Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022

 

Báo cáo nhân quyền thường niên năm 2021 của bộ ngoại giao hoa kỳ - lại một sự nhìn nhận thiên kiến sai lệch

Vừa qua, bất chấp những nỗ lực của Việt Nam được đông đảo quốc gia và các tổ chức quốc tế công nhận, Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới năm 2021 của Bộ Ngoại giao Mỹ lại một lần nữa đưa ra nhận định sai lệch về tình hình nhân quyền của Việt Nam. Đây là sự quy chụp thiếu khách quan, chỉ dựa trên thông tin sai lệch, không kiểm chứng thực tế, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, đi ngược lại xu thế quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ, cần đấu tranh bác bỏ (!)

Những nhận định thiên kiến, sai lệch

Việc Bộ Ngoại giao Mỹ công bố Báo cáo về tình hình nhân quyền hằng năm không còn là điều xa lạ đối với nhiều nước và dư luận quốc tế. Cũng như mọi năm, Báo cáo năm 2021 (công bố tháng 4/2022) đánh giá việc thực thi quyền con người của 198 nước trên thế giới. Riêng phần về Việt Nam, Báo cáo ghi nhận một cách “khiêm tốn” những mặt tích cực của Việt Nam trong năm 2021 về nỗ lực của Chính phủ trong công nhận số người không quốc tịch và quốc tịch (theo thống kê của Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc - UNHCR năm 2020, 32.890 người đã được công nhận so với 11.000 người năm 2016); về thành lập các tổ chức cho người khuyết tật; xây dựng Chương trình giảm nghèo quốc gia, Luật Dạy nghề và các chính sách giáo dục, v.v. Tuy nhiên, vẫn với giọng điệu cũ, Báo cáo năm 2021 tiếp tục đưa ra hàng loạt thông tin chỉ trích, phê phán Việt Nam, như: chính quyền can thiệp vào đời sống riêng tư của người dân; hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet; kiểm duyệt, bắt giữ và truy tố tùy tiện những người chỉ trích chính quyền; người dân không thể thay đổi chính phủ thông qua các cuộc bầu cử tự do, v.v.

Những nhận định trên đã thể hiện rõ sự định kiến, thiên lệch khi vẽ lên một bức tranh xám xịt, tràn ngập những gam màu tiêu cực. Nó không chỉ phủ nhận, xuyên tạc những nỗ lực bảo đảm và thúc đẩy quyền con người đã và đang được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm thực hiện với những bước tiến được cộng đồng quốc tế ghi nhận, mà còn dễ đưa những người nước ngoài chưa đến Việt Nam và chưa chứng kiến thực tế đất nước Việt Nam có những nhận thức lệch lạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam bác bỏ mọi xuyên tạc

Chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người dân. Các nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này thời gian qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Trước hết, Báo cáo đưa thông tin “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước độc tài do một đảng cầm quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo,... Bầu cử Quốc hội vào ngày 23/5/2021 là không tự do, không công bằng; có rất ít sự cạnh tranh giữa các ứng cử viên do Đảng Cộng sản kiểm duyệt”. Đây là thông tin mang tính chủ quan, trái ngược hoàn toàn với thực tiễn những gì đã diễn ra ở Việt Nam và rõ ràng, sự đánh giá sai lệch, thiếu thiện chí về thể chế chính trị của một quốc gia khác là khó có thể chấp nhập được. Bởi, việc lựa chọn mô hình, thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa là quyền tự quyết của mỗi dân tộc. Điều này được quy định trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 cũng như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Không thể đứng trên quan điểm của một nước tư bản chủ nghĩa để phán xét một mô hình chính trị không giống với mình. Đó là sự phiến diện và định kiến. Không thể coi chủ nghĩa tư bản là duy nhất, là tuyệt đối và đa đảng là tốt hơn một đảng. Do vậy, không thể chấp nhận việc Mỹ phán xét cuộc bầu cử Quốc hội của Việt Nam là “không tự do”, “không công bằng” khi cuộc bầu cử được thực hiện theo đúng quy định của Hiến pháp, pháp luật Việt Nam.

Với Việt Nam, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là nguyện vọng thiết tha của toàn thể dân tộc Việt Nam, là sự lựa chọn của lịch sử. Đến nay, những thành tựu của Việt Nam trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,... đã cho thấy đây là con đường đúng đắn, hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nền kinh tế Việt Nam với sự phát triển vượt bậc từ một nước nghèo trở thành một quốc gia nằm trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình với GDP đạt khoảng 343 tỉ USD và GDP bình quân đầu người/ năm đạt 3.521 USD. Trong bối cảnh mà toàn thế giới đang chịu những tác động nặng nề bởi đại dịch Covid-19 thì Việt Nam cùng với công tác phòng, chống dịch hiệu quả được quốc tế ghi nhận1, Chính phủ còn thực hiện tốt các chính sách an sinh, hỗ trợ đột xuất với hơn 55 triệu lượt người, đều là người nghèo, đối tượng yếu thế. Việt Nam hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu và đang tìm cách vươn lên trong một thế giới với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư đang phát triển mạnh mẽ. Hiện nay, quan hệ ngoại giao nhà nước Việt Nam “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới; trong đó, có 13 đối tác toàn diện, 17 đối tác chiến lược và có quan hệ quốc phòng với tất cả 05 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tất cả những điều trên tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tiếp tục phát triển kinh tế, chính trị và xã hội, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, được Liên hợp quốc ghi nhận: người Việt Nam ngày càng hạnh phúc hơn, dựa trên đánh giá tổng hợp GDP trên đầu người, tuổi thọ, quyền tự do và phúc lợi xã hội. Trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới năm 2021, do Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố, Việt Nam đã tăng 04 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 83 lên thứ 79. Kết quả đó là do Việt Nam kiên trì thực hiện mục tiêu đã lựa chọn với quan điểm cho con người, vì con người, đặt con người ở vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển.

Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiện nay, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động với hơn 27 triệu tín đồ, gần 60.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự2. Các tổ chức tôn giáo được công nhận đã xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo đậm chất nhân văn tôn giáo và gắn bó, đồng hành với dân tộc. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo hướng dẫn tín đồ tu tập và thực hiện tốt chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu tôn giáo của tín đồ. Nhiều hoạt động tôn giáo được tổ chức với quy mô lớn, trang trọng, như: Phật giáo 3 lần đăng cai tổ chức thành công Đại lễ Vesak Liên hợp quốc; Công giáo tổ chức thành công Năm Thánh 2010, Hội nghị toàn thể Liên Hội đồng Giám mục Á châu lần thứ X; Tin lành tổ chức Đại lễ Kỷ niệm 100 năm Tin lành truyền đến Việt Nam, 500 năm cải chánh Tin lành,… thu hút không chỉ chức sắc, nhà tu hành trong và ngoài nước mà còn các học giả, chính khách các nước tham gia. Đó là minh chứng bác bỏ những nhận định xuyên tạc, phủ nhận thành tựu của Việt Nam trong tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Tuy nhiên, các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Cũng như các nước khác, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước hay kích động bạo lực, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, v.v. Điều này hoàn toàn phù hợp với Khoản 3 Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. 

Vấn đề quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân. Tự do ngôn luận được xem là quyền hiến định ngay trong bản Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25). Bên cạnh đó, Việt Nam còn có Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Khung pháp lý của Việt Nam về quyền tự do ngôn luận cơ bản đầy đủ, đồng bộ, tương thích với luật pháp quốc tế về quyền con người. Chính vì được tạo điều kiện thuận lợi nên ở Việt Nam hiện nay có gần 800 cơ quan báo chí đang hoạt động; có hơn 70,3% dân số sử dụng internet, mạng xã hội, chiếm tỉ lệ cao trong khu vực và thế giới.

Cũng giống như các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam có những quy định để hạn chế và ngăn chặn những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận, xâm hại tới lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Không và không thể có tự do ngôn luận tuyệt đối, các quốc gia đều xử lý nghiêm khắc hành vi lợi dụng tự do ngôn luận; đề cao tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung, không phải là sự tuyệt đối hóa tự do cá nhân, không thể lợi dụng tự do ngôn luận để viết, nói, xuyên tạc với ý đồ xấu, bất chấp luân lý và luật pháp. Đơn cử, trong khi Nhà nước Việt Nam nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát và đẩy lùi dịch bệnh Covid-19, có những kẻ lợi dụng tình hình dịch bệnh để tuyên truyền thông tin sai trái, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước gây hoang mang dư luận xã hội. Bên cạnh đó, rất nhiều đối tượng còn cố tình tung tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh nhằm trục lợi bất chính. Đó là những thông tin tiêu cực khiến người dân lo sợ, đổ xô đi mua khẩu trang, lương thực tích trữ, dẫn đến tình trạng “găm” hàng, “thổi” giá, v.v. Những hành vi như thế không thể dùng “tự do ngôn luận” để biện hộ, mà phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Còn đối với những người được gắn mác “các nhà hoạt động chính trị”, “nhà bảo vệ nhân quyền” mà Báo cáo nêu tên, như: Mai Phan Lợi, Đặng Đình Bách, Lê Văn Dũng (Dũng Vova), Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Cấn Thị Thêu,... thực chất là những đối tượng vi phạm pháp luật, bị bắt giữ, xét xử và tuyên án theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam, không thể coi đó là những dẫn chứng để xuyên tạc Việt Nam vi phạm nhân quyền. Đây là sự can thiệp vào công việc của một quốc gia có chủ quyền và không thể chấp nhận được.

Việt Nam sẵn sàng đối thoại những quan điểm khác biệt

Thế giới là một tổng thể của sự đa dạng của các quốc gia. Không có mô hình nào là tuyệt đối và cũng không có một quốc gia nào khẳng định đã hoàn hảo trong vấn đề nhân quyền. Việt Nam cũng vẫn còn những vấn đề cần cải thiện và thực tế Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang đổi mới trên tất cả các mặt, khắc phục những hạn chế, sai sót nhằm bảo đảm tốt hơn các quyền con người cho người dân. Đó là quá trình tất yếu mỗi quốc gia, không riêng gì Việt Nam sẽ phải trải qua để tự hoàn thiện và phát triển. Và, Việt Nam đã công bố Báo cáo giữa nhiệm kỳ tự nguyện thực hiện các khuyến nghị mà Việt Nam chấp thuận theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR chu kỳ 3), trong đó phản ánh toàn diện, đầy đủ về tình hình nhân quyền Việt Nam.

Song thật nực cười, khi Hoa Kỳ vẫn tự cho mình cái quyền nhận xét về tình hình nhân quyền của các nước nhưng lại không chỉ ra những vấn đề nhân quyền đang tồn tại ở ngay chính nước Mỹ? Thực tế, tình hình nhân quyền Mỹ vẫn còn nhiều vấn đề, như: phân biệt chủng tộc, khoảng cách giàu nghèo, bạo lực, các vụ xả súng giết chết nhiều người, sự lạm dụng vũ lực của cảnh sát và ngay cả bầu cử của Mỹ cũng còn gây nhiều tranh cãi, v.v. Vậy, những điều này liệu có khiến các giá trị “dân chủ”, “nhân quyền” mà Mỹ có thể tự hào?

Việt Nam luôn nêu cao quan điểm sẵn sàng trao đổi với Mỹ về những vấn đề còn khác biệt trên tinh thần xây dựng, thẳng thắn, cởi mở và tôn trọng lẫn nhau nhằm tăng cường hiểu biết. Thực tế, thông qua các cuộc tiếp xúc, cơ chế đối thoại nhân quyền thường niên, Việt Nam luôn chủ động cung cấp thông tin, giải đáp những vấn đề Mỹ quan tâm. Trong các cuộc gặp với Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris năm 2021 hay tiếp Đại sứ Mỹ Marc Knapper mới đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính luôn đề nghị nước Mỹ thúc đẩy quan hệ trên cơ sở “tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị và sự khác biệt của nhau”.

Rất tiếc, Báo cáo nhân quyền năm 2021 của Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn không hề thay đổi khi tiếp tục đưa thông tin sai lệch, quy kết một chiều, đi ngược lại mối quan hệ đối tác toàn diện đang phát triển tốt đẹp giữa hai nước. Vì thế, những nhận xét thiên kiến, sai lệch về tình hình nhân quyền của Việt Nam trong bản Báo cáo nhân quyền năm 2021 của Bộ Ngoại giao Mỹ cần phải phê phán, bác bỏ.

Nguồn: QPTD

1 - Việt Nam nằm trong tốp 10 nước có tỉ lệ tiêm chủng cao nhất thế giới; là một trong số ít nền kinh tế trên toàn cầu có tốc độ tăng trưởng kinh tế tích cực trong đại dịch.

2 - Ban Tôn giáo Chính phủ (2021) - Công tác tôn giáo 2021, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.

 

 

Không thể nhân danh “hoạt động vì môi trường” để vi phạm pháp luật

Ngày 17/6, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, tuyên phạt 24 tháng tù giam đối với bà Ngụy Thị Khanh – cựu Giám đốc Trung tâm phát triển sáng tạo xanh Green ID về tội trốn thuế theo Điều 200, Bộ luật Hình sự.

Xử lý kẻ "mượn dịch" xúc phạm nhân dân hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh

Ngay sau đó, một số cá nhân, tổ chức thù địch, chống đối đã tung ra nhiều bài viết với thông tin không chính xác, bẻ lái theo hướng tiêu cực, tạo cớ can thiệp vào công việc của các cơ quan thực thi pháp luật Việt Nam, đả kích chính quyền.

Những luận điệu ngụy biện, trái bản chất

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị được dịp hùa vào “ăn theo”. Tổ chức Việt Tân xuyên tạc, suy diễn khi cho rằng “chính quyền bỏ tù các nhà hoạt động môi trường”, rồi kêu gọi Việt Nam “trả tự do cho bà Ngụy Thị Khanh”. Đài Á Châu tự do (RFA) đăng bài viết “Giám đốc xã hội dân sự Green ID bị bắt với cáo buộc trốn thuế”, tung ra những thông tin lập lờ nhằm đánh lận bản chất vụ án. Thay vì đưa thông tin đúng về vụ việc, RFA lại dẫn dắt người đọc đến các vấn đề “xã hội dân sự”.

Họ liên hệ sự vụ trên với việc ông Mai Phan Lợi, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm Giáo dục Truyền thông (MEC) và ông Đặng Đình Bách, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Pháp luật & Phát triển Bền vững (LPSD) phải chấp hành án phạt tù với tội danh trốn thuế để quy kết, vu cáo chính quyền “đàn áp nhà hoạt động môi trường”.

Bất chấp thực tế Ngụy Thị Khanh có hành vi trốn thuế, những kẻ lấy vỏ bọc các nhà “dân chủ”, “nhân quyền” cố tình phớt lờ sự thật để xuyên tạc, suy diễn vấn đề, vẽ ra các “thuyết âm mưu”, hướng lái dư luận về bản chất vụ việc, dựng chuyện chính quyền “bắt bớ người vô tội” để “ngăn chặn các tổ chức dân sự”.

Từ câu chuyện của Green ID, MEC và LPSD, chúng ta dễ nhận thấy các đối tượng tự xưng “nhà dân chủ” đang cố tình lợi dụng vấn đề "xã hội dân sự" để bao biện cho hành vi sai phạm, tạo cớ đả phá chính quyền nhân dân.

Thực tế, trong nhiều năm qua, các đối tượng xấu, phần tử cơ hội đã ráo riết thực hiện chiêu trò "xã hội dân sự" để chống phá đất nước. Lợi dụng quyền tự do lập hội được quy định trong Hiến pháp, các đối tượng thực hiện tuyên truyền đánh lận bản chất vấn đề nhằm hình thành các tổ chức tự phát, không theo quy định của pháp luật. Thông thường khi mới thành lập, các tổ chức này sẽ núp bóng “dân chủ”, “nhân quyền”, rêu rao “hoạt động phi lợi nhuận”, “thúc đẩy sự phát triển của xã hội”… để đánh bóng tên tuổi, tìm mọi phương thức tập hợp lực lượng chống đối từ bên trong và móc nối với các tổ chức phản động ở nước ngoài. Sau khi có đủ khả năng về nhân lực và vật lực, số tổ chức, cá nhân này sẽ “thay màu”, lộ rõ bộ mặt thật không chỉ dừng lại ở vấn đề dân sự mà tìm cách “thò tay” can thiệp, lấn sâu tập trung đả phá vấn đề chính trị.

Với thủ đoạn “nội công ngoại kích”, mục đích của số đối tượng trên nhằm gây phân tâm dư luận, tìm mọi cách gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống phá cơ quan công quyền, tìm kiếm những tác động từ bên ngoài hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; cố tình đánh lận, dựng chuyện hòng làm giảm vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hoạt động vì môi trường không thể bất tuân pháp luật

Không riêng Việt Nam mà các quốc gia khác trên thế giới cũng có những quy định hết sức chặt chẽ liên quan đến thuế. Tuỳ theo tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm thì người phạm tội sẽ phải chịu những chế tài tương ứng. Trên thế giới, những người nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực bị bắt, bị phạt về tội trốn thuế không phải là chuyện hiếm gặp. Ví dụ như trường hợp năm 2017, một công tố viên tại Tây Ban Nha đã cáo buộc Cristiano Ronaldo 4 tội trốn thuế về tiền bản quyền hình ảnh trong khoảng thời gian gắn bó với Real Madrid từ năm 2011 tới 2014 với tổng số tiền lên tới 14,7 triệu euro. Cầu thủ bóng đá Lionel Messi cũng bị kết án 21 tháng tù treo do 3 lần trốn thuế từ khoản thu nhập 4,1 triệu euro bản quyền hình ảnh từ năm 2007 đến 2009.

Huấn luyện viên bóng đá Jose Mourinho của Manchester United vào đầu tháng 9/2018 cũng dính cáo buộc vì hành vi trốn thuế 3,3 triệu euro. Nữ diễn viên người Hàn Quốc Song Hye Kyo, diễn viên nổi tiếng người Trung Quốc Lưu Hiểu Khánh, Phạm Băng Băng cũng dính dáng đến tội danh trốn thuế… Điều đó cho thấy rằng, bất kể ở quốc gia nào, nếu trốn thuế, phạm pháp thì phải chịu các biện pháp xử lý tương ứng. Không có chuyện cá nhân nổi tiếng là được miễn tội trốn thuế khi vi phạm pháp luật ở nước sở tại.

Đối với tội trốn thuế, đây là hành vi khai báo gian dối trong sản xuất, kinh doanh để không phải đóng thuế hoặc đóng mức thuế thấp hơn nhiều so với mức phải đóng. Tội trốn thuế đã được sửa đổi về số tiền trốn thuế trong Bộ luật Hình sự với hình phạt cao nhất là 7 năm tù và phạt tiền có thể lên tới 4,5 tỷ đồng. Việc khởi tố, xét xử với bản án 24 tháng tù đối với bà Ngụy Thị Khanh về tội danh trốn thuế là việc làm hoàn toàn bình thường của cơ quan chức năng để đảm bảo an ninh trật tự xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng, giữ nghiêm kỷ cương phép nước. Quá trình điều tra, xét xử được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Phiên tòa được diễn ra công khai, bị cáo được bảo đảm đầy đủ các quyền theo quy định của pháp luật.

Trước khi bị khởi tố, tuyên án tù, bà Ngụy Thị Khanh là Giám đốc Trung tâm phát triển sáng tạo xanh GreenID - Trung tâm chuyên nghiên cứu, cung cấp các giải pháp năng lượng bền vững cho cộng đồng và tích cực tham gia tư vấn, góp ý về các lĩnh vực quy hoạch năng lượng, năng lượng tái tạo, biến đổi khí hậu, giảm sử dụng năng lượng hóa thạch và cung cấp nước sạch. Bà Ngụy Thị Khanh cũng được biết đến là “nhà hoạt động môi trường” khá nổi tiếng trên mạng xã hội với những phát ngôn táo bạo, trái chiều. Lẽ ra, với sự nổi tiếng của bản thân, bà Ngụy Thị Khanh càng phải có việc làm đúng quy định pháp luật để nêu gương. Thế nhưng bà Khanh lại có hành vi trốn thuế và việc bị kết án về tội danh này là căn cứ vào hồ sơ, tài liệu và quá trình xét xử tại tòa.

Các thế lực thù địch, thiếu thiện chí cố liên hệ sự việc của bà Ngụy Thị Khanh với những trường hợp ông Đặng Đình Bách, cựu Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật và Chính sách Phát triển Bền vững (LPSD), đã bị kết án 5 năm tù về tội “trốn thuế” vào tháng 1/2022; ông Mai Phan Lợi và ông Bạch Hùng Dương, lãnh đạo Trung tâm Truyền thông Giáo dục Cộng đồng, lần lượt bị tuyên án 4 năm tù và 2 năm 6 tháng tù với cùng tội danh trên để vu cáo chính quyền Việt Nam “đàn áp những lãnh đạo các tổ chức xã hội dân sự”.

Thực tế, cũng như bà Ngụy Thị Khanh, trường hợp các ông Đặng Đình Bách, Mai Phan Lợi, Bạch Hùng Dương đều được điều tra, truy tố và xét xử theo đúng quy định pháp luật, với các tài liệu, chứng cứ kết tội rõ ràng, khách quan. Do vậy, không thể biện minh, cổ súy cho hành vi sai trái ấy bằng những luận điệu lố bịch, lời lẽ vô lý, xảo trá, càng không thể đưa ra bất kỳ yêu cầu nào để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam như cái cách mà các thế lực thù địch, phản động, số tổ chức, cá nhân chống đối đang làm.

Việt Nam luôn cam kết nghiêm túc và mạnh mẽ trong bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển xanh và bền vững. Việt Nam đang tiến hành nhiều biện pháp tổng thể và toàn diện trong lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và tuần hoàn. Điều này đã được nêu rõ trong nhiều văn bản pháp luật, chủ trương và chính sách của Việt Nam.

Tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu COP 26, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có bài phát biểu khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050; giảm 30% lượng phát thải khí methane gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2030; tham gia Tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi điện than sang điện sạch và Tuyên bố các nhà lãnh đạo về rừng và sử dụng đất.

 Đảng, Nhà nước tiến hành thường xuyên và rộng rãi việc tham vấn, lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các tổ chức phi Chính phủ và các đối tác quốc tế trong việc xây dựng chính sách, pháp luật về vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu. Những tổ chức hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển xanh ở Việt Nam đã tham gia và có những đóng góp tích cực đều được ghi nhận. Đồng thời, chúng ta cũng xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng danh nghĩa xã hội dân sự, bảo vệ môi trường để gây mất trật tự xã hội, vi phạm luật pháp. 

Liên quan đến vụ việc trên, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng định: “Ngụy Thị Khanh bị điều tra, truy tố về tội danh kinh tế, cụ thể là vi phạm quy định của pháp luật về quản lý thuế và đã thừa nhận hành vi này. Một số ý kiến suy diễn cho rằng Ngụy Thị Khanh bị xử lý hình sự vì những hoạt động và ý kiến liên quan đến biến đổi khí hậu là không có cơ sở và không đúng với bản chất của vụ việc”.

Nguồn:CAND

 

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường trong xây dựng đất nước phát triển bền vững

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cuộc đời đấu tranh và hiện thực hóa khát vọng Độc lập - Tự do - Hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. Người sớm hoạch định những định hướng chiến lược phát triển đất nước, trong đó có vấn đề bảo vệ môi trường. Những quan điểm, chỉ dẫn và thực hành của Người về bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững vẫn vẹn nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước.

1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường 

Vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường khi nào và ở đâu cũng có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng, con người muốn tồn tại, cần phải sống hòa hợp với tự nhiên, mặt khác còn phải biết cải tạo, chinh phục tự nhiên để phục vụ tốt hơn cho cuộc sống. Môi trường, tài nguyên thiên nhiên tạo cơ sở vật chất để phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần làm phong phú cuộc sống tinh thần của con người. 

Môi trường có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội và ổn định chính trị của đất nước, góp phần phát triển kinh tế, xây dựng CNXH. Vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường: “Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước; có đất và có nước, thì mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu, nước mạnh […]. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hòa với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội”(1). Sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường được thể hiện chủ yếu ở những nội dung sau:

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề trồng cây gây rừng gắn với bảo vệ rừng, giữ cân bằng sinh thái tự nhiên

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, với tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm đến môi trường và bảo vệ môi trường. Trong thờikỳ xây dựng CNXH ở miền Bắc, hằng năm, vào dịp đầu Xuân, thời tiết thuận lợi cho cây cối sinh sôi, phát triển, Người phát động phong trào “Tết trồng cây”: “Mùa xuân là Tết trồng cây/Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”. Phong trào thi đua trồng cây do Người phát động đã dần trở thành một thói quen, nếp sinh hoạt tốt đẹp của nhân dân ta mỗi dịp Tết đến Xuân về, mang lại hiệu quả thiết thực cho phát triển kinh tế và cải thiện môi trường sống. 

Để cổ vũ phong trào trồng cây, Người đã viết nhiều bài đăng trên báo Nhân Dân, như Nông dân phải trồng cây chuẩn bị làm nhà ở (ngày 30-5-1959), Tết trồng cây (28-11-1959), Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu (19-1-1960), Bài phát biểu tại Hội nghị tổng kết phong trào sản xuất nông lâm, ngư nghiệp năm 1959 (18-2-1960), Thêm vài ý kiến về Tết trồng cây (25-3-1960),Tết trồng cây (28-1-1961), Năm mới hãy nhiệt liệt tổ chức Tết trồng cây (01-1-1965), Tết trồng cây (05-2-1969)...

Người căn dặn bộ đội, chiến sỹ phải hạn chế tối đa việc chặt cây, phá rừng, săn bắn chim thú: “Chiến tranh, bộ đội thường phải trú quân trong rừng nên phải hướng dẫn cho anh em tận dụng hang động, hạn chế tối đa việc chặt cây, phá rừng. Chặt cây động rừng, muông thú không có nơi ở phải bỏ đi lang thang. Bộ đội ở rừng gặp thú rừng là đương nhiên. Trong tay lại có súng, có đạn nên việc sát hại thú rừng là dễ xảy ra lắm… Ta lại còn săn bắn nữa thì nay mai đất nước hòa bình, giang sơn đâu còn là rừng, rừng đâu còn muông thú? Thế chẳng khác gì đất không có người, sông không có cá”(2).

Mục đích trồng cây gây rừng góp phần nâng cao đời sống cho nhân dân, mang lại lợi ích kinh tế, cảnh quan đẹp, vừa bảo đảm an ninh, quốc phòng, vừa mang tầm chiến lược lâu dài; lợi ích của những hoạt động này không chỉ có ý nghĩa với cuộc sống của mỗi cá nhân, từng gia đình mà là của toàn xã hội; có ý nghĩa không chỉ với một quốc gia mà là lợi ích toàn cầu. Theo người, toàn thể nhân dân, từ cụ già đến em nhỏ, nhất là các đoàn viên, thanh niên, các cơ quan, đoàn thể... đều nên tham gia phong trào “Tết trồng cây”. 

Nói chuyện với hơn 2000 đồng bào, cán bộ, bộ đội đảo Cô Tô (Hải Ninh, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh), Người căn dặn: “Cần trồng nhiều cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây ngăn gió. Trồng cây sẽ đưa lại cho nhân dân một nguồn lợi to, lại làm cho xứ sở ta thêm tươi đẹp”(3). Người nhắc nhở nhân dân trồng cây ven biển để bảo vệ đê, làm rừng phòng hộ, chống gió cát, chống xói mòn…, chú ý hiệu quả chứ không phải chỉ là kêu gọi phong trào, làm cho có: “Trồng cây nào, tốt cây ấy”, coi đó là “một kế hoạch kinh tế lâu dài và liên tục”, “một việc quan trọng chuẩn bị cho công việc xây dựng nông thôn mới nay mai”(4)

Tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi năm 1963, Người nhắc nhở: “Các cô, các chú cần hết sức chú ý vấn đề bảo vệ rừng. Nếu cứ để tình trạng đồng bào phá một ít, nông trường phá một ít, công trường phá một ít, thậm chí đoàn thăm dò địa chất cũng phá một ít, thì rất tai hại. Phá rừng thì dễ, nhưng gây lại rừng thì phải mất hàng chục năm. Phá rừng nhiều như vậy sẽ ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống rất nhiều”(5). Người coi đó là hành vi “đem vàng đổ xuống biển”, làm thất thoát tài nguyên của đất nước, gây nhiều hệ lụy cho cuộc sống con người và các thế hệ mai sau. 

Trong Thư gửi Đại hội hợp tác xã và đội sản xuất tiên tiến miền núi và trung du, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Hợp tác xã nào cũng phải có kế hoạch trồng rừng và tích cực bảo vệ rừng. Nếu rừng kiệt thì không còn gỗ và mất nguồn nước thì ruộng nương mất màu, gây ra lụt lội và hạn hán. Vì vậy đồng bào miền núi và trung du cũng như đồng bào miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế ở đây phải bảo vệ rừng như bảo vệ nhà cửa của mình”(6).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho việc trồng cây lan tỏa rộng khắp, trở thành một nét đẹp của văn hóa dân tộc Việt Nam. Ngay cả khi sang thăm các nước, hoặc đón tiếp các nguyên thủ quốc gia, khách quốc tế đến thăm Việt Nam, Người cũng đều tổ chức trồng cây lưu niệm, thể hiện tình hữu nghị, ý thức làm đẹp môi trường sống, nhân dân thế giới yêu mến gọi đó là “cây Bác Hồ”. Bà Katherine Muller-Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam đã có những nhận xét rất sâu sắc về Người: “Hồ Chí Minh đã sớm thể hiện sự quan tâm của Người đối với các vấn đề liên quan đến môi trường và tới mối quan hệ hòa hợp giữa con người và thiên nhiên trong sự phát triển của một quốc gia. Người ủng hộ sự cần thiết phải chống thiên tai, duy trì và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cùng môi trường sinh thái và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trồng rừng, thủy lợi và cải thiện chất đất…Người còn kêu gọi mọi người “trồng và bảo vệ rừng, như bảo vệ ngôi nhà của mình”. Để nêu gương, Người đã tạo ra một môi trường tự nhiên tuyệt vời quanh nơi ở của mình và chăm sóc cây cối, hồ cá, và chim chóc, nhấn mạnh là chúng cần được bảo vệ bởi chúng là những báu vật của thiên nhiên”(7).

Thứ hai, Hồ Chí Minh chú trọng việc xây dựng công trình thủy lợi để điều hòa nước, xây dựng đời sống mới với môi trường sống lành mạnh

Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng đến vấn đề nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp và điều hòa khí hậu, quan tâm xây dựng công trình thủy lợi. Với bộ quần áo nâu sẫm màu, mái tóc bạc phơ, mang đôi dép cao su, tác phong giản dị và gần gũi, Người thường xuyên đi đến các địa phương, thăm và kiểm tra các công trình thủy lợi, xắn quần, lội ruộng, cùng tát nước, cùng đạp guồng nước chống hạn, chống úng, xuống sát chân đê ân cần thăm hỏi và hướng dẫn bà con đắp đê chống lụt… 

Người từng nói trong lần về thăm Hưng Yên: “Cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi. Ta đã có đất, nhưng còn thiếu nước. Có đất phải có nước”(8). Từ lời dạy đó của Người, sau ba năm, công trình đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải được hoàn thành, tạo được mạng lưới thủy lợi rộng khắp vùng, tạo nên những cánh đồng phì nhiêu mỗi năm hai vụ, từng bước xóa hẳn nạn đói giáp hạt hằng năm, tiến tới có thóc dự trữ, góp phần đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu trên thế giới những năm đổi mới.

Khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, năm 1947, giữa bộn bề công việc kháng chiến, kiến quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm Đời sống mới dưới bút danh Tân Sinh. Bắt tay vào xây dựng đời sống mới, nếp sống mới, lối sống mới, Người quan tâm giáo dục, động viên cán bộ, nhân dân đấu tranh bài trừ hủ tục; nhắc nhở, giáo dục nhân dân biết giữ gìn vệ sinh: ăn sạch, uống sạch, ở sạch, mặc sạch: “Sạch sẽ tức là một phần đời sống mới. Sạch sẽ thì ít đau ốm. Sức khỏe thì làm được việc, làm được việc thì có ăn”(9). Để xây dựng môi trường sống lành mạnh, phải chú ý: “đường sá phải sạch sẽ. Ao tắm giặt, giếng nước uống phải phân biệt và săn sóc cẩn thận. Những ao hồ không cần thì lấp đi, cho đỡ muỗi”(10).

Người dạy thiếu niên, nhi đồng luôn phải ghi nhớ thực hiện “Giữ gìn vệ sinh thật tốt”, để rèn luyện nếp sống tốt đẹp, giữ gìn môi trường xung quanh sạch đẹp, văn minh. Đối với cán bộ, công nhân làm việc trong môi trường nhà máy, hầm mỏ, công trường, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở phải chú ý bảo vệ sức khỏe, bảo vệ an toàn lao động và tăng cường công tác vệ sinh. Trong lần Nói chuyện với cán bộ, công nhân nhà máy dệt Nam Định (24-4-1957)(11), Người nhắc nhở anh chị em trong sản xuất phải đeo khẩu trang chống bụi bông, nếu không sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương tuyệt vời về phong cách ứng xử, lối sống hòa hợp với thiên nhiên. Theo Người, môi trường sống là yếu tố quan trọng bảo đảm sức khỏe cho cán bộ, chiến sỹ sống, học tập, lao động và chiến đấu. Người luôn gần gũi với thiên nhiên, hòa mình với chim muông cây cỏ, với môi trường sống xung quanh, coi thiên nhiên như người bạn thân thiết, là nguồn cổ vũ, động viên.

Khi ở chiến khu, Người chọn những nơi “trên có núi, dưới có sông, có đất ta trồng, có bãi ta vui”, nhà “thoáng, ráo, kín, mát”... Kháng chiến thắng lợi, trở về Hà Nội, Người sống và làm việc trong ngôi nhà sàn giản dị nằm giữa vườn cây xanh mát. Người trồng rất nhiều loại cây cối trong vườn, chăm chút vun trồng. Phong cách sống giản dị, tiết kiệm, không xa hoa, lãng phí, hòa đồng với thiên nhiên, có ý thức dành dụm tài nguyên thiên nhiên cho thế hệ mai sau của Người là tấm gương sáng cho thế hệ sau học tập và làm theo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân, đến tận lúc chuẩn bị đi về cõi vĩnh hằng, Người vẫn nghĩ đến những điều có lợi cho nước, cho dân: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn”(12). Như vậy, cách đây hơn nửa thế kỷ, Người đã có tầm nhìn về việc sử dụng những nguồn năng lượng sạch để bảo vệ môi trường, đó cũng là cách tiết kiệm tài nguyên đất đai cho hiện tại và con cháu mai sau. Người còn mong muốn: “Trên mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi. Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp(13). Dẫu sắp không còn trên đời này nữa, Người vẫn luôn nghĩ đến những điều tích cực cho người sống, nhắc nhở việc trồng cây để làm đẹp môi trường.

2. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường soi sáng công cuộc xây dựng đất nước phát triển bền vững

Môi trường là vấn đề toàn cầu, bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Hiện nay, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu toàn cầu là vấn đề nóng được đặt trên bàn nghị sự quốc tế, là mối đe dọa đến an ninh con người, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, an ninh lương thực… của tất cả các quốc gia. 

Việt Nam hiện cũng đang phải đối diện với nhiều vấn đề môi trường gay gắt: Thiên nhiên nước ta vốn bị tàn phá bởi chiến tranh trước đây, nay còn bị phá hoại bởi hoạt động vô ý thức, thiếu kế hoạch trong việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái gia tăng vì chất xả thải ra môi trường của các nhà máy; nồng độ bụi ở đô thị vượt quá nhiều lần chỉ tiêu cho phép; các hoạt động khai thác mỏ, vật liệu xây dựng, vàng, đá quý… cũng đã và đang huỷ hoại dần môi trường sinh thái… Thêm vào đó, Việt Nam được đánh giá là một trong năm nước chịu tác động mạnh nhất của biến đổi khí hậu(14). Đó là những vấn đề nóng bỏng, thách thức đối với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trong thời gian tới.

Chính phủ Việt Nam sớm nhận rõ vấn đề hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường trong mục tiêu phát triển bền vững, từ năm 1991, Chính phủ đã thông qua kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991-2000, sau đó được lồng ghép xuyên suốt các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm đến hiện nay. 

Thực tế những năm đầu đổi mới, chúng ta vẫn chưa có sự quan tâm đầy đủ đến vấn đề môi trường, vì thế: “Khoảng cách giữa đổi mới chính sách kinh tế và đổi mới chính sách văn hoá, xã hội bộc lộ rõ nét, nhiều vấn đề xã hội nổi lên. Trong chỉ đạo, thường chú ý nhiều hơn các chỉ tiêu vật chất mà ít chú ý các chỉ tiêu về phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”(15)

Tại Đại hội XII, sau 30 năm đổi mới, Đảng ta xác định: “bảo đảm sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững”, “Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên”(16).

Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 622/QĐ-TTg Về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững, trong đó xác định 17 mục tiêu chung và 115 mục tiêu cụ thể tương ứng với các mục tiêu phát triển bền vững của toàn cầu(17). Chính phủ Việt Nam khẳng định rõ chủ trương không đánh đổi môi trường để phát triển kinh tế. 

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) đã bổ sung thành tố “bảo vệ môi trường” trong mối quan hệ lớn “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”(18). Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 tiếp tục khẳng định: “Phát triển nhanh và bền vững […] phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu”(19). Điều này thể hiện nhận thức đầy đủ và toàn diện của Đảng và Nhà nước về các trụ cột của phát triển bền vững theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng chính là các yếu tố căn bản cấu thành sự phát triển bền vững, một định hướng phát triển tất yếu, khách quan, phù hợp với xu thế chung hiện nay của các quốc gia, xu hướng phát triển tiến bộ của nhân loại và thời đại, chú trọng sự hài hòa, toàn diện của các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường. 

Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với các mục tiêu phát triển bền vững về tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những nhiệm vụ cơ bản: Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn dân về bảo vệ môi trường, từ đó dẫn đến sự thay đổi nhận thức và hành vi của từng cá nhân, cộng đồng; hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững; tập trung khắc phục, cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường ở các đô thị, các cụm công nghiệp, làng nghề…; quản lý chặt chẽ, bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên; phát triển, nâng cao chất lượng rừng; tăng độ che phủ rừng gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái; thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững theo Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc, đó là duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, nhằm giải quyết hiệu quả những khó khăn vượt khỏi khả năng của một quốc gia…

Trong thời gian tới, ngoài các nhiệm vụ định hướng trên, cần tập trung vào một số giải pháp như: Tuyên truyền sâu rộng về tầm quan trọng của môi trường sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên; giải quyết hài hoà giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường theo chủ trương của Đảng; nền sản xuất xã hội cần phải thực hiện thêm chức năng tái sản xuất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; triển khai thực hiện đầy đủ Luật Bảo vệ môi trường…

_Nguồn: LLCT_ 

(1), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội , 2011, tr.283, 536.

(2) Báo Pháp luật Việt Nam, số 106 (3828), ngày 4-5-2009.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.129.

(5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.165, 294.

(7) Katherine Muller-Marin “Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực hoạt động của UNESCO”, https://hcma.vn/tintuc/Pages/dien-dan-chinh-tri-tu-tuong.aspx?CateID=201&ItemID=21139, ngày 14-5-2010, truy cập ngày 28-6-2022.

(8) Bác Hồ sống mãi, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005, tr.762.

(9), (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.114, 119.

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.532.

(12), (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.613, 613.

(14), (17) Trần Nguyễn Tuyên: Một số vấn đề về môi trường ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp, http://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/mot-so-van-de-ve-moi-truong-o-viet-nam-hien-nay--thuc-trang-va-giai-phap.html, truy cập ngày 28-6-2022.

(15) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.64, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.60.

(16) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội 2017, tr.104,142.

(18), (19) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.119, 214.

 

MẠNG XÃ HỘI KHÔNG PHẢI LÀ CÔNG CỤ KÍCH ĐỘNG HẬN THÙ, CHIA RẼ ĐOÀN KẾT

 

       Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, Internet và mạng xã hội đang tác động, ảnh hưởng ngày càng lớn đến mọi mặt đời sống xã hội. Chúng ta không phủ nhận những tiện ích to lớn mà mạng xã hội đem lại cho cộng đồng. Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại triệt để lợi dụng những ưu thế mà mạng xã hội đem lại để tăng cường tuyên truyền, xuyên tạc nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam.

MỘT SỐ THỦ ĐOẠN CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG LỢI DỤNG KHÔNG GIAN MẠNG ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA Trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng, không gian mạng rất rộng lớn, hệ thống các mạng đang được sử dụng phổ biến như: mạng xã hội (Facebook, Twitter, Zalo, TikTok, Instagram, Zing me, Youtube, Skype, WeChat, Google Plus, Go.vn...); trình duyệt web (Google, Chrome, Mozilla Firefox , Opera, Safari...); trang web tin tức (VnExpress, Tin tức, Zing news, VTC News...); tìm kiếm, tra cứu (Google map, Bing, Google Docs...); tiện ích (chuyển tiền, việc làm, email, thiệp điện tử...); trang mạng mua bán, kinh doanh, học tập, âm nhạc, giải trí... đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều lợi ích đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Theo thống kê gần đây, tại Việt Nam, với dân số khoảng gần 100 triệu dân, tỷ lệ người sử dụng internet chiếm hơn 72% (đứng thứ 18/20 quốc gia có số người sử dụng internet lớn nhất thế giới, đứng thứ 8 khu vực châu Á và đứng thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á). Các mạng xã hội được người dùng Việt Nam sử dụng phổ biến là Facebook, Zalo, Youtube, Instagram, TikTok..., nhiều nhất là mạng xã hội Facebook với hơn 76 triệu người dùng (đứng thứ 7 thế giới). Tuy nhiên, không gian mạng, do có tính mở, nhất là các trang mạng xã hội, với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, nhiều khi không phân định được ranh giới giữa đúng và sai, thực và ảo; vì vậy, không gian mạng đem đến không ít thách thức đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đặc biệt, trong những năm gần đây và hiện nay, không gian mạng đã và đang trở thành công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “ nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc”, “xã hội dân sự”, “tự do ngôn luận”, “ tự do báo chí”, “ an sinh xã hội”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Về thủ đoạn, phương thức chống phá, để tuyên truyền những quan điểm sai trái, xuyên tạc, các thế lực thù địch đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn, phương thức khác nhau, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nguy hiểm hơn, có tác động và sức lan tỏa rất nhanh đến các tầng lớp trong xã hội. Thủ đoạn tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Giả danh mác xít, “giả khoa học” để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đã đạt được trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế. Lợi dụng, cường điệu hóa những hạn chế, khuyết điểm của Đảng và hệ thống chính trị trong lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội để quy kết cho rằng việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng chính là nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế, khiếm khuyết đó. Bôi nhọ lãnh tụ, xuyên tạc lý lịch, thân thế sự nghiệp các lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước để đi đến phủ nhận con người, phủ nhận hệ tư tưởng mác xít và vai trò lãnh đạo của Đảng. Thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân để thông qua đối tượng này trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Lợi dụng các sự kiện chính trị - xã hội “nhạy cảm”, việc bắt, xử lý số cán bộ cao cấp về tội tham nhũng gần đây; xét xử số đối tượng vi phạm pháp luật, để lôi kéo, kích động người dân tập trung đông người gây rối an ninh, trật tự, biểu tình, bạo loạn, lật đổ; tuyên truyền kích động các hoạt động ly khai, tự trị trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Móc nối, lôi kéo các đối tượng cơ hội chính trị có cả cán bộ đương chức, có tướng lĩnh đã nghỉ hưu và thành phần chống đối trong trí thức, văn nghệ sĩ tăng cường chống Đảng, cổ xúy cho “dân chủ”, “ nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc”, “xã hội dân sự”, “tự do ngôn luận”, “ tự do báo chí”, “ an sinh xã hội”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay là vấn đề khách quan, nhiệm vụ trọng yếu, một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng, đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đầy đủ sự ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, cũng như những thách thức và yêu cầu của nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng bản lĩnh, trách nhiệm và quyết tâm cao, tích cực chủ động đấu tranh, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng trước tình hình mới. Muốn vậy, mọi cán bộ đảng viên phải không ngừng học tập nghiên cứu, trao đổi, nâng cao nhận thức, có nền tảng chính trị tư tưởng vững chắc; đồng thời, phải luôn cảnh giác, nhận diện đúng bản chất âm mưu thủ đoạn, đối tượng tác động, hình thức chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước ta. H

CẢNH TỈNH, NGĂN NGỪA, BẢO VỆ ĐẢNG VIÊN TỪ SỚM, TỪ XA TRƯỚC KỶ LUẬT ĐẢNG

 

Vừa qua, tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, Trung ương đã ban hành Quy định số 37, quy định 19 điều đảng viên không được làm, thay thế cho Quy định số 47 trước đó. Quy định số 37 với nhiều điểm mới, sửa đổi, bổ sung nhằm tăng cường công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; đồng thời tiếp tục là tiếng chuông cảnh tỉnh, góp phần ngăn ngừa và bảo vệ đảng viên từ sớm, từ xa trước kỷ luật Đảng.

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN DÙNG “TIN GIẢ”, THÔNG CHƯA ĐƯỢC KIỂM CHỨNG CỦACÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH Trong thời gia vừa qua, lợi dụng những vụ việc được dư luận quân tâm, các thế lực thù địch tiếp tục sử dụng thủ đoạn tung “tin giả”, tin chưa được kiểm chứng nhằm mục đích nói xấu, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, nhà nước và chế độ ngày càng nhiều; điển hình như: báo BBC tung tin bài xuyên tạc, bôi xấu hình ảnh đại tướng Tô Lâm “ăn bò dát vàng” trong khi cả nước gồng mình chống Covid- 19, các tin, bài, video xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh thủ tướng Phạm Minh Chính trong chuyến công du đến Mỹ... hay lợi dụng sự việc quân nhân trong Quân đội tử vong các thế lực thù địch và bọn phản động tung những tin, bài nhằm gây hoang mang, rối loạn niềm tin, thậm chí chúng xuyên tạc các vụ án liên quan đến cán bộ cấp cấp cao của chúng ta vi phạm xảy ra tại công ty Việt Á, Cục Lãnh sự, Tập đoàn FLC... Tất cả những tin giả nhằm gây mất đoàn kết nội bộ, gây nhiễu loạn thông tin, mất ổn định đời sống xã hội. Báo QĐND ngày 22/11/2021 đã đưa tin, tại hội nghị cộng tác công an phòng chống dịch Covid- 19 ngày 20/11/202, Bộ công an cho biết đã xử phạt hơn 150 đối tượng đăng tin giả, yêu cầu gỡ bỏ 10.944 tin, bài, video chứa thông tin, nội dung xấu độc. Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng mạng xã hội, tin giả được lan truyền với tốc độ chóng mặt, theo cấp số nhân. Vì là tin bịa đặt, nên nó được cường điệu và thổi phồng tạo tâm lý tò mò, chú ý dễ đánh vào xúc cảm, tâm lý của những người có độ “hóng” cao. Tin giả như một loại virus nguy hiểm, nó xâm nhập, gây rối dư luận và thậm chí nó làm khùng hoảng niềm tin của người đọc. Tác hại nguy hiểm hơn là khi các thế lực thù địch, bọn phản động và cơ hội chính trị trong và ngoài nước bằng thủ đoạn tin già dàn dựng nên những tin, bài, hình ảnh để nói xấu, xuyên tạc, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, nhà nước nhằm kích động chống phá hòng gây mất đoàn kết nội bộ, mất niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đàng và Nhà nước ta. Một sự thật đáng buồn là có một bộ phận quần chúng nhân dân, thậm chí một số cán bộ, đảng viên lại không phân tích đúng, sai đã bị những “tin vịt” làm dao động về lập trường, thậm chí tin vào một cách mù quáng. Bằng thù đoạn không nói thành có, có nói cho thật nhiều và nội mãi sẽ có người tin. Có thể nói, âm mưu, thủ đoạn này không mới nhưng nó rất có tác dụng và ngón nghề sở trường này được bọn phản động như: Việt Tân hay các đài báo chống “cộng” như: RFA, BBC... liên tục dùng để chống phá đất nước ta. Tin giả nhưng hậu quả của nó gây ra thật thì vô cùng “thật”, vô cùng nguy hiểm cho xã hội, đây thực sự là một loại “mầm bệnh” cho cộng đồng khi “đấtsống” của nó lại là mạng xã hội đang phát triển mạnh mẽ ngày càng chi phối, tác động đến nhận thức, hành vi cá nhân, từ đó làm ảnh hường đến an ninh, an toàn xã hội. Do đó, mỗi cá nhân cần có trách nhiệm tiếp nhận và sàng lọc các thông tin xuyên tạc, giả mạo nhất là những thông tin của các thế lực xấu, đấu tranh không khoan nhượng vạch trần âm mưu của các thế lực thù địch và bọn phản động chống phá Việt Nam.
LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH Lợi dụng tình hình tham nhũng ở Việt Nam các thế lực thù địch đã nham hiểm gắn tham nhũng với chính trị, cho rằng “tham nhũng là sản phẩm tất yếu của chế độ công hữu tư liệu sản xuất, chuyên chế độc đảng”. Từ đó chúng đưa ra kết luận ở Việt Nam còn chế độ công hữu, chế độ độc đảng thì không chống được tham nhũng. Đây là luận điệu sai trái, bởi tham nhũng là hiện tượng xã hội có tính lịch sử, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước; sự quản lý kinh tế xã hội lỏng lẻo sẽ tạo ra sơ hở cho các hành vi tiêu cực nảy sinh, trong đó có tham nhũng. Thực tiễn cho thấy tham nhũng là hiện tượng phổ biến ở nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia thực hiện chế độ “đa nguyên, đa đảng”. Trong các cuộc đàm phán về Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc, người ta đều khẳng định là nơi nào hệ thống pháp luật còn lỏng lẻo, các quy trình ra quyết định và hoạch định chính sách còn thiếu minh bạch, thủ tục hành chính còn rườm rà, lương công chức còn thấp,… thì ở đó tình trạng tham nhũng có xu hướng gia tăng cả về tính chất và mức độ, đồng thời số vụ có tính chất xuyên quốc gia cũng xuất hiện ngày càng nhiều. Đặc biệt là, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, các quan hệ chính trị - kinh tế tạo ra những tiền đề khách quan làm cho tham nhũng phát triển. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng. Việc chống tham nhũng ở Việt Nam đã và đang được dư luận trong và ngoài nước hết sức đồng tình ủng hộ. Trước thực tiễn này, các thế lực thù địch thay đổi luận điệu. Trước đây chúng rêu rao, tuyên truyền luận điệu phê phán tham nhũng, cho rằng Việt Nam không chống được tham nhũng, thì nay trước quyết tâm và thành tựu chống tham nhũng ở Việt Nam chúng lại đưa ra những luận điệu xuyên tạc cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Trong nhiều bài viết trên blog cá nhân, trang mạng xã hội các thế lực thù địch dựng đứng lên câu chuyện đấu đá nội bộ, phe nhóm trong Đảng Cộng sản Việt Nam từ trước, trong và sau Đại hội lần thứ XIII hết sức ly kỳ, hơn cả tiểu thuyết kiếm hiệp, trinh thám, để câu kéo người đọc, tạo sự chú ý của dư luận. Không chỉ vẽ ra cảnh đấu đá nội bộ ở cấp Trung ương, các thế lực thù địch còn vẽ ra cảnh đấu đá nội bộ ở các địa phương, dựng lên cái gọi là “cuộc chiến chiếm lĩnh quyền thống trị”. Sự xuyên tạc không dừng lại ở đó, để cho ly kỳ, hấp dẫn hơn, chúng còn bịa ra những lực lượng, cá nhân được hưởng lợi từ sự đấu đá nội bộ trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự bịa ra những lực lượng, cá nhân này cũng không nằm ngoài âm mưu, thủ đoạn chia rẽ nội bộ, làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng. Thời gian qua, lợi dụng chống tham nhũng ở Việt Nam chúng tuyên truyền nhiều luận điệu sai trái nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, trong đó tập trung công kích đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chúng luôn tìm cách xuyên tạc những ý kiến chỉ đạo chống tham nhũng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu chủ trương trong đấu tranh chống tham nhũng sẽ “không có vùng cấm”, thì chúng xuyên tạc rằng đó là những toan tính của ông để lấy lại danh dự đã mất. Tinh vi hơn, các thế lực thù địch đưa ra luận điệu cho rằng cuộc đấu tranh chống tham nhũng chỉ là sự củng cố quyền lực, chiếc ghế của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Ngày 02 tháng 8 năm 2017, trên blog Danlambao đã đăng tải bài viết của Hải Âu với tiêu đề: “Cuộc chiến khốc liệt trong cái lò nhà sản”. Bài viết này xuyên tạc ý kiến của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng ngày 31 tháng 7 năm 2017, cho đó là thông điệp gửi đến tất cả đảng viên đảng cộng sản rằng ông Nguyễn Phú Trọng là người nắm giữ quyền lực cao nhất và không cho phép bất cứ đối tượng nào gây nguy hại đến mình. Bài viết này còn đưa ra luận điệu xuyên tạc rằng, để giữ bằng được chiếc ghế Tổng Bí thư, ông Nguyễn Phú Trọng quyết thực hiện kế hoạch “đập chuột” dẫu cho vỡ bình. Thâm độc hơn, bài viết này còn trắng trợn vu khống rằng, để giữ vững chiếc ghế của mình Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ chống tham nhũng mà còn chống cả những đối tượng gây hại đến vị thế, chiếc ghế Tổng Bí thư của mình và dựng đứng lên câu chuyện ông Đinh Thế Huynh (Thường trực Ban Bí thư) mắc bệnh là do ông Trọng đầu độc vì ông Đinh Thế Huynh là ứng cử viên sáng giá cho chức Tổng Bí thư. Có thể nói, trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục tung ra những luận điệu xuyên tạc cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Việt Nam nhằm bôi nhọ, hạ uy tín của Đảng, Nhà nước ta, kích động gây chia rẽ nội bộ, gieo rắc sự hoài nghi, làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì vậy, đối với mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta phải luôn luôn quán triệt nhận thức đúng đắn về công cuộc chống tham nhũng của Đảng và nhà nước, đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch.