Vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường trong xây dựng đất nước phát
triển bền vững
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cuộc đời đấu tranh và hiện thực hóa khát
vọng Độc lập - Tự do - Hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. Người sớm hoạch định
những định hướng chiến lược phát triển đất nước, trong đó có vấn đề bảo vệ môi
trường. Những quan điểm, chỉ dẫn và thực hành của Người về bảo vệ môi trường vì
sự phát triển bền vững vẫn vẹn nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới, xây dựng
đất nước.
1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
bảo vệ môi trường
Vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường khi nào và ở đâu cũng có vai trò, ý
nghĩa hết sức quan trọng, con người muốn tồn tại, cần phải sống hòa hợp với tự
nhiên, mặt khác còn phải biết cải tạo, chinh phục tự nhiên để phục vụ tốt hơn
cho cuộc sống. Môi trường, tài nguyên thiên nhiên tạo cơ sở vật chất để phát
triển kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần làm phong phú cuộc sống tinh thần
của con người.
Môi trường có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội và ổn
định chính trị của đất nước, góp phần phát triển kinh tế, xây dựng CNXH. Vì lẽ
đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi
trường: “Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước; có đất và có nước, thì mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân
giàu, nước mạnh […]. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hòa với
nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội”(1).
Sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường
được thể hiện chủ yếu ở những nội dung sau:
Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn quan tâm đến vấn đề trồng cây gây rừng gắn với bảo vệ rừng, giữ cân bằng
sinh thái tự nhiên
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời, với tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm đến môi
trường và bảo vệ môi trường. Trong thờikỳ xây dựng CNXH ở miền Bắc, hằng
năm, vào dịp đầu Xuân, thời tiết thuận lợi cho cây cối sinh sôi, phát triển,
Người phát động phong trào “Tết trồng cây”: “Mùa xuân là Tết
trồng cây/Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”. Phong trào thi đua trồng
cây do Người phát động đã dần trở thành một thói quen, nếp sinh hoạt tốt đẹp
của nhân dân ta mỗi dịp Tết đến Xuân về, mang lại hiệu quả thiết thực cho phát
triển kinh tế và cải thiện môi trường sống.
Để cổ vũ phong trào trồng cây, Người đã viết nhiều bài đăng trên báo Nhân Dân, như Nông dân phải trồng cây chuẩn bị làm nhà
ở (ngày 30-5-1959), Tết trồng cây (28-11-1959), Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu (19-1-1960), Bài phát biểu tại Hội nghị tổng kết phong trào sản xuất nông lâm, ngư
nghiệp năm 1959 (18-2-1960), Thêm vài ý kiến về Tết trồng cây (25-3-1960),Tết trồng cây (28-1-1961), Năm mới hãy nhiệt liệt
tổ chức Tết trồng cây (01-1-1965), Tết trồng cây (05-2-1969)...
Người căn dặn bộ đội, chiến sỹ phải hạn chế tối đa việc chặt cây, phá rừng,
săn bắn chim thú: “Chiến tranh, bộ đội thường phải trú quân trong rừng nên phải
hướng dẫn cho anh em tận dụng hang động, hạn chế tối đa việc chặt cây, phá
rừng. Chặt cây động rừng, muông thú không có nơi ở phải bỏ đi lang thang. Bộ
đội ở rừng gặp thú rừng là đương nhiên. Trong tay lại có súng, có đạn nên việc
sát hại thú rừng là dễ xảy ra lắm… Ta lại còn săn bắn nữa thì nay mai đất nước
hòa bình, giang sơn đâu còn là rừng, rừng đâu còn muông thú? Thế chẳng khác gì
đất không có người, sông không có cá”(2).
Mục đích trồng cây gây rừng góp phần nâng cao đời sống cho nhân dân, mang
lại lợi ích kinh tế, cảnh quan đẹp, vừa bảo đảm an ninh, quốc phòng, vừa mang
tầm chiến lược lâu dài; lợi ích của những hoạt động này không chỉ có ý nghĩa
với cuộc sống của mỗi cá nhân, từng gia đình mà là của toàn xã hội; có ý nghĩa
không chỉ với một quốc gia mà là lợi ích toàn cầu. Theo người, toàn thể nhân
dân, từ cụ già đến em nhỏ, nhất là các đoàn viên, thanh niên, các cơ quan, đoàn
thể... đều nên tham gia phong trào “Tết trồng cây”.
Nói chuyện với hơn 2000 đồng bào, cán bộ, bộ đội đảo Cô Tô (Hải Ninh, nay
thuộc tỉnh Quảng Ninh), Người căn dặn: “Cần trồng nhiều cây ăn quả, cây lấy gỗ,
cây ngăn gió. Trồng cây sẽ đưa lại cho nhân dân một nguồn lợi to, lại làm cho
xứ sở ta thêm tươi đẹp”(3). Người nhắc nhở nhân dân trồng cây ven
biển để bảo vệ đê, làm rừng phòng hộ, chống gió cát, chống xói mòn…, chú ý hiệu
quả chứ không phải chỉ là kêu gọi phong trào, làm cho có: “Trồng cây nào, tốt
cây ấy”, coi đó là “một kế hoạch kinh tế lâu dài và liên tục”,
“một việc quan trọng chuẩn bị cho công việc xây dựng nông thôn mới nay mai”(4).
Tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi năm 1963, Người nhắc nhở: “Các cô, các chú
cần hết sức chú ý vấn đề bảo vệ rừng. Nếu cứ để tình trạng
đồng bào phá một ít, nông trường phá một ít, công trường phá một ít, thậm chí
đoàn thăm dò địa chất cũng phá một ít, thì rất tai hại. Phá rừng thì dễ, nhưng
gây lại rừng thì phải mất hàng chục năm. Phá rừng nhiều như vậy sẽ ảnh hưởng
đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống rất nhiều”(5). Người
coi đó là hành vi “đem vàng đổ xuống biển”, làm thất thoát tài nguyên của đất
nước, gây nhiều hệ lụy cho cuộc sống con người và các thế hệ mai sau.
Trong Thư gửi Đại hội hợp tác xã và đội sản
xuất tiên tiến miền núi và trung du, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Hợp
tác xã nào cũng phải có kế hoạch trồng rừng và tích cực bảo vệ rừng. Nếu rừng
kiệt thì không còn gỗ và mất nguồn nước thì ruộng nương mất màu, gây ra lụt lội
và hạn hán. Vì vậy đồng bào miền núi và trung du cũng như đồng bào miền xuôi
lên tham gia phát triển kinh tế ở đây phải bảo vệ rừng như bảo vệ nhà cửa của mình”(6).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho việc trồng cây lan tỏa rộng khắp, trở thành
một nét đẹp của văn hóa dân tộc Việt Nam. Ngay cả khi sang thăm các nước, hoặc
đón tiếp các nguyên thủ quốc gia, khách quốc tế đến thăm Việt Nam, Người cũng
đều tổ chức trồng cây lưu niệm, thể hiện tình hữu nghị, ý thức làm đẹp môi
trường sống, nhân dân thế giới yêu mến gọi đó là “cây Bác Hồ”. Bà Katherine
Muller-Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam đã có những nhận
xét rất sâu sắc về Người: “Hồ Chí Minh đã sớm thể hiện sự quan tâm của Người
đối với các vấn đề liên quan đến môi trường và tới mối quan hệ hòa hợp giữa con
người và thiên nhiên trong sự phát triển của một quốc gia. Người ủng hộ sự cần
thiết phải chống thiên tai, duy trì và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cùng môi
trường sinh thái và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trồng rừng, thủy lợi và
cải thiện chất đất…Người còn kêu gọi mọi người “trồng và bảo vệ rừng, như bảo
vệ ngôi nhà của mình”. Để nêu gương, Người đã tạo ra một môi trường tự nhiên
tuyệt vời quanh nơi ở của mình và chăm sóc cây cối, hồ cá, và chim chóc, nhấn
mạnh là chúng cần được bảo vệ bởi chúng là những báu vật của thiên nhiên”(7).
Thứ hai, Hồ Chí Minh chú trọng
việc xây dựng công trình thủy lợi để điều hòa nước, xây dựng đời sống mới với môi
trường sống lành mạnh
Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng đến vấn đề nguồn nước trong sản xuất nông
nghiệp và điều hòa khí hậu, quan tâm xây dựng công trình thủy lợi. Với bộ quần
áo nâu sẫm màu, mái tóc bạc phơ, mang đôi dép cao su, tác phong giản dị và gần
gũi, Người thường xuyên đi đến các địa phương, thăm và kiểm tra các công trình
thủy lợi, xắn quần, lội ruộng, cùng tát nước, cùng đạp guồng nước chống hạn,
chống úng, xuống sát chân đê ân cần thăm hỏi và hướng dẫn bà con đắp đê chống
lụt…
Người từng nói trong lần về thăm Hưng Yên: “Cách mạng thành công, kháng
chiến thắng lợi. Ta đã có đất, nhưng còn thiếu nước. Có đất phải có nước”(8).
Từ lời dạy đó của Người, sau ba năm, công trình đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải
được hoàn thành, tạo được mạng lưới thủy lợi rộng khắp vùng, tạo nên những cánh
đồng phì nhiêu mỗi năm hai vụ, từng bước xóa hẳn nạn đói giáp hạt hằng năm,
tiến tới có thóc dự trữ, góp phần đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo đứng
hàng đầu trên thế giới những năm đổi mới.
Khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, năm 1947, giữa
bộn bề công việc kháng chiến, kiến quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác
phẩm Đời sống mới dưới bút danh Tân
Sinh. Bắt tay vào xây dựng đời sống mới, nếp sống mới, lối sống mới, Người quan
tâm giáo dục, động viên cán bộ, nhân dân đấu tranh bài trừ hủ tục; nhắc nhở,
giáo dục nhân dân biết giữ gìn vệ sinh: ăn sạch, uống sạch, ở sạch, mặc sạch:
“Sạch sẽ tức là một phần đời sống mới. Sạch sẽ thì ít đau ốm. Sức khỏe thì làm
được việc, làm được việc thì có ăn”(9). Để xây dựng môi trường sống
lành mạnh, phải chú ý: “đường sá phải sạch sẽ. Ao tắm giặt, giếng nước uống
phải phân biệt và săn sóc cẩn thận. Những ao hồ không cần thì lấp đi, cho đỡ
muỗi”(10).
Người dạy thiếu niên, nhi đồng luôn phải ghi nhớ thực hiện “Giữ gìn vệ sinh
thật tốt”, để rèn luyện nếp sống tốt đẹp, giữ gìn môi trường xung quanh sạch
đẹp, văn minh. Đối với cán bộ, công nhân làm việc trong môi trường nhà máy, hầm
mỏ, công trường, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở phải chú ý bảo vệ sức khỏe, bảo vệ
an toàn lao động và tăng cường công tác vệ sinh. Trong lần Nói chuyện với cán bộ, công nhân nhà máy dệt Nam Định (24-4-1957)(11),
Người nhắc nhở anh chị em trong sản xuất phải đeo khẩu trang chống bụi bông,
nếu không sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương tuyệt vời về phong cách ứng xử, lối
sống hòa hợp với thiên nhiên. Theo Người, môi trường sống là yếu tố quan trọng
bảo đảm sức khỏe cho cán bộ, chiến sỹ sống, học tập, lao động và chiến đấu.
Người luôn gần gũi với thiên nhiên, hòa mình với chim muông cây cỏ, với môi
trường sống xung quanh, coi thiên nhiên như người bạn thân thiết, là nguồn cổ
vũ, động viên.
Khi ở chiến khu, Người chọn những nơi “trên có núi, dưới có sông, có đất ta
trồng, có bãi ta vui”, nhà “thoáng, ráo, kín, mát”... Kháng chiến thắng lợi,
trở về Hà Nội, Người sống và làm việc trong ngôi nhà sàn giản dị nằm giữa vườn
cây xanh mát. Người trồng rất nhiều loại cây cối trong vườn, chăm chút vun
trồng. Phong cách sống giản dị, tiết kiệm, không xa hoa, lãng phí, hòa đồng với
thiên nhiên, có ý thức dành dụm tài nguyên thiên nhiên cho thế hệ mai sau của
Người là tấm gương sáng cho thế hệ sau học tập và làm theo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc,
hạnh phúc của nhân dân, đến tận lúc chuẩn bị đi về cõi vĩnh hằng, Người vẫn
nghĩ đến những điều có lợi cho nước, cho dân: “Tôi yêu cầu thi hài tôi
được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong rằng
cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt
về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện, thì “điện táng”
càng tốt hơn”(12). Như vậy, cách đây hơn nửa thế kỷ, Người đã có tầm
nhìn về việc sử dụng những nguồn năng lượng sạch để bảo vệ môi trường, đó cũng
là cách tiết kiệm tài nguyên đất đai cho hiện tại và con cháu mai sau. Người
còn mong muốn: “Trên mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát
mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi. Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt
cây ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”(13). Dẫu sắp không còn trên đời này nữa, Người vẫn luôn nghĩ
đến những điều tích cực cho người sống, nhắc nhở việc trồng cây để làm đẹp môi
trường.
2. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về bảo vệ môi trường soi sáng công cuộc xây dựng đất nước phát triển bền
vững
Môi trường là vấn đề toàn cầu, bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là
một nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Hiện nay, ô nhiễm môi trường, biến
đổi khí hậu toàn cầu là vấn đề nóng được đặt trên bàn nghị sự quốc tế, là mối
đe dọa đến an ninh con người, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, an ninh
lương thực… của tất cả các quốc gia.
Việt Nam hiện cũng đang phải đối diện với nhiều vấn đề môi trường gay gắt:
Thiên nhiên nước ta vốn bị tàn phá bởi chiến tranh trước đây, nay còn bị phá
hoại bởi hoạt động vô ý thức, thiếu kế hoạch trong việc khai thác và sử dụng
các nguồn tài nguyên thiên nhiên; tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái gia
tăng vì chất xả thải ra môi trường của các nhà máy; nồng độ bụi ở đô thị vượt
quá nhiều lần chỉ tiêu cho phép; các hoạt động khai thác mỏ, vật liệu xây dựng,
vàng, đá quý… cũng đã và đang huỷ hoại dần môi trường sinh thái… Thêm vào đó,
Việt Nam được đánh giá là một trong năm nước chịu tác động mạnh nhất của biến
đổi khí hậu(14). Đó là những vấn đề nóng bỏng, thách thức đối với
mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trong thời gian tới.
Chính phủ Việt Nam sớm nhận rõ vấn đề hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã
hội, bảo vệ môi trường trong mục tiêu phát triển bền vững, từ năm 1991, Chính
phủ đã thông qua kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững
1991-2000, sau đó được lồng ghép xuyên suốt các chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 5 năm đến hiện nay.
Thực tế những năm đầu đổi mới, chúng ta vẫn chưa có sự quan tâm đầy đủ đến
vấn đề môi trường, vì thế: “Khoảng cách giữa đổi mới chính sách kinh tế và đổi
mới chính sách văn hoá, xã hội bộc lộ rõ nét, nhiều vấn đề xã hội nổi lên.
Trong chỉ đạo, thường chú ý nhiều hơn các chỉ tiêu vật chất mà ít chú ý các chỉ
tiêu về phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”(15).
Tại Đại hội XII, sau 30 năm đổi mới, Đảng ta xác định: “bảo đảm sự hài hoà
giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển con người, thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát
triển xã hội bền vững”, “Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi
trường, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên”(16).
Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 622/QĐ-TTg Về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự
2030 vì sự phát triển bền vững, trong đó xác định 17 mục tiêu chung và
115 mục tiêu cụ thể tương ứng với các mục tiêu phát triển bền vững của toàn cầu(17).
Chính phủ Việt Nam khẳng định rõ chủ trương không đánh đổi môi trường để phát
triển kinh tế.
Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) đã bổ sung thành tố “bảo vệ môi trường”
trong mối quan hệ lớn “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”(18). Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 tiếp tục khẳng định: “Phát triển
nhanh và bền vững […] phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo
vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu”(19). Điều này thể
hiện nhận thức đầy đủ và toàn diện của Đảng và Nhà nước về các trụ cột của phát
triển bền vững theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng chính là các yếu tố căn bản
cấu thành sự phát triển bền vững, một định hướng phát triển tất yếu, khách
quan, phù hợp với xu thế chung hiện nay của các quốc gia, xu hướng phát triển
tiến bộ của nhân loại và thời đại, chú trọng sự hài hòa, toàn diện của các yếu
tố kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường.
Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với các mục tiêu
phát triển bền vững về tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu,
Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những nhiệm vụ cơ bản: Nâng cao nhận thức và ý
thức trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn dân về bảo vệ môi trường, từ đó
dẫn đến sự thay đổi nhận thức và hành vi của từng cá nhân, cộng đồng; hoàn
thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững; tập
trung khắc phục, cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường ở các đô thị, các cụm
công nghiệp, làng nghề…; quản lý chặt chẽ, bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên;
phát triển, nâng cao chất lượng rừng; tăng độ che phủ rừng gắn với bảo tồn đa
dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái; thực hiện có hiệu quả
các mục tiêu phát triển bền vững theo Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát
triển bền vững của Liên hợp quốc, đó là duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững đi
đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; tăng cường
hợp tác quốc tế trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến
đổi khí hậu, nhằm giải quyết hiệu quả những khó khăn vượt khỏi khả năng của một
quốc gia…
Trong thời gian tới, ngoài các nhiệm vụ định hướng trên, cần tập trung vào
một số giải pháp như: Tuyên truyền sâu rộng về tầm quan trọng của môi trường
sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên; giải quyết hài hoà giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi
trường theo chủ trương của Đảng; nền sản xuất xã hội cần phải thực hiện thêm
chức năng tái sản xuất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế
xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; triển khai thực hiện
đầy đủ Luật Bảo vệ môi trường…
_Nguồn: LLCT_
(1), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia Sự
thật, Hà Nội , 2011, tr.283, 536.
(2) Báo Pháp luật Việt Nam, số 106 (3828), ngày 4-5-2009.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.129.
(5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.165, 294.
(7) Katherine Muller-Marin “Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
các lĩnh vực hoạt động của UNESCO”,
https://hcma.vn/tintuc/Pages/dien-dan-chinh-tri-tu-tuong.aspx?CateID=201&ItemID=21139,
ngày 14-5-2010, truy cập ngày 28-6-2022.
(8) Bác Hồ sống mãi, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005,
tr.762.
(9), (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.114, 119.
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.532.
(12), (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.613, 613.
(14), (17) Trần Nguyễn Tuyên: Một số vấn đề về môi trường ở Việt
Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp, http://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/mot-so-van-de-ve-moi-truong-o-viet-nam-hien-nay--thuc-trang-va-giai-phap.html,
truy cập ngày 28-6-2022.
(15) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.64, Nxb Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.60.
(16) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,
Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội 2017, tr.104,142.
(18), (19) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.119, 214.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét