người. Vì thế, xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người
tiên phong trong việc thức tỉnh dân tộc mình và các dân tộc bị áp bức vùng lên
đấu tranh giành lại độc lập dân tộc. Đồng thời, Người cũng khẳng định: Cách
mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có mối quan hệ chặt chẽ với cách
mạng ở chính quốc, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng ở chính quốc;
nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể chủ động đứng lên, “đem sức
ta mà giải phóng cho ta”, giành thắng lợi trước cách mạng ở chính quốc.
Xuất phát từ điều kiện đặc thù của xã hội Việt Nam, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã giải quyết sáng tạo và thành công mối quan hệ giữa dân tộc và giai
cấp, dân tộc và quốc tế, từ đó tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè
quốc tế đối với cách mạng nước ta. Về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta, Người cho rằng, đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ta là “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã
hội không phải kinh qua chế độ tư bản chủ nghĩa”. Quan điểm này của Người đã cụ
thể hóa và làm phong phú thêm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, là cơ sở để xác định bước đi và các biện
pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Về mục tiêu và lý tưởng của chủ nghĩa
xã hội, Người khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao
động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và
sống một đời hạnh phúc”(8).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu, chuyển hóa và vận dụng một cách
linh hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng nước ta; qua
đó, tạo nên hệ thống tư tưởng của mình và tạo tiền đề quan trọng cho sự ra đời
của Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa Xuân năm 1930. Thực tiễn cách mạng Việt Nam
hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo, dẫn dắt của Ðảng Cộng sản Việt Nam, nhất là
trong 35 năm đổi mới vừa qua, đã khẳng định và chứng minh giá trị, sức sống vĩ
đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cùng với đó, thực tiễn đổi mới, cải cách, mở cửa ở các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, những chuyển biến tích
cực tại các nước tư bản chủ nghĩa và nỗ lực phát triển không ngừng của các đảng
cộng sản và công nhân trên thế giới, cũng là những minh chứng cho giá trị
trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong thời đại ngày nay.
Sự công kích của các thế lực thù địch
và một số yêu cầu vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước
ta hiện nay
Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay đặt ra cho Đảng
ta vô vàn thách thức. Một trong số đó là việc các thế lực thù địch, phản động
ra sức tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng trên mọi phương diện, bằng mọi biện
pháp, hòng phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong giai đoạn hiện
nay; phủ nhận tính hợp pháp và tính chính đáng của Đảng; làm phai nhạt niềm tin
của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; gây mất an
ninh tư tưởng, chính trị, trật tự, an toàn xã hội; phá vỡ khối đoàn kết, thống
nhất trong Đảng và đồng thuận xã hội, cản trở sự nghiệp cách mạng nước ta.
Những luận điệu công kích, chống phá của các thế lực thù địch,
phản động rất đa dạng, song về cơ bản, tập trung theo hai hướng:
Thứ nhất, phủ nhận, hạ thấp vai trò và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác
- Lê-nin. Các thế lực thù địch, phản động viện dẫn lý do thời đại máy hơi nước
và chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã kết thúc, nhường chỗ cho thời đại của
các cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là cuộc Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư, thời đại của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Chúng
xuyên tạc rằng ngày nay, chủ nghĩa Mác - Lê-nin không bắt kịp và phản ánh đúng
sự phát triển của lực lượng sản xuất và khoa học, công nghệ hiện đại; cả ba vị
lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đều xuất phát từ bối cảnh
lịch sử của phương Tây, vì vậy, lý luận của các ông không thể giải quyết được
các vấn đề có tính lịch sử và thời đại của các nước phương Đông, nhất là ở Việt
Nam. Họ còn xoáy sâu vào những hạn chế mang tính lịch sử trong quan điểm của
các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, để công kích và xuyên tạc, như dự báo
chưa chính xác về việc nổ ra cách mạng vô sản trong thời đại của mình (chủ yếu
là quan điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen); đánh giá không đầy đủ về sức sống tương đối lâu dài của
chủ nghĩa tư bản, dự đoán quá sớm về tiến trình chiếm lĩnh lịch sử của chủ
nghĩa xã hội trên toàn thế giới; chưa đánh giá đầy đủ về vị trí, tầm quan trọng
của vấn đề dân tộc trong quan hệ với lợi ích giai cấp; hệ thống quan điểm về
chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn chưa đầy đủ...
Để chỉ ra sự phi lý của những luận điệu phủ nhận và xuyên tạc nêu
trên, cần thấy rõ rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là hệ thống tri thức thuộc ngành
khoa học xã hội, khoa học nhân văn, vì thế, nó mang đặc trưng tích lũy, kế
thừa, chứ không mang đặc trưng thay thế như những tri thức thuộc ngành khoa học
- kỹ thuật và công nghệ. Do vậy, nói chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời là một
sự quy chụp không có căn cứ. Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản
xuất và khoa học, công nghệ hiện đại ngày nay vốn không thể xóa bỏ được những
mâu thuẫn cố hữu của chủ nghĩa tư bản; ngược lại, nó làm cho những mâu thuẫn đó
càng thêm sâu sắc. Điều này được biểu hiện cụ thể trong xã hội tư bản chủ nghĩa
hiện đại, như mâu thuẫn giữa tư bản và lao động tiếp tục tồn tại và gia tăng,
khoảng cách giàu - nghèo mở rộng, phân phối của cải không công bằng, nạn thất
nghiệp tăng lên, nhiều vấn đề xã hội trở nên trầm trọng... Trong khi đó, theo
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, ở xã hội xã hội chủ nghĩa, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và khoa học, công nghệ sẽ góp phần nâng cao năng lực, phẩm chất và cơ hội phát triển tự do, toàn diện cho con người, đồng thời là cơ sở cho việc
thực hiện nguyên tắc phân phối xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ngoài
ra, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một học thuyết mở, luôn tiếp nhận những thành tựu
lý luận mới và không ngừng hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Do đó,
trách nhiệm của các đảng cộng sản, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
là tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin gắn với điều kiện, đặc điểm của
quốc gia, dân tộc mình, khắc phục những hạn chế lịch sử của nó do tính thời đại
chi phối...
Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động tập trung tấn công tư tưởng
Hồ Chí Minh trên nhiều phương diện. Họ xuyên tạc rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
không có tư tưởng của riêng mình hoặc tư tưởng của Người không được coi là một
hệ thống. Dựa vào những luận điểm của Người có tính bổ sung, phát triển chủ
nghĩa Mác - Lê-nin và bao hàm sự kế thừa những giá trị tư tưởng tiến bộ của nền
cộng hòa Pháp và Mỹ, các thế lực thù địch, phản động quy kết rằng, Chủ tịch Hồ
Chí Minh là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một
người theo chủ nghĩa cộng sản. Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng về cách
mạng giải phóng dân tộc, không có tư tưởng về đấu tranh giai cấp, về cách mạng
xã hội chủ nghĩa, không mang bản chất mác-xít, thậm chí đối lập với chủ nghĩa Mác
- Lê-nin. Trên thực tế, đây là một sự xuyên tạc vô căn cứ, bởi tư tưởng Hồ Chí
Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện lịch sử của
Việt Nam, là sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lê-nin với giá trị truyền
thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được chuyển hóa thành hệ thống thế giới quan, phương pháp luận, nhân sinh quan khoa học, cách mạng, sinh động, giàu tính thực tiễn, có giá trị dẫn đường cho thành công của cách mạng Việt
Nam.
Hiện nay, trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo đất
nước thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng lấy chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động,
bởi vậy, sự phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thực chất là hành vi chính trị
chống Đảng. Do đó, đấu tranh trên trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng, trước
hết, không gì khác hơn là bảo vệ đến cùng những thành quả tư tưởng, lý luận mà
C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày
công nghiên cứu, đúc kết và kiểm nghiệm trong thực tiễn. Muốn vậy, chúng ta cần
nêu cao nhận thức và thực hiện những yêu cầu cơ bản như sau:
1- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên, khích
lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thi đua lao động, hoàn thành mọi nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Áp dụng
phương châm: “Lấy thành tựu phát triển kinh tế - xã hội làm chỗ dựa vững chắc
cho nền tảng tư tưởng của Đảng”. Bởi lẽ, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh chỉ có thể tồn tại và phát triển khi đem lại những giá trị thực tiễn
cho cách mạng Việt Nam, và đến lượt mình, những giá trị thực tiễn của cách mạng
nước ta lại góp phần rất quan trọng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng.
2- Đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, giáo dục và phát triển chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần tuyên truyền, phổ biến rộng rãi những
giá trị đích thực của các nguyên lý, luận điểm của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I.
Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời, bổ sung, làm rõ thêm những vấn
đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện
nay. Coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ
cán bộ lý luận, nhất là các chuyên gia đầu ngành trong hoạt động đấu tranh tư
tưởng, lý luận. Bản thân những nhà nghiên cứu mác-xít, những người làm công tác
lý luận nên nghiên cứu nghiêm túc và kỹ lưỡng những tác phẩm nguyên bản của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin..., từ đó phát hiện những vấn đề mới, cách tiếp cận mới để giải quyết bài toán thực tiễn của xã hội hiện đại đang đặt ra; tránh lối nghiên cứu “tầm chương trích cú”, kinh viện, và áp dụng lý luận vào thực tiễn một cách máy móc, thiếu sáng
tạo, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin ngày càng bị xơ cứng, xa rời thực tiễn.
3- Tăng cường đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thù
địch. Nâng cao ý thức, trách nhiệm chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên và
nhân dân; phát huy ý thức tự giác, hành động tích cực và trách nhiệm tự thân
của mỗi người trong đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao
hơn nữa tính chiến đấu, tính chủ động, tính thuyết phục và hiệu quả của công
tác tư tưởng, lý luận. Quan tâm nghiên cứu các học thuyết chính trị ngoài
mác-xít trên tinh thần vừa phê phán, vừa tiếp thu những giá trị hợp lý của các
học thuyết ấy, nhằm góp phần phát triển, bổ sung và làm phong phú thêm cho hệ
tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và giải quyết tốt hơn những vấn đề thực
tiễn đang đặt ra.
Tránh lối tư duy máy móc, giáo điều chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh đến mức xem đó là vùng “cấm kỵ”, không thể bổ sung, phát triển
được gì nữa; hoặc đóng cửa, biệt lập với các trào lưu tư tưởng tiến bộ khác,
làm chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng mất dần sức sống,
sức chiến đấu và giảm tính thuyết phục./.