Thứ Ba, 17 tháng 5, 2022

Nghịch lý của “số đông”?

 Theo cách hiểu thông thường, dân chủ là quyền lực thuộc về số đông, đối lập với phi dân chủ là quyền lực thuộc về số ít. Trong điều kiện số đông hội tụ được các yếu tố cần và đủ cho thực hành dân chủ, nhất là trình độ dân trí và thông tin hoàn hảo, thì quyết định của số đông bao giờ cũng sáng suốt hơn quyết định của số ít.

Nhưng không phải lúc nào quyết định của số đông cũng mang ý nghĩa dân chủ thực chất, mà trong không ít trường hợp rơi vào “dân chủ hình thức” hay tình trạng “áp đặt của số đông thiển cận”.

Có thể thấy mấy nghịch lý sau đây khi quyết định của “số đông” không mang ý nghĩa dân chủ thực chất:

Quyết định của số đông khi họ không có đầy đủ thông tin, hoặc bị nhiễu loạn thông tin. Đây là biểu hiện rõ nhất của dân chủ hình thức, khi những người chủ trì lấy ý kiến của số đông, nhưng không đi kèm với công khai, minh bạch đầy đủ thông tin, buộc số đông quyết định trong tình huống không chắc chắn, do cảm tính chi phối. Thiếu thông tin là môi trường thuận lợi cho thiểu số vụ lợi thao túng, gây nhiễu loạn và hướng lái dư luận khiến số đông nhiều khi không tự chủ được ý chí và hành vi của mình khi đưa ra các quyết định.

Quyết định của số đông thụ động trong “hiệu ứng đám đông” có tính nhất thời. Thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp hành động của số đông bị cuốn theo hiệu ứng “tâm lý đám đông” với sự lan truyền nhanh chóng mà người trong cuộc không đủ tỉnh táo để chẩn đoán tình hình và điều chỉnh hành vi của chính mình. Chỉ đến khi phải hứng chịu hậu quả của sai lầm thì người ta mới phản tỉnh, nhưng thường đã quá muộn, bởi “hiệu ứng đám đông” đã qua đi. “Hiệu ứng đám đông” thường thấy trong mua hay bán tháo chứng khoán, bất động sản, tụ tập đông người rồi phản ứng bột phát thiếu lý tính, thậm chí vi phạm pháp luật,... khi bị kích động từ một tác nhân nào đó mà không lường hết hậu quả phải trả giá.

Quyết định của số đông ở những cơ cấu mà quy mô không đủ lớn, dễ bị cá nhân lợi dụng để thao túng, tạo bình phong ban hành quyết định sai trái, buộc số đông phải miễn cưỡng phục tùng. Tình trạng này thường xuất hiện ở các cơ cấu đại diện quy mô quá nhỏ, số lượng ít, nguyên tắc vận hành của tổ chức thiếu khoa học, không có khả năng phát huy dân chủ thực chất và thiếu cơ chế bảo vệ quan điểm, ý kiến của người đấu tranh trước các quyết định sai lầm, buộc số đông phải “mũ ni che tai” và tập thể bị biến thành bình phong cho việc hợp thức hóa ý chí cá nhân.

Quyết định của số đông khi họ bị tư lợi chi phối. Không phải lúc nào số đông cũng vô tư, nhất là trong các hoàn cảnh số đông quy mô nhỏ, bị lợi ích cục bộ chi phối. Nhiều vụ xung đột đất đai ở địa bàn nông thôn cho thấy, không ít cán bộ cấp cơ sở khi vi phạm pháp luật thường tìm cách lôi kéo toàn thể dân làng vào thế đối đấu với chính quyền, đan cài hành vi sai trái của mình trong lợi ích cục bộ cả làng, biến cái sai của mình thành cái sai của cả dân làng, nhân danh “dân làng” để tập hợp lực lượng tạo áp lực với chính quyền khi thương lượng, mặc cả, còn khi bị xử lý theo pháp luật thì được giảm nhẹ mức độ trừng phạt. Hoặc trong bầu cử ở quy mô nhỏ hẹp, số đông có khi chỉ vì tư lợi mà khuất phục trước các hành vi “mua phiếu”, khước từ bỏ phiếu cho người xứng đáng và ủng hộ người không xứng đáng.

Hãy thận trọng và cảnh giác với các quyết định của số đông mà không mang ý nghĩa dân chủ thực chất!

Hãy tỉnh táo phân biệt “dân chủ thực chất” với “số đông thiển cận” hay “hiệu ứng đám đông”!

Phải đấu tranh kiên quyết với các hành vi lợi dụng tình trạng dân trí kém hiểu biết, thiếu thông tin để kích động “tâm lý đám đông”, gây tổn hại cho các lợi ích công cộng, trong đó có quyền lợi của những người tham gia không ý thức được đầy đủ hành vi của chính mình!

Phát huy dân chủ thực chất, thực hành dân chủ rộng rãi cả trong Đảng và ngoài xã hội là một quan điểm nhất quán của Đảng ta trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, để có dân chủ thực chất phải đấu tranh loại bỏ căn bệnh dân chủ hình thức và các biểu hiện mang màu sắc dân túy, phải tạo lập các điều kiện, môi trường cho thực hành dân chủ.

Phải thực hiện chế độ thông tin công khai, minh bạch để số đông có cơ sở chắc chắn khi đưa ra quyết định; không ngừng nâng cao vốn hiểu biết và rèn luyện năng lực thực hành dân chủ trong Đảng và toàn xã hội, phòng ngừa “hội chứng đám đông” và biểu hiện “dân túy”; hoàn thiện các thể chế, quy định phát huy vai trò dẫn dắt, trách nhiệm gương mẫu của người đứng đầu trước tập thể và phòng ngừa, ngăn chặn các biểu hiện “số đông tư lợi”; có cơ chế bảo vệ cá nhân bày tỏ chính kiến đúng đắn, mang tính chiến đấu, trước các hành vi sai trái. Trong các tình huống xuất hiện “hội chứng đám đông” tạo nên “điểm nóng”, phải cô lập, bóc tách những “kẻ đứng hậu trường” đẩy số đông làm bình phong, che chắn cho các hành vi đen tối./.

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội


Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam được thể hiện xuyên suốt trong các tác phẩm của Người, từ Đường cách mệnh đến Chánh cương vắn tắt và những bài viết sau này. Đó là tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc; xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tức là, cách mạng nước ta sẽ trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa.

C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin trong các tác phẩm kinh điển đã dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề dân tộc và độc lập dân tộc; chỉ rõ con đường đấu tranh để giải phóng dân tộc. V.I.Lênin đã phát triển luận điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen "vô sản toàn thế giới liên hiệp lại" thành "vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại", trở thành khẩu hiệu của phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các nước bị áp bức trên toàn thế giới.

Hồ Chí Minh đã khẳng định tư tưởng về dân tộc và giải phóng dân tộc là một trong những vấn đề bản chất nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh đã nêu rõ mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, đặt nền tảng cho sự quá độ từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Độc lập dân tộc là quyền tự chủ, tự quyết của một dân tộc, quốc gia trong việc tổ chức các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… trong phạm vi lãnh thổ của mình, không chịu sự tác động, ép buộc, chi phối, thao túng của nước ngoài. Độc lập dân tộc phải trên cơ sở bảo đảm chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng trong quan hệ quốc tế, được luật pháp quốc tế thừa nhận và trên thực tế phải được khẳng định. Độc lập dân tộc là thành quả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Đối với Việt Nam, độc lập dân tộc không chỉ dừng lại ở độc lập dân tộc dưới chế độ phong kiến, vì vị trí của người lao động vẫn không thay đổi. Độc lập dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một nền độc lập thật sự. Người nhấn mạnh: phải đấu tranh giành cho được độc lập thật sự, độc lập hoàn toàn, chứ không phải là thứ "độc lập giả hiệu", "độc lập nửa vời", "độc lập hình thức". Người đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới để giành độc lập thật sự cho dân tộc, cho đất nước. Tư tưởng độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh bao giờ cũng gắn với tự do, dân chủ và ấm no, hạnh phúc cho nhân dân lao động; gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng đó đã trở thành mục tiêu của cách mạng, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã xây dựng học thuyết về chủ nghĩa xã hội. Học thuyết này đề cao các giá trị độc lập dân tộc; khẳng định chủ nghĩa xã hội là mục tiêu của độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam. Người chỉ rõ: tiến lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, là bước phát triển tất yếu, khách quan ở Việt Nam sau khi đã giành được độc lập dân tộc. Người viết: "Chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân sung sướng, ấm no"[1]; "chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ"[2].

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu, lý tưởng mà còn là động lực của cách mạng Việt Nam, Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là nguyên tắc chỉ đạo tiến trình cách mạng Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta kiên định, quán triệt trong Cương lĩnh, đường lối, chủ trương; Nhà nước thể hiện nguyên tắc này trong chính sách, pháp luật. Toàn thể hệ thống chính trị, mọi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và thực hiện đúng nguyên tắc, mục tiêu này. Đây là lý tưởng, định hướng chiến lược của Đảng, tâm nguyện của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cao cả của độc lập dân tộc, độc lập dân tộc là điều kiện then chốt để bảo đảm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, có học hành, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi tầng lớp nhân dân; dân chủ được mở rộng, người dân thực sự trở thành chủ nhân của đất nước mình.

 


Năm “đạo” băng hoại nhân quần

 Muôn vật trong vũ trụ, muôn người giữa thế gian đều có đạo, đều mang trong mình cái đạo. Đạo, ấy là con đường của sự đắp đổi một cách tự nhiên của vũ trụ; cũng là phương hướng, đường lối hợp nhẽ nhân quần dẫn dắt con người đi trên cõi đời. Đạo là vô hình nhưng lại hiện hữu, vô biên.

Đó chính là đạo của vũ trụ, của Người, của nhân thế trên đời.

Muôn vật đi chệch cái đạo Giời thành ra bất thường, trái quy luật tự nhiên... và tự diệt một cách tự nhiên nhi nhiên. Con người đi ngược cái đạo Người, đạo nhân thế cũng sẽ lâm vào vòng suy vong, tự diệt, khó cưỡng lại được, cũng một cách tự nhiên nhi nhiên. Đạo Giời và đạo Người ở trong nhau, khó mà cắt chia, khó mà tách bạch! Không phải thế, thì sao Thiên - Địa - Nhân xưa nay há chẳng phải chính là chuyện tự nhiên nhi nhiên “tam tài giả”, “tam vị nhất thể” đó sao!?

Có thể nói không ngoa: Đó là minh đạo.

Muôn vật trong vũ trụ vận hành trái nhẽ tự nhiên là phi đạo Giời!

Con người làm trái minh đạo Người, tôi gọi là hắc đạo! Trong số những hắc đạo mà con người đi, có một thứ đạo - đó là sự trộm cắp. Nhớ tháng 6-1949, chả thế mà trong bài “Cần Kiệm Liêm Chính”, Cụ Hồ nói: “Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm)”.

Như thế, đạo là trộm cắp. Nó như thế nào?

Có thể gọi ra:

Đạo chích, đó là thói ăn cắp vặt, kẻ trộm trong làng xã, cơ quan, cộng đồng. Hở ra là trộm, từ chổi cùn cho tới rế rách, “thó” bất kể con cá lá rau, ở nơi thôn dã, phố phường hay vật dụng ở chốn công đường,... Nó làm cho cộng đồng bất an, cơ quan nặng nề, đơn vị u uất... vì bực mình, rồi nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau.

Đạo danh, đó là nạn biển thủ tên tuổi, công trình của người khác làm của mình: đạo văn, đạo nhạc... Rồi tệ mua bán điểm giả, bằng cấp, học vị, học hàm... Rộng ra là ăn cắp tri thức, danh tiếng... để chui sâu vào bộ máy, leo cao những phẩm trật quan trường một cách ô nhục. Lúc sự dối trá, giả hiệu lộng hành thì là khắc sự trung thực, ngay ngắn bị tiêu diệt! Nó làm cho thật giả hỗn mang, trắng đen lẫn lộn, nhân phẩm suy đồi, lòng tin bại hoại.

Đạo vật chính là tệ trộm cắp, tham nhũng vật chất, tiền bạc.... Nó đục khoét của công, biển thủ quốc khố, bòn rút mồ hôi, xương máu Nhân dân để bỏ túi cá nhân, rắp vinh thân phì gia, bành trướng dòng họ, khiến muôn dân bị xâm hại, quốc gia khánh kiệt, quốc thể chênh vênh, xã hội rối ren, thể chế nguy cơ tan tành. Chả thế, mà cách nay 250 năm Cụ Lê Quý Đôn từng răn rằng, trong năm nguy cơ làm mất nước, thì nguy cơ “tham nhũng tràn lan” kia, không thể không đứng hàng thứ tư đó sao! Quan lại càng giàu nhanh một cách khuất tất, trăm họ càng mau lầm than, rên xiết, đất nước càng chóng suy mạt, bại vong. Nó nguy hiểm hơn cả nạn giặc giã, giặc ngoại xâm.

Đạo vị, đây là sự trộm cắp chức vụ trong bộ máy của Đảng, của Nhà nước và của hệ thống chính trị. Nhân dân và chúng ta thì gọi là, tham nhũng quyền lực. Từ “cả họ làm quan”, “cha truyền con nối” tới các thủ đoạn tham nhũng tuổi tác, bằng cấp để “lẻn” vào chốn quan trường, rồi mua phiếu bán danh, trộm cắp chức vụ bằng mọi quỷ kế. Khi các “chính trị gia” bắt tay một cách tăm tối với các doanh nhân thì nền chính trị không hủ bại, chính trường không bị “dắt mũi” mới là chuyện lạ! Từ dùng tiền để “cuỗm” quyền lực chính trị, rồi dùng chính trị để “cướp” lấy quyền lực kinh tế, lại dùng kinh tế để chui sâu leo cao vào chính trường, rắp đoạt lấy quyền lực chính trị cao hơn. Thì không nghi ngờ gì nữa, nó tác họa muôn dân, băm nhỏ lợi ích quốc gia, trộm cắp từng mảnh chính trị, kinh tế đất nước và lũng đoạn thể chế quốc gia. Nó làm cho nhân quần ly tán, nền chính trị rối loạn, thể chế suy đồi, quốc gia hỗn mang, đất nước tan vỡ, thậm chí diệt vong hoặc làm nô lệ cho giặc ngoại bang. Mua quan bán tước, buôn bán quyền lực dẫn tới nạn hoặc nhỏ thì “anh hùng nhất khoảnh”, lớn thì “sứ quân”, “dòng họ cát cứ”, thậm chí cả sự ô nhục bán nước cầu vinh chỉ là bước “tự chuyển hóa” rất ngắn, thậm chí trong chớp mắt mà thôi! Lịch sử đã cho thấy không ít sự nhãn tiền sinh tử ấy.

Đạo tâm, đó chính là nạn ăn cắp lòng tin. Nói mà không làm, làm ngược nhời nói. Trên diễn đàn thì, rao giảng đạo lý, dạy dỗ chính liêm, nơi chính sự thì ức vạn tối tăm, phè phỡn phù hoa, xa xỉ... Cụ Trang Tử bảo: Người không biết xấu hổ thì không ra giống người! Nó khiến muôn dân ai còn dám tin cậy được nữa! Nếu không nói nó khiến trăm họ oán thán, nổi giận! “Khẩu Phật tâm xà”, “Miệng rao đạo lý, tay che đạo vị, tay lấp đạo tặc” thì sự còn, mất muôn dân, thật cũng... thôi rồi! Nhẫn tâm! Thế là đạo đức giả lộng hành! Thử hỏi, lúc ấy, bách tính còn dám hy vọng gì ở họ về liêm sỉ, về quốc sỉ hay quốc thể được nữa? Ông cha ta bảo: Mất niềm tin là mất hết! Nếu lòng tin nơi muôn dân bị đánh cắp, thật không còn gì nguy hiểm hơn, sinh tử hơn... để mà bàn nữa! Ngay cả tội đạo quốc, tức là ăn cắp quốc gia kia (như thoán đoạt vương triều, quốc gia cho dòng họ mình hoặc “dâng” xã tắc cho ngoại bang), thì so với thứ đạo tâm này, ắt hẳn còn thua! Vì, nếu mất nước, Dân ta có thể lấy lại được, nhưng Lòng tin của Nhân dân với thể chế bị đánh cắp, thì nhãn tiền quả báo, và dẫu Giời xanh kia cũng khó cứu nổi họa đối với quốc gia đâu!

Còn thứ đạo gì tăm tối nữa trong hắc đạo không?

Suy xét rộng và xa hơn, những thứ của hắc đạo ấy do nhiều nhẽ, nhưng một phần căn bản do bất liêm mà ra. Cụ Hồ nói: “Do BẤT LIÊM mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp”.

Trở lại với minh đạo nơi nhân thế. Muốn nhìn thấy nó thì phải tu luyện và phải dụng công tích đức thì mới đắc đạo. Đạo không phải chỉ nơi lời nói, mà ở kết quả của việc mình làm. Lại chẳng phải chỉ nơi câu kinh câu kệ mà cốt yếu là buộc ở nơi hành xử của người tầm đạo. Cái khó khăn của nó chẳng phải tại nơi giảng dạy mà cốt ở chốn thực hành. Càng chẳng phải tất cả tại nơi yếu lý của đạo, mà ở hành động sống của kẻ giáo truyền và người mong hành đạo. Đó là một phương châm dẫn lối muôn người ra khỏi hắc đạo, tự mình tỉnh ngộ, đặng trở về với minh đạo trên đời. Đức Phật chẳng đã từng dạy: Kẻ thù lớn nhất của đời người chính là mình, đó sao!

Hẳn ai cũng thấu rằng, (bất liêm sinh ra) trộm cắp là điều thậm xấu hổ, là mắc tội với Dân, với Nước, báng bổ nòi giống tổ tiên ta! Và, nói như Cụ Khổng Tử: Người mà không liêm, không bằng súc vật. Nhưng họ làm như thế mà không sợ đạo Giời có mắt, Đất dày linh thiêng, không sợ đạo Người trừng phạt, không sợ quả báo đời sau, không sợ mình tự mình gieo họa và tự chính mình chuốc lấy cái vạ quả báo tự diệt hay sao!? Cái liêm, cái sỉ ở họ liệu có còn không?

Và, Nhân dân cần được và phải biết đâu là quyền hạn của mình, phải được bảo vệ, để cùng Đảng và Nhà nước kiểm soát nhằm dẫn những người lâm vào những nẻo đường hắc đạo tăm tối ấy tự đối diện với mình, với nhân quần, tự gột rửa mình sạch sẽ; quyết bài trừ hắc đạo ấy trong xã hội.

Nhưng, nếu sự răn dạy của đạo lý chưa đủ thấu, sự tỉnh ngộ của bản thân chưa đủ độ, tai mắt của Nhân dân chưa đủ rộng, sâu, thì quốc pháp bất vị thân phải kiềm tỏa. Nghĩa là, phải lấy đạo Người “thẳng tay trừng trị” những kẻ trộm cắp ấy, “bất kể kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì... từ trên xuống, từ dưới lên trên”, như Cụ Hồ nói!

Chửa thấy những con đường tự giáo hóa, tự phòng ngừa, cũng chửa thấy phương cách ngăn chặn, gột rửa và tẩy trừ nào khác tất dụng hơn! Tại lúc này đây!

Và, thử hẵng trông lên, còn đạo Giời lồng lộng chín tầng cao kia nhưng ứng nghiệm... vô cương, cũng đang soi rọi đạo Người chốn nhân gian kia nữa!

Thấu chăng?./.

Kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để xây dựng đất nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc


     Lịch sử thế giới hiện đại đã ghi nhận rằng, Việt Nam là nước đầu tiên tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải  i trong điều kiện có chiến tranh. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành đồng thời chiến lược cách mạng ở cả hai miền Nam - Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều đó cho thấy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là quy luật phát triển tất yếu, làm nên thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và đó cũng là sự nhất quán trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, của Đảng ta khi lựa chọn con đường phát triển hợp xu thế phát triển thời đại của cách mạng Việt Nam.

     Kể từ khi nước nhà hòa bình, độc lập, thống nhất, non sông liền một dải đến nay, đặc biệt là sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được Đảng ta, nhân dân ta kiên định thực hiện, bất chấp sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, bất chấp sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa luôn được thấm nhuần trong tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân Việt Nam; trở thành bài học đầu tiên được Đảng rút ra tại Đại hội lần thứ VII (1991), đó là: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là bài học xuyên suốt trong quá trình cách mạng nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc”[7].

     Tiếp đó, kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII nhấn mạnh: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn. Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa”[8]. Đại hội Đảng lần thứ IX cũng tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”[9]. Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ X (2006) của Đảng khẳng định nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn với 8 đặc trưng cơ bản; đồng thời, nhấn mạnh bài học số một là: Trong quá trình đổi mới, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

     Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,  phát triển năm 2011) tại Đại hội XI của Đảng (2011) đã rút ra 5 bài học cơ bản và tiếp tục nhấn mạnh bài học đầu tiên như đã nêu trong các văn kiện đại hội; đồng thời, khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”[10]. Cương lĩnh nêu những nội dung cơ bản của con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; bổ sung, phát triển những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng với 8 đặc trưng cơ bản, 8 phương hướng cơ bản và những mối quan hệ lớn cần phải nắm vững và giải quyết tốt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều đó cũng khẳng định rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc và là hai mặt không thể tách rời của con đường phát triển đất nước, hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

     Như vậy là, trong hơn 9 thập niên lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dù trong hoàn cảnh khó khăn, thử thách nào, Đảng ta vẫn luôn kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Lý luận và thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đều khẳng định: con đường duy nhất đúng để đất nước phát triển bền vững là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; là sự lựa chọn kiên quyết và đúng đắn, là sự kiên định và sáng tạo của Đảng ta dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp quy luật, đúng như Đại hội lần thứ XII (2016) của Đảng khẳng định: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”[11].

     Kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội càng đòi hỏi mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phải vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm lịch sử, phát huy sức mạnh dân tộc, thời đại và sức mạnh nội sinh của dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

     Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, hơn bao giờ hết, bài học phải “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới”[12], tập trung giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, phản ánh quy luật đổi mới và phát triển ở Việt Nam (giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế) càng phải được thấm nhuần, chủ động và kiên trì thực hiện. Bởi rằng, trước những thời cơ, vận hội và khó khăn, thách thức đan xen, bên cạnh những thành tựu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh…Việt Nam vẫn phải đối mặt với những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; với tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; với các biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hóa quyền lực trong Đảng và hệ thống chính trị chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách triệt để…

     Trên bình diện quốc tế, xung đột bạo lực khu vực vẫn tiếp diễn, bất hòa giữa một số quốc gia vẫn gia tăng và xung khắc thương mại giữa Mỹ với một số đối tác của Mỹ leo thang căng thẳng; vấn đề tranh chấp Biển Đông đang diễn biến phức tạp… Một bầu không khí “màu xám” bao trùm toàn cầu trước nguy cơ lây lan của virus SARS-CoV-2, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị, an ninh toàn cầu... Trong khi đó, các thế lực phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng mạng xã hội kích động biểu tình, bạo loạn, lật đổ, chống phá quyết liệt công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Không chỉ lợi dụng các chiêu bài bôi nhọ, phủ nhận và đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định cho sự thành công của chủ nghĩa xã hội, các thế lực phản động, cơ hội còn phủ nhận nhwungx thành tựu về mọi mặt của Việt Nam và cho rằng con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sai lầm, dẫn đến nước nhà tụt hậu. Tất cả những yếu tố đó đã và đang đặt ra yêu cầu vừa cấp thiết vừa kiên trì để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

     Đón nhận thời cơ và đối diện thách thức, Đảng ta và nhân dân ta nhất quán thực hiện nguyên tắc đặt lợi quốc gia, dân tộc lên đầu, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi nhất cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để "đưa đất nước vừng bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững"[13]; để đạt được các mục tiêu cụ thể đến năm 2025 "là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức trung bình thấp"; đến 2030 "là  nước đang phát triển, có công nghiệp hiện địa, thu nhập trung bình cao"; đến 2045 "trở thành nước phát triển, thu nhập cao" như Nghị quyết Đại hội XIII đã khẳng định.

     Thế giới có nhiều đổi thay, song Đảng ta, nhân dân ta luôn kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, không chỉ tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho con đường phát triển của cách mạng Việt Nam mà còn là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó cũng chính là sự lựa chọn đúng đắn để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhân nguồn sức mạnh nội lực và thống nhất về tư tưởng, ý chí, hành động đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về những thành tựu đã và đang trở thành hiện thực sinh động ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./.

Độc lập dân tộc là tiền đề để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở để bảo vệ độc lập dân tộc


     Trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước trong thời đại mới và khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[3]. Từ bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Người đã lựa chọn và đứng trên lập trường của giai cấp vô sản để tiến hành giải phóng dân tộc bằng một cuộc cách mạng vô sản và bước phát triển tiếp theo là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam khi nhấn mạnh: một là, cách mạng phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc; hai là, phải thực hiện Dân tộc cách mệnh để tập trung đánh đổ bọn đế quốc thực dân và bọn phong kiến tay sai giành lại độc lập cho xứ sở và Thế giới cách mệnh giống như giai cấp công nông Nga đánh đổ tư bản áp bức…

     Luận cứ để mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có thể trở thành hiện thực sinh động ở Việt Nam chính là cách mạng giải phóng dân tộc được đặt trong quỹ đạo cách mạng vô sản; là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội theo tinh thần của Quốc tế thứ III: “Vô sản giai cấp và dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại”! Đồng thời, “muốn cách mệnh thành công thì dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”[4] và “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”[5].

     Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được khẳng định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa được chỉ rõ là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[6] - tức là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng, từng bước đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hai giai đoạn cách mạng này có quan hệ biện chứng; trong đó: Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải giành được độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội chính là điều kiện tiên quyết để giữ vững được độc lập dân tộc, xây dựng được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

     Dưới ngọn cờ độc lập dân tộc có hướng đích chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhận thức rõ, độc lập dân tộc, điều kiện đầu tiên để xây dựng và phát triển đất nước chỉ được bảo đảm vững chắc khi gắn liền với chủ nghĩa xã hội và giành được độc lập dân tộc mà không đi lên chủ nghĩa xã hội thì chẳng những không bảo vệ được độc lập dân tộc mà còn không thể mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, Đảng ta, nhân dân ta đã luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

     Độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội (giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa) - mục tiêu định hướng tương lai của dân tộc Việt Nam là sự lựa chọn chính xác, đúng đắn của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ thập niên 1930, đã góp phần khơi nguồn sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ, phát triển đất nước. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

     Đại hội lần thứ II của Đảng (1951) khẳng định, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam sẽ tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa và nước Việt Nam sẽ thành một nước xã hội chủ nghĩa. Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) đã giành được thắng lợi. Với Hiệp định Giơnevơ (20/7/1954), miền Bắc Việt Nam được giải phóng đã từng bước khôi phục, cải tạo kinh tế, xã hội, văn hóa và đi lên chủ nghĩa xã hội; còn ở miền Nam, đồng bào ta tiếp tục thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng, thực hiện khát vọng thống nhất nước nhà.

     Đại hội Đảng lần thứ III (1960) - Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà đã xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là: Đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Hướng đến tương lai tươi sáng đó, cuộc đấu tranh đầy gian khổ sau 21 năm gian nan, thử thách, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh cách mạng ở miền Nam đã kết thúc thắng lợi bằng cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Miền Nam được giải phóng, hai miền Nam - Bắc đã sum họp một nhà và cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.


Tượng đài và tượng… tâm!

 Làng tôi là làng khoa bảng!

Thuở bé, lúc chửa biết chữ, tôi học lịch sử bằng... bia đá, qua ông nội. Bao nhiêu ông nghè, ông cử của làng, tôi ngắm bia đá, trên đó dày đặc những chữ nho, ghi tên những bậc khoa bảng. Tôi học bằng miệng. Và, thuộc lòng, tất tật các vị khoa bảng của làng! Bẵng đi, bia đá cũng rêu phủ. Trí nhớ cũng mòn theo. Tôi không còn đọc thuộc nguyên vẹn nữa! Trăm năm bia đá thì mòn...

Huyện tôi là huyện của những anh hùng và danh nhân!

Nhớn lên chút nữa, cha tôi dạy tôi lịch sử bằng những tượng đài. Nhìn tượng nhớ người! Và, tôi cũng thuộc lòng lịch sử qua những pho tượng sừng sững, đứng trên cả mấy sào đất! Tôi học bằng mắt! Lâu dần, tượng mòn đi bởi nắng đốt gió cào, rêu phong, chẳng thể nhận ra thuở ban đầu. Cứ lần theo thời gian, nhiều pho trông mòn hẳn, lại mốc mác, thậm chí nhếch nhác, lòng tôi thành ra bập bõm! Chưa kể, cũng một người, mà mỗi nơi tạc một dạng. Thành thử, đem một vị ra đối sánh mấy pho tượng, rồi mấy pho tượng đối sánh với nhau. Đến cha tôi nhìn, cũng lúc nhớ, khi quên, thậm chí cũng chẳng nhận ra là tượng ai nữa! Hình như, quê tôi không có tượng đài, người ta như sợ bị nhiễm... bệnh không lớn được, vì thiếu oai phong!

Nhớn hẳn lên, tôi ra ngang dọc thiên hạ. Lúc mỏi mệt, quay về làng. Khi rỗi rãi, mẹ tôi thường kể sử, bằng cách nói những đền thờ, những miếu thờ trong xứ. Những ai mở đất xứ ta, những ai lập ấp khẩn hoang làng tôi, những ai có công đánh giặc giữ nước, những ai chia gạo nhà mình cho dân mỗi đận tháng tám ngày ba hồi cải cách... Tôi lớn, mẹ tôi dạy tôi học bằng tự cảm! Trăm năm, ngàn năm chỉ còn truyền lại bằng những miếu, qua những ban thờ, tịnh không ảnh vẻ, càng tịnh không một bóng tượng đài. Mẹ tôi nhắc những nhời của Bà Đoàng cứu tế cho làng, lúc tản cư lánh giặc, khi giáp hạt, rằng “Một nắm khi đói hơn một gói khi no”! Mẹ tôi dạy nhắc tôi nhớ màu của củ khoai lang Ông Đùng cứu cả họ buổi tháng tám, khi đói quắt quay do vỡ đê Văn Giang 18 năm liền thời vua Tự Đức... Rồi nhời của những hạt lúa làng ăn mang dáng hình của những giọt mồ hôi tiền nhân mở đất lúc hoang sơ, cũng giống như hình giọt máu giữ đất mùa giặc giã mà các ông bà ấy quẩy theo lúc lũ lụt, khi tản cư lánh giặc! Miếu thôn Thượng, đền làng Hạ khắp xứ tôi, do các làng lập ra để thờ các vị ấy. Bé xíu... Rêu phong... Trầm mặc... Đứng nép trong hơi ấm lũy tre làng... mà bốn mùa nghi ngút khói hương. Mẹ tôi chậc lưỡi, nhẹ như gió thoảng, và đăm chiêu: - Ai thương Dân, Dân lập ban thờ!

Bây giờ, thì đường xa chân mỏi. Một đời ngang dọc sơn hà. Lại về quê. Ngoại tôi móm mém: - Giờ, rỗi rồi, chả còn ỷ bận công nước việc non, con năng sang thắp hương cho ông giáo Thức hơn nhá! Ông ngoại con nên ông nghè, ông trạng, là ngày xưa bà gửi gắm cả vào cửa nhà ông giáo cả! Nhân bất học bất tri lý! Xứ này, mấy ông nghè ông trạng đều bước từ cửa mấy đời nhà ông giáo mà ra đới! Chợt ngoại tôi chỏ ra cây đa đầu xứ đã tỏa rợp bóng cả đường làng, rồi bảo: -Tượng Cụ Trạng đấy! Cả xứ bảo thế! Cây đa Cụ Trạng! Cụ Trạng trồng trước khi về với ông bà ông vải: - Để lấy bóng mát cho lũ trẻ đi học trường đồng bãi nắng nôi về nghỉ chân đấy! Ai cũng chăm. Thảo nào, xứ tôi có đến dăm cây đa, nhưng tuổi dễ đến cả mấy trăm năm như thế! Mỗi gốc đa ở đó là một miếu thờ một ông thần treo ấn từ quan, về xứ mở trường. Đi xa về, ngóng làng, chả thấy gì, trong tầm nhìn mút mắt, chỉ thấy những đa làng, mà ở đó ngự những vị đã thành những ông thần lòng Dân!

Tôi lặng đi! Giời bỗng im đất cũng chợt ắng! Bà ngoại tôi móm mém, bàn tay hơn trăm năm gội nắng gió, quệt ngang khóe môi tràu đỏ, bỏm bẻm mấy câu của ai đó... rất xa xăm. Nhẹ hơn lời gió!

Rằng:

Đất nước trải mấy ngàn năm lịch sử

Đã bao bận thiếu vua nhưng không thể thiếu Thày

Tượng đài vua, ai dựng trên lối cũ

Tượng đài Thày, Dân tạc ở trong tim! ./.

Một số yêu cầu về kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay


     Để đi lên chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Đại hội lần thứ XIII của Đảng, cần thực hiện một số yêu cầu sau:

     Một là, thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước theo tinh thần Đại hội lần thứ XIII của Đảng

Phải thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về quan điểm, đường lối của Đảng, nhất là về các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ cần thực hiện trong giai đoạn hiện nay. Để thực hiện được yêu cầu này, phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục cho các chủ thể nhận thức rõ ý nghĩa, trách nhiệm trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ. Cần có các biện pháp thông tin, tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, phải thường xuyên quán triệt, phổ biến đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng gắn với trách nhiệm, vị trí công tác. Đối với quần chúng nhân dân, phải có nhiều hình thức thông tin, tuyên truyền phù hợp, đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, sát với điều kiện, trình độ nhận thức của các tầng lớp nhân dân.

     Hai là, xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể hóa các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển trong văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng

Quan điểm, đường lối của Đảng chỉ thực sự có ý nghĩa khi được triển khai thực hiện trong cuộc sống. Mức độ hiệu quả trên thực tế là thước đo vai trò lãnh đạo của Đảng và sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trên cơ sở thống nhất nhận thức, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở phải xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, gắn với điều kiện, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, địa phương, đơn vị. Triển khai đầy đủ, toàn diện, đồng bộ các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể; bảo đảm quốc phòng, an ninh; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ. Chú trọng thực hiện có hiệu quả 06 nhiệm vụ trọng tâm, 03 đột phá chiến lược mà Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định. Trong đó, phải đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, khoa học, có tính khả thi cho từng mục tiêu, chỉ tiêu, nội dung thực hiện.

Ba là, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ các nguồn lực phát triển đất nước

Quán triệt tinh thần Đại hội lần thứ XIII của Đảng về khơi dậy và phát huy mạnh mẽ các nguồn lực vật chất và tinh thần phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Khơi dậy và phát huy ý chí tự lực, tự cường của con người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, giá trị văn hóa, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.

Phát huy mọi tiềm năng, lợi thế của đất nước, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường. Khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Theo đó, cần hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; làm cho kinh tế - xã hội phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước. 

     Bốn là, đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã, đang và tiếp tục làm mọi cách để chống phá, xuyên tạc quan điểm, đường lối phát triển đất nước mà Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra. Vì vậy, trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ phải luôn quán triệt tinh thần kết hợp giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Một mặt, phải tổ chức thực hiện hiệu quả quan điểm, đường lối của Đảng, không tạo khoảng trống để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Mặt khác, phải kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ âm mưu, bản chất, tác hại của các quan điểm sai trái, thù địch để chủ động phòng ngừa, đấu tranh.

      Năm là, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới của đất nước

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Mọi biểu hiện xét lại hoặc giáo điều trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều là những lệch lạc, sai lầm cần phòng tránh và phê phán. Kiên định, vận dụng và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu, nhiệm vụ rất quan trọng, xuyên suốt, nhất quán trong quá trình đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong bất kỳ điều kiện, tình huống nào cũng phải kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xác định các bước đi của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

“Sống giả”

 “Sống giả” thực chất là cách sống chủ yếu vì mình mà ít vì mọi người, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến sự vận động, phát triển lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Một nhóm cán bộ hưu trí ngồi nói chuyện với nhau. Một ông khơi mào: “Theo dõi trên báo chí thời gian gần đây, các ông có thấy lời phát ngôn nào thu hút sự quan tâm của dư luận?”.

Tất cả trầm ngâm suy nghĩ, rồi một ông rành rẽ trả lời: “Tôi nhớ một vị lãnh đạo nói rằng, trong xã hội hiện nay có nhiều cái giả quá. Nào là hàng hóa giả, buôn bán giả, học hành giả, chứng chỉ giả, “cái gì cũng giả” khiến không biết đâu là ranh giới chuẩn mực của xã hội, từ đó ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với chế độ”.

Mọi người đồng tình và rôm rả trao đổi làm rõ thêm câu chuyện: “Giả” không chỉ có nghĩa “không phải là thật”, mà còn bao hàm nhiều nghĩa, như giống vật gì nhưng không phải mang bản chất của vật ấy; làm ra để thay thế một vật nào đó; làm giống như thật; bắt chước sự thật... Nhưng chung quy lại, giả là đối lập với thật, là lợi dụng cái thật để làm y như thật nhằm che mắt, lừa dối thiên hạ vì mục đích hẹp hòi, nhỏ nhoi, không chính đáng. Làm hàng hóa giả để kiếm lợi nhuận bất chính. Buôn bán giả nhằm tận thu lời bất hợp pháp. Học hành giả gắn với chứng chỉ giả nhằm kiếm bằng cấp làm “trang sức”, lòe bịp, “đánh bóng” lý lịch cá nhân hòng vụ lợi... Phải nói rằng, cái gì giả cũng đáng lo ngại, đáng phê phán!

Rồi ông cán bộ khơi mào câu chuyện lại thốt lên: “Nhưng có một cái giả đáng sợ hơn? Các ông có biết đó là cái giả gì không?”.

Các ông khác lại suy nghĩ, rồi một ông trả lời: “Theo tôi, đáng sợ nhất bây giờ chính là tình trạng “sống giả”!”.

Các ông lại bàn tán: “Sống giả” không chỉ có nghĩa là sống không thật lòng mình, mà còn là kiểu cách sống bằng mọi giá để “lấy lòng, mua chuộc” người khác. Những người “sống giả” luôn có cách hành xử thế này: Với cấp trên, thì cái gì cũng phải, cũng đúng, cũng hay; với thủ trưởng thì bao giờ cũng nhũn nhặn “một dạ, hai vâng”; với mọi người thì “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, “gió chiều nào theo chiều ấy”, “thấy xôi khen xôi ngọt, thấy thịt bảo thịt bùi”, lúc nào cũng ứng xử theo kiểu “dĩ hòa vi quý” để cố gắng không làm mất lòng, phật ý một ai. Nhưng còn có một thứ “sống giả” tinh vi hơn, đấy là một số người ứng xử đến mức “siêu khéo”, luôn sử dụng những “lời có cánh”, những mỹ từ để khen ngợi người này, vuốt ve người khác, biết tận dụng thời cơ để “cung kính” cấp trên, “chiều chuộng” cấp dưới, “cưng nựng” đồng nghiệp. Cái sự “sống giả” này càng thấy rõ nhất ở một số người đang trong thời điểm chuẩn bị đại hội, chuẩn bị lấy phiếu tín nhiệm, chuẩn bị bầu cử, chuẩn bị bổ nhiệm chức vụ mới.

Nhưng những người “sống giả” lại... không dễ bị phát hiện như “hàng giả”, “chứng chỉ giả”, “bằng cấp giả”. Vì đó là những con người bằng xương bằng thịt hẳn hoi, đôi khi được “khoác” trên mình một diện mạo bóng bẩy hào hoa, nhưng họ khéo léo thể hiện “cử chỉ giả” để làm “xiêu lòng” người khác, “mua chuộc” nhân tâm.

Một ông trong nhóm nói giọng đầy bức xúc: “Như vậy, “sống giả” cũng là một trong những hình thức tạo dựng “uy tín giả” cho cán bộ, đảng viên, một triệu chứng không thể xem thường trong bộ máy công quyền, đúng không?”.

Các ông khác đồng thanh: “Đúng vậy!”.

Thực tế đã có những người tiến thân không phải do tài năng, đức độ, mà đi lên bằng cái “môi mỏng lưỡi mềm” siêu đẳng của họ. Họ hiếm khi gây mất lòng ai, nhưng do tài cán có hạn, lại chỉ khư khư “giữ mình” vì ngại đụng chạm, ngại va vấp,... thế nên những người này thường không có chính kiến rõ ràng, không có tính quyết đoán, không dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, do đó không góp phần tạo ra động lực thúc đẩy, nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc cho tập thể, cho bộ máy công quyền. “Sống giả” thực chất là cách sống chủ yếu vì mình mà ít vì mọi người, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến sự vận động, phát triển lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị.

“Sống giả” như thế thì không chỉ đáng sợ, mà còn đáng nguy nữa. Vì thế, đã đến lúc chúng ta cần tỉnh táo nhận diện những “khuôn mặt thật” nhưng lại được bao bọc bởi cái “mặt nạ sống giả” dễ làm mập mờ, lẫn lộn ranh giới tốt - xấu, đúng - sai, hay - dở và gây “ung nhọt” đạo đức cán bộ, đảng viên./. 

Về các mối quan hệ lớn cần giải quyết


     Các mối quan hệ lớn cần giải quyết trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội được Đảng tổng kết, hệ thống hóa lần đầu tiên trong Cương lĩnh năm 2011. Đó là 08 mối quan hệ: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Đại hội lần thứ XII, Đảng có sự điều chỉnh mối quan hệ “giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa” thành “giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa” nhằm làm rõ hơn trong chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại nền kinh tế thị trường; và bổ sung thêm mối quan hệ “giữa Nhà nước và thị trường”. Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã bổ sung, phát triển thành quan hệ “giữa Nhà nước, thị trường và xã hội”.

      Tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng tiếp tục có những nhận thức, bổ sung mới về các mối quan hệ lớn. Đó là điều chỉnh, bổ sung mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” thành “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”; điều chỉnh mối quan hệ “giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” thành “giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”; điều chỉnh mối quan hệ “giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” thành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”. Đặc biệt, bổ sung thêm mối quan hệ “giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”(16).

     Như vậy, Đảng đã có những điều chỉnh, bổ sung mới từng mối quan hệ một cách chặt chẽ, đầy đủ, thành 10 mối quan hệ lớn cần giải quyết. Đây là sự phản ánh quy luật khách quan, mang tính biện chứng của những vấn đề lý luận cốt lõi trong đường lối đổi mới của Đảng, làm cho “lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”(17).


Đừng quên sự trung thực

  Trong buổi họp tiếp xúc cử tri gần đây ở xã Chu Hồng, cử tri Long giơ tay đến lần thứ tư thì được ban tổ chức mời phát biểu. Khác với những cử tri đã “đăng đàn” trước đó, ông Long không dẫn vấn đề dài dòng mà thẳng thắn đặt câu hỏi rất ngắn.

- Trước vấn đề khuyết điểm của cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy chính quyền các cấp ngày càng nhiều, mức độ ngày càng nghiêm trọng, phạm vi ngày càng rộng và có sự liên kết mang tính tổ chức ngày càng rõ; tôi cho rằng đó là biểu hiện của hiện tượng cán bộ thiếu trung thực với dân với tổ chức Đảng. Vậy, tôi xin hỏi, việc đánh giá sự trung thực của các bộ trong Đảng như thế nào, cách thức tiến hành ra sao?

Mặc dù bất ngờ trước câu hỏi này, nhưng người của ban tổ chức cũng đứng lên trả lời cử tri Long rằng, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp được tiến hành theo quy trình thống nhất, thông qua chỉ đạo của Đảng từ Trung ương xuống đến cơ sở. Mỗi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức ở các cấp đều quy định rõ các điều kiện cần và đủ về học vấn, phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn, uy tín... Trung thực của cán bộ chỉ là một tiêu chí nằm trong phẩm chất đạo đức nên các văn bản chỉ đạo của Đảng ít nhắc cụ thể vấn đề này.

Cử tri Long tiếp tục tranh luận rằng, mỗi người Việt Nam đều thuộc lòng 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng từ khi bắt đầu đi học. Trong đó Bác có dạy cần phải “thật thà”. Đây chính là một biểu hiện cơ bản của tính “trung thực”. Thật thà, trung thực được biểu hiệu qua phương pháp mà cán bộ tiến hành công việc, qua giải quyết các mối quan hệ và qua tiếp xúc với nhân dân... Thời gian qua, rất nhiều những “con sâu”, “con mọt” trong bộ máy công quyền bị “lôi ra ánh sáng” đã cho thấy rằng, đức tính thật thà, trung thực được họ sử dụng vào mục đích làm lợi cho cá nhân và nhóm người chứ không phải cho dân, cho nước. Vấn đề là tại sao Đảng ta không cập nhật, coi trung thực là tiêu chí đánh giá cán bộ để kiểm soát. Cử tri Long nhấn mạnh: “Đề nghị các đại biểu chuyển ý kiến của tôi đến với các cấp có thẩm quyền”.

Tôi được biết về câu chuyện này qua chính lời kể của cử tri Long, đúng vào chiều hôm mà Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh gặp gỡ nhân dân Thủ Thiêm lần thứ hai vừa qua. Cử tri Long phấn khởi vì suy nghĩ của mình đồng quan điểm với nhiều người dân địa phương. Ông viện dẫn, theo lời một bài viết trên một tờ báo, tại đây, những người dân Thủ thiêm đã đề nghị chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh cần phải trung thực với nhân dân. Họ cho rằng, các nhiệm kỳ trước, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh đã không trung thực trong vấn đề quy hoạch Thủ Thiêm, dẫn đến làm lợi cho một bộ phận người có tiền và lại làm hại nhiều hộ dân địa phương.

Trung thực vốn là một đức tính của con người được hình thành trong cuộc sống, trong lao động, học tập, rèn luyện, công tác và trong giải quyết các mỗi quan hệ hằng ngày. Một con người trung thực là thành thực với chính mình, với người khác, luôn tuân thủ chuẩn mực đạo đức chân thật trong mỗi lời nói, cử chỉ và hành động. Đó là một trong những phẩm chất quan trọng nhất tạo nên giá trị của một con người chân chính.

Phân tích như vậy để thấy rõ ràng là, ở mỗi người, đức tính thật thà, trung thực có ý nghĩa vô cùng quan trọng và là cơ sở để kết giao, tạo ra niềm tin và xây dựng uy tín với cá nhân, tập thể xã hội. Tính trung thực giúp con người trở nên đáng tin cậy trong mọi mối quan hệ, giao dịch, đó là sức mạnh lớn nhất để thuyết phục người khác. Người trung thực không chấp nhận gian dối trong bất kì việc gì. Trung thực làm nên nhân cách con người. Có thể nói rằng, sự trung thực là một phẩm chất quan trọng hàng đầu trên hành trình hiện thực hóa ước mơ của mỗi cá nhân.

Đối với công dân bình thường, sự thật thà, trung thực đã có ý nghĩa lớn như vậy thì đối với cán bộ của Đảng trong bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, trung thực được nhìn nhận như là phẩm chất quan trọng hàng đầu. Bởi việc dấn thân vào con đường làm cán bộ của Đảng là tự nguyện hiến dâng, đi theo mục tiêu, lý tưởng và luôn sẵn sàng cống hiến, hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích quốc gia, dân tộc, đất nước. Những vấn đề này đã được hiện diện đầy đủ trong Điều lệ Đảng hiện hành và trong những lời dạy hết sức ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thế nhưng, ngày nay, trước sự tác oai tác quái của xã hội sùng ái vật chất, trong cơ quan công quyền từ Trung ương đến địa phương đang xuất hiện ngày càng nhiều cán bộ, công chức, viên chức thiếu thật thà, trung thực và thừa mưu mô cũng như những thủ đoạn nhằm trục lợi và liên kết trục lợi từ cơ chế chính sách hoặc “bán” thông tin của Nhà nước. Trải qua thời gian, những cán bộ “con lươn, con trạch” vẫn luôn có đất dụng võ, sống khỏe, tồn tại và phát triển, được giao đảm nhận các vị trí công tác và luôn chờ cơ hội để trục lợi mà chưa bị đưa ra ánh sáng. Hiện tượng cán bộ “giàu nhanh”, “giàu ngầm”, vô cảm với nhân dân, xa dân, hành dân... là những sự thật nhức nhối trong xã hội đã làm cho niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng bị mai một và ngày càng roãng rộng, là cớ để cho các thế lực thù địch vin vào và khoét sâu mâu thuẫn.

Thực tế, những cán bộ thiếu thật thà, thiếu trung thực vi phạm khuyết điểm, vi phạm kỷ luật đã bị cơ quan chức năng phát hiện, xử lý. Vì không thật thà, trung thực nên họ đã tự hủy hoại các mối liên hệ, kể cả đối với những người thân. Do vậy, muốn cho tiếng thơm được lưu danh muôn đời, muốn cho kết quả cống hiến được bền vững dài lâu thì mỗi cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy chính quyền từ Trung ương tới địa phương không ngừng tu dưỡng, tự rèn luyện và không để chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy, phát tán, đè bẹp sự thật thà, trung thực./.

Chủ thể thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

 


Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong đó lực lượng nòng cốt là cán bộ tuyên giáo các cấp; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị xã hội các cấp; là nhiệm vụ của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của từng cán bộ, đảng viên.

Để giữ vững nền tảng tư tưởng, toàn Đảng và hệ thống chính trị thường xuyên, tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, huy động sức mạnh tổng hợp của cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đảng phát huy vai trò, thế mạnh của các phương tiện truyền thông, các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc tuyên truyền những đường lối, chủ trương của Đảng; đồng thời có sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, chặt chẽ của các tổ chức đảng các cấp. Đảng không ngừng phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là phương thức hữu hiệu để huy động sức mạnh tổng hợp tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là việc riêng của Đảng mà còn là việc chung, là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân”./.

vubao49

Phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam


    - Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Kể từ Đại hội lần thứ VIII, Đảng xác định bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quan điểm này tiếp tục được các kỳ Đại hội lần thứ IX, X, XI, XII của Đảng bổ sung, phát triển. Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định và có sự bổ sung, cụ thể hơn. Đó là tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điểm mới này là công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, tận dụng tốt cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 để phát triển bứt phá trong một số ngành và lĩnh vực. Trong đó, chú trọng “Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng, phát triển, làm chủ công nghệ hiện đại; phát triển một số sản phẩm chủ lực có thương hiệu mạnh, có uy tín trong khu vực và thế giới. Nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực của đất nước, tạo cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số nền kinh tế quốc gia và phát triển kinh tế số”(4). Đồng thời, ưu tiên phát triển những ngành công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường, nhằm bảo đảm phát triển nhanh và bền vững.

    - Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhận thức về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được bắt đầu từ khi đất nước bước vào đổi mới và tiếp tục được bổ sung qua các kỳ đại hội, hội nghị của Đảng. Đến nay, cơ bản đã có sự thống nhất chung trong nhận thức. Vì vậy, Đại hội lần thứ XIII của Đảng yêu cầu thống nhất và nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”(5). Theo đó, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường là một trong ba khâu đột phá chiến lược được Đảng ta xác định từ Đại hội lần thứ XI. Điểm mới lần này được xác định nội hàm rộng và cụ thể hơn, đó là “hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”(6).

    - Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhất quán các phương hướng và có bổ sung mới về phát triển văn hóa, con người, quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Đó là “xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”(7). Trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào tiến trình phát triển của thế giới, thì việc gắn bó chặt chẽ giữa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người với hệ giá trị gia đình Việt Nam là nhận thức mới, trong đó đặt hệ giá trị gia đình vào vị thế vốn có của nó, với tư cách là tế bào của xã hội, là hạt nhân nuôi dưỡng, lưu giữ và phát huy các giá trị quốc gia, giá trị văn hóa, con người Việt Nam. Đối với các vấn đề xã hội, Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, an ninh con người”(8). Điều này bảo đảm sự phát triển bền vững của con người và xã hội, thể hiện bản chất của chế độ ta là lấy con người làm mục tiêu của sự phát triển.

    - Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Quốc phòng, an ninh là lĩnh vực vô   cùng quan trọng và là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Qua mỗi kỳ đại hội, phương hướng xây dựng quốc phòng, an ninh tiếp tục được bổ sung những nội dung mới phù hợp với từng giai đoạn. Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định phương hướng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh có mặt đậm nét và có nhiều điểm mới. Đó là: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”(9). Đồng thời, xác định rõ hơn nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, an ninh; triển khai thực hiện các chiến lược về quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới. 

    - Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.  Lần đầu tiên trong Cương lĩnh năm 2011 xác định “hội nhập quốc tế” thay cho “hội nhập kinh tế quốc tế”, không chỉ nhằm mở rộng nội hàm hội nhập kinh tế quốc tế, mà hội nhập trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại. Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm đó, đồng thời làm rõ hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế phải luôn xác định lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu tối thượng, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi.

    - Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Cương lĩnh năm 2011 khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”(10). Đây là sự tổng kết có tính khái quát cao về dân chủ, khẳng định bản chất của chế độ ta là dân chủ, là mục tiêu, động lực của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục cụ thể hóa và bổ sung một số nội dung mới: (1) Bổ sung nội dung, phương châm thực hiện dân chủ là “dân giám sát, dân thụ hưởng” thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; (2) Xác định rõ hơn mối quan hệ và vai trò giữa “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ”; (3) Khẳng định “đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(11).

    - Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh năm 2011 khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(12).

    Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, “lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(13). Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định.

    - Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Từ khi ra đời đến nay, Đảng luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng. Đây là nhiệm vụ then chốt quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Qua mỗi kỳ đại hội, Đảng luôn có sự đánh giá một cách toàn diện những ưu điểm, hạn chế, bài học kinh nghiệm và đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng vừa có tính kế thừa vừa có những điểm mới phù hợp với từng giai đoạn. Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(14). Điểm mới so với trước đây là bổ sung “xây dựng hệ thống chính trị” cùng với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và không chỉ đề cập đến xây dựng Đảng, mà cả chỉnh đốn Đảng. Đồng thời, bổ sung những nhận thức mới trong nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức(15).


Giá trị bền vững của lý luận chủ nghĩa Marx-Lenin

 

Giá trị bền vững của lý luận chủ nghĩa  Marx-Lenin

Với tư cách là người kế thừa, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Marx-Engels trong thời kỳ “chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản”, V.I.Lenin đã làm việc với nghị lực phi thường và tinh thần khoa học cao cả. Dù cho các nhà tư tưởng chống cộng ra sức xuyên tạc, phỉ báng thì cũng không che lấp được sự thật là các tác phẩm của V.I.Lenin đã được đọc nhiều nhất trên thế giới, hơn bất kỳ đại văn hào nào trên bình diện toàn cầu, được dịch ra hơn 120 thứ tiếng theo thống kê của UNESCO. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Giá trị bền vững của chủ nghĩa Marx-Lenin chính là ở sự chân xác về khoa học, ở tính toàn diện, tính hệ thống, tính biện chứng của nó nhằm mục đích giải phóng người lao động, giải phóng xã hội khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, mọi sự tha hóa, thực hiện một xã hội công bằng, nhân đạo... Cho dù có những kẻ cố tình bóp méo, xuyên tạc thì chủ nghĩa Marx-Lenin vẫn cứ là chủ nghĩa Marx-Lenin, vẫn có sức sống dẻo dai và giá trị bền vững, xanh tươi của nó” .st/4547

 

Hướng về ngày 19/5 “Hồ Chí Minh” tư tưởng thời đại

 

Hướng về ngày 19/5 “Hồ Chí Minh” tư tưởng thời đại

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

“Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” và trong hơn 9 thập niên lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dù trong hoàn cảnh khó khăn, thử thách nào, Đảng ta vẫn luôn kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Lý luận và thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đều khẳng định con đường duy nhất đúng để đất nước phát triển bền vững là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Việc Đảng quyết định đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội và cả nước đồng thời thực hiện 2 chiến lược cách mạng ở hai miền; quyết định đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội sau khi nước nhà thống nhất; tiến hành sự nghiệp đổi mới và tiếp tục kiên định hành trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong hơn 35 năm qua chính là sự lựa chọn kiên quyết và đúng đắn, kiên định và sáng tạo của Đảng dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Thế giới có thể đổi thay, song con đường đó là phù hợp quy luật, đúng như Đảng khẳng định tại Đại hội XII (2016): “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”.st/4547