Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022

Ngăn chặn bạo lực trên không gian mạng

 


 

Chỉ trong một thời gian ngắn, video clip cũng như các đoạn livestream liên quan vụ xô xát giữa một số học sinh tại TP Hồ Chí Minh đã lan truyền chóng mặt trên mạng xã hội, thu hút đông người xem. Trường quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh American Academy, nơi xảy ra vụ xô xát của học sinh được dư luận quan tâm. Không ít cá nhân dù chưa hiểu rõ tường tận câu chuyện, mới chỉ xem qua vài đoạn video đã vội vàng đưa ra những đánh giá chủ quan, phiến diện, có tính chất chụp mũ đối với người mà họ cho là có lỗi. Hiện sự việc đang được cơ quan chức năng, nhà trường và gia đình các học sinh cùng nhau giải quyết. Nếu bình tâm lại có thể thấy rằng vụ xô xát giữa con trẻ hoàn toàn có thể giải quyết ổn thỏa nếu các gia đình có thiện chí, bản thân mỗi học sinh cùng thẳng thắn nhìn nhận ra những khuyết điểm trong cách ứng xử từ đó rút kinh nghiệm và chân thành xin lỗi nhau. Tuy nhiên, do cách giải quyết có phần chậm trễ từ nhà trường, sự nóng vội của phụ huynh khiến cho sự việc đã bị đẩy lên ồn ào quá mức. Hậu quả là các bên liên quan dù đúng dù sai cũng đều bị tổn thương, chịu phiền lụy ngoài ý muốn, và các học sinh cũng phải gánh chịu áp lực nặng nề từ dư luận. Điều đáng nói hơn là trong khi vụ việc đang được giải quyết thì đã và đang diễn ra một vụ bạo lực khác trên không gian mạng, đó là dùng mạng xã hội để chỉ trích, tấn công cá nhân. Từ sự việc đang gây tranh cãi, người tham gia mạng xã hội chia làm hai phe và mặc sức sỉ nhục người mà họ cho là có lỗi và cả những người không cùng quan điểm. Vụ việc trên tiếp tục cho thấy tình trạng gia tăng bạo lực trên mạng xã hội. Bất cứ sự việc gì đang gây tranh cãi trong đời sống đều có thể trở thành chủ đề để cư dân mạng bàn luận, tranh cãi, tấn công những người có liên quan và những người tham gia trao đổi ý kiến dưới nhiều hình thức. Có người chỉ vì có quan điểm trái chiều, chót bênh vực kẻ được cho là “thủ phạm” mà sau một đêm trở thành đối tượng bị cộng đồng mạng săn tìm ráo riết, truy ra địa chỉ gia đình, người thân, nơi làm việc,… để chửi bới, nhục mạ. Dù mỗi cá nhân đều có quyền bày tỏ quan điểm của mình về một vấn đề đang được quan tâm, tuy nhiên khi ý kiến nêu ra có tính chất công kích, mạt sát, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác thì đã vượt quá giới hạn cho phép và tùy theo mức độ có thể sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Chắc chắn các vụ mâu thuẫn dẫn đến xô xát, đánh chửi nhau ngoài đời sẽ không thể được giải quyết thông qua mạng xã hội, thế nhưng một số người lại cho rằng chỉ có mạng xã hội mới có thể giúp đòi lại công bằng, chính nghĩa. Chính niềm tin vô căn cứ ấy đã khiến cho nhiều vụ việc trong thực tế trở nên phức tạp hơn sau khi bị đưa lên các diễn đàn mạng xã hội. Cũng từ đây làm nảy sinh những mâu thuẫn, chia rẽ trong cộng đồng và gây bất ổn trong xã hội.Cần khẳng định rằng, bất luận vì lý do gì thì bạo lực luôn cần bị lên án và phải được ngăn chặn, dù đó là trên không gian mạng. Để làm được điều này đòi hỏi sự hợp tác, ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân. Hành vi có tính chất bạo lực khi bị chia sẻ, lan tỏa trên không gian mạng để nhiều người tham gia phán xét không thể khiến bạo lực chấm dứt. Chưa kể, nếu mật độ các thông tin xấu, độc hại xuất hiện quá dầy trên không gian mạng có thể tác động tiêu cực đến nhận thức và hành vi của cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ. Cộng đồng mạng đương nhiên không thể làm thay vai trò của các cơ quan thực thi pháp luật. Do đó, dù là ngoài đời thực hay trên mạng xã hội, các phát ngôn, hành động của mỗi cá nhân phải tuân thủ quy định của pháp luật. Đó chính là điều kiện tiên quyết để bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, giúp ngăn chặn hữu hiệu các hành vi tiêu cực, bạo lực có thể xảy ra.

 

Quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng luôn được đảm bảo ở Việt Nam


Những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật. Tháng 5/2022 vừa qua, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó có những thông tin sai lệch về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam với các góc nhìn phiến diện, dẫn chứng thiếu khách quan. Với 52 trang, bên cạnh sự ghi nhận những mặt tích cực của Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền trong năm qua, báo cáo cho rằng: “Việt Nam đã bắt giữ, tra tấn, tước đoạt mạng sống của người dân một cách tùy tiện”; “can thiệp vào đời sống riêng tư của người dân”; “hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet”… Trong đó, báo cáo nói đến tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, đồng thời đưa ra các chỉ trích chính quyền Việt Nam phân biệt đối xử người dân theo đạo và không theo đạo. Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Theo thống kê chưa đầy đủ cho thấy, Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và tôn giáo (trong hàng nghìn tín ngưỡng thì tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng ông bà tổ tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu). Tính đến nay, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hàng năm, Việt Nam có gần 13.000 lễ hội, gồm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa – thể thao và ngành nghề. Riêng trong lĩnh vực tôn giáo, Việt Nam có khoảng hơn 26,5 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động. Cả nước hiện có hơn 57,4 ngàn chức sắc, trên 147 ngàn chức việc, hơn 29,6 ngàn cơ sở thờ tự. Số lượng tín đồ theo các tôn giáo hiện nay: Phật giáo 15,1 triệu; Công giáo 7,1 triệu; Cao đài 1,1 triệu; Tin lành 1 triệu; Hồi giáo 80.000; Phật giáo Hòa hảo 1,3 triệu, còn lại là các tôn giáo khác (Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Tứ ân Hiếu nghĩa, Bà La môn, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh sư đạo, Minh lý đạo…).Ở khắp mọi miền của đất nước, đặc biệt là tại các thành phố, các trung tâm tôn giáo lớn như Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Tây Ninh, Cần Thơ…, các sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá sôi nổi, đa dạng và phong phú. Hoạt động của các thiết chế tôn giáo đã có những đóng góp nhất định trong việc tập hợp và vận động quần chúng theo đạo  một lực lượng quan trọng trong khối đại đoàn kết dân tộc  tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Các ngày lễ trọng, các lễ nghi, lễ hội tôn giáo được tổ chức ngày càng trang nghiêm, quy mô hơn trước và thu hút ngày càng đông đảo tín đồ tham dự. Nhiều sinh hoạt tôn giáo đã trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia với tinh thần phấn khởi, yên tâm và tin tưởng. Các lễ hội như lễ Phật đản của Phật giáo, lễ Noel của Công giáo và đạo Tin Lành, lễ kỷ niệm ngày khai đạo của đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, tháng ăn chay Ramadan của Hồi giáo…  được tổ chức trọng thể, trang nghiêm và đảm bảo an ninh trật tự. Lễ hội của mọi tôn giáo đều trở thành hội lễ chung vui của toàn dân tộc như Lễ hội Đền Hùng, lễ Noel, lễ hội La Vang. Đặc biệt lễ Phật đản của Phật giáo đã chính thức được UNESCO công nhận là một trong những lễ hội tôn giáo lớn của thế giới. Một số lễ hội mang tính thế tục được dư luận quan tâm đánh giá cao, như: Lễ cầu siêu cho những người đã hy sinh trong cuộc kháng chiến do Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức năm 2005; Đại hội hành hương La Vang lần thứ 27 kết hợp “Năm Thánh thể” với quy mô lớn do Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức; Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội thánh do Tổng hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) tổ chức năm 2005…Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, trong 16 năm (2001-2017), số tín đồ của các tổ chức tôn giáo đã được công nhận tăng lên 6% trong dân số. Đó là chưa kể các tôn giáo nhóm nhỏ (chủ yếu là các nhóm Tin lành tư gia) chưa được công nhận và các hiện tượng tôn giáo mới rất khó thống kê số lượng người theo. Số lượng tín đồ các tôn giáo đều tăng lên, trong đó tăng nhanh nhất là tín đồ đạo Tin lành, từ 670.000 người năm 2004 đã tăng lên tới trên 1,2 triệu tín đồ năm 2015, tức là tăng gấp gần 2 lần trong 10 năm. Sự phát triển có tính chất đột biến của đạo Tin lành diễn ra chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Đây cũng là hai địa bàn có sự chuyển đổi đức tin tôn giáo diễn ra mạnh mẽ nhất trong thời kỳ đổi mới. Việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó cho rằng, nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề dân tộc, tôn giáo không tương đồng với Công ước quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người. Thậm chí, báo cáo đưa ra những cái nhìn lệch lạc như “Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là bước thụt lùi về tự do tôn giáo”, “tạo ra cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”. Cho rằng Việt Nam đề ra chính sách pháp luật nhưng trên thực tế “không thực hiện”… Có thể thấy, đây không phải là lần đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố các báo cáo có nội dung sai lệch về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Nhiều lần, trong các báo cáo đều có nội dung nói rằng, Hiến pháp Việt Nam quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ “vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo”, “một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu”. Với số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, trường đào tạo, số lượng kinh sách được xuất bản của các tôn giáo tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua, những hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng và thực tế hoạt động sôi động của các tổ chức tôn giáo hiện nay là những minh chứng rõ nhất cho những thành tựu của việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam. Thực tiễn này đã bác bỏ mọi nhận xét thiếu khách quan về việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Đối với các luận điệu cho rằng, Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, cấm đoán các tổ chức tôn giáo hoạt động, đây là những vu cáo vô căn cứ. Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin Lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các đạo lạ mang danh nghĩa Tin Lành truyền vào Việt Nam như Tân Thiên địa, Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ… Hoạt động của phần lớn các tổ chức này trái với văn hóa truyền thống của dân tộc, nhuốm màu mê tín dị đoan, có dấu hiệu trục lợi, nhiều tổ chức vi phạm pháp luật. Đối với các hoạt động vi phạm pháp luật của các tổ chức này, lực lượng chức năng Việt Nam đã nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật. Như vậy, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Một điều dễ nhận thấy, đánh giá sai lệch vì những lý do khác nhau vẫn ẩn sau ngọn cờ tôn giáo. Đối với Việt Nam, các thế lực cực đoan, chống đối luôn tìm mọi thủ đoạn để tách rời tôn giáo ra khỏi sự quản lý của nhà nước, cốt để dễ dàng lợi dụng các tôn giáo vào những mục đích chống phá. Thực tế cho thấy, việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và một số quốc gia phương Tây thường xuyên tổ chức các cuộc điều trần về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia “không có tự do tôn giáo” cũng chỉ nhằm mục đích tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Hơn nữa, cần phải thấy rằng, không thể có tự do tôn giáo tuyệt đối. Bởi xét về bản chất, tôn giáo là một tổ chức tập hợp những người tin theo một đối tượng tôn thờ. Mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Các tôn giáo cũng phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của pháp luật và điều này hoàn toàn phù hợp với khoản 3, Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Do đó, việc ban hành các văn bản pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy, những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

 

RSF LẠI PHỚT LỜ SỰ THẬT

 


Xuyên tạc, suy diễn về tình hình tự do báo chí ở nước ta là một chiêu trò luôn được một số tổ chức, đối tượng cực đoan, thiếu thiện chí với Việt Nam sử dụng. Một trong số đó là tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF).

Ngày 3/5/2022, tổ chức RSF công bố cái gọi là “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí” xếp hạng tự do báo chí toàn cầu. Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2022 do RSF công bố xếp Việt Nam ở vị trí 174 trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các chỉ số cụ thể của Việt Nam được nêu ra gồm chỉ số chính trị ở hạng 173, chỉ số kinh tế xếp hạng 176, chỉ số lập pháp 172, chỉ số xã hội 170 và chỉ số an ninh 170. Trong bảng xếp hạng này, RSF đã vu cáo rằng: “các phóng viên và blogger độc lập thường bị bỏ tù”. Tổ chức này còn tỏ vẻ bênh vực, cổ xúy cho một số hội nhóm, cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Việt Nam như “nhóm Báo sạch”, “Hiệp hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”, ca ngợi những đối tượng như Phạm Thị Đoan Trang. Ngay sau khi công bố của RSF được đưa ra, một số tổ chức phản động, đối tượng cơ hội chính trị, những hãng truyền thông hải ngoại vốn định kiến với Việt Nam được dịp trích dẫn, bình luận kiểu “tát nước theo mưa”. Đây không phải lần đầu tiên RSF đưa ra báo cáo dựa trên những thông tin sai sự thật, không có cơ sở và có dụng ý xấu. Những luận điệu xuyên tạc của RSF thực chất là trò “bổn cũ soạn lại”, mục đính nhằm bôi đen hiện thực, vẽ ra bức tranh tối màu về tình hình tự do báo chí để đả phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hình thành từ năm 1985, RSF tên tiếng Pháp đầy đủ là “Reporters sans frontières”, có trụ sở quốc tế tại Paris. Đây là một tổ chức phi chính phủ hoạt động toàn cầu, lấy Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên hiệp quốc làm cơ sở để hành động. Tôn chỉ hoạt động của tổ chức này đưa ra để bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực, giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Hằng năm, vào ngày Nhân quyền thế giới, tổ chức này thường đưa ra bảng xếp hạng về tự do báo chí của các quốc gia, vùng lãnh thổ bằng cách tổng hợp các câu trả lời vào một bảng câu hỏi của RSF. Nhìn vào tôn chỉ hoạt động, cứ ngỡ RSF là một tổ chức chân chính, hoạt động vì sự tiến bộ, thúc đẩy tự do và văn minh của thế giới. Nhưng trái ngược với chủ trương của Liên hiệp quốc, nhiều năm nay, tổ chức này thường xuyên có những luận điệu sai trái, xuyên tạc tình hình tự do báo chí, tự do ngôn luận của một số nước, trong đó có Việt Nam. Nhiều quốc gia trên thế giới cáo buộc RSF đứng đằng sau những vụ việc phức tạp, gây rối, bất ổn, kích động bạo lực. RSF tồn tại và hoạt động dựa vào một phần nguồn hỗ trợ kinh phí của một số chính giới phương Tây. Chính vì vậy, trong các bảng xếp hạng tự do báo chí hằng năm, RSF thường tuân theo sự sắp đặt một cách có chủ ý của các chính phủ quốc gia tài trợ cho tổ chức này hoạt động. Những yếu tố được tổ chức này sử dụng để đánh giá tự do của một nền báo chí thiếu tính bao trùm, không cân nhắc đến các yếu tố văn hóa, xã hội, nhận thức của từng quốc gia riêng biệt. Phần lớn những thông tin được đưa ra là không khách quan, không có hoạt động khảo sát, kiểm chứng thực chất mà đó là những đánh giá thiếu căn cứ hoặc được suy diễn, phóng đại. Việc RSF xếp loại tự do báo chí ở Việt Nam thường dựa vào những thông tin do số tổ chức, cá nhân phản động, thù địch, cơ hội chính trị, có các hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam cung cấp. Chính vì vậy, tổ chức này tìm cách bênh vực cho những đối tượng khoác áo, mượn danh nhà báo như “nhóm Báo sạch”, “Hiệp hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”… Họ cố ý khoác áo nhà báo, ca ngợi, tán dương cho những kẻ hoạt động chống phá Việt Nam. Những thông tin mà “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí” năm 2022 của RSF là không khách quan, sai thực tế về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Việt Nam luôn là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”. Chúng ta thấy rõ, quyền con người, quyền công dân trên lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được Nhà nước ta bảo đảm, phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước và thông lệ quốc tế. Quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin là những quyền cơ bản của quyền con người, của mọi công dân. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để đảm bảo quyền tự do ngôn luận, báo chí và quyền hưởng thụ thông tin của mọi công dân được thực thi trong cuộc sống theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hoàn toàn tương thích về mặt luật định đối với các văn kiện quốc tế về quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 11, Luật Báo chí năm 2016 chỉ rõ quyền của công dân: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”. Quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận báo chí của công dân bao gồm: Quyền sáng tác tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý, phê phán, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức cá nhân khác. Nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí cũng được Luật Báo chí 2016 quy định: Không được đăng phát thông tin xuyên tạc, phủ nhận chính quyền nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân… Như vậy, quyền và nghĩa vụ của công dân luôn song hành, không tách rời nhau; mọi công dân Việt Nam đều có quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận báo chí, đồng thời đều phải có nghĩa vụ thực hiện quyền ấy trong khuôn khổ pháp luật. Tự do báo chí không thể vượt quá hạn định, không phải là tự do quá trớn, càng không phải muốn nói gì thì nói, viết gì thì viết, làm gì thì làm theo ý muốn chủ quan của chủ thể. Cũng như bất kỳ các quốc gia trên thế giới, một mặt, Nhà nước ta tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Ở Việt Nam, không ai bị xét xử, bắt giữ chỉ vì bày tỏ chính kiến hay bảo vệ nhân quyền. Chỉ có những đối tượng lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, vi phạm pháp luật như tung tin giả, tin xấu độc, xuyên tạc, vu cáo hòng gây bất ổn tình hình đất nước, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang dư luận… thì bị xử lý theo pháp luật. Rõ ràng, nội dung đánh giá của RSF vẫn tiếp tục phớt lờ thực tế về bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Càng ngày, RSF càng lộ rõ bản chất định kiến với Việt Nam, cố tình phủ nhận những nỗ lực, thành tựu đạt được của Đảng, Nhà nước ta trong việc bảo đảm và tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

 

Đồng hương trong sáng, đồng chí bền lâu!

 

Tôi-một cựu binh 60 tuổi, 40 năm quân ngũ mới về hưu xin được kể với các bạn lính trẻ một vài kỷ niệm thời mới nhập ngũ chung quanh chuyện đồng hương!

Năm 1981, vừa tốt nghiệp phổ thông, như bao chàng trai khác, tôi vào bộ đội. Sau 3 tháng huấn luyện, tôi và một bạn cùng làng được điều về đơn vị trực tiếp chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Đúng vào thời kỳ đất nước đang ở giai đoạn khó khăn nhất, chiến tranh lại căng thẳng nên cuộc sống của những người lính chúng tôi gặp muôn vàn gian nan, vất vả. Không sợ hy sinh. Nhưng đang là thanh niên tuổi ăn tuổi ngủ, vừa là học sinh nay phải gác chốt dưới trời nắng như đổ lửa, rét thì thấu xương. Mỗi khi vận động lên tới chốt đã vã mồ hôi, còn phải làm nhiệm vụ... Đói và khát. Và nhớ nhà, nhớ quê. Cồn cào!!!

Rất may, trong tiểu đội, tôi có bạn đồng hương, đồng niên, đồng môn nay là đồng ngũ. Càng xa quê tình đồng hương càng quý bội phần. Càng lúc gian nan, tình làng nghĩa xóm càng vô ngần yêu mến. Hai đứa tôi, chuyện gì cũng kể với nhau, ăn gì cũng nhường nhau, kể cả ngụm nước uống, tất nhiên việc gì cũng giúp nhau. Trong tiểu đội tránh sao khỏi những cuộc tranh cãi, hai đứa tôi ủng hộ và bênh nhau ra mặt. Thật đúng là hơn anh em ruột! Một lần, nhờ giành thành tích cao, bạn tôi được thưởng phép. Khỏi phải nói hai đứa vui mừng như thế nào. Nó về cũng chẳng khác gì tôi về. Tôi còn bảo nó sang nhà lấy bản chính giấy khai sinh để bên quân lực đối chiếu (chắc có sai sót, nhầm lẫn gì đó!). Khi nó lên kể chuyện quê, nhận quà bố mẹ, anh em gửi, tôi cảm thấy ấm lòng như vừa được về nhà vậy!

Nhưng chúng tôi càng thân thiết thì càng cảm thấy sự xa lánh của các anh em khác trong đơn vị. Hình như họ ghen với chúng tôi (?!). Hình như có sự kỳ thị... Một tối, tiểu đội trưởng gọi riêng hai đứa ra nói chuyện, đại ý anh nói tình đồng hương là thiêng liêng, rất quý nhưng hai em nên nhớ trong tiểu đội cũng như trong một nhà, ai cũng như ai. Các em chỉ sống bằng tình đồng hương, tự nhiên sẽ tạo ra khoảng cách với người khác...!!!

Đồng hương trong sáng, đồng chí bền lâu!
Minh họa: Lê Anh 

 

Trời ơi! Thế mà chúng tôi không nghĩ ra. Đã thế lại còn coi đó là niềm tự hào. Thì ra sự hãnh diện cỏn con và niềm tự hào cá nhân ích kỷ đôi khi vô tình làm tổn thương, làm rạn nứt những mối quan hệ tốt đẹp khác. Sau này va chạm nhiều, được học hành nhiều, tôi càng cảm ơn vô cùng người tiểu đội trưởng đầu tiên ấy!

“Đồng hương” có nghĩa là những người cùng làng (đồng nghĩa là cùng; hương nghĩa là làng. Từ “hương ước” theo nghĩa này, để chỉ luật lệ, quy tắc của làng xã cổ truyền). Về sau người ta hiểu “hương” theo nghĩa rộng, cùng tỉnh cũng là “đồng hương”. Mặt tích cực của “đồng hương”, như chuyện của tôi thì đáng quý vô cùng. Ai cũng vậy, ở nơi xa xôi, người cùng làng gặp nhau, được nghe cái thổ ngữ quen thuộc từ tấm bé, được nghe kể về sự thay đổi của quê mình, được động viên, chia sẻ, được khuyến khích, giúp đỡ, được đến thăm nhau hàn huyên về những dự định tốt đẹp cho cá nhân, cho quê hương... Thật như được trở về nhà vậy!

Tư duy làng xã luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực. Quan hệ đồng hương cũng vậy. Như chuyện của tôi ở trên, chỉ vì mình thiếu tế nhị, có phần cực đoan mà đã xuất hiện dấu hiệu ban đầu của sự thiếu đoàn kết, gắn bó trong đơn vị. Chưa nói tới có người còn lợi dụng tình đồng hương để làm những việc cá nhân, thiếu đứng đắn, tư lợi, cục bộ... Lại xin kể tiếp câu chuyện thời trước...

Sau thời hạn hoàn thành nhiệm vụ giữ chốt, tiểu đội tôi được lệnh rút về phía sau ổn định tình hình để nhận nhiệm vụ mới. Hẳn nhiên chúng tôi đỡ vất hơn, thư thái hơn. Nhiều đứa có tâm lý muốn “sổ lồng”. Trong đơn vị, có cậu X cùng huyện với tiểu đội trưởng. Tuy khác xã nhưng gần nhà nên cả hai đều biết làng quê nhau khá cụ thể. Tiểu đội trưởng rất nghiêm nên không thấy ai phàn nàn chuyện “ưu ái” đồng hương cả. Hôm ấy cậu X xin phép được ra phố tìm hiểu với lý do trước đó bố cũng là bộ đội đóng quân ở đó, nay muốn ra xem tình hình thế nào. Nằn nì mãi tiểu đội trưởng cũng xiêu lòng đồng ý cho đi trong thời hạn hai tiếng cùng với một đồng chí khác... Nhưng chẳng ai học hết chữ “ngờ”! Một tiếng sau đại đội báo động kiểm tra quân số... Tất nhiên tiểu đội trưởng bị kỷ luật. Anh phải chuyển sang đơn vị khác... Cả tiểu đội ngẩn ngơ, tiếc thành tích cả năm giời đổ xuống sông xuống biển. Tiếc một người anh giỏi giang, tốt tính, nghiêm túc, một phút sai lầm mà có khi lỡ cả sự nghiệp...

Có thể khi người tiểu đội trưởng đồng ý thì vừa có phần “cả nể” cậu X có bố cũng là bộ đội, vừa ít nhiều có phần “thông cảm” tình “đồng hương”. Nhưng rõ ràng anh đã vi phạm điều lệnh... Cái hối hận của X, theo cậu ấy sau này kể lại, thì day dứt suốt cuộc đời!!!

Càng trưởng thành tôi càng ngẫm sâu hơn về “đồng hương”. Mặt trái dễ nhận ra là làm sống dậy cái tâm lý tiểu nông làng xã ngàn xưa. Do sinh sống và canh tác trên mảnh đất của văn minh nông nghiệp lúa nước nên cái làng là một pháo đài được vây kín bởi lũy tre như một vương quốc thu nhỏ. Người dân quen lệ làng hơn là phép nước (“phép vua thua lệ làng”). Trong lũy tre ấy, người ta quan hệ với nhau trước là theo tôn ti trật tự dòng tộc, sau nữa mới là “trong làng ngoài xã”... Ngày hôm nay, cái lối sống ấy tản ra nhiều không gian khác nhau. Vẫn còn tàn dư một nếp xưa cũ với “một người làm quan cả họ được nhờ”. “Thứ nhất quan hệ...”, thì một sự “móc nối quan hệ” là bằng con đường “đồng hương”. Ai cũng đều có một quê hương, có một cái làng của mình. Rất có thể khi một vị “quan” về làng sẽ được nhận thêm bao mối “quan hệ đồng hương”! Thế là cũng rất có thể sẽ dần xuất hiện căn bệnh cục bộ, địa phương, bè phái...

Đồng hương là đáng quý, là thiêng liêng. Vấn đề cơ bản là hướng sự quý báu, thiêng liêng ấy đi đúng vào quỹ đạo của sự giúp đỡ nhau một cách vô tư, hài hòa với lợi ích chung của cơ quan, tập thể, rộng hơn là đất nước!

Nguồn: QĐND.

VÌ SAO CÀNG ĐỔI MỚI THÀNH CÔNG KẺ SẤU CÀNG RA SỨC CHỐNG PHÁ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN?

 


 

 

Tại sao chúng ta càng đổi mới thành công thì các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động lại càng “gầm gừ”, ra sức chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin, đòi hạ bệ học thuyết khoa học, cách mạng này, đòi Đảng ta “phải thay máu cho hệ tư tưởng”, “phải từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin với nhiều lý do khác nhau? Tuy cách tiếp cận “đa màu, nhiều sắc”, song điểm chung của họ là “khuyên Đảng ta” không nên đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào nền tảng tư tưởng của Đảng vì lý luận về chủ nghĩa xã hội là sai lầm, chủ nghĩa Mác – Lênin đã cũ, lỗi thời, lạc hậu; nó đã “bị cáo chung cùng với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết ở Đông Âu và Liên Xô” năm 1989.

 Theo họ, chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời từ những năm 40 của thế kỷ XIX ở châu Âu; nó chỉ phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của một số nước ở châu Âu và Liên Xô; hoàn toàn không phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam. Việc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh “du nhập một học thuyết ngoại lai vào Việt Nam là hoàn toàn không phù hợp”, là sai lầm. Họ cho rằng, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và thất bại của thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ ở Việt Nam là do Đảng ta “gặp may”, “bản thân Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không có tài cán gì”. Từ đó, họ vu khống rằng sư lạc hậu, kém phát triển của Việt Nam là do Đảng ta và Chủ tịch Hổ Chí Minh lấy “chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Gần đây, trên internét và một số trang mạng xã hội, họ lu loa rằng, C. Mác và Ph. Ăngghen sinh ra ở nước Đức, xây dựng học thuyết Mác ở nước Đức và châu Âu, còn V.I. Lênin là người Nga, bảo vệ, phát triển học thuyết Mác ở nước Nga, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mà nước Đức và nước Nga là ở châu Âu, hoàn toàn không phải là châu Á, không phải là Việt Nam; thế kỷ XXI là hoàn toàn khác xa thế kỷ XIX, XX. Nghĩa là, các học thuyết của C. Mác và của V.I. Lênin chỉ phù hợp với các nước châu Âu, chứ không phù hợp với châu Á; hoàn toàn xa lạ với Việt Nam, hà cớ chi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lại lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Họ còn xiên xẹo rằng, “nay là thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư rồi mà Đảng còn cứ khư khư bám giữ, níu kéo chủ nghĩa Mác – Lênin”. Theo họ, Việt Nam muốn trở thành “con Rồng, con Hổ ở châu Á, Đông Nam Á thì phải có hệ tư tưởng khác dẫn đường”. Họ khuyên Đảng ta không nên lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng vì nó đã cũ, lỗi thời, lạc hậu. Theo họ, tại quê hương của C. Mác và V.I. Lênin, “người ta cũng đã đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào bảo tàng lịch sử”. Nếu Đảng vẫn xác định “trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin” là “tự cô lập mình”, trở thành người “đi ngược lại xu trào phát triển của tư tưởng nhân loại”, cản trở lịch sử; Đảng làm như thế là “áp đặt”, “khiên cưỡng”, “miệng thì hô hào đổi mới nhưng đầu Đảng lại bảo thủ, trì trệ”. Hùa với các luận điệu sai trái này còn có quan điểm cho rằng, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ hơn 30 năm trước. Chính nó đã “cáo chung cho chủ nghĩa Mác – Lênin”; rằng sự điều chỉnh, thích nghi và tiếp tục phát triển mạnh mẽ của các nước tư bản là nhờ giai cấp tư sản tận dụng tối đa thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, nhất là thành tựu của cuộc mạng công nghiệp lần thứ tư. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp bách đối với Việt Nam là phải “thay máu cho hệ tư tưởng”, cần phải từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, thay vào đó là một lý luận khác phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, lý luận đó không có gì khác là hệ tư tưởng tư sản. Cũng có người bạo mồm, mở miệng cho rằng Việt Nam không cần bàn về chủ nghĩa này, học thuyết nọ, cứ chủ nghĩa nào, học thuyết nào đem lại sự giàu sang, phú quý thì theo, Việt Nam phát triển mạnh mẽ thì chọn học thuyết ấy, khỏi phí công, tốn sức bàn luận vô bổ, v.v..

Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta không hề ngạc nhiên trước những luận điệu xuyên tạc, sặc mùi khiêu khích, kích động ấy bởi “điệp khúc này” không hề mới, nó đã xuất hiện từ lâu, đã được “tua đi tua lại nhiều lần” kể từ ngày chủ nghĩa Mác còn là “một bóng ma ám ảnh châu Âu” cho đến khi trở thành hệ tư tưởng thống trị phong trào công nhân quốc tế từ những năm 70 của thế kỷ XIX; là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế trong sự nghiệp đấu tranh chống các thế lực phản động, phản cách mạng, chống áp bức, bóc lột, bất công; giành thắng lợi về tay mình; thực hiện “sự đổi đời” nhờ giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Chính sự ra đời của Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới, trong đó có Việt Nam là minh chứng hùng hồn bác bỏ sự xuyên tạc, lừa bịp lạc lõng ấy. Là con người có trí tuệ, có lương tâm và trách nhiệm thì đương nhiên phải thừa nhận một sự thật không thể chối cãi: Chủ nghĩa Mác – Lênin là một khoa học, cách mạng và nhân văn sâu sắc. Nó nghiên cứu, chỉ ra những quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duyĐó là điểm khác biệt căn bản mà các luận thuyết của các bậc tiền bối và những người cùng thời với C. Mác, Ph. Ăngghen đã không thể có được bởi có học thuyết của họ dựa trên lập trường thế giới quan duy vật nhưng phương pháp tư duy lại siêu hình; có học thuyết, phương pháp tư duy biện chứng nhưng quan điểm lại rơi vào duy tâm, tôn giáo hoặc rơi vào chủ nghĩa xã hội không tưởng. Vượt lên trên mọi thiên kiến và các rào cản đương thời, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đã phát hiện ra quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Qua đó chỉ rõ quy luật phát triển của lịch sử, xã hội loài người không phải do thánh thần, chúa trời tạo ra hoặc một lực lượng siêu nhiên sáng tạo mà do những mâu thuẫn nội tại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, dẫn đến những mâu thuẫn không thể tránh khỏi của xã hội biểu hiện ở mâu thuẫn giữa các giai cấp, đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội. Với quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin và những người cộng sự đã chấm dứt sự lũng đoạn và giải thích sai lầm của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, chủ nghĩa duy vật siêu hình trong luận giải các hiện tượng tự nhiên, xã hội và lịch sử; qua đó, các ông đã tìm ra quy luật vận động, phát triển khách quan của thế giới và lịch sử xã hội loài người. Bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin không những được thể hiện ở giá trị của phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa nhân đạo trong hai phát kiến vĩ đại của C. Mác: Quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, mà còn thể hiện sâu sắc ở việc C. Mác và Ph. Ăngghen phát hiện ra vai trò, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân, chính giai cấp này có sứ mệnh lịch sử toàn thế giới là “người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản”, kết thúc chế độ người áp bức, bóc lột người; xây dựng chế độ xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp hơn. Điều này là hoàn toàn khách quan bởi lịch sử xã hội loài người là một quá trình lịch sử – tự nhiên, theo quy luật vận động nội tại, khách quan của nó, cái mới sẽ thay thế cái cũ, cái tiến bộ sẽ thay thế cái lạc hậu; chủ nghĩa xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản, giống như chủ nghĩa tư bản đã từng thay thế chủ nghĩa phong kiến.

Lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới từ Công xã Pa ri, đến Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917 và thực tế công cuộc cải cách, đổi mới của các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay; đặc biệt là thực tiễn đổi mới ở Việt Nam hơn 35 năm qua đã khẳng định sức sống mãnh liệt, sự trường tồn của chủ nghĩa Mác – Lênin; khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin thật sự là “vũ khí lý luận sắc bén”, “công cụ nhận thức vĩ đại” để giai cấp công nhân cải tạo thế giới. Bản chất khoa học, cách mạng của chân lý này thể hiện ở chỗ: Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết duy nhất từ trước đến nay chỉ ra mục tiêu, con đường, lực lượng, chiến lược, sách lược và phương pháp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, giải phóng nhân loại; xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công; đem lại cuộc sống hoà bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người dân. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã tìm ra các quy luật vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người, vạch ra những “bí mật” của các hình thái kinh tế – xã hội, chỉ ra động lực và chủ thể phát triển của lịch sử chính là do con người và sản xuất vật chất – cơ sở quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội. Dù ai có xuyên tạc hoặc cố tình bôi đen, hạ bệ chủ nghĩa Mác – Lênin thì sự thật ấy vĩnh viễn không thể thay đổi. Đây là điều khách quan, cơ sở khoa học để luận giải sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự tất thắng của chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lênin là sự thống nhất biện chứng giữa học thuyết duy vật với phương pháp biện chứng, giữa lý luận và thực tiễn, giữa tính đảng, tính cách mạng và tính khoa học, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin luôn là một học thuyết mở, sống động, có khả năng tự đổi mới, tự phát triển trong dòng chảy tư duy, trí tuệ của nhân loại, luôn thu nạp, tích hợp những thành tựu, tinh hoa trí tuệ mới nhất, tiến bộ nhất của nhân loại để không ngừng phát triển.  Chủ nghĩa Mác – Lênin không phải là học thuyết giáo điều, kinh viện, không phải là học thuyết vạn năng mà là kim chỉ nam cho hành động bởi linh hồn sống của nó – phép biện chứng duy vật là không bao giờ bất động, hoặc lùi bước, chấp nhận sự thỏa hiệp nào với quan điểm duy tâm, tôn giáo, phương pháp tư duy siêu hình. Nó liên tục được cập nhật, bổ sung bằng những tri thức mới từ thành tựu khoa học, tinh hoa văn hóa nhân loại và tiếp tục phát triển trong dòng chảy của tư duy nhân loại và thực tiễn cách mạng Sự thật nói lên tất cả, chân lý và niềm tin khẳng định rõ ràng chủ nghĩa Mác – Lênin không bao giờ cũ, lỗi thời, lạc hậu; chỉ có những người vận dụng nó với cách nghĩ, tầm nhìn cũ kỹ, lỗi thời, lạc hậu hoặc mắc những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng trong quá trình xây dựng đất nước thì đương nhiên phải trả giá đắt, bị chính thực tiễn cuộc sống đào thải. Hãy dừng việc quy kết, đỗ lỗi cho chủ nghĩa Mác – Lênin là cũ, lỗi thời, lạc hậu nếu ai đó còn có chút lương tâm, danh dự của một con người. Đối với Nhân dân ta, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đã giành được trong hơn 92 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định thắng lợi của cách mạng Việt Nam trước hết là thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là chân lý, bởi ngày nay, học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác – Lênin là chắc chắn nhất, sâu sắc nhất và chân chính nhất, là “cẩm nang thần kỳ” cần thiết để đưa dân tộc ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vì sự trường tồn của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân

 

“Hành quân xanh” của thanh niên quân đội

 

“Hành quân xanh” là một trong 5 chương trình thuộc Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2022 do Trung ương Đoàn phát động trong đoàn viên, thanh niên khối LLVT.

Hưởng ứng chiến dịch, cán bộ trẻ, đoàn viên, thanh niên LLVT đã triển khai thực hiện các công trình, phần việc ý nghĩa, như: “Thắp sáng đường quê”, “Đường cờ thanh niên”, làm đẹp cảnh quan môi trường, giúp đỡ nhân dân, chăm lo cho học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn và nhiều hoạt động an sinh xã hội. Với sức trẻ và tinh thần xung kích, tình nguyện, năng động, sáng tạo, các mũi Chiến dịch “Hành quân xanh” góp phần tạo sức lan tỏa sâu rộng giá trị, ý nghĩa hoạt động của thanh niên tình nguyện cả nước dịp hè năm nay.

“Hành quân xanh” của thanh niên quân đội
Đoàn Thanh niên Bộ đội Biên phòng tỉnh Thừa Thiên Huế tặng quà học sinh nghèo. 
“Hành quân xanh” của thanh niên quân đội
Đoàn viên, thanh niên, hội viên phụ nữ Bộ CHQS tỉnh Bình Dương thực hiện Chương trình “Đổi rác thải lấy quà tặng”. 
“Hành quân xanh” của thanh niên quân đội
 Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn huấn luyện, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu tham gia gặt lúa giúp dân.
“Hành quân xanh” của thanh niên quân đội
Tuổi trẻ tỉnh Quảng Nam thực hiện công trình “Đường cờ thanh niên”. 
“Hành quân xanh” của thanh niên quân đội
Cán bộ, đoàn viên, thanh niên TP Hồ Chí Minh làm đẹp cảnh quan môi trường. 
Nguồn: QĐND.

ĐẨY MẠNH XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ VIỆT NAM - PHILIPPINES

Sáng 1-7, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đã hội kiến Tổng thống Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr. nhân dịp dự Lễ tuyên thệ nhậm chức của ông. Tại buổi hội kiến, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đã chuyển lời chào trân trọng và chúc mừng nồng nhiệt của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo Việt Nam tới Tổng thống Ferdinand Romualdez Marcos Jr.

SỰ PHẢN KHÁNG CỦA CÁC “NHÀ DÂN CHỦ”

Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV, Luật Cảnh sát cơ động (CSCĐ) chính thức được thông qua. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để lực lượng CSCĐ thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, giữ vững trật tự, an toàn xã hội. Việc các “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh” ra sức xuyên tạc Luật CSCĐ cũng là điều dễ hiểu.

SỰ QUY CHỤP VÔ LỐI CỦA MẠC VĂN TRANG

Thời gian gần đây, trước tình hình vi phạm quyền trẻ em ở một số nơi gây bức xúc dư luận xã hội. Một số cá nhân, viện dẫn những vụ việc trẻ em bị bạo hành để đổ lỗi cho chế độ, hạ thấp uy tín của Đảng. Trong bài “Chúng ta làm gì để bảo vệ trẻ em”, với cái nhìn lệch lạc, Mạc Văn Trang đã cố tình cho rằng “dưới sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng Cộng sản, cái ác càng lan tràn trong xã hội”, rồi tán dương những kẻ vi phạm pháp luật là “những công dân dũng cảm đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”. Rõ ràng, đây là luận điệu sai trái, hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo và hạ thấp uy tín của Đảng ta.

CÁCH NHÌN MÉO MÓ CỦA MẠC VĂN TRANG

Thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam sau hơn 35 năm đổi mới không những được nhân dân ta ghi nhận, mà còn được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Ấy vậy mà, gần đây trên trang Doithoaionline.com, đăng tải bài viết: “Gương mặt Chủ nghĩa xã hội của Việt Nam?” của Mạc Văn Trang. Nội dung bài viết cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội biến dạng khiến công nhân bị bóc lột, đời sống thiếu thốn; nông dân khốn khổ trăm bề…” Đây là luận điệu phi lý, không có cơ sở khoa học và thực tiễn, cần nhận diện, đấu tranh, bác bỏ.

LUẬN ĐIỆU PHẢN ĐỘNG CỦA PHẠM TRẦN

Lợi dụng những khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên nói riêng để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một trong những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động. Vừa qua, Phạm Trần đã đăng tải trên mạng xã hội bài viết: “Đạo đức xuống cấp - lý tưởng lung lay” có nội dung hết sức phản động với thái độ hằn học, định kiến chống phá Đảng.

ĐẨY NHANH TIÊM VACCINE PHÒNG COVID19 MŨI NHẮC LẠI

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Y tế khẩn trương, quyết liệt hơn nữa việc đôn đốc, hỗ trợ địa phương đẩy nhanh tiêm vaccine phòng Covid-19, nhất là mũi 3, mũi 4 cho người từ 12 tuổi trở lên; tiêm đủ 2 mũi cho trẻ em từ 5 tuổi đến dưới 12 tuổi theo mục tiêu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đề ra, bảo đảm an toàn, khoa học, hiệu quả.

 

NỘI DUNG NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ  KINH TẾ 
THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 -19/5/2021) và bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 (ngày 23/5/2021), Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam có bài viết quan trọng: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam".

Trong bài viết của mình, Tổng Bí Thư đã khẳng định: “Theo nhận thức của chúng ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ)”.

Theo đó, chúng ta cần nâng cao nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay trên các nội dung cơ bản sau đây:

Một là, Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế chưa có tiền lệ trên thế giới;

Hai là, Ở Việt Nam, xây dựng và phát triển mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là quá trình vừa làm, vừa rút kinh nghiệm.

Ba là, cần phải nhận thức đúng, đầy đủ bản chất, mục tiêu, nội dung và đặc trưng của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang thực hiện trên cơ sở luận cứ khoa học, dưới thế giới quan, phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lêenin, phép biện chứng duy vật.

Bốn là, thường xuyên bổ sung, hoàn thiện khung lý luận cơ bản về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến cập nhật các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; những kiến thức thông tin của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường các nước trên thế giới cho mọi đối tượng trong xã hội và toàn dân.

Năm là, cần có tư duy sáng tạo để xây dựng, vận dụng sát với thực tế phát triển của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và phù hợp với xu thế phát triển của khu vực và thế giới.

 NỘI DUNG CHỐNG PHÁ TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ CỦA CHỦ NGHĨA
 ĐẾ QUỐC THỰC HIỆN TRONG CHIẾN LƯỢC "DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH" 
ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY 

Để thực hiện mục tiêu xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc với ý chí phục thù và tham vọng của kẻ xâm lược, đã không từ một thủ đoạn phá hoại nào nhằm làm cho ta suy yếu, từng bước xã rời mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chuyển hoá chế độ xã hội chủ nghĩa dần ngả theo xu hướng thân phương Tây, đi theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa. Trên lĩnh vực chính trị, chủ nghĩa đế quốc thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình" chống phá tập trung ở các nội dung sau:

Lợi dụng sự kiện các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, các thế lực đế quốc chủ nghĩa càng lớn tiếng tuyên truyền xuyên tạc bôi nhọ chủ nghĩa xã hội. Chúng rêu rao rằng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm, trái với quy luật khách quan của lịch sử xã hội, chủ nghĩa xã hội là sản phẩm chủ quan, mộng tưởng cho nên nó tất yếu phải sụp đổ; các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô sau một thời gian phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa không đem lại kết quả mong muốn đã sớm nhận ra sai lầm của mình và từ bỏ nó, Việt Nam cũng cần phải học theo họ mà nhanh chóng từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa không có tương lai để hoà nhập vào thế giới tư bản văn minh.

Khi Đảng và nhân dân ta khẳng định quyết tâm kiến trì con đường xã hội chủ nghĩa, thực hành đi ở mới toàn diễn đất nước thì các thế lực thù địch xuyên tạc rằng đó là cải lương, nửa vời, kết hợp khiên cưỡng chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội, kết cục nhân định không thể thành công. Chúng dòi thay đổi mô hình xã hội chủ nghĩa bằng mô hình "xã hội dân chủ với đặc trưng cơ bản là thực hành "chính trị đa nguyên", "da đảng đối lập", coi đó là mở rộng tự do. dân chủ. Chúng đòi xoá bỏ chuyên chính vô sản, phủ nhận đấu tranh giai cấp, từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ trong các tổ chức cách mạng, để cho các tổ chức phản động, các thế lực thù địch chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mặc sức hoạt động thể thủ tiêu thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa một cách "hoà bình", lái chế độ xã hội dần dần ngả theo chủ nghĩa tư bản.

Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiền phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính vì lẽ đó mà Đảng trở thành mục tiêu quan trọng nhất để kẻ địch tập trung chống phá. Chúng tìm đủ mọi cách xuyên tạc vũ khống, bôi nhọ thanh danh của Đảng. Chúng tung ra nhiều luận điệu tuyên truyền vu khống Đảng không chịu đổi mới về chính trị, "giữ độc quyền lãnh đạo, hạn chế dân chủ, không chịu đa nguyên chính trị  và "độc tài, dùng trị là cái gốc sai chính của các nhà cầm quyền Việt Nam hiện đại". Từ đó, chúng muốn "Chấm dứt vai trò lịch sử, gạt Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi tiến trình phát triển của dân tộc". Chúng ra súc tuyên truyền cho cái gọi là "đổi mới triết để", tự do, dân chủ không giới hạn, thực hành đa nguyên chính trị", "đa đảng đối lập" để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, từng bước đưa các đảng phái tư sản vào tranh quyền lãnh đạo xã hội với Đảng Cộng sản Việt Nam…

 

CÁCH THỨC, BIỆN PHÁP, PHƯƠNG TIỆN CÁC 
THẾ LỰCTHÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA

Trong chiến lược "diễn biến hoà bình" chống phá cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc luôn xác định tiến công trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá là "mũi đột phá" và là một nội dung trọng yếu, là vũ khí lợi hại nhất. Điều này đã được Ních xơn đề cập trong cuốn sách "1999-chiến thắng không cần chiến tranh”, "Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng".

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, kẻ thù luôn tìm mọi phương thức, thủ đoạn để tác động vào tư tưởng, tâm lý, tình cảm, làm nhụt ý chí, mất niềm tin, tạo ra "khoảng trống tư tưởng" trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, tạo điều kiện thuận lợi du nhập hệ tư tưởng tư sản vào nhằm đạt tới mục tiêu là xoá bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, xa rời chế đồ xã hội chủ nghĩa. Trong đó, Chủ nghĩa đế quốc đã sử dụng các cách thức, biện pháp, phương tiện để đưa tư tưởng, văn hoá, lối sống tư sản xâm nhập vào Việt Nam.

Để thực hiện các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền phản động, kẻ địch đã triệt để sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng như sách, báo, phim ảnh, ca nhạc, băng hình, vô tuyến truyền hình, Internet, văn hóa phẩm, giao lưu văn hóa để phá hoại trận địa tư tưởng của ta. Đến nay, chỉ nghĩa đế quốc đã sử dụng 43 đài phát thanh và truyền hình, 395 tờ báo và tạp chí tiếng Việt (trong đó có 12 tờ rất phản động), 66 nhà xuất bản để tuyên truyền chống phá trận địa tư tưởng văn hóa của nhân dân ta.

Chúng triệt để lợi dụng các con đường hợp tác văn hoá để tiếp xúc, mời các nhà văn, các đoàn nghệ thuật sang thăm, học tập, "trao đổi" văn hoá; đặc biệt chú ý tìm cách tiếp cận giới trẻ, văn nghệ sĩ, tác động làm cho họ nhanh chóng quên đi lý tưởng xây dựng một xã hội mới - xã hội chủ nghĩa và say mê với lối sống, văn hoá phương Tây. Chúng coi đây là một trong 10 động lực làm tan rã chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thúc đẩy xây dựng các trung tâm giao lưu văn hoá Mỹ - Việt để nhanh chóng làm thay đổi tư tưởng, truyền bá văn hoá phương Tây đối với các học sinh, sinh viên, cán bộ đi học tập, công tác ở nước ngoài. Tăng cường thành lập các trường đại học quốc tế tại Việt Nam để truyền bá toàn diện tư tưởng, văn hoá Mỹ phương Tây.

Chúng coi đây là biện pháp tốt nhất để chuyển bá tư tưởng, văn hoá, thực hành "diễn biến hoà bình" đối với lớp trẻ theo con đường tư bản chủ nghĩa với giá rẻ, mà hiệu quả đạt được lại cao, "một đôla cho tuyên truyên có tác dụng ngang với năm đôla chi cho quốc phòng".

 

XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - LÀ MỘT TRONG NHỮNG NỘI DUNG CHỐNG PHÁ TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

Trong chiến lược "diễn biến hoà bình" chống phá cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc luôn xác định tiến công trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá là "mũi đột phá" và là một nội dung trọng yếu, là vũ khí lợi hại nhất. Điều này đã được Ních xơn đề cập trong cuốn sách "1999-chiến thắng không cần chiến tranh”, "Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng".

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, kẻ thù luôn tìm mọi phương thức, thủ đoạn để tác động vào tự tưởng, tâm lý, tình cảm, làm nhụt ý chí, mất niềm tin, tạo ra "khoảng trống tư tưởng" trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, tạo điều kiện thuận lợi du nhập hệ tư tưởng tư sản vào nhằm đạt tới mục tiêu là xoá bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, xa rời chế đồ xã hội chủ nghĩa. Trong đó, chúng tuyên truyền xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Người tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin.

Trong khi toàn thể dân tộc và nhân loại để khẳng định công lao và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là hiện thân của những giá trị tốt đẹp ở "Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới", thì các thế lực thù địch lại lớn tiếng xuyên tạc: Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh "nồi da nấu thịt" suốt mấy chục năm; hoặc "Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc. không có ảnh hưởng của tư tưởng Mác - Lênin" rằng "Con đường Bác Hồ đã chọn là con đường dân tộc không phải chủ nghìn xã hội". Chúng xuyên tạc trắng trợn nhằm thực hiện ý đồ hạ thần tượng Hồ Chí Minh, trong đó, dựng chuyện bôi nhọ thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng còn dùng thủ đoạn đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh đến mức đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin, để phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, chúng hướng nhận thức của nhân dân tin theo con đường "chủ nghĩa xã hội dân chủ"chủ nghĩa xã hội nhân văn", "nhân bản" mà thực chất là từ bỏ chủ nghĩa xã hội khoa học.

Trong xu hướng vận động của xã hội loài người nói chung, trong lĩnh vực tư tưởng nói riêng, là cán bộ, đảng viên, mỗi chúng ta cần phải tỉnh táo, linh hoạt để vận dụng, nhìn nhận đúng đắn và có thái độ phản kháng đúng mức với cách nhìn sai lệch nêu trên.

 

PHÁ HOẠI NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM, CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN - LÀ MỘT TRONG NHỮNG
NỘI DUNG CHỐNG PHÁ TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY
 Trong chiến lược "diễn biến hoà bình" chống phá cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc luôn xác định tiến công trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá là "mũi đột phá" và là một nội dung trọng yếu, là vũ khí lợi hại nhất. Điều này đã được Ních xơn đề cập trong cuốn sách "1999-chiến thắng không cần chiến tranh”, "Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng".

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, kẻ thù luôn tìm mọi phương thức, thủ đoạn để tác động vào tư tưởng, tâm lý, tình cảm, làm nhụt ý chí, mất niềm tin, tạo ra "khoảng trống tư tưởng" trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, tạo điều kiện thuận lợi du nhập hệ tư tưởng tư sản vào nhằm đạt tới mục tiêu là xoá bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, xa rời chế đồ xã hội chủ nghĩa. Trong đó, chúng tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tập trung mọi cố gắng để chứng minh sự "lỗi thời" của chủ nghĩa Mác - Lênin; xuyên tạc, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện mục tiêu, tham vọng: "giải thể ý thức hệ cộng sản". Chúng coi chủ nghĩa Mác - Lênin là sản phẩm chú của Mác, đồng thời cho rằng, những người quan cộng sản kế tục Mác nhưng không hiểu thực chất các luận điểm của Mác nên đã vận dụng một cách giáo điều dẫn đến sai lầm cả trong đường lối và cả trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chúng tuyên truyền rằng: "Hầu hết các nước ngày nay đều bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ còn một vài nước "ngoan cố như Trung Quốc, Việt Nam là tôn thờ". Chúng còn trắng trợn vụ cáo Đảng ta đã tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin áp dụng vào Việt Nam là một sự gán ghép, gượng gạo dẫn đến sai lầm. Chúng ra sức ca tụng mô hình phát triển và thích ứng "vạn năng" của chủ nghĩa tư bản. Chúng còn ra sức quang cáo cho mô hình "xã hội dân chủ khả năng về "con đường thứ ba" phi xã hội chủ nghĩa, nhưng về thực chất vẫn là con dường tư bản chủ nghĩa. Chúng gieo rắc, nuôi dưỡng và kích động các trào lưu cơ hội, xét lại hữu khuynh, dao động, đầu hàng dưới chiêu bài "chung sống hòa bình", "giá trị chung toàn nhân loại", "phi hệ tư tưởng hóa", "phi chính trị hóa"… trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Tất cả những thủ đoạn này sẽ dẫn đến kết cục là mất niền tin vào hệ tư tưởng cách mạng khoa học - Chủ nghĩa Mác - Lênin, tạo sự phân hóa, đối lập, xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của nhân dân đối với chủ nghĩa xã hội, từng bước rơi vào vòng xoáy của tư tưởng, giá trị tư sản.

 

BÔI ĐEN GIÁ TRỊ VĂN HOÁ, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, 
ĐỒNG THỜI DU NHẬP VĂN HOÁ, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG TƯ SẢN - LÀ MỘT TRONG NHỮNG NỘI DUNG CHỐNG PHÁ TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY
 

Trong chiến lược "diễn biến hoà bình" chống phá cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc luôn xác định tiến công trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá là "mũi đột phá" và là một nội dung trọng yếu, là vũ khí lợi hại nhất. Điều này đã được Ních xơn đề cập trong cuốn sách "1999-chiến thắng không cần chiến tranh”, "Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng".

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, kẻ thù luôn tìm mọi phương thức, thủ đoạn để tác động vào tư tưởng, tâm lý, tình cảm, làm nhụt ý chí, mất niềm tin, tạo ra "khoảng trống tư tưởng" trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, tạo điều kiện thuận lợi để du nhập hệ tư tưởng tư sản vào nhằm đạt tới mục tiêu là xoá bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, xa rời chế đồ xã hội chủ nghĩa. Trong đó, chủ nghĩa đế quốc xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa, đồng thời du nhập văn hoá, đạo đức, lối sống tư sản.

Nhận rõ vai trò to lớn của văn hoá, đạo đức, lối sống, chúng coi việc xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã  hội ta, đồng thời tuyên truyền, quảng bá văn hóa, lối sống phương Tây vào nước ta là một vấn đề then chốt trong chiến lược "diễn biến hoa bình" chống Việt Nam hiện nay.

Chúng luôn khuyến khích khuynh hướng đòi văn hóa văn nghệ hoạt động độc lập với chính trị, không chịu sự quản lý của Nhà nước, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hoá, văn nghệ; lôi kéo văn nghệ sĩ sáng tác theo khuynh hướng văn hoá, nghệ thuật phương Tây, coi rẻ truyền thống văn hoá dân tộc, khuyến khích các giá trị văn hóa cá nhân cực đoan, để cao giá trị "dân chủ", "tự do" tư sản: làm tha hoá thế hệ trẻ bằng "văn hoá, tư tưởng, lối sống Mỹ", nhằm tạo ra một thế hệ mất gốc, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc, thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, kích thích các tệ nạn xã hội phát triển (buôn lậu, tham nhũng, ma túy, mại dâm, mê tín dị đoan...).

Thông qua giao lưu văn hoá, chúng tìm mọi cách để tuyên truyền xuyên tạc làm cho tư tưởng, lối sống tư sản xâm nhập vào đời sống xã hội ta, lấn át các giá trị truyền thống dân tộc tốt đẹp. Các lực lượng phản động bên trong và bên phối hợp chặt chẽ với nhau để đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình, băng nhạc có nội dung phản động, đổi trụy vào Việt Nam. Chúng đưa nhiều thông tin sai lệch, độc hại lên mạng Internet để cho mọi đối tượng đều có thể truy cập, qua đó tác động xấu tới nhận thức, thị hiếu thẩm mĩ, văn hoá, lối sống của nhân dân ta.