Thứ Hai, 16 tháng 5, 2022

Nêu cao trách nhiệm, không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng

 

Một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được nêu trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (sau đây gọi là Nghị quyết 847) đó là “Có đạo đức cách mạng trong sáng”. Đây vừa là phẩm chất, vừa là nền tảng cơ bản của người quân nhân cách mạng. 

Đạo đức là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực về cách ứng xử của con người trong các quan hệ xã hội; là giá trị cốt lõi tạo nên phẩm chất của nhân cách con người. Theo nghĩa đó, giá trị cốt lõi tạo nên phẩm chất của nhân cách một người quân nhân cách mạng là phải có đạo đức cách mạng trong sáng. 

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên là gốc của mọi công việc và đạo đức là “gốc của người cách mạng”. Người chỉ rõ: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Theo Người, có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Khi cần thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Có đạo đức cách mạng thì gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác khiêm tốn; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa...

Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đạo đức cách mạng được biểu hiện cụ thể là trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân. Đây là biểu hiện cao nhất ý thức đạo đức của người đảng viên nói chung, nhất là với cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam nói riêng. Đó còn là cơ sở để định hướng nhận thức và hành động, tạo thành niềm tin vững chắc và sức mạnh to lớn để mỗi đảng viên, mỗi người quân nhân cách mạng luôn hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.

 Sinh thời, Bác thường căn dặn bộ đội không bao giờ được tơ hào từ cái kim, sợi chỉ của nhân dân và phải kính yêu dân, tôn trọng dân, bảo vệ dân. Đối với cán bộ, tướng lĩnh cấp cao, Người nhắc nhở: Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải: Trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung; đây vừa là mục tiêu để rèn luyện, tu dưỡng, vừa là phẩm chất đặc trưng nhất của người đảng viên là lãnh đạo trong quân đội...

Nghiên cứu Nghị quyết 847, chúng ta thấy rằng ngay phần đầu, nghị quyết đã khẳng định: “...trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, quân đội ta cũng tuyệt đối trung thành với Đảng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” và danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ mà nhân dân tin tưởng, yêu mến dành tặng”.

Trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, Quân đội ta và lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam luôn gìn giữ, phát huy, không ngừng rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng để luôn xứng đáng với lời khen tặng của Bác Hồ và danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ. Đúng như lời khẳng định của đồng chí Phan Văn Mãi, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh: “Bộ đội đánh giặc, bộ đội giúp dân chống thiên tai, bão lũ và vừa qua là bộ đội giúp dân phòng, chống, vượt qua đại dịch. Trong đại dịch, bộ đội không chỉ chiến đấu bằng mệnh lệnh của người chỉ huy mà còn bằng mệnh lệnh của trái tim, lúc người dân khó, người dân khổ, người dân đau bệnh, người dân đối diện với sống chết và lo cho người dân khi không may mất đi. Lịch sử quân đội có thêm những trang mới rất đáng tự hào về bộ đội giúp dân chống dịch, một hình ảnh sáng đẹp của anh Bộ đội Cụ Hồ”... 

Mặc dù vậy, cần thẳng thắn nhìn nhận, trong những năm gần đây, tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường ngày càng gay gắt, sự chống phá của các thế lực thù địch, sự cám dỗ của lợi ích vật chất khiến cho một bộ phận cán bộ, đảng viên trong quân đội sa vào chủ nghĩa cá nhân, bị thoái hóa, biến chất. Không ít người, dù khó khăn, gian khổ, hy sinh xương máu cũng không sờn lòng, nhưng lại bị gục ngã trước những “viên đạn bọc đường”. Một số khác vì thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng mà dẫn tới hủ hóa, chỉ lo mưu cầu, vun vén cho lợi ích cá nhân. Đau xót hơn, “có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ” như Nghị quyết 847 đã chỉ rõ.

Có thể khẳng định sâu sắc, lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ chính là biểu hiện cao nhất, rõ nét nhất đạo đức cách mạng của người quân nhân. Với những ý nghĩa sâu sắc đó, việc không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ QĐND Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm xây dựng đội ngũ đảng viên trong quân đội thật sự mẫu mực, tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, năng lực; góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. 

Trong thời gian tới, nhiệm vụ xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu ngày càng cao. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tăng cường chống phá, xuyên tạc truyền thống quân đội và hình ảnh, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Để xây dựng Đảng bộ Quân đội, các cấp ủy, tổ chức đảng thực sự trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị thì mỗi người quân nhân cách mạng cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần nhận thức sâu sắc rằng “cần, kiệm, liêm, chính” là đạo đức của người quân nhân cách mạng; mỗi người phải tự mình rèn luyện toàn diện các phẩm chất đạo đức của người quân nhân cách mạng, xứng đáng với niềm tin yêu, sự kỳ vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Quân đội ta...

Từ nhận thức đúng đắn đó, cán bộ, chiến sĩ toàn quân cần ra sức thi đua học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh từ trong công việc đến sinh hoạt hằng ngày. Cần đặc biệt coi trọng hoạt động tự giáo dục, tự rèn luyện đạo đức cách mạng cho bản thân vì đây là biện pháp có ý nghĩa quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành, phát triển đạo đức cách mạng. Thực tiễn cho thấy, đơn vị nào đề cao vai trò tiền phong gương mẫu, tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thì ở đó chất lượng tư tưởng chính trị của người đảng viên được giữ vững, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh và đơn vị vững mạnh toàn diện.

Công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội là yêu cầu khách quan, cấp thiết, là nhiệm vụ chính trị quan trọng của các cấp ủy đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên nhằm tiếp tục tô thắm phẩm chất tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới./.

Xử lý “tham nhũng vặt” cần quyết tâm lớn

 

Mới đây, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức công bố Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2021 ở nước ta với nhiều thông tin đáng chú ý.

Bên cạnh những mặt tích cực, một thông tin khiến dư luận bức xúc là: Tỷ lệ người làm thủ tục hành chính (TTHC) xin cấp mới hoặc đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải chi “lót tay”, dao động từ 40% đến hơn 90% ở hơn 40 tỉnh, thành phố, chủ yếu ở các tỉnh còn nghèo. Trong khi đó, tỷ lệ người sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở bệnh viện công tuyến huyện cho biết, họ phải chi phí ngoài quy định để được chăm sóc tốt hơn, dao động từ 40% đến 80% ở khoảng 40 tỉnh, thành phố. Đây không phải là lần đầu những thông tin này được công bố, nhưng nó vẫn thu hút sự quan tâm lớn của dư luận xã hội vì đi ngược lại kết quả tích cực trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và nỗ lực cải cách TTHC của Đảng, Nhà nước ta những năm qua.

Tình trạng người dân, doanh nghiệp phải “lót tay”, “bôi trơn” cho cán bộ thực hiện giải quyết TTHC ở cơ quan Nhà nước để được xử lý nhanh gọn đã xuất hiện từ lâu, thường được gọi là “tham nhũng vặt”. Nó thường xảy ra ở những nơi cung cấp dịch vụ công phổ biến và liên quan trực tiếp đến người dân như giáo dục, y tế, trật tự xây dựng, giao thông, môi trường, đất đai... Mặc dù số tiền hối lộ cho cán bộ giải quyết TTHC không lớn, nhưng nó diễn ra thường xuyên nên ảnh hưởng không nhỏ tới người dân, doanh nghiệp. Nguy hiểm hơn, “tham nhũng vặt” kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội; giảm sức cạnh tranh và thu hút đầu tư của địa phương; làm xói mòn niềm tin của người dân, doanh nghiệp vào những nỗ lực cải cách TTHC, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước; làm băng hoại đạo đức xã hội; thoái hóa, biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên, đe dọa sự tồn vong của chế độ...

“Tham nhũng vặt” như “ổ mối ăn mòn chân đê”, nhưng rất khó xử lý một cách nhanh chóng, triệt để. Muốn có được kết quả bền vững, cần phải kết hợp nhiều giải pháp phòng đi đôi với chống cùng ý chí, quyết tâm chính trị mạnh mẽ. Việc Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII thông qua Đề án thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là tiền đề quan trọng để “điều trị” tận gốc “căn bệnh” này; đòi hỏi người đứng đầu và thành viên ban chỉ đạo các địa phương phải thực sự liêm chính, có nhận thức đúng đắn về hiểm họa “tham nhũng vặt” để quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi. Nhưng trước hết, Đảng và Nhà nước ta cần ưu tiên tập trung giải quyết tệ “tham nhũng vặt” ở những lĩnh vực có ảnh hưởng lớn đến người dân, doanh nghiệp để tạo dựng niềm tin và huy động sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân vào các hoạt động này. Về lâu dài, đối với các lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra tiêu cực, cần tiếp tục cắt giảm, đơn giản và minh bạch hóa TTHC; áp dụng công nghệ thông tin vào việc cung cấp dịch vụ công để hạn chế tiếp xúc trực tiếp giữa công chức và người dân, doanh nghiệp khi giải quyết các TTHC. Song song với đó là tăng cường giáo dục, chấn chỉnh, nâng cao ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các ngành, các cấp trong thực hiện nhiệm vụ; tuyên truyền nâng cao trình độ pháp luật của người dân, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi...

Chỉ còn hai ngày nữa cả nước ta sẽ kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 / 19-5-2022). Sinh thời, Người luôn căn dặn đội ngũ cán bộ, đảng viên: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Đó cũng là điều mà người dân luôn mong mỏi ở mỗi cán bộ, đảng viên!

GÁC LẠI CÙNG HỢP TÁC NHƯNG KHÔNG LÃNG QUÊN!

         Có ai đó đã nói rằng: “Nếu muốn biết chiến tranh đáng sợ như thế nào, hãy hỏi những người Việt Nam. Nếu muốn tìm đến một quốc gia trân trọng hòa bình đến cỡ nào, hãy đến Việt Nam”.

Lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc chiến tranh. Trong thời phong kiến, sau mỗi cuộc chiến với người hàng xóm phương Bắc thì triều đình nước ta đều cử sứ thần sang triều cống, thiết lập lại mối quan hệ bình thường, mong cho người dân hai nước sống trong hòa bình, thịnh vượng và phát triển. Các cụ có câu: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Nhưng, không có nghĩa là những cuộc chiến ấy bị lãng quên.

Trong mối quan hệ với Hoa Kỳ, Việt Nam cũng giữ vững tinh thần ấy, một tinh thần gác lại lịch sử để cùng hợp tác, nhưng không lãng quên.

Bên lề những thông tin Việt Nam - Hoa Kỳ hợp tác về nhiều mặt như kinh tế, năng lượng, biến đổi khí hậu, chính sách công… thì Việt Nam vẫn khéo lẽo nhắc lại những biến cố lịch sử đã qua của hai quốc gia. Nhắc lại để làm gì? Để 2 quốc gia cùng rút ra bài học rằng, dù đã từng đối đầu nhưng không có nghĩa là mãi mãi đối đầu, dù từng uýnh nhau “sứt đầu mẻ trán” nhưng không có nghĩa là vĩnh viễn không thể làm bạn. 

Ví dụ như khởi đầu chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Minh Chính, Thông tin Chính phủ nhắc lại một sự kiện đã diễn ra cách đây 77 năm, đó là sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Tổng thống Harry Truman vào ngày 16/02/1946 bày tỏ mong muốn độc lập dân tộc và sẵn sàng cho việc hai quốc gia thiết lập quan hệ toàn diện. Mong muốn hòa hợp, hòa bình của Việt Nam đã có từ rất lâu rồi chứ không phải là mới đây. Việt Nam tiếp tục củng cố mong muốn ấy một lần nữa khi Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm tượng đài Tổng thống Thomas Jefferson - tác giả của bản “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ, một tư liệu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn nguồn trong “Tuyên ngôn độc lập” đọc tại Quảng trường Ba Đình vào 02/09/1945. 

Một thông tin khác cùng thời điểm chuyến đi trên, đó là thông tin các lãnh đạo cấp cao Việt Nam tham gia khánh thành nghĩa trang Hàng Keo và thăm nghĩa trang Hàng Dương ở Côn Đảo. Bất cứ một người Việt Nam yêu lịch sử nào cũng biết về “địa ngục trần gian” Côn Đảo - nơi có hàng ngàn liệt sĩ Việt Nam đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến. Không rõ là vô tình hay cố ý, nhưng có thể là một thông điệp ngoại giao đầy khéo léo, nhắc lại những bi thương trong quá khứ, khẳng định tinh thần đấu tranh hết mình vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Chưa hết, Thông tin Chính phủ đăng bài viết cho biết Việt Nam còn 200 ngàn liệt sĩ chưa tìm được hài cốt, phía Hoa Kỳ cũng còn nhiều quân nhân mất tích. Và hai quốc gia đang hợp tác từng giây phút, từng ngày tháng, cùng chia sẻ thông tin và cùng tìm kiếm. Đây là một nỗ lực cùng nhau giải quyết hậu quả chiến tranh, thể hiện tinh thần nhân đạo của cả hai quốc gia. Cuối dòng thông tin này, là lời đề nghị Hoa Kỳ giải quyết hậu quả chiến tranh với 3 triệu người dân Việt Nam bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam, rà phá bom mìn, tẩy sạch chất độc. Hãy chú ý vào cụm từ “đề nghị” chứ không phải là “mong muốn” hoặc “đề xuất” - cụm từ “đề nghị” mang một tâm thế ngang bằng, sòng phẳng. Thông tin trên là một lời nhắc về những hậu quả chiến tranh mà Hoa Kỳ đã gây ra với người dân Việt Nam. Và dĩ nhiên, hai quốc gia đã, đang và sẽ cùng khắc phục, cùng hợp tác, cùng xóa đi đau thương chứ không phải chỉ là trách từ một bên. Muốn đi nhanh hãy đi một mình muốn đi xa hãy đi cùng nhau…! 

Lịch sử giữa 2 quốc gia từng là đau thương, là mất mát, là tàn phá, là hy sinh, là mâu thuẫn. Và Việt Nam cũng muốn thể hiện rằng, lịch sử cũng có thể là hòa hợp, hợp tác, từ những gì đã qua, phải ghi nhớ và cùng rút ra bài học.
Nếu muốn biết rằng có một quốc gia sẵn sàng gác lại những mâu thuẫn để cùng phát triển, đáp án là Việt Nam./.
Yêu nước ST.

SAO PHẢI TRẢ TỰ DO CHO GIA ĐÌNH CẤN THỊ THÊU?

 

          Ngày 11/5/2022 vừa qua, Đài Á Châu Tự Do (RFA) có đăng tải bài viết về cái gọi là “Thỉnh nguyện thư kêu gọi trả tự do cho gia đình Cấn Thị Thêu” được Đỗ Thị Thu, là vợ của Trịnh Bá Phương soạn thảo để gửi đến Chính phủ Hoa kỳ, Liên minh Châu Âu Đại sứ quán của các nước tiến bộ tại Việt Nam, các tổ chức xã hội dân sự và mọi người dân phản đối vi phạm nhân quyền. Đỗ Thị Thu còn cho rằng “thỉnh nguyện thư” tính đến ngày 11/5/2022 đã có 198 người ký tên và cho rằng “muốn mọi người hỗ trợ và giúp đỡ gia đình tôi yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam hủy bỏ bản án và trả tự do cho mẹ, chồng và em trai tôi”.

          Không những thế, để thực hiện màn “tẩy tội” cho 3 người trên, để “thỉnh nguyện thư” đi vào lòng người các chính khách phương Tây, Đỗ Thị Thu còn xuyên tạc, vu cáo về quá trình bị giam giữ điều tra, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư hay Cấn Thị Thêu đều bị tra tấn, đánh đập dã man như cho rằng Trinh Bá Phương bị đánh vào bộ phận sinh dục, liên tục dọa dẫm, khủng bố tinh thần bằng việc đưa vào bệnh viện tâm thần còn Trịnh Bá Tư thì phải “tuyệt thực” 20 ngày không ăn uống gì, đến mức tính mạng gặp nguy hiểm hay Cấn Thị Thêu thì bị biệt giam ở phòng có nhiệt độ lên tới 50 độ C….

          Có thể thấy rằng, cái gọi là ‘thỉnh nguyện thư” mà Đỗ Thị Thu chia sẻ trên trang RFA để kêu gọi trả tự do cho gia đình Cấn Thị Thêu là chiêu trò quen thuộc của những kẻ đội lốt “dân chủ” để nhằm vu cáo, xuyên tạc về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, để từ đó kêu gọi một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí trả tự do cho những kẻ đang bị giam giữ, đặc biệt là những kẻ đã vi phạm pháp luật đang bị giam giữ, xử lý về các tội tuyên truyền chống phá Nhà nước Việt Nam mà thôi. Cũng giống như một số kẻ như Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm Gấu), Nguyễn Văn Đài, Trần Thị Nga..., phaỉ chăng Đỗ Thị Thu đang muốn thông qua Chính phủ Hoa kỳ, Liên minh Châu Âu Đại sứ quán của các nước tiến bộ tại Việt Nam, các tổ chức xã hội dân sự... để yêu cầu Việt Nam hủy bỏ bản án và trả tự do cho mẹ, chồng và em trai và được “1 vé” sang tỵ nạn? Đặc biệt là trước các sự kiện chính trị, ngoại giao quan trọng của đất nước như chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Minh Chính trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ...

          “Quốc có quốc pháp, gia có gia quy”, 3 mẹ con Cấn Thị Thêu đã vi phạm pháp luật về tội "Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam" và bị xử lý nghiêm minh về các hành vi đó với các bản án 8 năm (Trịnh Bá Tư, Cấn Thị Thêu) hay 10 năm (Trịnh Bá Phương) là điều dĩ nhiên và điều đó hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật không chỉ ở Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện như vậy. Điển hình như Mỹ, đất nước tự cho mình là “đất nước tự do”, Quốc hội nước này cũng đã ban hành nhiều văn bản luật nhằm xử lý, ngăn chặn việc lợi dụng Internet, mạng xã hội để khủng bố, kích động biểu tình hay vi phạm sở hữu trí tuệ.... Vậy nên thêm một lần nữa “thỉnh nguyện thư” do Đỗ Thị Thu đưa ra kêu gọi trả tự do cho gia đình Cấn Thị Thêu cũng chỉ là một chiêu trò, một trò hề diễn lại vô tác dụng mà thôi.

 

 

Noi gương Bác, tự soi, tự sửa

(TG) - Vì sao cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa, tự rèn, tự tu dưỡng, tự điều chỉnh, tu thân, tự vượt lên chính mình? Vì đảng viên, cán bộ trong sạch, vững mạnh thì Đảng trong sạch, vững mạnh.

Ý NGHĨA “TỰ MÌNH”                                                      

Năm 1927, trong sách Đường cách mệnh, khi bàn về tư cách một người cách mệnh, Hồ Chí Minh đề cập 3 mối quan hệ: Tự mình phải, đối người phải, làm việc phải.

Tháng 2/1947, trong Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, Người đề cập cán bộ phải có 5 mối quan hệ: Mình đối với mình, mình đối với đồng chí mình, mình đối với công việc, đối với nhân dân, đối với đoàn thể.

Năm 1948, khi viết về Tư cách người Công an cách mệnh, Người đề cập 6 mối quan hệ: Đối với tự mình, đối với đồng sự, đối với Chính phủ, đối với nhân dân, đối với công việc, đối với địch.

Đúc kết lại, mỗi người phải xử sự, xử thế các mối quan hệ: tự mình, đối với người, đối với việc. Đáng lưu ý là trong tất cả các mối quan hệ trên dù bất cứ ở thời kỳ nào, Hồ Chí Minh đều đặt “đối với tự mình” lên trên hết. Vì sao như vậy?

Có nhiều cách cắt nghĩa, lý giải khác nhau, nhưng chắc chắn có mấy lý do cơ bản: một là, tự mình là rất khó. Tự “mổ xẻ” mình đâu có dễ. Kẻ thù ở trong mình không thể dùng lựu đạn, gươm giáo để tiêu diệt. Hai là, con người - nhất là cán bộ, đảng viên - thường mắc các chứng bệnh như tự cao tự đại, ưa người ta nịnh mình, do lòng yêu ghét của mình mà đối với người, đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Ba là, “đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy muốn biết đúng sự phải trái ở người ta thì trước phải biết đúng sự phải trái ở mình. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu”(1).

Khi bàn về các đức tính Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Hồ Chí Minh chỉ bảo rằng mình không Cần mà bảo người khác Cần là vô lý. Mình không Kiệm mà bảo người khác Kiệm là vô lý. Mình không Liêm mà bảo người khác Liêm là vô lý. Mình không Chính mà bảo người khác Chính là vô lý.

Về lý luận và thực tiễn, “đối với tự mình” là nói đến yếu tố chủ quan, yếu tố bên trong, còn “đối với người” là nói đến yếu tố khách quan, yếu tố bên ngoài. Triết học mácxít chỉ rõ rằng yếu tố chủ quan, yếu tố bên trong bao giờ cũng là yếu tố đóng vai trò quyết định.

Tục ngữ có câu: “Việc đời không gì khó, chỉ sợ chí không bền”. Vì vậy, đối với mọi việc, nói dễ thì dễ, nói khó thì khó. Hồ Chí Minh đúc kết: Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên.

Từ khi chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời do C. Mác và Ph. Ăngghen soạn thảo cách ngày nay 174 năm, các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá. Ngày nay, chúng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”. Tuyệt đối không được đánh giá thấp âm mưu và thủ đoạn phá hoại của kẻ thù, nhưng chúng ta phải nhận thức có hàm lương khoa học và cách mạng rằng “diễn biến hòa bình” không đáng sợ bằng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chúng ta đều biết rằng không có kẻ thù nào bảo chúng ta tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Những bệnh tật đó là do chính chúng ta tạo ra. Vì vậy, có thể nói rằng không kẻ thù nào bôi nhọ được chúng ta, ngoại trừ tự mình bôi nhọ mình; không kẻ thù nào tiêu diệt được chúng ta, ngoại trừ chúng ta tự tiêu diệt mình bằng chính sự tha hóa, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. V.I. Lênin viết: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta… Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ, thì tất cả sẽ sụp đổ”(2).

Hồ Chí Minh dạy chúng ta: “Tự mình không đánh thắng được khuyết điểm của mình, mà muốn đánh thắng kẻ địch, tự mình không cải tạo được mình, mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý”(3). Người nói rõ hơn: “Muốn đánh thắng chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù trên thế giới, muốn đánh thắng thực dân phong kiến là kẻ thù trong nước thì trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình. Phải “chính tâm tu thân” mới có thể trị quốc bình thiên hạ”(4).

Như vậy vấn đề đã rõ ràng: “Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi”(5).

ĐẢNG CHÂN CHÍNH CÁCH MẠNG PHẢI TỰ SOI, TỰ SỬA

“Tự mình” như đã phân tích có thể cá nhân, có thể tổ chức để phân biệt “đối với người”, “đối với việc”. Trong di sản của mình, Hồ Chí Minh quan tâm cả cá nhân và tổ chức trong việc tự rèn, tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh, tự vượt lên chính mình. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, viết về tư cách của Đảng chân chính cách mạng, Hồ Chí Minh nêu lên 12 điều và khẳng định Đảng muốn được vững bền thì không được quên điều nào. Điều 12 bàn tới bản thân Đảng “phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”(6).

Mặt khác, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”(7). Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Vấn đề là Đảng dám tự phê bình, không dám tự phê bình như có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. “Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình!”(8). Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nói về Đảng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính. Đảng cần phải biết những ưu điểm và khuyết điểm của mình để dạy dỗ đảng viên, dạy dỗ quần chúng. Sợ phê bình, tức là “quan liêu hóa”, tức là tự mãn tự túc, tức là “mèo khen mèo dài đuôi”(9).

Trong đổi mới, nhận thức rõ ý nghĩa to lớn, sâu xa của tự soi, tự sửa, Đảng ta khẳng định: “Sức mạnh của Đảng, của mỗi đảng bộ và đảng viên không chỉ ở ưu điểm mà còn ở chỗ nhận rõ và sửa chữa bằng được những vấn đề tồn tại, những sai lầm, khuyết điểm và tự vượt lên chính bản thân mình”(10). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) viết: “Trong lãnh đạo, Đảng có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên”(11).

Trong đổi mới, nhận thức rõ ý nghĩa to lớn, sâu xa của tự soi, tự sửa, Đảng ta khẳng định: “Sức mạnh của Đảng, của mỗi đảng bộ và đảng viên không chỉ ở ưu điểm mà còn ở chỗ nhận rõ và sửa chữa bằng được những vấn đề tồn tại, những sai lầm, khuyết điểm và tự vượt lên chính bản thân mình”.

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TỰ SOI, TỰ SỬA

Vì sao cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa, tự rèn, tự tu dưỡng, tự điều chỉnh, tu thân, tự vượt lên chính mình? Vì đảng viên, cán bộ trong sạch, vững mạnh thì Đảng trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền thường có nhiều hoặc ít quyền hành, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm, không giữ được đạo đức cách mạng thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân, ăn của đút, “dĩ công vi tư”. Nguy hiểm nhất là tính xấu của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến Đảng, đến nhân dân. Đảng viên hư hỏng sẽ đưa quần chúng đến hư hỏng. Vì vậy, cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa, tự thực hành cần kiệm liêm chính để làm kiểu mẫu cho dân.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải ý thức được rằng người đời không phải thánh thần, ai cũng có phần thiện, ác ở trong lòng. Vấn đề là ở chỗ phải tự soi, tự sửa, kiên quyết chống lại cái ác, những gì cũ kỹ, hư hỏng. Bác Hồ dạy: “Muốn thành cán bộ tốt phải có tinh thần tự chỉ trích… Muốn được thích hợp với tình thế, muốn cùng tiến hay vượt các bạn khác, ta cần phải nhận thức và tự giáo dục không ngừng, cần phải có sự thành thực tự vạch ra những khuyết điểm sai lầm để bồi bổ và sửa đổi đi. Sau khi làm xong một công việc gì, hay sau mỗi ngày làm việc, cần phải tự mình kiểm điểm xem có chỗ nào nhầm lẫn, chỗ nào chưa đầy đủ, có được ưu điểm gì nên nhớ, có được kinh nghiệm gì quý đáng ghi. Phải bỏ hẳn thái độ “xong việc thì thôi”. Không chịu tự phê bình, tự chỉ trích thì không bao giờ tấn tới được”(12).

Vừa qua, Đảng ta ra nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định phục vụ cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng. Ví như Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021, Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm. Đảng có những kết luận, nghị quyết, quy định như thế là rất cần thiết để giúp đảng viên trong tu dưỡng rèn luyện.

Đảng viên, cán bộ phải tự giác, thường xuyên, hằng ngày, suốt đời tự soi, tự sửa như chuyện rửa mặt hằng ngày. Là đảng viên, cán bộ có “hai con người” trong một con người. Làm đảng viên cộng sản tức làm người có trình độ cao, nhưng vẫn trên cái nền “làm người”. Trước khi trở thành đảng viên, họ là con người bình thường. Khi là đảng viên, họ vừa phải có chất đảng viên vừa có “chất người”, “trình độ người”. Đảng viên phải có cái chất của người đảng viên trên cái nền “làm người”. Khi chưa phải là đảng viên mà đổ vỡ tư cách làm người, thiếu nhân tính là đổ vỡ tất cả. Thiếu một đức thì không thành người như Bác Hồ đã dạy. Nhưng khi là đảng viên, cán bộ và lãnh tụ thì phải thấy “khác với những người thường. Họ là những người chiến sĩ tiên phong của giai cấp, của dân tộc. Vì vậy, họ hoàn toàn không được đại biểu cho lợi ích cá nhân, mà phải đại biểu cho lợi ích của dân tộc, của giai cấp”(13).

Đảng viên, cán bộ phải thấy rõ, đầy đủ, sâu sắc mối quan hệ “hai trong một”. Là đảng viên, phải tự soi, tự sửa để giữ vững đạo đức cách mạng, cao nhất là chí công vô tư. Bất kỳ bao giờ, bất kỳ việc gì, đều phải tự soi, tự rèn, tính đến lợi ích chung của Đảng, phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết, việc của cá nhân và lợi ích của nhân để lại sau. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc. Đó là nguyên tắc tối cao của Đảng, là Đảng tính.

Đảng viên tự soi, tự sửa, tự rèn, tự điều chỉnh, tự giáo dục, tự vạch ra khuyết điểm, tự vượt lên chính mình, tu thân chính tâm một cách tự giác, thành thực không nên chỉ vì “tấm chắn” của những điều đảng viên không được làm, mà còn phải vì đạo lý, lương tâm. Có những điều rất quan trọng, đó là nhân văn, nhân tính. “Pháp trị” nhưng phải có “đức trị”. Văn hóa phương Đông đề cao đạo đức. Tấm gương của Bác và nhiều cán bộ, đảng viên thời Bác qua phong cách, tác phong, việc làm, hành động, cử chỉ có sức mạnh lan tỏa, truyền cảm hứng tới cả dân tộc. Vô cùng thiêng liêng, sâu xa và cao quý!

Tự soi, tự sửa là để mỗi ngày cố làm một việc có lợi cho nước, cho dân, cho Đảng. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước, cho dân, cho Đảng không? Nếu không có lợi mà có hại cho nước, cho dân thì quyết không làm.

Tự soi tự sửa là để tránh tự kiêu, tự đại, vì tự kiêu, tự mãn như cái chén, cái đĩa cạn, một chút nước cũng tràn đầy vì độ lượng nó hẹp. Đảng viên phải như sông to, biển rộng, bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu.

Tự soi, tự sửa là để luôn luôn chân thành, khiêm tốn, thật thà đoàn kết, phải học và giúp người tiến bộ. Không nịnh hót người trên. Không xem thường người dưới.

Đảng viên phải ghi tạc rằng, cùng với những điều đảng viên không được làm theo Quy định, Điều lệ Đảng, còn có nhiều điều đảng viên không được làm do lương tâm, đạo đức cắn rứt không cho phép làm; đạo lý dân tộc không cho phép làm. Đó mới là thiêng liêng, sâu xa, bền vững, tạo niềm tin vững chắc. Đảng viên trung thành với Đảng còn phải trung thành với đất nước, dân tộc, có trách nhiệm với chính bản thân mình.

Tự soi, tự sửa là để mỗi ngày cố làm một việc có lợi cho nước, cho dân, cho Đảng. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh.

Tự soi, tự sửa là để tránh tự kiêu, tự đại, vì tự kiêu, tự mãn như cái chén, cái đĩa cạn, một chút nước cũng tràn đầy vì độ lượng nó hẹp. Đảng viên phải như sông to, biển rộng, bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu.

Tự soi, tự sửa là để luôn luôn chân thành, khiêm tốn, thật thà đoàn kết, phải học và giúp người tiến bộ. Không nịnh hót người trên. Không xem thường người dưới.

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vừa qua suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vì không chịu tự soi, tự sửa, tự rèn, tự phê bình, tự giáo dục, tự vạch ra khuyết điểm, tự điều chỉnh, tự chỉ trích, tự vượt lên chính mình, tu thân chính tâm hằng ngày, suốt đời, việc lớn việc nhỏ một cách tự giác, thật sự. Họ rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân, vừa không có cái chất của người đảng viên cộng sản vừa không có nhân tính, đổ vỡ tư cách làm người, đổ vỡ tư cách đảng viên./.

Nguồn: TG

____________________
 
(1) (6) (7) (8) (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.5, tr.317.

(2) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, M, 1978, t. 41, tr. 311, 290, 301, 301, 303.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.82.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.142.

(5) (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.191, 28.

(9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1999, tr.60.

(10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr.64.

(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.291.

 

Học tập tư duy và phong cách báo chí Hồ Chí Minh.

 

Quang cảnh Hội thảo. (Ảnh: Thành Đạt)

Báo Nhân Dân trân trọng giới thiệu tham luận của Nhà báo Phan Quang tại Hội thảo khoa học quốc gia “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” do Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản, Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương đồng tổ chức, diễn ra tại Hà Nội, ngày 12/5.

Tư duy và phong cách báo chí Hồ Chí Minh cụ thể hóa tư tưởng của Người về văn hoá: “Văn hóa là một mặt cơ bản của xã hội”, “Văn hóa là một mặt trận”, “Văn hóa mới kết hợp hài hoà, đúng đắn truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế”. Báo chí là bộ phận cấu thành văn hóa, đồng thời là một phương tiện xây dựng, truyền bá, thực thi văn hóa trong cuộc sống hằng ngày. Báo chí là đội quân đi đầu trong công tác tư tưởng, với chức năng ban đầu là tuyên truyền, cổ động, tổ chức, hướng dẫn quần chúng đấu tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Rất nhiều lần, Người trở lại và nhấn mạnh ý ấy: “Cây bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng động viên quần chúng đoàn kết, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới...”, “Ngòi bút là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà...”(1).

Từ những ngày đầu sống ở nước ngoài, từng qua lại nhiều nước phát triển ở các châu lục, Bác Hồ sớm nhận ra vai trò và tác động to lớn của báo chí trong đấu tranh xã hội bất kỳ dưới chế độ chính trị nào. Trong quá trình tìm đường giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, Người tiếp cận các tác phẩm của Lê-nin, và tâm đắc câu vị lãnh tụ lỗi lạc phát biểu khá lâu trước ngày Cách mạng tháng Mười Nga thành công: “Cái mà chúng ta nhất thiết phải có lúc này là một tờ báo chính trị. Trong thời đại ngày nay, không có tờ báo chính trị thì không thể có phong trào gọi là chính trị... Không có tờ báo thì không thể tiến hành có hệ thống cuộc tuyên truyền, cổ động có nguyên tắc và toàn diện...”(2)

Tư tưởng ấy là động lực thôi thúc Hồ Chí Minh trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng tìm cách thành lập cho bằng được tờ báo của mình với tôn chỉ phục vụ sự nghiệp của dân tộc. Nó động viên Người không ngừng phấn đấu để trở thành nhà báo lớn nhất nước Việt Nam trong mọi thời đại, một cây bút ngang tầm những tên tuổi nổi bật về văn hóa và báo chí thế giới.

Sau những năm bôn ba nhiều nơi, Nguyễn Ái Quốc đến Vương quốc Anh và sống ở đó một thời gian với mục đích tìm hiểu, học tập những cái hay của một nền văn hóa tiêu biểu ở châu Âu, nơi ra đời sớm nhất chế độ nghị viện và cũng là một trong những vùng có mấy tờ báo đầu tiên của nhân loại. Cuối năm 1917 Bác Hồ đến Pháp và dừng chân lại sinh sống tại Paris. Đây là khoảng thời gian Bác đặt chân vào nghề báo. Sau những bước chập chững học nghề, Người viết những bài báo đầu tiên bằng tiếng Pháp hầu hết đăng trên các báo cánh tả của chính trường Pháp. Chỉ sau ba năm sau, được sự ủng hộ và giúp đỡ của các chí sĩ Việt Nam tại Pháp và sự hợp tác của bạn hữu quốc tế, Người chủ trì việc xuất bản báo Le Paria (Người cùng khổ), số đầu ra ngày 1/4/1922. Nguyễn Ái Quốc vừa làm chủ nhiệm, chủ bút, quản lý vừa là người thực hiện.

Jean Lacouture (1920-2015), nhà văn, nhà báo, nhà viết tiểu truyện nổi tiếng ở Pháp, tác giả người nước ngoài đầu tiên xuất bản cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh khi Bác Hồ còn tại thế (1967) nhận định: “Sự đóng góp của Nguyến Ái Quốc cho tờ Le Paria rất to lớn. Ngày nay đọc lại các bài của ông (đăng trên báo ấy) ta vẫn thấy vô cùng hứng thú... Văn phong của Nguyễn là văn phong của một nhà luận chiến tài ba”(3). Song song với việc chủ trì tờ Le Paria, Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị xuất bản tờ báo tiếng Việt dành cho người Việt Nam sinh sống ở Pháp, báo Việt Nam hồn, trước khi bí mật lên tàu sang Liên Xô. 

Những ngày sinh sống tại Paris, dưới sự giám sát gắt gao của mật thám Pháp, Người cộng tác với một số tờ báo có thanh thế và đông độc giả nhất tại Pháp hồi bấy giờ như L’Humanité (Nhân đạo), La Vie ouvrière (Đời sống thợ thuyền), Le Populaire (Người bình dân)... Sang Liên Xô, người cộng tác với nhiều tờ báo xô viết qua tiếng Nga. Thời gian àm việc tại Đức, Người viết báo tiếng Đức. Về Trung Quốc, Người là cộng tác viên của Cứu vong nhật báo, đồng thời viết bài đều đều cho mấy tờ báo tiếng Anh. Đặc biệt Người sáng lập báo Thanh niên, số 1 ra ngày 21/6/1925, khơi dòng báo chí cách mạng Việt Nam. Cống hiến lịch sử của báo Thanh niên là chuẩn bị về lý luận, chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khi từ Trung Quốc, Người tạm lánh sang Thái Lan do Tưởng Giới Thạch trở mặt, phá vỡ sự cộng tác giữa Quốc dân đảng với Đảng Cộng sản Trung Quốc, và trong thời gian hoạt động tại nước này Người cho ra mấy tờ báo tiếng Việt Thân ái, Đồng thanh tập hợp, đoàn kết Việt kiều sinh sống tại đất nước triệu voi hướng về Tổ quốc. Năm 1943, vừa đặt chân về đất tổ sau nhiều năm bôn ba gian khó tại các nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc (nay dùng tên Hồ Chí Minh) sáng lập báo Việt Nam độc lập tại Việt Bắc nhằm mục đích: “Kêu gọi nhân dân trẻ với già/ Đoàn kết một lòng như khối sắt/ Để cùng nhau cứu nước Nam ta”. Trong những ngày toàn dân ta sôi nổi tiến hành Cách mạng tháng Tám năm 1945, chưa đến ngảy đọc Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945, Người đã quyết định và chỉ đạo việc cho ra đời Đài phát thanh quốc gia Tiếng nói Việt Nam, tiếp ngay sau đó Hãng thông tấn quốc gia Thông tấn xã Việt Nam.

Với tư cách nhà báo, Hồ Chí Minh sử dụng điêu luyện cây bút báo chí, đồng thời viết kịch nói, truyện ngắn, tùy bút văn học, vẽ ký họa, làm thơ... Bác Hồ không coi mình là nhà báo chuyên nghiệp mà chỉ là “người có nhiều duyên nợ với báo chí”, nhưng trên thực tế Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh dưới hàng trăm bút danh khác nhau (4), là một nhà lý luận báo chí, một cây bút uyên thâm, đa dạng, sắc bén, tài hoa nữa, với hàng loạt tác phẩm chuẩn xác về nội dung, hùng hồn về lý luận, mẫu mực trong cách sử dụng ngôn từ phù hợp đối tượng của từng tờ báo, lúc nào cũng có sức đi sâu vào quần chúng, thức tỉnh lòng người, khiến quân thù khiếp sợ. Bác Hồ nói Người không có ý làm nhà lý luận về báo chí, truyền thông, song những phát biểu của Người về văn hóa, thông tin, báo chí là một hệ thống quan điểm mang tính kinh điển về báo chí Việt Nam vào những giai đoạn khác nhau. Không riêng những người làm báo, các nhà nghiên cứu các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, thông tin, giáo dục, đối ngoại... đều có thể học tập, tham khảo tư tưởng báo chí của Người.

Tư tưởng báo chí Hồ Chí Minh bao trùm nhiều lĩnh vực.

Tư duy của Người về vai trò của báo chí cách mạng trùng hợp ý kiến các nhà tư tưởng lớn, những người sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin: Các Mác, F. Ăngghen, V.I. Lênin. Trong nhiều trường hợp Hồ Chí Minh gọi báo chí là “vũ khí sắc bén của cách mạng”, là “đội quân xung kích trong công tác tư tưởng...” Chức năng của báo chí là “tuyên truyền, huấn luyện, giáo dục, tổ chức dân chúng...” qua các phương tiện thông tin bằng những thủ pháp nghề nghiệp. Đây là cách diễn đạt mới, rộng hơn câu nói của Lênin:“Báo chí là người tuyên truyền, cổ động, người tổ chức tập thể”. Bác Hồ coi trọng chức năng giáo dục của báo chí, đặc biệt sau ngày tổng khởi nghĩa thành công, khi Việt Nam đã trở thành một nước độc lập, dân chủ. Trên các báo, sách của ta sau năm 1945, đặc biệt sau ngày hòa bình lập lại trên nửa nước năm 1954, thường xuyên xuất hiện lời kêu gọi nhân dân“Học tập và làm theo báo Đảng” ở nơi dễ bắt mắt nhất, kèm theo luôn là câu “Mong bạn đọc góp ý, phê bình”.

Cần phải nói, khái niệm về chức năng giáo dục cuả báo chí trên thế giới xuất hiện muộn hơn nhiều. Giữa thập niên 1970, trước sự bùng nổ của truyền thông và văn hóa, nghệ thuật đại chúng coi việc phục vụ giải trí, thu nhiều lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu, Đại hội đồng UNESCO sau mấy kỳ thảo luận ra quyết định thành lập Ủy ban quốc tế về các vấn đề của truyền thông. Ủy ban gồm 16 thành viên hầu hết là những tên tuổi lẫy lừng trên thế giới (5), do nhà báo, luật sư, chính khách Sean McBride, cựu Ngoại trưởng nước Cộng hòa Irlande làm Chủ tịch. Ông là người được trao Giải Nobel và Giải Lê-nin vì hòa bình. 

Sau mấy năm hoạt động, được sự hưởng ứng và tham gia nghiên cứu, phản biện của hàng trăm tổ chức và cá nhân thể hiện qua 100 văn bản, Bản báo cáo của Ủy ban được trình Đại hội đồng UNESCO (gọi tắt là Báo cáo McBride) dày gần 370 trang được Đại hội đồng UNESCO chính thức thông qua sau mấy kỳ thảo luận (6), và cho xuất bản thành sách tháng 2/1980.

Báo cáo MacBride khẳng định: Truyền thông có 8 chức năng chính, trong đó có 2 chức năng Giáo dục và Thúc đẩy văn hóa. Báo chí chuyển tải kiến thức nhằm phát triển trí tuệ, hình thành tính cách con người, giúp con người có đủ năng lực, thích ứng với mọi giai đoạn của một đời người. Về Văn hóa, báo chí phổ cập các công trình nghệ thuật, góp phần bảo tồn các di sản văn hóa của nhân loại, mở rộng tầm nhìn của con người qua việc khơi dậy đầu óc tưởng tượng và kích thích nhu cầu thẩm mỹ, sáng tạo.

Tôn chỉ của báo chí Việt Nam trước sau vẫn là phục vụ sự nghiệp “kháng chiến và kiến quốc, đoàn kết toàn dân, thi đua yêu nước; xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà, bảo vệ hoà bình thế giới...”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, báo chí phải “đấu tranh cho tự do, chân lý, cho tương lai tươi sáng của loài người...” Trong tư duy báo chí của Người, đối tượng của báo chí, truyền thông không bó hẹp trong một số tầng lớp vốn có điều kiện dễ dàng tiếp cận thông tin, mà báo chí phải hướng về “đại đa số dân chúng”, vì đông đảo nhân dân, bao gồm và đặc biệt là những người học vấn không cao lắm. 

Tính chất báo chí, vẫn theo Bác Hồ, trước hết là “tính quần chúng và tinh thần chiến đấu...”. Ngay vào thời nay ta quen gọi thời bao cấp, khi cả hệ thông báo chí nước nhà được Đảng và Nhà nước chăm lo cho mọi thứ, từ nhu cầu về tài chính, cơ sở hạ tằng đến các điều kiện tác nghiệp, Người đã khẳng định “Báo chí cũng là một ngành kinh tế”. Báo chí không chỉ có trách nhiệm phục vụ các nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế mà báo chí còn phải lo về mặt kinh tế cho hoạt động của chính mình. 

Quan điểm báo chí Hồ Chí Minh coi trọng “tự do tư tưởng”. Người viết: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do... Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm ra chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền phục tùng chân lý”. Vậy thì chân lý ở đâu, chân lý là cái gì, chân lý thể hiện ở những mặt nào? Người giải đáp: “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân”

Về phong cách báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn báo chí, truyền thông ta phải “gần gũi quần chúng”. Nhà báo cần tâm niệm suốt đời: “Vì ai mình viết? Viết cho ai? Viết để làm gì?”. Văn phong báo chí phải “giản đơn, dễ hiểu, phổ thông, hoạt bát...” nhưng tuyệt nhiên không thông tục. Bác Hồ dặn bài báo phải đúng đồng thời phải hay,"viết có hay mới có đông người đọc”.. Báo chí cần phấn đấu để khỏi bị chê là “báo lá cải”. Song song với yêu cầu giản đơn, dễ hiểu, Bác Hồ căn dặn nhà báo hãy cố gắng “viết cho văn chương, cho người đọc thấy hay, thấy văn chương người ta mới thích đọc...”

Báo chí trong bất kỳ bối cảnh nào cũng vẫn là “diễn đàn của nhân dân”. Sản phẩm báo chí mang dấu ấn cá nhân, nhưng làm ra một tờ báo là công sức, tâm huyết của cả tập thể. Tính tập thể của nghề báo trong tư duy Hồ Chí Minh không đơn thuần thể hiện về mặt nội dung, mà còn ở lối làm việc hài hòa của cả tòa báo, bao gồm “người viết, người in, người sửa bài, người phát hành... ăn khớp với nhau...” Đi đôi với việc đề cao tính tập thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng tài năng cá nhân. Người khuyến khích mọi người nên biết vận dụng thế mạnh của mình, phát huy biệt tài của mình khi tác nghiệp.

“Nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm việc xây dựng đội ngũ những người làm báo, và tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp của họ, Hội Nhà báo Việt Nam. Người nhiều lần nhấn mạnh vai trò “chiến sĩ” của người làm báo, đòi hỏi nhà báo phải kiên định lập trường, giữ vững quan điểm, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt. Nhà báo phải là người chí công vô tư, có hiểu biết rộng và nhất là cái tâm trong sáng. Nhà báo cần thường xuyên nâng cao đạo đức nghề nghiệp. Hễ có dịp gặp các nhà báo là Người nhắc nhở chuyện này. 

Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về đạo đức báo chí. Người là một người làm báo với nội dung chân chính, cao cả nhất của từ ấy. Khi cầm trên tay cây bút hay gõ máy chữ viết báo, Người không quan tâm đến việc đề cao tên tuổi hay vì lợi ích riêng. Người khuyên các nhà báo chớ nên nghĩ viết báo là để “lưu danh thiên cổ”. Suốt cả cuộc đời cầm bút, Người luôn hướng về cái đích mang trí tuệ, tâm huyết và tài năng của mình phục vụ nghiệp cách mạng, phục vụ nhân dân, vì lợi ích của nhân loại.

Để đạt được đỉnh cao trong sáng ấy, trở thành một nhà báo lớn, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã kiên trì học tập, “khổ luyện suốt đời”. Khi mới đặt chân đến Pháp, do nhu cầu đấu tranh vì độc lập, tự do của đất nước, nhận thấy sự cần thiết trở thành một nhà báo viết tiếng Pháp giỏi, Nguyễn Ái Quốc khởi đầu bằng cách tập viết những mẩu tin ngắn, “mỗi tin chỉ có năm ba dòng”. Khi mẩu tin hoặc bài viết ngắn được đăng lên báo, Người mang ra so sánh bản thảo mình viết với bản đã được tòa soạn biên tập, từ đó tìm hiểu xem các bậc đàn anh đã chỉnh sửa ở những chỗ nào. Nhờ thông qua cách vừa làm vừa học, sau chưa đến hai năm tính từ ngày đặt chân lên đất Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã là tác giả nhiều bài chính luận, tiểu phẩm, điều tra... có giá trị về nội dung, hấp dẫn trong cách thể hiện, làm kinh ngạc nhiều nhà trí thức Pháp có dịp đọc Người. Cho dù Bác Hồ nhận mình chỉ là “người có nhiều duyên nợ với báo chí”, cả cuộc đời của Người, từ những ngày phải trốn tránh kẻ thù cho đến khi đảm đương nhiều trọng trách quốc gia, thời gian luôn eo hẹp, Người không rời cây bút. Năm 1955 có hai ngày đầu năm, Tết dương lịch và Tết Nguyên đán Ất Mùi. Trong khoảng thời gian ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh dù bề bộn đại sự quốc gia, đã viết tới 52 bài báo, chỉ tính riêng những bài đăng trên báo Nhân Dân . 

Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho báo chí và những người làm báo mỗi quan tâm và lòng ưu ái đặc biệt. Đó là một đức tính, một phong cách không phải nhà lãnh đạo kiệt xuất nào trên thế giới xưa nay ai cũng có thể có.

------------

(1) Tất cả những câu của Hồ Chí Minh đóng trong ngoặc kép và in chữ nghiêng đều được trích dẫn lời Bác Hồ từ Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, HN.
(2) Lê-nin, Sách Làm gì?
(3) Jean Lacouture, Hồ Chí Minh, Nxb. Le Seuil, Paris 1967.(4) Bảo tàng Hồ Chí Minh sưu tầm được 174 tên gọi, bí danh bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, HN, 2015.
(5) Như Hubert Beuve-Méry, nhà báo, người sáng lập báo Le Monde, Giám đốc Trung tâm Nâng cao nghiệp vụ báo chí Pháp; Gabriel Garcia Marquez người Colombi, nhà báo, nhà văn, Giải thưởng Nobel về Văn học; Michio Nagai, nhà báo và nhà xã hội học, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nhật Bản, cây chính luận của nhật báo Ashahi Simbun; Sergei Losev, Tổng Giám đốc Hãng Thông tấn TASS, Liên Xô; Mocktar Lubis, nhà báo Indonesia, Chủ tịch Tổ chức Báo chí châu Á FAP, vv...
(6) Báo cáo được xuất bản năm 1980 qua hai nhà xuất bản tại Dakar và Paris. Bản tiếng Pháp nhan đề Muôn vàn tiếng nói, mối một hành tinh - truyền thông và xã hội hôm nay và ngày mai.