Thứ Hai, 13 tháng 6, 2022

Chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng

 


Đấu tranh bảo vệ nền tảng, tư tưởng của Đảng trên không gian mạng hiện nay là vấn đề khách quan, nhiệm vụ trọng yếu, đòi hỏi mọi người, lực lượng thực thi nhiệm vụ này trên không gian mạng phải luôn nhận thức đầy đủ những thách thức và yêu cầu của nhiệm vụ, xây dựng bản lĩnh, trách nhiệm và quyết tâm cao, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng trước tình hình mới.

Để tuyên truyền những quan điểm sai trái, các thế lực thù địch đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn, phương thức khác nhau, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nguy hiểm hơn, có tác động đến các tầng lớp trong xã hội. Thủ đoạn tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đã đạt được trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế. Lợi dụng, cường điệu hóa những hạn chế, khuyết điểm của Đảng và hệ thống chính trị trong lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội để quy kết cho rằng việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng chính là nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế, khiếm khuyết đó. Bôi nhọ lãnh tụ, xuyên tạc lý lịch, thân thế sự nghiệp các lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước để đi đến phủ nhận con người, phủ nhận hệ tư tưởng mác xít và vai trò lãnh đạo của Đảng. Thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân để thông qua đối tượng này trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Lợi dụng các sự kiện chính trị - xã hội “nhạy cảm”, việc bắt, xử lý số cán bộ cao cấp về tội tham nhũng; xét xử số đối tượng chống đối vi phạm pháp luật, để lôi kéo, kích động người dân tập trung đông người gây rối an ninh, trật tự, biểu tình, bạo loạn, lật đổ; tuyên truyền kích động các hoạt động ly khai, tự trị trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Móc nối, lôi kéo các đối tượng cơ hội chính trị có cả cán bộ đương chức, có tướng lĩnh nghỉ hưu và thành phần chống đối trong trí thức, văn nghệ sĩ ....tăng cường chống Đảng.

Hình thức tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu qua các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, duy trì sử dụng hàng chục đài phát thanh chương trình Việt ngữ, hàng trăm báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, hàng ngàn website, blog... để liên tục phát tán những thông tin xấu, độc, xuyên tạc, chống phá gây tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng thời, đưa lên internet và mạng xã hội những mặt trái của xã hội, khai thác những thông tin tiêu cực, không chính thống, chưa rõ ràng để dẫn dắt, hướng lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực, làm cho người đọc mơ hồ, mất cảnh giác nhằm mục đích tạo nên sự hoài nghi, phản kháng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ đó, chuyển hóa dần sang tư tưởng sai trái, phản động, thù địch. Đối tượng tác động của hoạt động tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu là trí thức, văn nghệ sĩ; cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ hưu trí, cán bộ, đảng viên có biểu hiện bất mãn, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa; thế hệ trẻ, nhất là học sinh, sinh viên; người lao động…

Việt Nam, với dân số khoảng 95 triệu người, tỷ lệ người sử dụng internet chiếm hơn 65% (đứng thứ 16 thế giới về số lượng người sử dụng internet), trong đó có khoảng 94% người dùng với mục đích sử dụng mạng xã hội. Các mạng xã hội được người dùng Việt Nam sử dụng phổ biến là Facebook, Zalo, Youtube, Instagram..., nhiều nhất là mạng xã hội Facebook với khoảng 60 triệu người dùng (xếp thứ 7 thế giới). Nhận thức được điều này, Đảng ta đã xác định, cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch thực chất là cuộc đấu tranh giữa hai ý thức hệ xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, ngày càng diễn ra quyết liệt. Trong các văn kiện đại hội ở thời kỳ đổi mới, Đảng đều nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh bảo vệ Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) của Đảng đã xác định “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một trong bốn nguy cơ. Đại hội VIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ “phê phán và bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch”. Đại hội IX của Đảng khẳng định phải “Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch”. Với tinh thần đó, Đại hội X của Đảng đã yêu cầu “chủ động và kiên quyết phê phán những quan điểm sai trái, bác bỏ những luận điệu phản động, góp phần làm thất bại mọi mưu toan “diễn biến hòa bình,” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch”.

Để thực hiện những chủ trương đó, Đảng đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết nêu rõ các quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp lớn. Một trong những văn bản quan trọng là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X), ngày 01/8/2007 “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”. Nghị quyết chỉ rõ: “Triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” thực hiện đa nguyên chính trị, hình thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch, thường xuyên cảnh giác, chủ động phòng chống nguy cơ tự diễn biến, tự chuyển hóa ở cả Trung ương, các ngành, các cấp”. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) đã nhận định: Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa được khắc phục có hiệu quả, làm giảm sức chiến đấu của Đảng và lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, kể cả trong những lực lượng nòng cốt, gắn bó với Đảng, với chế độ, đã phát sinh một số vấn đề tư tưởng, tâm trạng bức xúc, đáng lo ngại, ảnh hưởng tới tính đồng thuận xã hội. Các phần tử cơ hội chính trị trong nước móc nối với thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài xuyên tạc, vu cáo, chống phá quyết liệt Đảng, Nhà nước ta trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Trên cơ sở nhận định đó, Nghị quyết đã yêu cầu “triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, thực hiện đa nguyên chính trị, hình thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; thường xuyên cảnh giác, chủ động phòng chống nguy cơ tự diễn biến ở cả Trung ương và các cấp, các ngành. 

Nghị quyết Trung ương 9, khóa X, ngày 02/2/2009 “Về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng” cũng đã nhấn mạnh: “Chủ động phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển, hóa” và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bác bỏ luận điệu tuyên truyền phản động, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng”.

Đến Đại hội XI, Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khoá XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Như vậy, có thể thấy, đấu tranh trên không gian mạng hiện nay là rất gay gắt trên mặt trận tư tưởng lý luận. Giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cấp thiết. Nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá cách mạng Việt Nam, cán bộ, đảng viên cần hạn chế thấp nhất tác động ảnh hưởng tiêu cực của các nhóm thành phần lợi dụng không gian mạng để chống phá.

Một số kinh nghiệm đấu tranh chống các quan điểmsai trái, thù địch trên không gian mạng


Trong thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, một trong những thủ đoạn tinh vi mà các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội sử dụng đó là triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội để tuyên truyền, nói xấu chế độ, xuyên tạc quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta; kích động, lôi kéo các phần tử chống phá cách mạng; bôi nhọ nhân sự cấp cao và chia rẽ đoàn kết nội bộ nhằm làm giảm sút niềm tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực tế cho thấy không ít những thông tin trên mạng đã gây hoài nghi, hoang mang trong xã hội, Trước thực tế này, thời gian qua, lực lượng vũ trang các tỉnh, thành phố trong cả nước đã tổ chức lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, với lực lượng chuyên trách làm nòng cốt đã thiết lập các bloger cá nhân với hàng trăm tin, bài tham gia đấu tranh, hàng nghìn lượt bình luận, chia sẻ, đăng trạng thái. Cổng Thông tin điện tử được duy trì, hoạt động có hiệu quả. Công tác tuyên truyền trên mạng truyền thanh về kết quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, chống các quan điểm, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên không gian mạng được tiến hành thường xuyên.

Những kết quả đó đã góp phần quan trọng làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, của quân đội ta, thể hiện rõ vai trò là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái trên cần thực hiện một số biện pháp sau:

Một là, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh, phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng.

Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi quân nhân nhận thức rõ “tính hai mặt” của không gian mạng, “nhận diện” rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong việc sử dụng không gian mạng để chống phá cách mạng nước ta. Từ đó, nêu cao nhận thức, có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, có nhãn quan chính trị đúng đắn, đủ sức “phản biện” trước các thông tin xấu độc trên không gian mạng.
Trong tuyên truyền, giáo dục cần tập trung vạch trần, làm rõ âm mưu, thủ đoạn, những vấn đề, sự kiện mới, nóng, phức tạp mà các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, mức độ nguy hại, ảnh hưởng của các thông tin sai trái đó đối với mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng.

Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng.

Hoạt động này phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự quản lý, điều hành của chính trị viên và người chỉ huy các cấp, vai trò tham mưu của cơ quan chính trị. Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Quân sự tỉnh, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định trong Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Chủ động, kịp thời xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, thành lập lực lượng đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong lực lượng vũ trang tỉnh.

 Ba là, phát huy vai trò và sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Cuộc đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng nhiều khi không lộ diện rõ. Đặc biệt, hiện nay trong thời đại công nghệ 4.0, mỗi quân nhân trong đơn vị được tiếp cận với trình độ khoa học công nghệ hiện đại, đều có thể truy cập vào các trang mạng, tự mình thiết lập, sử dụng các tài khoản, trang thông tin cá nhân .

Bốn là, phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng.  Lực lượng này là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ, năng lực tốt, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động và những thông tin xấu độc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; đồng thời tuyên truyền quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

 Đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng là cuộc chiến đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong đó lực lượng vũ trang là chuyên trách làm nòng cốt, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


THẾ TRẬN AN NINH NHÂN DÂN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

             Từ điển Bách khoa Công an nhân dân năm 2005 định nghĩa: “Thế trận an ninh nhân dân là hình thái tổ chức và bố trí lực lượng theo một ý đồ chiến lược để phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ an ninh, trật tự. Thế trận an ninh nhân dân được xây dựng từ đơn vị cơ sở, có liên hệ phối hợp chặt chẽ với nhau trên từng địa bàn, từng khu vực và trong phạm vi cả nước”[1].

            Luật An ninh quốc gia quy định: “Thế trận an ninh nhân dân là việc tổ chức, bố trí lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia và các nguồn lực cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia”[2].

            Các khái niệm trên đã phản ánh những vấn đề mang tính bản chất của thế trận an ninh nhân dân theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về phát huy sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ an ninh, trật tự; đồng thời nhấn mạnh đến vấn đề tổ chức, bố trí lực lượng.

            Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan niệm về thế trận an ninh nhân dân, có thể hiểu thế trận an ninh nhân dân là hình thái tổ chức, bố trí lực lượng và các nguồn lực theo một ý đồ chiến lược để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, nòng cốt là lực lượng Công an nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước, nhằm chủ động bảo vệ vững chắc an ninh, trật tự.

            Khi nói đến “thế trận” là nói đến “bày binh, bố trận”, nên thế trận an ninh nhân dân trước hết cũng phải là hình thái tổ chức, bố trí lực lượng và các nguồn lực (Vật lực, tài lực) theo một ý đồ chiến lược nhất định. Đây được coi là nghệ thuật tổng hợp sức mạnh gồm ba nhân tố cơ bản cấu thành:

            Một là, sự tham gia bảo vệ an ninh, trật tự một cách tự giác, được tổ chức của đông đảo quần chúng nhân dân và các cơ quan, ban ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng - đó là sức mạnh quần chúng.

            Hai là, các lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự được tổ chức, bố trí một cách hợp lý, kết hợp với phong trào quần chúng, trong đó lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt trong tham mưu, hướng dẫn và tổ chức triển khai thế trận an ninh nhân dân; trực tiếp tiến hành các biện pháp bảo vệ an ninh, trật tự - đó là sức mạnh của lực lượng tham mưu, nòng cốt.

            Ba là, sự lãnh đạo của cấp ủy đảng và sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của chính quyền nhà nước các cấp từ Trung ương đến cơ sở đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự - đó là sức mạnh lãnh đạo, chỉ đạo.

            Mỗi nhân tố đều có vai trò riêng, thiếu một trong ba nhân tố này không thể tạo ra được sức mạnh tổng hợp, do đó không thể hình thành được thế trận an ninh nhân dân. Trong đó, nhân dân tích cực, tự giác tham gia bảo vệ an ninh, trật tự là nhân tố cơ bản; Đảng, Nhà nước giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo, quản lý, điều hành, là nhân tố quyết định; lực lượng Công an nhân dân với vai trò tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền; hướng dẫn các cơ quan, ban, ngành, tổ chức, đoàn thể; quần chúng nhân dân tham gia thế trận an ninh nhân dân là nhân tố nòng cốt.

            Ba nhân tố này được kết hợp một cách chặt chẽ, nhuần nhuyễn, sáng tạo, linh hoạt, trở thành nghệ thuật tạo ra sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự. Tuy nhiên, trên thực tế có tạo được sức mạnh tổng hợp và tạo ra hiệu quả của thế trận an ninh nhân dân hay không còn phụ thuộc vào vai trò, năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy đảng, chính quyền; khả năng phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng Công an nhân dân; đặc biệt là ý thức giác ngộ, sự tự giác, tính tích cực và có tổ chức của đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia bảo vệ an ninh, trật tự.

            Ngoài ba nhân tố cơ bản nêu trên còn có các nguồn lực về hậu cần (Phương tiện, trang thiết bị, vũ khí...), tài chính, sự ủng hộ, giúp đỡ về vật chất, tinh thần và phối hợp từ bên ngoài... được huy động tạo ra thế trận an ninh nhân dân làm nên sức mạnh tổng hợp của tất cả các yếu tố bên trong và bên ngoài để bảo vệ vững chắc an ninh, trật tự.

            Mục đích của thế trận an ninh nhân dân là nhằm kết hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp, trên cơ sở tổ chức bố trí lực lượng, phương tiện, triển khai các biện pháp theo một ý đồ chiến lược thống nhất trên các địa bàn, tuyến, lĩnh vực, tạo ra thế chủ động và có hiệu quả cao nhất trong bảo vệ an ninh, trật tự; qua đó góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế của đất nước.

Mục tiêu tổng quát: Là phải xây dựng được thế trận an ninh nhân dân trên toàn quốc và ở các địa bàn, tuyến, lĩnh vực cần thiết phải xây dựng. Qua đó đảm bảo phát huy được cao nhất sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước để chủ động phòng ngừa, chủ động đấu tranh bảo vệ vững chắc an ninh, trật tự trong mọi tình huống, góp phần thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách, chiến lược về an ninh, trật tự, bảo vệ Tổ quốc; phục vụ có hiệu quả sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập và phát triển đất nước.

PHAO

[1] Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam năm 2005, Nxb Công an nhân dân, tr.1082

[2] Điều 3, Luật An ninh quốc gia năm 2004

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NỀN AN NINH NHÂN DÂN

             Tư tưởng phát huy sức mạnh tổng hợp tạo thành một thế trận chung để bảo vệ an ninh, trật tự đã được thể hiện trong đường lối lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh chống phản cách mạng của Đảng ta trước đây và có sự phát triển mới cả về nhận thức và trong chỉ đạo thực tiễn từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Cùng với “nền quốc phòng toàn dân” và “thế trận quốc phòng toàn dân”, lần đầu tiên cụm từ “nền an ninh nhân dân” và “thế trận an ninh nhân dân” đã được nêu trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng. “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội”, Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị (1998) về “Chiến lược an ninh quốc gia”, Nghị quyết các kỳ Đại hội VIII, IX, X, XI, XII, XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đều khẳng định phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

            Luật An ninh quốc gia năm 2004 xác định: “Nền an ninh nhân dân là sức mạnh về tinh thần, vật chất, sự đoàn kết và truyền thống dựng nước, giữ nước của toàn dân tộc được huy động vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, trong đó lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia làm nòng cốt[1].

            Như vậy, nói đến nền an ninh nhân dân là nói đến sức mạnh về tinh thần và vật chất của một quốc gia, dân tộc, làm cơ sở cho việc triển khai các hoạt động bảo vệ an ninh, trật tự của đất nước. Nội dung nền an ninh nhân dân bao gồm nhiều yếu tố, như: Lòng yêu nước, ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm để bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam đã được hun đúc từ hàng nghìn năm lịch sử; lòng tự hào, tự tôn dân tộc của các thế hệ người Việt Nam về những truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông; tinh thần đoàn kết, ý chí vượt khó vươn lên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tạo thành nền tảng tinh thần trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; vai trò, uy tín, năng lực lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp; hiệu quả trong thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội có tác động trực tiếp tới đời sống mọi mặt của Nhân dân; chất lượng, hiệu quả của các phong trào cách mạng, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

            Sự vững mạnh của nền an ninh nhân dân phụ thuộc vào các giá trị tinh thần đã được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử và sức mạnh về mọi mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại…) trong hiện tại và tương lai của dân tộc. Nền an ninh nhân dân là nền tảng để xây dựng thế trận an ninh nhân dân, tạo tiền đề quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Trước khi triển khai xây dựng thế trận an ninh nhân dân, phải củng cố, tạo dựng được nền an ninh nhân dân thật vững chắc.

PHAO

[1] Điều 3, Luật An ninh quốc gia năm 2004

NHẬN DIỆN TỘI PHẠM SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO HIỆN NAY

             Tội phạm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản qua mạng thời gian qua diễn biến phức tạp, nghiêm trọng, chuyên nghiệp, có tổ chức và gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.Thủ đoạn chủ yếu của loại tội phạm này này là tìm cách đánh cắp tài khoản mạng xã hội (Facebook, Zalo,...), sử dụng để lừa đảo các nạn nhân thông qua việc nhờ nạp thẻ điện thoại, thẻ game, chuyển tiền; mạo danh cơ quan, cán bộ thực thi pháp luật gọi điện yêu cầu công dân nộp tiền để chiếm đoạt; lập các website giả mạo website của các doanh nghiệp, tổ chức để lừa đảo; lập các website rao bán hàng chính hãng giảm giá nhưng gửi hàng kém chất lượng; thỏa thuận mua bán hàng hóa qua mạng xã hội, yêu cầu chuyển tiền trước vào tài khoản nhưng không chuyển hàng hoặc bán hàng giả, hàng kém chất lượng; xâm nhập, chiếm đoạt tài khoản email của doanh nghiệp để theo dõi các giao dịch kinh doanh rồi thay đổi thông tin người nhận tiền để chiếm đoạt số tiền trong hợp đồng kinh tế do đối tác của doanh nghiệp gửi; sử dụng SIM khuyến mãi dịch vụ 3G, 4G, 5G để phát tán tin nhắn lừa đảo.

Làm giả thẻ tín dụng để chiếm đoạt tài sản: Các đối tượng chủ yếu thuộc các nước Đông Âu, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia và một số quốc gia châu Phi, hình thành những đường dây gồm nhiều đối tượng cả trong lẫn ngoài nước và có sự phân công thực hiện từng giai đoạn trong quá trình phạm tội. Các đối tưởng sử dụng các thủ đoạn xâm nhập bất hợp pháp vào các website bán hàng, thanh toán trực tuyến để trộm cắp thông tin thẻ tín dụng, sau đó sử dụng trái phép thông tin thẻ tín dụng đó để đặt mua hàng hóa trực tuyến có giá trị cao chuyển về Việt Nam tiêu thụ; sử dụng thiết bị lấy cắp thông tin thẻ tín dụng và thiết bị làm thẻ giả để làm thẻ tín dụng giả, thực hiện các giao dịch khống qua POS.

Lợi dụng các dịch vụ thanh toán trực tuyến để chiếm đoạt tài sản: Các đối tượng thường xuyên sử dụng các dịch vụ thanh toán trực tuyến quốc tế như Liberty Reserve, Paypal, E-gold, E-pasport, U-kash, Webmoney… và các dịch vụ thanh toán trực tuyến của ngân hàng, doanh nghiệp viễn thông trong nước như Internet banking, Mobi banking, Saving Pay, QR Code để phạm tội. Chúng thường sử dụng thủ đoạn thuê mở tài khoản, mua lại tài khoản ngân hàng, tài khoản thẻ, tài khoản ghi nợ quốc tế để nhận, chuyển tiền có được do hành vi lừa đảo trên mạng; tổ chức đánh bạc, cá độ, quảng cáo trái phép. Trong khi đó, nhiều cổng thanh toán thẻ cào, cổng thanh toán điện tử do doanh nghiệp tự phát hành phục vụ trò chơi trực tuyến, cá cược hoạt động công khai với doanh số, giá trị cao nhưng chưa có quy định để quản lý, giám sát, gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý tội phạm. Thời gian gần đây, các đối tượng đã lập và tạo nhiều sàn giao dịch các loại tiền “ảo” như Onecoin, Bitcoin, Ilcoin, Gemcoin… để thu hút các nhà đầu tư nhằm chiếm đoạt tài sản.

Hoạt động “tín dụng đen” qua mạng diễn biến phức tạp, nổi lên là hình thức cho vay ngang hàng (P2P Lending), lãi suất trung bình 90% - 100%/tháng, thậm chí lên tới 700-1000%/tháng. Hàng chục công ty, hàng trăm ứng dụng cho vay trực tuyến,có yếu tố người nước ngoài đứng sau quản lý.

Tội phạm có tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thanh toán thẻ, thanh toán điện tử, tài chính, ngân hàng tiếp tục được phát hiện với nhiều thủ đoạn mới tinh vi hơn. Xuất hiện thủ đoạn “hủy đảo giao dịch”, lợi dụng hoạt động thanh toán hàng hóa, dịch vụ qua POS của một số ngân hàng thương mại có lỗi để thực hiện giao dịch khống, chiếm đoạt tài sản.Hoạt động thanh toán xuyên biên giới chưa được quản lý chặt chẽ, tiềm ẩn nguy cơ lợi dụng vào hoạt động phạm tội, gây mất an ninh tài chính tiền tệ.Hoạt động lắp đặt thiết bị skimming tại các máy ATM nhằm trộm cắp thông tin, làm giả thẻ ngân hàng để rút tiền giảm mạnh thời gian qua.

Hoạt động thương mại điện tử, thanh toán trực tuyến diễn biến phức tạp và gia tăng trong khi dịch bệnh Covid-19.Việc sử dụng mạng xã hội, sàn thương mại điện tử để chào bán sản phẩm hàng giả, hàng nhái ngày càng nhiều. Quy mô kinh doanh trực tuyến các hàng hóa vi phạm pháp luật ngày càng lớn.

Các sàn giao dịch tiền ảo, vàng, ngoại hối, chứng khoán quốc tế bất hợp pháp có số vốn huy động lên tới hàng nghìn tỷ đồng mỗi tháng. Thủ đoạn chủ yếu là tổ chức các buổi giới thiệu sản phẩm, đưa ra lợi nhuận lên tới hàng trăm % để thu hút nhà đầu tư, sau đó tác động vào hệ thống làm thay đổi tỉ lệ chênh lệch giữa lệnh mua và bán nhằm chiếm đoạt tài sản.

Sử dụng dịch vụ điện thoại trên nền Internet (VOIP) để lừa đảo: Đối tượng chủ yếu là người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam, sử dụng thủ đoạn thuê địa điểm và đường truyền Internet tốc độ cao, thiết lập và sử dụng hệ thống dịch vụ cuộc gọi thoại trên nền Internet (VOIP) để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tình trạng trộm cắp cước viễn thông quốc tế tiếp tục gây ra những thiệt hại lớn. Các đối tượng thường thiết lập hệ thống đường truyền viễn thông từ nước ngoài về Việt Nam, sau đó bán lưu lượng đường truyền cho các đối tượng ở nước ngoài để các đối tượng ở nước ngoài thực hiện các cuộc gọi quốc tế về Việt Nam với giá cước rẻ hơn so với quy định, gây thiệt hại nghiêm trọng cho các doanh nghiệp viễn thông trong nước.

Sử dụng không gian mạng để cá độ, đánh bạc và tổ chức đánh bạc: Các đối tượng trong và ngoài nước móc nối với nhau hình thành các đường dây tổ chức đánh bạc, cá độ bóng đá trực tuyến dưới nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi. Đối tượng trong nước câu kết với đối tượng nước ngoài xây dựng mạng lưới hoạt động đánh bạc rộng khắp các tỉnh, thành phố thu hút số lượng lớn người tham gia.Số tiền chuyển ra nước ngoài lên đến hàng nghìn tỷ đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tác động tiêu cực đến sự ổn định, phát triển của đất nước, nhất là an ninh tài chính, tiền tệ.

PHAO

LUẬN GIẢI KHÁI QUÁT VỀ CHỮ “NGUỴ”


BPO - Hiện nay, nhiều người vì không hiểu hoặc cố tình không hiểu cụm từ “ngụy quyền, ngụy quân”, hoặc vì mục đích xấu xa, đen tối nào đó nên ra sức kêu gào bỏ cách gọi “ngụy quyền, ngụy quân”, vì như thế là “không chính xác, mang tính xúc phạm, miệt thị”. Đây là nhận thức ấu trĩ, lệch lạc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức lịch sử của các tầng lớp nhân dân hiện nay, tạo điều kiện để các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, kích động hòng vực dậy “thây ma” tập đoàn bán nước, hại dân trước năm 1975. Vì vậy, cần phải làm rõ: Vì sao gọi là “ngụy”?

CHỐNG PHÁ TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

             Không gian mạng là được coi là không gian chiến lược để các thế lực thù địch, phản động, chống đối tuyên truyền, phá hoại tư tưởng đối với nước ta.

Nội dung tuyên truyền phá hoại tư tưởng tập trung vào việc phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta; tuyên truyền các học thuyết chính trị đối lập; tác động đến quá trình ban hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, kêu gọi ủng hộ, can thiệp, đòi trả tự do cho các đối tượng chống đối bị xử lý; bôi nhọ, hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, phá hoại nội bộ.

Hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng được các thế lực thù địch, phản động, chống đối đẩy mạnh khi diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Các bài viết thường pha trộn thông tin thật giả, thông tin thật nhiều hơn giả nhưng thông tin giả là những điểm quan trọng, tác động vào tư tưởng, nhận thức của người đọc.Nhiều bài viết sử dụng thông tin thu được từ nguồn công khai, nội vấn đề nội bộ, trích dẫn rõ ràng, lồng ghép thông tin bịa đặt hoặc cắt xén, sửa làm người đọc khó phân biệt được thật giả, gây hoang mang trong dư luận.

Thủ đoạn thực hiện ngày càng tinh vi, có sự ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ:

 Tán phát các địa chỉ liên kết đến các bài viết có nội dung bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước được thực hiện qua nhiều hình thức, như: viết báo, viết blog, lập trang mạng xã hội, tham gia nhóm trên mạng xã hội, gửi địa chỉ liên kết (link) qua email, tin nhắn điện thoại di động, chiếm đoạt tài khoản trực tuyến của các thuê bao di động Vinaphone, MobiFone, Viettel hoặc sử dụng dịch vụ nhắn tin trên mạng do Google, Apple để che giấu nhân thân, tránh sự truy dấu vết của cơ quan chức năng.

Phát động chiến dịch vận động gửi kiến nghị, lấy ý kiến nhân dân để gây sức ép với chính quyền về dân chủ, nhân quyền và xây dựng pháp luật, thông qua các hình thức “kiến nghị”, “thư ngỏ”. Nhiều đối tượng giả mạo chữ ký của cá nhân có uy tín để khuếch trương thanh thế, đánh lừa quần chúng nhân dân.Chúng tổ chức lấy phiếu tín nhiệm các đồng chí lãnh đạo cấp cao hạ uy tín, tác động, chống phá những chính sách, quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước.

Lợi dụng sở hở trong quản lý các trang mạng tên miền quốc gia (.vn) để phát tán nội dung phản động, lồng ghép nội dung tuyên truyền phá hoại tư tưởng trong các cuộc thi có thưởng trên không gian mạng, sáng tác nhiều bài hát có nội dung phản động đã được đăng tải trên các website, ứng dụng có số lượng người truy cập lớn.

Sử dụng nickname để tạo dựng, điều hành các trạng mạng, blog, tham gia diễn đàn, mạng xã hội, tán phát thông tin lên mạng hoặc cung cấp thông tin cho bên ngoài; chỉnh sửa và che giấu thông tin thiết bị; sử dụng các ứng dụng OTT bảo mật cao để tán phát thông tin, tài liệu; soạn thảo và lưu trữ tài liệu trực tuyến; sử dụng kỹ thuật giấu địa chỉ IP và các dấu vết trên đường truyền.

PHAO

TÌM HIỂU VỀ AN NINH MẠNG

             Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, an ninh mạng trở thành một bộ phận cấu thành không thể thiếu, đóng vai trò quan trọng trong xây dựng xã hội thông tin và phát triển kinh tế tri thức. An ninh mạng thay đổi theo sự phát triển của khoa học công nghệ và không gian mạng. Nhiều quốc gia đã nhận thức rõ về những mối đe dọa đối với an ninh mạng, ban hành nhiều văn bản chính sách, văn bản pháp luật như luật nhằm tạo ra các thiết chế, cơ sở pháp lý chống lại các nguy cơ, thách thức từ không gian mạng. Một số quốc gia coi an ninh mạng là an ninh quốc gia, không thể có an ninh quốc gia nếu không có an ninh mạng. Một số quốc gia coi an ninh mạng là hoạt động bảo vệ tính toàn vẹn, bảo mật, sẵn sàng của thông tinThế giới có 05 quan điểm về an ninh mạng.

Một là, an ninh mạng là tập hợp chủ trương, chính sách, học thuyết, biện pháp, lực lượng, quy tắc, sự bảo đảm để bảo vệ không gian mạng quốc gia, tài sản của các tổ chức, cá nhân.

Hai là, an ninh mạng là tập hợp các công nghệ, quy trình và thông lệ được đưa ra nhằm bảo vệ các mạng lưới, máy tính, chương trình và dữ liệu tránh bị tấn công, phá hủy hoặc truy nhập trái phép.

Ba là, an ninh mạng là an ninh công nghệ thông tin là hoạt động bảo vệ các máy tính, mạng lưới, chương trình và dữ liệu tránh bị truy cập trái phép, không có chủ đích, thay đổi hay phá hủy.

Bốn là, an ninh mạng liên quan đến việc bảo vệ thông tin và các hệ thống thông tin tránh khỏi các mối đe dọa từ không gian mạng, như: khủng bố mạng, chiến tranh mạng và gián điệp mạng.

Năm là, an ninh mạng là một bộ quy tắc hay tập hợp các công nghệ nhằm thực thi chính sách liên quan đến các khía cạnh khác nhau của việc sử dụng máy tính và liên lạc điện tử.

Ở nước ta, khoa học công nghệ và không gian mạng đã được ứng dụng sâu rộng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Bên cạnh đó, không gian mạng cũng đặt ra nhiều nguy cơ, thách thức, như: Chuyển hóa chính trị, tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, chiến tranh mạng, mất kiểm soát về an ninh mạng...Thực trạng, nguy cơ trên đã đặt ra yêu cầu bức thiết phải xây dựng và ban hành văn bản luật về an ninh mạng để phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Ngày 12/6/2018, Quốc hội khóa XIV ban hành Luật số 24/2018/QH14 về an ninh mạng, với 07 Chương, 43 Điều quy định những nội dung cơ bản về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng, triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng và quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Theo đó, an ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Khái niệm an ninh mạng trong Luật An ninh mạng thể hiện được tầm nhìn chính sách chiến lược, coi không gian mạng là một không gian mới, bên cạnh đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian. Không gian mạng phản ánh hoạt động của con người, tạo ra lợi ích và cũng mang tới nguy cơ, thách thức, tác động tới an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. An ninh mạng không chỉ giới hạn trong phạm trù bảo vệ an ninh quốc gia. An ninh mạng lấy con người làm trung tâm, bảo vệ con người trước các nguy cơ, thách thức tới từ không gian mạng.

PHAO

GIÁ TRỊ TO LỚN CỦA BIỂN ĐÔNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC

Việt Nam nằm trên bờ phía Tây của Biển Đông. Biển Đông gắn bó mật thiết với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Vùng biển nước ta có diện tích hơn 1.000.000km2, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền. Nước ta có chủ quyền gần 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ; trong đó có 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa; có bờ biển dài khoảng 3.260km, đứng thứ 27 về chiều dài bờ biển trong tổng số 157 quốc gia và vùng lãnh thổ ven biển của thế giới.

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều thuận lợi về điều kiện địa lý biển, tỷ lệ diện tích đất liền và chiều dài bờ biển là 100km2/1km (tỷ lệ đó trên thế giới khoảng 600km2/1km). Tài nguyên vùng biển và ven biển nước ta rất phong phú và đa dạng, phân bố rộng khắp ven biển, ven bờ, các hải đảo và các vùng biển khơi. Ven bờ, ven biển nước ta có khoảng 110 cửa sông (trung bình khoảng 30km bờ biển có một cửa sông), khoảng 49 cảng biển... Cả nước có 28 tỉnh, thành có biển; trong đó, có 11 huyện đảo và thành phố đảo Phú Quốc. Trên 50% số dân của nước ta sống ở các tỉnh ven biển. Đó là những điều kiện khách quan thuận lợi để chúng ta phát triển một cách đa dạng các ngành kinh tế biển, bao gồm kinh tế biển khơi, kinh tế ven biển và kinh tế hải đảo.

Để khai thác tiềm năng và lợi thế của biển, đáp ứng đòi hỏi khách quan của công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới, ngày 06/5/1993, Bộ Chính trị Ban Chấp thành Trung ương khóa VII đã ra Nghị quyết số 03-NQ/TW về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt, trong đó xác định: “Trở thành một nước mạnh về biển là mục tiêu chiến lược xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam”. Nghị quyết số 03-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nhanh chóng đi vào cuộc sống của đất nước, định hướng cho kinh tế biển và thúc đẩy kinh tế biển phát triển. Chỉ trong thời gian ngắn, kinh tế biển nước ta đã có sự phát triển đáng kể, đã chứng tỏ ưu thế so với các vùng kinh tế khác ở cả ba giá trị: Nhịp độ tăng trưởng, kim ngạch xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài.

Ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị Ban Chấp thành Trung ương khóa VIII ra Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trong đó đã chỉ rõ: “Vùng biển, hải đảo và ven biển là địa bàn chiến lược có vị trí quyết định đối với sự phát triển của đất nước ta; là tiềm năng và thế mạnh quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa”. Đại hội lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác. Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi”[1]. Tại Đại hội lần thứ X của Đảng cũng chỉ ra, cần phải “xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế”[2]. Kế thừa, phát triển các nghị quyết trên, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (Nghị quyết số 36-NQ/TW khóa XII) đã xác định: Mục tiêu tổng quát đến năm 2030 là đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển... Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển.

Triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, kinh tế biển đang phát huy vai trò “đầu tàu” thúc đẩy các vùng kinh tế khác phát triển. Thu nhập của đất nước từ kinh tế biển càng ngày càng tăng, kinh tế biển đang góp phần ngày càng quan trọng hơn vào sự nghiệp xây dựng đất nước.

Trong thời gian tới, để kinh tế biển phát huy những thành quả đã đạt được và nhanh chóng vươn lên, bên cạnh việc khai thác có hiệu quả những nguồn lợi to lớn của biển, chúng ta cần phải khắc phục những hạn chế đã bộc lộ trong những năm qua về đầu tư cơ sở vật chất của các ngành kinh tế biển, năng lực khai thác tài nguyên biển; công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, cũng như việc hoạch định quy hoạch, kế hoạch và chính sách về biển; quản lý các hoạt động kinh tế biển...; cần có các giải pháp để đối phó có hiệu quả với môi trường tự nhiên rất khắc nghiệt và nhiều biến động ở vùng ven biển, ở trên biển... Vì vậy, Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục xác định: “Thực hiện tốt Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, tài nguyên, môi trường biển; phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo”[3].

Biển Đông đã và đang cho chúng ta nhiều lợi ích để làm giàu cho Tổ quốc; đồng thời, cũng đang đòi hỏi chúng ta phải đầu tư lớn hơn nữa về tiền của, sức lực và trí tuệ của con người để Biển Đông có thể tiếp tục đóng góp ngày càng nhiều hơn vào sự nghiệp xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội, đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, có vị trí và tầm cao xứng đáng trong thời đại mới của loài người - thời đại biển.

PHAO

[1] Đảng Công sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, HN, 2001, tr. 182

[2] Đảng Công sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, HN, 2006, tr. 93

[3] Đảng Công sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb CTQG, HN, 2021, tr. 125

NƯỚC MỸ VỚI NHỮNG TOAN TÍNH, LỢI ÍCH TẠI BIỂN ĐÔNG VÀ CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG

 

Mỹ là cường quốc biển hàng đầu của thế giới, nằm bên bờ của hai đại dương lớn là Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Mỹ đánh giá Biển Đông có vị trí quan trọng trong chiến lược an ninh Thái Bình Dương của họ; là con đường chiến lược của Mỹ từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, là con đường thương mại chính của Mỹ với khu vực Châu Á; xung quanh Biển Đông có nhiều đồng minh chính trị mà Mỹ phải bảo vệ. Từ năm 1945, Mỹ đã kiên trì tạo ảnh hưởng ở khu vực Biển Đông. Tại diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) 7/2010, Mỹ tuyên bố về lợi ích lâu dài trong việc duy trì hòa bình và ổn định, bảo vệ quyền tự do hàng hải trên Biển Đông.

 Dưới thời Tổng thống Trump, để tiếp tục theo đuổi tham vọng bá chủ toàn cầu, thực hiện bao vây, kiềm chế Trung Quốc, chính quyền Mỹ triển khai chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” thay cho chiến lược “xoay trục về châu Á-Thái Bình Dương” từ thời Obama. Mỹ chỉ trích mạnh mẽ hành động tôn tạo, quân sự hoá các đảo... của Trung Quốc; đẩy mạnh củng cố quan hệ chính trị, quân sự, an ninh với các đồng minh (Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc…), với đối tác (Xinh-ga-po, In-đô--xi-a…); gia tăng sự hiện diện và hoạt động quân sự tại Biển Đông... Về pháp lý, Mỹ điều chỉnh quan điểm về Biển Đông theo hướng tán thành phán quyết của Tòa án Trọng tài thường trực (PCA) năm 2016 (trong vụ kiện của Phi-líp-pin đối với Trung Quốc); 6/2020, Mỹ đã chính thức gửi Công hàm lên Liên hợp quốc, bác bỏ yêu sách của Trung Quốc vì không phù hợp với luật pháp quốc tế dựa trên Công ước về Luật Biển 1982...

Hiện nay, châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục được xác định là một khu vực trọng tâm trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Chính sách của Mỹ dưới thời Tổng thống Joe Biden đối với châu Á - Thái Bình Dương nói chung, Biển Đông nói riêng sẽ không thay đổi, cho dù phương pháp tiếp cận và biện pháp triển khai thực hiện có thể có sự điều chỉnh theo hướng tiếp cận cạnh tranh quyết liệt, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; coi trọng xây dựng mạng lưới đồng minh ở khu vực nhằm ngăn chặn Trung Quốc và bảo vệ lợi ích sống còn của Mỹ. Trên Biển Đông, Mỹ có thể tiếp tục gia tăng sự hiện diện lực lượnghoạt động tự do hàng hải (FONOP); đẩy mạnh hoạt động của “Bộ tứ” (Mỹ, Ấn Độ, Úc, Nhật Bản); hỗ trợ các thể chế quốc tế trừng phạt các thực thể Trung Quốc mà Mỹ cáo buộc thực hiện chính sách của Bắc Kinh tại Biển Đông; tiếp tục chuyển giao hoặc bán vũ khí và trang thiết bị quốc phòng cho các nước trong khu vực... Tuy nhiên, Mỹ cũng cần sự hợp tác với Trung Quốc để giải quyết các vấn đề toàn cầu trong khuôn khổ Liên hợp quốc. Vì vậy, Mỹ có thể sẽ kiềm chế các hành động để tránh phức tạp hóa mối quan hệ kinh tế với Bắc Kinh và tránh va chạm, đối đầu trực diện với Trung Quốc, nhất là đối đầu về quân sự.

PHAO

ĐÔI NÉT VỀ UNCLOS 1982

Từ giữa Thế kỷ XX, cuộc đấu tranh vì chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển đã diễn ra hết sức quyết liệt, giữa một bên là số ít các cường quốc biển với một bên là các nước đang phát triển chiếm đa số. Qua hai hội nghị về luật biển (năm 1958 và 1960) do Liên hợp quốc triệu tập, các nước đang phát triển đã nhận ra âm mưu của các nước đế quốc muốn thu hẹp lãnh hải của các nước ven biển và lợi dụng ưu thế về khoa học công nghệ để chiếm trước những khu vực rộng lớn của đại dương nên đã đẩy mạnh hơn cuộc đấu tranh nhằm đạt tới sự phân chia, sử dụng biển và đại dương thế giới một cách công bằng.

Hội nghị quốc tế về luật biển lần thứ ba, sau 5 năm trù bị (1967-1972) và 9 năm thương lượng (1973-1982), ngày 10/12/1982, với 119 đoàn đại biểu quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã chính thức ký kết “Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982” và có hiệu lực kể từ ngày 16/11/1994 (sau đây gọi là “Công ước về Luật Biển 1982”). Sự ra đời Công ước về Luật Biển 1982 được đánh giá là kết quả của cuộc đấu tranh đòi thay đổi trật tự pháp lý cũ trên biển của các nước thuộc thế giới thứ ba. Công ước được coi là Hiến pháp đại dương, bảo đảm việc sử dụng, khai thác biển và đại dương một cách công bằng; đồng thời, bảo vệ được môi trường, giữ gìn nguồn tài nguyên biển cho sự phát triển bền vững của các thế hệ mai sau. Tuy nhiên, Công ước về Luật Biển 1982 không thể thỏa mãn đòi hỏi của mọi quốc gia do điều kiện địa lý biển và những yêu cầu khác nhau của từng quốc gia.

Công ước về Luật Biển 1982 đã tạo ra sự thay đổi lớn về địa - chính trị trên biển và đại dương thế giới, hầu hết các quốc gia ven biển phải vẽ lại bản đồ hành chính của mình, phải xác định lại biên giới quốc gia và ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa. Nhiều nước phải điều chỉnh, bổ sung, thậm chí phải thay đổi hàng loạt chiến lược và chính sách (kinh tế, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, khoa học, công nghệ, giáo dục...) cho phù hợp với sự thay đổi về địa lý biển. Đối với nhiều nước có tiềm lực kinh tế và khoa học công nghệ mạnh, chiến lược biển của họ là phải bảo đảm được hai lợi ích: lợi ích trên các vùng biển, thềm lục địa quốc gia và lợi ích trên đại dương của thế giới; nên đối với họ, một vùng đặc quyền về kinh tế rộng 200 hải lý và một thềm lục địa rộng 200 hoặc 350 hải lý là quá nhỏ hẹp. Trong cuộc tiến quân ra biển, các nước mạnh về kinh tế và khoa học công nghệ vẫn đang chiếm ưu thế. Công ước về Luật Biển 1982 có những điều khoản mà những nước này có thể tận dụng, như: Quyền tự do đánh cá, tự do nghiên cứu  khoa học ở biển cả; khai thác đáy đại dương...

Công ước về Luật Biển 1982 cũng quy định trình tự và thủ tục giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các quốc gia bằng biện pháp hòa bình và thông qua cơ quan tài phán của Liên hợp quốc. Trong đó, bao gồm giải quyết các tranh chấp biển, đảo đã nảy sinh từ trước, cũng như các tranh chấp, bất đồng (kể cả tranh chấp những hòn đảo nhỏ bé, thậm chí cả những bãi đá chưa nhô lên khỏi mặt nước) giữa các nước khi vận dụng Công ước về Luật Biển 1982 để xác định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa quốc gia. Tuy vậy, các tranh chấp này phần lớn vẫn tồn tại đến ngày nay với tính chất ngày càng quyết liệt do trên thế giới vẫn đang tồn tại những thế lực muốn giải quyết tranh chấp bằng sức mạnh quân sự; vì họ cho rằng, đây là cơ hội cuối cùng để mở rộng biên giới ra phía biển. Ngoài ra, trên biển và đại dương thế giới đang ẩn chứa những kho vũ khí hạt nhân khổng lồ, tạo ra mối uy hiếp thường xuyên đối với sự tồn tại của loài người. Các nước lớn đang tiếp tục tăng cường đầu tư cho phát triển hải quân để thực hiện chiến lược đại dương của họ trong Thế kỷ XXI, đang sử dụng biển và đại dương như những con đường thuận lợi nhất để tiến hành các hoạt động xâm lược và can thiệp ở khắp nơi trên thế giới.

Công ước về Luật Biển 1982 được đánh giá là đã quan tâm bảo vệ quyền lợi của các nước yếu về biển. Song, để Công ước thực sự đi vào cuộc sống của nhân loại, Nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới còn phải trải qua cuộc đấu tranh lâu dài và quyết liệt, nhằm chống lại các thế lực xâm lược và bành trướng, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia đã được luật pháp quốc tế thừa nhận
PHAO