Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022

CÁC THỦ ĐOẠN LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY VÀ CÁCH PHÒNG TRÁNH


Thời gian vừa qua, việc thích ứng với “trạng thái xã hội bình thường mới” và đẩy mạnh thực hiện chủ trương, chính sách phục hồi, phát triển kinh tế sau đại dịch, mở cửa đón khách du lịch quốc tế, nhiều loại hình kinh doanh dịch vụ được phép hoạt động trở lại… sẽ tác động làm cho tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật gia tăng, đặc biệt là tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng. Tuy chỉ mới xuất hiện trong khoảng một thập kỷ gần đây, nhưng tội phạm trên không gian mạng đã phát sinh, tồn tại và phát triển nhanh chóng tại Việt Nam. Hiện tại, tình hình tội phạm trên không gian mạng đang diễn biến vô cùng phức tạp, xảy ra trên toàn quốc với nhiều thủ đoạn hoạt động mới, tinh vi, gây thiệt hại lớn về tài sản của người dân, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Các đối tượng thường lợi dụng tâm lý nhẹ dạ cả tin của các bị hại, đặc biệt là phụ nữ để nhằm mục đích lừa đảo, nhất là những phụ nữ không có việc làm, hoặc thất nghiệp vì dịch bệnh Covid 19. Vì vậy, mọi người dân cần nâng cao cảnh giác với loại tội phạm này.
CÁC THỦ ĐOẠN THƯỜNG GẶP TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY LÀ:
-
⚠️
Tuyển cộng tác viên làm đơn hàng, nhiệm vụ: Các đối tượng đăng tuyển cộng tác viên làm đơn hàng, nhiệm vụ để kiếm thêm thu nhập trên các trang mạng xã hội. Sau khi người có nhu cầu tìm việc làm liên hệ, các đối tượng yêu cầu họ phải thanh toán đơn hàng trước rồi sẽ được nhận lại tiền gốc cộng thêm chiết khấu “hoa hồng”. Mỗi lượt mua hàng thành công sẽ được hưởng “hoa hồng” từ 10% đến 20% số tiền gốc của mỗi đơn hàng. Đối với những đơn hàng giá trị nhỏ, đầu tiên cộng tác viên sẽ được thanh toán kèm "hoa hồng" như đã hứa nhằm tạo lòng tin và đánh vào lòng tham vì việc kiếm tiền quá dễ dàng. Khi số tiền đặt hàng của cộng tác viên ngày càng lớn, các đối tượng sẽ giở nhiều chiêu trò, thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản của bị hại
-
⚠️
Giả danh Công an, Viện kiểm sát: Các đối tượng lừa đảo thường giả danh cán bộ Công an, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc giả mạo Cổng thông tin điện tử của Công an để thông báo chủ thuê bao có liên quan đến các vụ án đang bị điều tra. Sau đó, khai thác các thông tin cá nhân, tài khoản ngân hàng và yêu cầu chuyển toàn bộ tiền trong tài khoản của bị hại vào các tài khoản ngân hàng do đối tượng cung cấp với lý do để phục vụ công tác điều tra rồi chiếm đoạt.
-
⚠️
Kết bạn, làm quen và lừa đảo: Các đối tượng lừa đảo tự giới thiệu là người nước ngoài, kết bạn, liên lạc để tạo mối quan hệ với nạn nhân thông qua mạng xã hội. Một thời gian nói chuyện, cảm thấy đã tạo được lòng tin ở đối phương, đối tượng lừa đảo sẽ thông báo muốn gửi tiền, quà từ nước ngoài về Việt Nam. Sau đó, yêu cầu người bị hại phải nộp tiền để nhận quà với các lý do khác nhau như cước vận chuyển, thuế, phí… vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng cung cấp rồi chiếm đoạt.
-
⚠️
Mạo danh các đồng chí lãnh đạo cơ quan chính quyền, đoàn thể: Các đối tượng sử dụng hình ảnh của các đồng chí lãnh đạo cơ quan, chính quyền, đoàn thể để mạo danh lập các tài khoản mạng xã hội rồi kết bạn, làm quen, vay mượn tiền của bạn bè, người thân, đồng nghiệp, cấp dưới… để chiếm đoạt tiền của các bị hại chuyển tới
-
⚠️
Thủ đoạn vay tiền online qua app: Các đối tượng chạy quảng cáo dịch vụ vay tiền qua app trên các trang mạng xã hội để tiếp cận các bị hại. Khi tiếp cận được các bị hại thì các đối tượng sẽ hướng dẫn bị hại cài đặt các app vay tiền. Khi đăng nhập vào các app thì các đối tượng sẽ dùng nhiều thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản của bị hại như là: phải chuyển thêm tiền đặt cọc, mua bảo hiểm khoản vay, đóng phí giải ngân…
MỌI NGƯỜI DÂN CẦN LƯU Ý VÀ THỰC HIỆN NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH SAU:
-
❌
Nếu nhận được các cuộc điện thoại có nội dung cơ quan công an, viện kiểm sát… gọi điện thông báo vi phạm pháp luật (ma túy, rửa tiền, trộm cắp, vi phạm giao thông…) thì không làm theo bất kì yêu cầu chuyển tiền nào, ghi lại thông tin sự việc được cung cấp và thông báo với cơ quan Công an gần nhất. Không tải bất kì ứng dụng nào mà các đối tượng cung cấp, không click vào bất kỳ đường link nào mà các đối tượng gửi.
Các cuộc gọi video với người mặc sắc phục công an, viện kiểm sát là hoàn toàn giả mạo.
-
❌
Không tham gia mọi hình thức tuyển cộng tác viên làm nhiệm vụ, đơn hàng, không tải mọi ứng dụng được gửi qua link khi trò chuyện với những đối tượng tuyển cộng tác viên.
-
❌
Không cung cấp mã OTP của tài khoản ngân hàng cho bất kỳ ai hoặc nhập mã OTP vào bất kỳ ứng dụng thứ hai nào ngoài ứng dụng internet banking của ngân hàng mà bạn đang sử dụng.
-
❌
Không chuyển tiền cho bất kỳ tài khoản nào nếu chưa nắm rõ người nhận và mục đích của việc chuyển tiền. Nếu là người thân quen nhắn tin nhờ chuyển tiền thì phải gọi điện nói chuyện trực tiếp để xác minh.
-
❌
Hạn chế hoặc không đăng tải hình ảnh về thông tin cá nhân (CMND, CCCD, biển số xe, địa chỉ nhà…) lên các trang mạng xã hội.
-
❌
Cảnh giác khi nghe mọi số điện thoại gọi từ nước ngoài (thường có dấu + ở đầu số), hoặc tất cả các số điện thoại lạ.
-
❌
Hạn chế trò chuyện, kết bạn với những đối tượng người nước ngoài (thủ đoạn này thường nhắm đến đối tượng là các phụ nữ trung tuổi). Không thực hiện theo yêu cầu chuyển tiền của những đối tượng này. Các cuộc gọi video, hình ảnh có hình của người nước ngoài là hoàn toàn giả mạo.
Khi gặp các vụ việc có dấu hiệu trục lợi, lừa gạt đề nghị người dân trình báo ngay cho cơ quan Công an nơi gần nhất để xử lý hoặc được hướng dẫn kịp thời. Đồng thời, thường xuyên chia sẻ, cảnh báo với người thân, bạn bè và mọi người xung quanh về những phương thức, thủ đoạn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng./.
CA Hải Dương
#hsv_tintuc #hsv #huongsenviet
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'ANTÌNH PHÒNG CẢNH MỘT SÃ THỦ ĐOAN LỪA ĐÁO CHIỂM ĐOẠT SẢN NAY PHÒNG TRÁNH VÀ DƯƠNG HİNHSỰ DANH CÔNG QUEN ĐẢO nước CỘNG NHIỆM nhiệm đánh NHỮNG PHÁP CÔNG KHÔNG NHIỆM ĐƠN HÀNG KHÔNG KHÔNG CHUYỂN BẤT MỤC KHÔNG CHƯA NĂM RÃ NGƯỜI NHẬN QUAN TÚY, NNÀO NGƯỜI DIĐIỆN THÔNG BÁOV AIBẤT CÔNG PHÁP KHÔNG GNÀO HOÀN HẠN HOẶC KHÔNG ĐĂNG MẠO CẢNH GIÁC THÔNG NHÂN CMND, CCCD, CẢNH GIÁC NGHE MOI ĐIỆN THOAI CẢNH GIÁC NƯỚC NGOÀI (THƯỜNG KHÔNG NƯỚC NGOÀL Khi gân nhất xử hoặc CÀNH SÁT HÌNH AMẠO dẫn cho CÔNG báo thời. DƯƠNG Công'
58
1 bình luận
34 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh

Một là, cần thống nhất nhận thức quan điểm của Đảng, quy định của Hiến pháp về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN một cách đầy đủ, toàn diện và khoa học, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết, đánh giá thực tiễn. Qua đó cần làm rõ các vấn đề như: phạm vi, nguyên tắc, nội dung, phương thức, chủ thể, trách nhiệm pháp lý... kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN làm cơ sở cho việc thể chế hóa đầy đủ quy định trên trong hệ thống pháp luật. Đồng thời, đẩy mạnh công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN trong các cơ quan, tổ chức và nhân dân. Hai là, nâng cao trình độ và năng lực thể chế hóa quy định của Hiến pháp về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Việc thể chế hóa quy định của Hiến pháp về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, vì vậy, cần phải tăng tỷ lệ hợp lý đại biểu chuyên trách, trong đó ưu tiên đặc biệt trong lĩnh vực QPAN và kinh tế; phát huy vai trò, trách nhiệm của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội trong việc chuẩn bị, thẩm tra dự án luật, pháp lệnh liên quan đến việc thể chế hóa quy định của Hiến pháp về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Tăng cường trách nhiệm của Chính phủ và các bộ trưởng trong việc chỉ đạo hoạt động xây dựng pháp luật liên quan đến kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Tăng cường kiểm tra đối với văn bản quy phạm pháp luật do các bộ, ngành và địa phương ban hành để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Ba là, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Hoàn thiện cơ chế kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Xác định đúng đắn vị trí, vai trò nội dung quản lý nhà nước về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Xây dựng cơ chế quản lý thích hợp về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế. Bốn là, xây dựng cơ cấu kinh tế vùng, liên vùng, vùng kinh tế trọng điểm phải đồng thời tạo ra thế trận QPAN, là sự bố trí chiến lược thống nhất giữa kinh tế và QPAN, QPAN với kinh tế, tạo điều kiện để cả nước và từng địa phương có thể chủ động đối phó với tình huống về QPAN có thể xảy ra. Kết hợp chặt chẽ giữa QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN trong tất cả các ngành kinh tế - kỹ thuật, đặc biệt là với những ngành có liên quan nhiều đến QPAN. Năm là, tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nghiên cứu chuyên ngành trong hoạt động xây dựng pháp luật về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Có cơ chế thu hút các hiệp hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các chuyên gia giỏi tham gia vào việc nghiên cứu, đánh giá nhu cầu, hoạch định chính sách pháp luật về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Sáu là, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật những vi phạm trong quy hoạch, kế hoạch, dự án, công trình xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế và các lợi ích QPAN.

Quan điểm của Đảng về kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh

Kinh tế và quốc phòng, an ninh (QPAN) là 2 lĩnh vực hoạt động cơ bản trong quá trình thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Từng mặt hoạt động kinh tế, QPAN có đặc điểm, yêu cầu riêng và tuân theo các quy luật vận động riêng, nhưng chúng có quan hệ biện chứng, hữu cơ trong một thể thống nhất, gắn kết chặt chẽ với nhau, cái này là điều kiện tồn tại và phát triển của cái kia. Tuy vậy, không phải cứ có kinh tế mạnh là có QPAN mạnh, hoặc cứ có QPAN mạnh thì có kinh tế mạnh, mà phải trên cơ sở kết hợp một cách hợp lý, hài hòa, hiệu quả giữa kinh tế với QPAN, sao cho các hoạt động kinh tế gắn kết hữu cơ với các hoạt động QPAN và ngược lại. 1. Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh là một quy luật tất yếu Dựng nước đi đôi với giữ nước là vấn đề có tính quy luật chung của mọi quốc gia, mọi chế độ xã hội Việt Nam, ý thức kết hợp kinh tế với QPAN, QPAN với kinh tế đã sớm được hình thành. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quy luật phổ biến giữa kinh tế, QPAN có mối quan hệ biện chứng, giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kinh tế với an ninh, kinh tế với quốc phòng và ngược lại, đó là mối quan hệ tác động qua lại, gắn bó hữu cơ với nhau. Trong mối quan hệ đó, kinh tế luôn giữ vai trò quyết định, là nhiệm vụ trung tâm, có tác động trực tiếp đến hoạt động QPAN; tạo cơ sở để củng cố QPAN. Nhưng QPAN không chỉ phụ thuộc vào kinh tế mà cũng có tác động trở lại đối với kinh tế. Mặt tích cực là QPAN tạo ra môi trường hòa bình, ổn định, là điều kiện để đảm bảo cho quá trình xây dựng phát triển kinh tế. Nhưng ngay trong hoạt động QPAN cũng hàm chứa yếu tố kinh tế là sự chi phí lớn về kinh tế, nếu không tính toán kỹ sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới phát triển kinh tế. Vì vậy khi đầu tư cho QPAN cần phải bảo đảm hiệu quả kinh tế, không cản trở hoặc hạn chế đến mức thấp nhất sự ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế. Hoạt động QPAN cũng cần phải lưu ý tính lưỡng dụng, có khả năng phục vụ phát triển kinh tế, đời sống dân sinh. Quá trình thực hiện nhiệm vụ QPAN trong thời bình, ở mức độ nhất định cũng có tác dụng kích thích kinh tế phát triển. Đầu tư cho QPAN, một mặt, đặt ra cho nền kinh tế phải sản xuất, hoặc thông qua quan hệ kinh tế đối ngoại để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nó; mặt khác, sẽ tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm của nền kinh tế. Thực tiễn lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới chỉ ra rằng, dù là nước lớn hay nước nhỏ, kinh tế phát triển hay chưa phát triển, dù chế độ chính trị như thế nào thì mỗi quốc gia cũng đều quan tâm thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố QPAN. Các nước đều chú ý xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách nhằm huy động các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực từ nền kinh tế cho hoạt động QPAN. Tuy nhiên, các nước khác nhau, với chế độ chính trị - xã hội khác nhau, điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì sự kết hợp cũng có sự khác nhau về mục đích, nội dung, phương thức và kết quả. Ngay trong một nước, trong mỗi giai đoạn phát triển, sự kết hợp cũng khác nhau. Lịch sử dân tộc Việt Nam luôn luôn gắn liền với những cuộc chiến tranh giành và giữ độc lập. Đứng trước nguy cơ thường xuyên có thể bị xâm lược, các triều đại phong kiến Việt Nam (đặc biệt từ thế kỷ X-XV) muốn tồn tại, đều phải dựa vào nhân dân, thực hiện chính sách gắn kinh tế với QPAN (có thể nói là quốc sách), với những bài học quý báu đó là chính sách “ngụ binh ư nông”(Nguyễn Trãi) nhằm “khoan thư sức dân”, “nước lấy dân làm gốc”. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) Đảng ta đề ra chủ trương: kháng chiến, kiến quốc; vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp; xây dựng làng kháng chiến. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN đã được Đảng ta chỉ đạo thực hiện ở mỗi miền. Ở miền Bắc, để bảo vệ chế độ XHCN và xây dựng hậu phương lớn cho miền Nam đánh giặc, với chủ trương: Trong xây dựng kinh tế, phải thấu suốt nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, cũng như trong củng cố quốc phòng phải khéo sắp xếp cho ăn khớp với công cuộc xây dựng kinh tế. Ở miền Nam, quân và dân ta kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch với củng cố, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng căn cứ địa chân phương tại chỗ vững mạnh. Đây chính là một điều kiện cơ bản bảo đảm cho cách mạng nước ta đi đến thắng lợi. Thời kỳ cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội (từ 1975 đến nay) kết hợp QPAN với kinh tế là một nội dung quan trọng trong đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN và được triển khai trên quy mô rộng lớn, toàn diện hơn. Từ năm 1986 đến nay, với tư duy mới về kinh tế và QPAN, việc kết hợp chặt chẽ QPAN với kinh tế trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, bộ, ban, ngành có bước chuyển biến cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện đạt nhiều kết quả quan trọng. Nhiều ngành, lĩnh vực và các công trình trọng điểm quốc gia đã kết hợp hiệu quả QPAN với kinh tế như: ngành đóng tàu; bưu chính viễn thông; giao thông vận tải; hoạt động đối ngoại; đường dây 500KW; đường Hồ Chí Minh; đường Đông Trường Sơn;... 2. Quan điểm của Đảng và luật pháp về kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế Kết hợp QPAN với kinh tế là quan điểm nhất quán, một nội dung quan trọng trong đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau đây: Thứ nhất, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh phải toàn diện, cơ bản lâu dài ngay từ trong chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; trên từng địa bàn lãnh thổ, trong đó có sự quan tâm đặc biệt đến các vùng, địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo. Đại hội XII nhấn mạnh: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với QPAN và QPAN với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế và QPAN tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược...”. Kết hợp kinh tế với QPAN được xem xét một cách toàn diện, cơ bản lâu dài trong mối liên hệ với các yếu tố khác như văn hóa, xã hội, đối ngoại, tín ngưỡng, tôn giáo,... để bảo đảm không cản trở hoặc gây thiệt hại đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Việc kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN trên các địa bàn lãnh thổ khác nhau cũng có nội dung, phương thức kết hợp cụ thể khác nhau, phù hợp với đặc điểm, tình hình cụ thể của từng địa bàn lãnh thổ, đồng thời bảo đảm tính liên kết vùng, trong đó cần chú trọng những vùng, địa bàn chiến lược trọng yếu về QPAN như vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Thứ hai, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong quá trình kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh; xây dựng thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. Đại hội XII nhấn mạnh: “... Kết hợp chặt chẽ QPAN và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về QPAN. Xây dựng thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân...”. Trong việc kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN, phải coi trọng phát huy nội lực, tự lực, tự cường, phát huy truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước cho quá trình kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh QPAN. Đồng thời, tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập, tận dụng tốt các nguồn ngoại lực cho phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường củng cố QPAN. Lòng dân là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; là lòng tin của nhân dân vào các chủ trương, chính sách, thể chế chính trị… của Đảng và Nhà nước. Các chính sách đúng đắn sẽ quy tụ được lòng dân, phát huy được sức mạnh của toàn dân trong giữ vững nền độc lập, thống nhất, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Hiện nay, xây dựng “thế trận lòng dân”để đáp ứng yêu cầu tăng cường sức mạnh QPAN, bảo vệ Tổ quốc chính là quá trình xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần của nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, bảo đảm cho nhân dân có ý thức tự giác về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi công dân trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thứ ba, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh phải vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh, vừa nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Mọi thành quả đạt được của quá trình phát triển kinh tế - xã hội là nhằm ngày càng đáp ứng tốt nhất cho sự tăng trưởng kinh tế và tăng cường củng cố QPAN, cũng như nâng cao được đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đồng thời, mọi hoạt động QPAN là nhằm tạo ra và gìn giữ được môi trường hòa bình, ổn định để đẩy mạnh phát triển kinh tế, bảo vệ sự phát triển kinh tế, bảo vệ cuộc sống của dân cư và tạo ra cơ sở chính trị tinh thần của nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc. Trong việc kết hợp đòi hỏi có sự liên kết, chuyển hóa chặt chẽ, hiệu quả, bảo đảm tính lưỡng dụng trong các hoạt động kinh tế và hoạt động QPAN, các hoạt động kinh tế có thể chuyển hóa sang phục vụ QPAN và ngược lại, các hoạt động QPAN có thể chuyển sang phục vụ kinh tế và dân sinh, từ đó tiết kiệm chi phí, phát huy hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế và bảo đảm QPAN. Đồng thời, qua đó, tạo điều kiện nâng cao hơn nữa đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Đường lối, chủ trương của Đảng, quy định của Hiến pháp tại Điều 68 về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN, Quốc hội thể chế hóa nhiều văn bản luật, pháp lệnh, nghị quyết trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là các luật: Luật Đất đai (2003), Luật Biên giới quốc gia (2003), Luật An ninh quốc gia (2004), Luật Quốc phòng (2005), Luật Dân quân tự vệ (2009), Luật Công an nhân dân (2014); Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sỹ quan quân đội nhân dân Việt Nam (2014); các pháp lệnh như: Pháp lệnh Động viên công nghiệp (2003), Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng (2008), Pháp lệnh Cảnh sát môi trường (2014)...; các luật về lĩnh vực kinh tế như Luật Quy hoạch đô thị (2009), Luật Xây dựng (2014), Luật Doanh nghiệp (2014), Luật Đầu tư (2014), Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015), Pháp lệnh Quản lý thị trường (2016)... Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) cụ thể hóa, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; đồng thời ban hành các văn bản chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiện kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN như Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một điều của Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14-3-2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, Nghị định số 51/2014/NĐ-CP ngày 21-5-2014 của Chính phủ Quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên biển, Nghị định số 112/2014/NĐ-CP ngày 21-11-2014 của Chính phủ về quản lý cửa khẩu biên giới đất liền (thay thế Nghị định số 32/2005/NĐ-CP ngày 14-3-2005 của Chính phủ), Quyết định số 13/2012/QĐ-TTg ngày 23-02-2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng trong khu vực phòng thủ.v.v. Đối với từng địa bàn chiến lược, thực hiện các chủ trương của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều quyết định với những định hướng dài hạn và giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm QPAN; các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm vùng, miền, dân cư; trong đó có sự quan tâm đầu tư các nguồn lực cho vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng biển, đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ví dụ Quyết định số 925/2012/QĐ-TTg, ngày 29/6/2009 phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt Nam-Campuchia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Quyết định Số 276/QĐ-TTg, ngày 18-02-2014 về việc Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 12-KL/TW ngày 24-10-2011 của BCT về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) phát triển vùng Tây Nguyên thời kỳ 2011-2020; Quyết định Số 1194/QĐ-TTg, ngày 22-7-2014 phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng Tây Nguyên đến năm 2030; Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày 12-3-2013 phê duyệt Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020... Các quy định trong hệ thống văn bản QPPL có liên quan về cơ bản đáp ứng được yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bước đầu bảo đảm cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện nội dung kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Các chính sách ban hành đã phát huy hiệu quả và đi vào cuộc sống, góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm và tăng cường tiềm lực QPAN. Bên cạnh đó, cũng còn những bất cập, hạn chế, đó là: Nhiều quy định về bảo đảm quốc phòng và an ninh trong một số luật chưa được hướng dẫn thi hành như: Luật Hàng hải Việt Nam (Khoản 2 Điều 5); Luật Điện lực (Khoản 1 Điều 4); Luật Đường sắt (Khoản 1 Điều 4); Luật Đê điều (Khoản 1 Điều 5); Luật Bảo vệ và phát triển rừng (Khoản 1 Điều 9); Luật Xây dựng (Khoản 1 Điều 4); Luật Doanh nghiệp (Khoản 7 Điều 9); Luật Thủy sản (Khoản 3 Điều 4);... Các quy định về kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm QPAN trong Luật Quốc phòng (Khoản 3, Điều 5; Điều 11) và Luật An ninh quốc gia (Khoản 3 Điều 5; Khoản 3, 4 Điều 14 và Khoản 2 Điều 16) chưa cụ thể và chưa được hướng dẫn thực hiện đầy đủ, thống nhất và đồng bộ (nguyên tắc, yêu cầu, phạm vi, nội dung, phương thức kết hợp, chủ thể kết hợp, trách nhiệm pháp lý của các chủ thể...). Quy định của một số văn bản QPPL chưa sát với khả năng đáp ứng của nền kinh tế, dẫn đến không bảo đảm nguồn lực để thực hiện, làm chậm tiến độ, gây lãng phí. Trình tự, thủ tục xây dựng, thẩm tra, thẩm định quy hoạch, kế hoạch, dự án, công trình thiếu rõ ràng. Tình trạng chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, coi nhẹ việc bảo đảm QPAN còn phổ biến. Một số văn bản QPPL của bộ, ngành còn có nội dung chồng chéo, khó thực hiện; vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng ở các địa phương trong phối hợp thẩm định các văn bản liên quan của các bộ, ngành và các địa phương chưa rõ, quan hệ phối hợp chưa đồng bộ, hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế, đó là: Nhận thức về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPANcòn chưa đầy đủ và còn thiếu sự thống nhất; có lúc, có nơi còn có biểu hiện chủ quan, phiến diện. Chưa có một văn bản QPPL quy định cụ thể về các vấn đề chung như: phạm vi, nguyên tắc, nội dung, phương thức kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN.Đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp tham gia xây dựng chính sách, pháp luật còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng, nhất là kinh nghiệm và kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế và QPAN. Việc phân cấp trong thẩm tra, thẩm định cũng như việc bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp, ủy quyền giữa Trung ương và địa phương trong kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN chưa được quy định rõ ràng, minh bạch.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Quốc phòng – An ninh trong giai đoạn hiện nay

Quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể các hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học của Nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự nòng cốt, nhằm giữ vững hoà bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, mọi quy mô. Còn an ninh quốc gia được hiểu là sự ổn định trong quan hệ chính trị giữa các giai cấp, khẳng định vị trí lãnh đạo của giai cấp cầm quyền đối với các giai cấp khác và vị trí độc lập, tự chủ của chính quyền nhà nước đối với các Nhà nước khác trên thế giới. An ninh quốc gia bao gồm sự ổn định của hai mặt, hai nội dung đối nội, đối ngoại và mối quan hệ giữa đối nội và đối ngoại; nó phản ánh quan hệ chính trị trong phạm vi một quốc gia và quan hệ chính trị quốc tế. Sinh thời, khi nói về chủ nghĩa xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thuộc tính dân giàu, nước mạnh đòi hỏi chủ nghĩa xã hội phải có một nền quốc phòng, an ninh vững mạnh đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong mọi hoàn cảnh, tình huống. Người thường xuyên nhắc nhở: “Dù nhân dân đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh trong nước và mưu mô đế quốc xâm lược vẫn còn” Xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa nói chung và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nói riêng. Quan điểm này thể hiện một cách sinh động quy luật dựng nước phải gắn liền với giữ nước của dân tộc ta trong tiến trình cách mạng, trong điều kiện lịch sử mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ khi ra đời cho tới nay, Đảng ta luôn coi trọng lĩnh vực quốc phòng, an ninh và coi đó là một nội dung lãnh đạo của Đảng, một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam. Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn căn cứ vào nhiệm vụ của cách mạng trong từng thời kỳ để từ đó xác định đúng đắn nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cho phù hợp. Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến nhanh chóng, phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố khó lường. Các thế lực thù địch vẫn ráo riết chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, chủ yếu và thông qua diễn biến hoà bình, với mục đích xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chuyển hướng cách mạng nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Thực tế cho thấy, những các hành động xâm hại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các thế lực thù địch đối với nước ta vẫn tiếp diễn dưới nhiều hình thức, âm mưu và với vô vàn thủ đoạn hết sức tinh vi, sảo quyệt. Căn cứ vào nhiệm vụ của cách mạng, nắm bắt và phân tích khoa học tình hình thế giới, tình hình trong nước Đảng ta đã xác định đường lối, chủ trương lãnh đạo nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Một là, quốc phòng, an ninh là vấn đề trọng yếu, thường xuyên của cách mạng Việt Nam. Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Quan điểm này luôn được cụ thể hoá cho phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ của cách mạng ở từng giai đoạn cụ thể của đất nước. Từ khi chưa có chính quyền cũng như khi đã giành được chính quyền, trở thành đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định quốc phòng, an ninh là lĩnh vực trọng yếu trong đời sống xã hội. Minh chứng cho điều này được thể hiện đầy đủ, sinh động trong các nghị quyết của Đảng ta ở các thời kỳ cũng như trong thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong thời kỳ đổi mới, để phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh, Đảng ta xác định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng”. Quan điểm mang tính lý luận này về quốc phòng, an ninh tiếp tục được Đảng ta khẳng định trong các kỳ đại hội của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân”. Như vậy, sự nghiệp xây dựng quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn Đảng, toàn dân; trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng. Bên cạnh đó, để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới cần phải nắm vững những tư tưởng chỉ đạo về việc kết hợp thực hiện các nhiệm vụ trong cùng một thể thống nhất, như kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam; kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế; phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, tính tích cực của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quốc phòng, an ninh… Quan điểm mang tính nhất quán, xuyên suốt coi củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn dân và Nhà nước, gắn tăng cường quốc phòng, an ninh với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là định hướng chỉ đạo việc thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. Hai là, nền quốc phòng và an ninh mang tính chất của dân, do dân, vì dân phát triển theo hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại. Quan điểm này xuất phát từ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và truyền thống khiêm nhường của dân tộc Việt Nam, luôn mong muốn hoà bình, ổn định trên tất cả các phương diện, hướng tới quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển với các quốc gia; đồng thời, tạo ra môi trường an toàn, ổn định để phát triển đất nước. Quan điểm này xác định tính chất của quốc phòng, an ninh cũng như mục đích và phương hướng phát triển quốc phòng, an ninh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong thời kỳ hiện nay, quan điểm về xây dựng nền quốc phòng toàn dân đã được đổi mới cả về nội dung lẫn tổ chức thực hiện. Trước diễn biến phức tạp, gay gắt và quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc hiện nay trên thế giới, để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, chúng ta cần tỉnh táo nhận biết rõ bạn – thù, đồng thời tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh đủ sức bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; ngăn chặn, đầy lùi, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp, phá hoại của các thế lực thù địch. Để thực hiện nhiệm vụ đó, Đảng ta đã khẳng định: “Xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện mới”. Nền quốc phòng của nước ta là nền quốc phòng toàn dân, với tính tự vệ tích cực. Mục tiêu của quốc phòng, an ninh là giữ vững môi trường hoà bình cho sự nghiệp phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Với tính chất, mục tiêu đó, nền quốc phòng và an ninh được xây dựng theo hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường và ngày càng hiện đại. Phương hướng này chỉ rõ phải xây dựng và phát huy tiềm năng và lực lượng mọi mặt của đất nước cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... vào củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc”. Trong quá trình tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh, phải quán triệt sâu sắc tính chất, nội dung, yêu cầu về toàn dân, toàn diện, tự lực, tự chủ, tự cường và hiện đại. Đây chính là tư tưởng xuyên suốt quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. Ba là, sức mạnh quốc phòng, an ninh là sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại, sức mạnh của thế trận quốc phòng toàn dân và gắn với thế trận an ninh nhân dân. Quan điểm này chỉ rõ sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Sức mạnh ấy là sự kết tinh, phản ánh sức mạnh của chế độ chính trị, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của trí tuệ và sức lực con người Việt Nam, của truyền thống dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước ta. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc là nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, là sức mạnh nguồn cội để từ đó phát huy cao độ ý chí tự chủ, tự cường của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân thành một khối vững chắc, với niềm tin, sự quyết tâm không gì lay chuyển nổi trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe doạ an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”. Đây là quan điểm chỉ đạo các hoạt động xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vào thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cũng như tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh trong thời kỳ mới. Bên cạnh đó, Đảng và nhân dân ta cũng ý thức sâu sắc rằng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đây là một chủ trương, chiến lược, sách lược đúng đắn nhằm củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở chủ trương, chiến lược đó, chúng ta đã huy động và kết hợp được sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài tạo ra tiền đề thuận lợi cho việc giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Sự kết hợp đúng đắn những nỗ lực của dân tộc, những khả năng và sức mạnh trong nước với sự giúp đỡ của quốc tế đã và đang làm cho sức mạnh của chúng ta được nhân lên gấp bội. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay còn là sức mạnh của sự kết hợp giữa thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân trong một thể thống nhất, hoàn chỉnh. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI xác định: “Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh vững chắc”. Để thực hiện tốt sự chỉ đạo này, phải tiếp tục củng cố và hoàn thiện nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn tỉnh, thành phố; đặc biệt, xây dựng thế trận trên các địa bàn chiến lược, gắn liền với việc xây dựng lực lượng chính quy, cơ động, tinh nhuệ. Bốn là, tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của toàn dân; trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Văn kiện Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt”(8). Quan điểm này xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị, của toàn dân, của lực lượng vũ trang đối với vấn đề tăng cường quốc phòng, an ninh trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, của toàn dân, các tổ chức kinh tế, xã hội đối với việc thực hiện các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh. Nội dung của quan điểm này thể hiện: - Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, nòng cốt là các lực lượng vũ trang nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ Tổ quốc. Quản lý quốc phòng, an ninh là một chức năng của Nhà nước. Vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh biểu hiện thông qua việc Nhà nước là chủ thể thay mặt nhân dân, được nhân dân uỷ quyền và trao cho quyền lực quản lý lĩnh vực quốc phòng, an ninh theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. - Cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân nhận thức và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. - Trong sự nghiệp quốc phòng và an ninh, vai trò đặc biệt quan trọng, nòng cốt là các lực lượng vũ trang nhân dân. Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ gắn với việc xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có bản lĩnh chính trị vững vàng; trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Tính chất toàn dân của nền quốc phòng, an ninh ở nước ta đòi hỏi phải phát huy quyền làm chủ, trí tuệ, sự sáng tạo của nhân dân trong quá trình tham gia và thực hiện chính sách, pháp luật về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta chỉ rõ: Để phát huy sức mạnh, trí tuệ của nhân dân vào quá trình củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân phải đặc biệt coi trọng việc giáo dục nâng cao trình độ chính trị, tính tích cực của nhân dân trong việc thực hiện pháp luật, chính sách về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Năm là, Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quốc phòng và an ninh. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng. Quan điểm này xác định nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh; đồng thời, chỉ rõ sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh ở nước ta. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam kể từ khi có Đảng đã khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam nói chung, của sự nghiệp quốc phòng, an ninh nói riêng. Điều 4, Hiến pháp 1992 (sửa đổi) đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng là người lãnh đạo, tổ chức quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chỉ có Đảng mói có đủ năng lực tổ chức, động viên, huy động đầy đủ mọi khả năng của đất nước và lực lượng của nhân dân vào quá trình xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc nhằm ngăn chặn, đẩy lùi, làm thất bại mọi âm mưu, hành động của các thế lực và bọn xâm lược. Đảng đề ra đường lối, chiến lược quốc phòng, an ninh để lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội triển khai các hoạt động xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân. Trong những năm qua, nếu không có sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quốc phòng và an ninh thì không thể huy động được cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia xây dựng nền quốc phòng và an ninh nhân dân vững chắc, toàn diện. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quốc phòng, an ninh có nội dung toàn diện: - Đảng hoạch định đường lối, chiến lược quân sự, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, các chủ trương, chính sách lớn về quốc phòng, an ninh phù hợp với tình hình thực tiễn. - Đảng đề ra đường lối, học thuyết quân sự, xác định những phương hướng cơ bản phát triển tiềm lực quân sự, quốc phòng của đất nước, nâng cao sức chiến đấu của quân đội; đồng thời Đảng lãnh đạo việc tổ chức hiện thực hoá quan điểm, đường lối ấy vào cuộc sống. - Đảng lãnh đạo tiến hành công tác tư tưởng, công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho toàn dân nhằm nâng cao nhận thức, trình độ hiểu biết và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của mỗi cá nhân người Việt Nam, của các chủ thể khác trong xã hội. - Đảng đưa ra những quyết sách đúng đắn để động viên, cổ vũ, tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sự đồng thuận xã hội, thưc hiện thành công nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Cùng với khẳng định nguyên tắc lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quốc phòng, an ninh, trong giai đoạn hiện nay, Đảng cần nhận thức đúng mối quan hệ giữa vai trò lãnh đạo của mình và hoạt động quản lý của Nhà nước. Thông qua Nhà nước, Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội nói chung và với công tác quốc phòng, an ninh nói riêng. Tóm lại, quốc phòng, an ninh là những lĩnh vực đặc biệt quan trọng. Kế thừa và phát huy truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta, trên cơ sở phân tích khoa học, lôgic và cụ thể những đặc điểm của tình hình thế giới, của thực tiễn yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã tổng kết và xác định những quan điểm chỉ đạo sự nghiệp xây dựng, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Những quan điểm này có giá trị to lớn trong việc chỉ đạo hoạt động thực tiễn tổ chức, xây dựng, quản lý nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay./.

Phương pháp tư duy Hồ Chí Minh “Coi trọng, gắn kết khách quan với chủ quan, kết hợp hài hòa giữa lý luận, thực tiễn và có tính tự giác cao”

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới những điều kiện khách quan của cách mạng, đồng thời phát huy tính tích cực của nhân tố chủ quan để đề ra cương lĩnh chiến lược cách mạng một cách phù hợp. Chánh cương vắn tắt của Đảng (năm 1930) do Người soạn thảo có đoạn viết: “Tư bản bản xứ đã thuộc tư bản Pháp, vì tư bản Pháp hết sức ngăn trở sức sinh sản làm cho công nghệ bản xứ không thể mở mang được. Còn về nông nghệ một ngày một tập trung đã phát sinh ra lắm khủng hoảng, nông dân thất nghiệp nhiều. Vậy tư bản bản xứ không có thế lực gì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa nên chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Sau này, các văn kiện của Đảng đã ấn định phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam là, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhận định về tình hình đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi... với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dựa trên những điều kiện khách quan, kết hợp với nhân tố chủ quan, trong đó có năng lực cá nhân xuất chúng, nhãn quan sắc bén để đề ra các chủ trương, đường lối đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt coi trọng công tác tổng kết lý luận; bởi vì, theo Người, đó là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người trên tất cả mọi lĩnh vực. Người cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”. Do đó, nếu kế thừa được những kinh nghiệm đã được tổng kết thành lý luận, mỗi cá nhân sẽ có điều kiện nâng cao năng lực của bản thân để phát triển tốt hơn.

Phương pháp tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở việc xem trọng nhân tố tự giác. Người cho rằng, nền đạo đức mới chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở tự giác tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân trong xã hội. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong mỗi con người đều có hai mặt đối lập: Thiện và ác, hay và dở, tốt và xấu,... Do vậy, điều quan trọng là, mỗi người phải dám nhìn thẳng vào bản thân mình, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, phát huy những cái thiện, cái hay, cái tốt, đồng thời khắc phục cái ác, cái dở, cái xấu. Trong lần nói chuyện với thanh niên sinh viên tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II năm 1958, Người nhấn mạnh: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài”.

HAIVAN

Phương pháp tư duy Hồ Chí Minh “Gắn lý trí với tình cảm trong sáng, tình yêu thương con người”


Cốt lõi của tình cảm cách mạng là đạo đức cách mạng. Tình cảm cách mạng là khởi nguồn để có sáng tạo cách mạng. Khi tình cảm đã nhạt phai thì trí tuệ cũng sẽ chịu ảnh hưởng không tốt. Ngược lại, tình cảm mù quáng thì lý trí sẽ mất phương hướng. Tình cảm có những quy luật riêng của mình. Nếu là xúc cảm nhất thời, nó thường đi đôi với nhận thức cảm tính, bồng bột, thoáng qua và thiếu bền vững. Song ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, những tình cảm trong sáng, rất mãnh liệt bao giờ cũng chịu sự điều chỉnh, hướng dẫn chặt chẽ của lý trí. Đó là bởi, tình cảm của Người dựa trên sự thấu hiểu sâu sắc về con người, điều chỉ có ở một nhân cách lớn. Cả cuộc đời của Người là một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, về sự thống nhất giữa lý trí với những tình cảm trong sáng, thấm đẫm tình yêu thương con người.

Ngay từ khi còn nhỏ, Người đã xúc động trước tình cảnh người dân trên quê hương mình bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột, hành hạ một cách dã man. Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, cho nên đi tới đâu Người cũng chú ý tới hai cảnh sống trái ngược giữa nhân dân lao động với tầng lớp thống trị, giữa người bóc lột và người bị bóc lột; đồng thời, luôn có sự thấu cảm sâu sắc trước những khó khăn, tủi nhục, vất vả của những người bị bóc lột và cuộc sống lầm than của nhân dân lao động.

Tình yêu thương đồng bào, Tổ quốc và tình yêu thương con người đã đưa Người đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đồng thời, chính lý luận cách mạng Mác - Lê-nin cũng nâng tầm những tình cảm trong sáng của Người, giúp Người có thêm nghị lực để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ và luôn lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh am hiểu rất sâu sắc và độc đáo về chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người cho rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin không chỉ bao gồm các khái niệm trừu tượng, các quy luật, phạm trù và chỉ thuộc về nhận thức lý trí, mà còn bao hàm cả tình nghĩa, tức là gồm cả phương diện đạo đức. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin”.

Lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn với những phong trào hành động nhằm xây dựng và cải tạo xã hội. Người cho rằng, tư duy lành mạnh tự nó bao giờ cũng hướng tới hành động cải tạo thực tiễn, cải thiện cuộc sống con người. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy sôi nổi, phong phú và gian khổ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm vững mục tiêu chiến lược, đồng thời biết vận dụng sách lược một cách khôn khéo để đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn. Trong bức thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chúng ta phải làm gì? Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc. Điều đó tùy hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta. Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”.

HAIVAN

Phương pháp tư duy Hồ Chí Minh “Quyết tâm vượt lên mọi thành kiến tư tưởng”


Đối với mỗi con người, để vượt qua được những thành kiến do lối mòn tư tưởng cũ chi phối là một việc không dễ. Trong khi đó, khác với tất cả những nhà yêu nước đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn biết vượt lên những thành kiến tư tưởng và thể hiện năng lực làm chủ bản thân rất cao. Không đi theo con đường cứu nước mà các vị tiền bối đã thực hiện, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định đi ra nước ngoài, tới chính đất nước của kẻ thù đang giày xéo, đặt ách thống trị lên Tổ quốc mình để tìm đường cứu nước, cứu dân, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, để tìm hiểu xem những gì ẩn giấu “đằng sau khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái là gì?”. Liệu người dân ở đó có được tự do, bình đẳng và hạnh phúc thực sự hay không?

Ngay từ năm 1921, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh không đồng tình với ý kiến cho rằng, Đông Dương chưa thể tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin do giai cấp vô sản ở Đông Dương chưa phát triển. Cùng với đó, Người đã tích cực tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận cách mạng vô sản của V.I. Lê-nin và kiên quyết đấu tranh cho tư tưởng này được hiện thực hóa trên thực tế. Nguyễn Ái Quốc đề nghị: “Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa”. Từ những điều kiện lịch sử - xã hội của các nước phương Đông, Người nhận thấy chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn có thể thâm nhập, tồn tại và phát triển ở châu Á, thậm chí còn dễ dàng hơn so với châu Âu: “những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu”.

Trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ cũng như bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp. Tuy nhiên, Người không chỉ dừng lại ở việc trích dẫn 2 bản tuyên ngôn đó, khẳng định quyền tự do của mỗi cá nhân như tinh thần của 2 bản tuyên ngôn này, mà còn khẳng định quyền độc lập, tự do và quyền bình đẳng cho các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

HAIVAN

Giải pháp phòng chống diễn biến hòa bình trên các lĩnh vực

"Diễn biến hòa bình" chúng chống phá ta toàn diện trên tất cả các lĩnh vực nên chúng ta cũng phải chống lại trên tất cả các lĩnh vực. 1. Chống "Diễn biến hòa bình" BLLĐ phải nhằm kết hợp ngăn ngừa và đối phó thắng lợi các tình huống chiến lược về QP-AN có thể xảy ra. NQTW8 (khoá IX) của Đảng ta về Chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới dự báo có 3 tình huống chiến lược: +Tình huống 1: Biến động chính trị trong nước, đe doạ sự mất còn của chế độ + Tình huống 2: Bạo loạn ly khai ở một vùng hoặc một số vùng, gây nguy cơ chia cắt đất nước. + Tình huống 3: Tạo cớ để can thiệp quân sự, gây xung đột vũ trang và chiến tranh xâm lược nước ta. Ba tình huống trên nhìn chung có quan hệ hữu cơ, tác động lẫn nhau. Tình huống này có thể là tiền đề cho tình huống kia. Trong đó tình huống 1 và 2 là do hoạt động của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, BLLĐ tạo ra. Vì vậy chống “Diễn biến hòa bình”, BLLĐ là một nhiệm vụ quan trọng cũng chính là trực tiếp ngăn ngừa đẩy lùi các tình huống chiến lược trên để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. 2. Nắm vững pháp luật, chủ động, kiên quyết chấn áp các phần tử phản động để bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ. Cần tăng cường xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ AN quốc gia và QP. Chăm lo xây dựng LLVT vững mạnh, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp CM của Đảng và nhân dân. Cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao để ngăn ngừa, đập tan mọi âm mưu và hành động gây bạo loạn của kẻ thù. Bên cạnh đó cần đề cao cảnh giác làm thất bại mọi âm mưu “phi chính trị hoá” Quân đội, Công an; hòng xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với LLVT. Phương châm: 1. Giữ vững ổn định bên trong, chủ động phòng ngừa kết hợp giữa “xây” và “chống”. Vị trí, ý nghĩa: Đây là phương châm chỉ đạo chung cho cả phòng, chống “Diễn biến hòa bình”, BLLĐ. Nó thể hiện tính chủ động tích cực của ta trong phòng chống “Diễn biến hòa bình”, BLLĐ Nội dung: + Giữ vững bên trong trước hết là giữ vững sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội, QP-AN của địa phương, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với địa phương. Kiên định con đường đi lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn, giữ vững mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc xung quanh Đảng, giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Giữ vững bện trong là điều kiện, là điểm tựa vững chắc để chủ động ngăn ngừa nguy cơ từ bên ngoài. + Chủ động phòng ngừa trước hết là giữ vững đường lối đối ngoại của Đảng. Mọi hoạt động trên trường quốc tế về chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, quân sự... không được phương hại đến lợi ích quốc gia dân tộc, phải góp phần thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN. Do đó phải nắm chắc âm mưu thủ đoạn của địch, thu thập thông tin chính xác, có đối sách phù hợp, không để kẻ thù tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta dưới mọi hình thức ở địa phương. + Giữ vững bên trong và chủ động phòng ngừa có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu không giữ vững bên trong sẽ không chủ động phòng ngừa được. Do vậy phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống trong đó lấy xây làm cơ sở cho chống. Lấy xây dựng vững mạnh các tổ chức, của cả hệ thống chính trị để ngăn ngừa, chống lại và đẩy lùi là yêu cầu hàng đầu nhằm đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn của địch. 2. Khi bạo loạn xảy ra, cần phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp các biện pháp, các mặt đấu tranh; sử lý kiên quyết, nhanh chóng, không để lan rộng, kéo dài. Phương châm này chỉ đạo phương thức đấu tranh và hành động của ta, trong sử lý bạo loạn lật đổ của địch. Để thực hiện tốt phương châm trên cần thường xuyên chủ động, phát hiện mọi ý đồ, hành động của địch, bám sát địa bàn, dự kiến kế hoạch, phương án và chuẩn bị sẵn lực lượng chống bạo loạn ở từng cấp. Tổ chức tập luyện thường xuyên để sẵn sàng xử trí kịp thời, nhanh chóng khi tình huống xảy ra. Tóm lại: Đảng ta đã đề ra mục tiêu, nhiệm vụ rõ ràng và những quan điểm, phương châm chỉ đạo nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của chính quyền các cấp nhằm đấu tranh làm thất bại âm mưu chiến lược “Diễn biến hòa bình”, BLLĐ của CNĐQ và các thế lực thù địch ở Việt Nam. Phòng chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”, BLLĐ là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong giai đoạn hiện nay. Thế nhưng muốn thực hiện được mục tiêu đó thì cần phải có những nội dung giải pháp phòng, chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”, BLLĐ cụ thể trên các lĩnh vực.

Phương pháp tư duy Hồ Chí Minh “Đề cao tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo”

 

Đây là nội dung bao trùm và điển hình nhất trong phương pháp tư duy Hồ Chí Minh. Trong phương pháp tư duy của Người, độc lập đồng nghĩa với không phụ thuộc, không bắt chước, không theo đuôi bất kỳ một lý luận nào nếu không có sự đánh giá cẩn trọng, khoa học của chủ thể. Mặc dù con đường nhận thức chân lý bao giờ cũng có sự kế thừa, nhưng là sự kế thừa biện chứng, kế thừa và phát triển với tính độc lập của chủ thể nhận thức, không phải là sự bắt chước, rập khuôn cách máy móc. Tự chủ có nghĩa là xuất phát từ vị trí, vai trò của mình, chủ thể tự thân làm chủ mọi suy nghĩ, hành vi của mình, làm chủ công việc của mình, tự thấy mình phải có trách nhiệm với tập thể, với quốc gia, với dân tộc mình. Sáng tạo là sẵn sàng từ bỏ những cái cũ, cái lạc hậu, cái không còn phù hợp đang cản trở sự phát triển; đồng thời, tìm kiếm, học hỏi, đề xuất những cái mới có khả năng đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống.

Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong phương pháp tư duy Hồ Chí Minh hình thành từ sớm, bộc lộ càng rõ trong quá trình Người tìm đường cứu nước. Đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lê-nin thì tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo càng được nâng cao, đã trở thành một phẩm chất bền vững, được thể hiện trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Chính điều đó đã làm cho tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh khác biệt so với tư duy của các nhà yêu nước tiền bối và đương thời, như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường... về con đường cứu nước, mặc dù không ai phủ nhận các ông đều mong muốn giành độc lập cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo trong mọi hoạt động thực tiễn của mình. Người đã tư duy để đối chiếu, so sánh, chắt lọc và tổng hợp những dữ liệu, những kinh nghiệm mà cuộc sống đã đem lại, những tư tưởng của các thế hệ đi trước đã gợi mở, để từ đó đi đến những nhận định mới, những kết luận mới và những tư tưởng mới. Phương pháp tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở tính cách mạng triệt để, tính biện chứng chặt chẽ và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Từ đó, Người đã từng bước xác lập cả một hệ thống tư tưởng, luận điểm sáng tạo của riêng mình.

HAIVAN

Nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới


Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn chú trọng việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ. Qua đó, Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ nước ta được nâng lên một bước mới, cùng Đảng vững vàng lãnh đạo nhân dân ta vượt qua những khó khăn, thách thức mới, quyết liệt chưa từng có, tận dụng những thời cơ và thuận lợi để đưa sự nghiệp đổi mới đất nước giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử, mở ra thời kỳ phát triển mới của đất nước. Điều này đã được Đại hội XIII của Đảng chỉ ra và khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Tuy nhiên, công cuộc đổi mới đất nước trong những thập niên tới sẽ còn gặp những khó khăn, phức tạp, thách thức không nhỏ: “tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo… Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số; tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động”. Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong đó, nâng cao Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Nâng cao Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới đất nước trong thời kỳ phát triển mới được Đảng ta xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm; thể hiện trong các văn kiện quan trọng của Đảng và sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt. Cụ thể là:

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” xác định mục tiêu: “Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, nhấn mạnh: “Xây dựng đồng bộ, toàn diện các đối tượng cán bộ ở các cấp. Chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, tính chuyên nghiệp, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức”.

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược”. “Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, sự gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu các cấp”. Đặc biệt, Đại hội XIII bổ sung và nhấn mạnh những đặc trưng cơ bản rất quan trọng mà đội ngũ cán bộ cần có, đó là “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”. Những đặc trưng này, cũng là những đặc trưng rất cơ bản  Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ trong giai đoạn hiện nay.

Những chủ trương, quan điểm và chỉ dẫn của Đảng là cơ sở và căn cứ rất quan trọng để nâng cao nhận thức và xác định chủ trương, giải pháp đúng đắn để nâng cao Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới của đất nước. Trong đó, cần tập trung thực hiện những giải pháp nhằm kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ trong thời gian tới, cụ thể như sau:

Một là, nâng cao nhận thức sâu sắc, thống nhất và trách nhiệm của các cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên về việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ, trước hết là những cán bộ của cơ quan, đơn vị mình. 

Hai là, tiếp tục cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, trong đó coi trọng xác định rõ tiêu chuẩn cụ thể về Bản lĩnh chính trị của chức danh cán bộ, làm cơ sở và định hướng cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về mọi mặt, nhất là về lý luận chính trị và về rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn cũng như việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả các hoạt động này.

Ba là, đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng dạy và học lý luận chính trị; việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với việc rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, tạo cơ sở cho việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ.

Bốn là, tiếp tục thực hiện quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó, cần coi trọng việc học tập và làm theo tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư...

Năm là, cổ vũ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tự giác học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, tự rèn luyện trong thực tiễn; từng cán bộ thực hiện kết hợp việc tự học tập lý luận chính trị với việc tự rèn luyện trong thực tiễn đạt kết quả để nâng cao Bản lĩnh chính trị.

Sáu là, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị và sự tham gia của nhân dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để góp phần nâng cao Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới.

HAIVAN

Vai trò của rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn đối với việc nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ


Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ chỉ có thể được hình thành và từng bước nâng cao thông qua rèn luyện, thử thách bền bỉ, thường xuyên và lâu dài trong thực tiễn, qua những thử thách cam go khi đứng trước những vấn đề gay cấn, phức tạp nảy sinh trong thực tiễn hoạt động của cán bộ. Trong hoạt động thực tiễn, cán bộ phải biết vận dụng sáng tạo những kiến thức lý luận đã học vào thực tiễn, giải quyết đúng đắn những vấn đề nảy sinh, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Thực tiễn là “trường học” tốt nhất để củng cố, phát triển và nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ. Thực tế cho thấy, sự rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, sự đối mặt với những khó khăn, thách thức, quyết liệt đương đầu với kẻ thù tàn bạo, thâm độc, xảo quyệt đã tôi luyện, nâng cao khả năng, ý chí kiên định, sự linh hoạt, sáng suốt của Đảng và của đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập, tự do để kịp thời đề ra các chủ trương, giải pháp đúng đắn đưa cách mạng đến thắng lợi.

Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, đội ngũ cán bộ tuy không phải trực tiếp đối mặt với kẻ thù tàn bạo, phản động, tội phạm (trừ cán bộ là lực lượng vũ trang); song, họ lại phải đối mặt với những tác động, thử thách không hề nhỏ. Đó là những cám dỗ của tiền tài, vật chất, tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế; sự cám dỗ của địa vị, quyền lực; sự lôi kéo, mua chuộc của các thế lực thù địch, phản động với âm mưu, thủ đoạn rất thâm độc, xảo quyệt hòng làm cho người cán bộ suy giảm hoặc đánh mất Bản lĩnh chính trị, gây thiệt hại cho Đảng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Những thử thách nêu trên đối với cán bộ không kém phần gay gắt, nghiệt ngã so với những thử thách trong chiến đấu chống quân thù giành độc lập dân tộc. Vì thế, rèn luyện trong thực tiễn và nỗ lực vượt qua được những thách thức hiện nay có vai trò rất to lớn trong việc củng cố, phát triển và nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ.

HAIVAN

Tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện cán bộ đến bài học có giá trị lớn trong công tác cán bộ của Đảng ta


Bản lĩnh chính trị của người cán bộ là một nội dung rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Theo Người, đạo đức cách mạng của người cán bộ được thể hiện ở những phẩm chất, như trung với nước, hiếu với dân; thương yêu con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng... đây cũng là những biểu hiện của Bản lĩnh chính trị của người cán bộ, trong đó sự liêm chính là biểu hiện rõ nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: LIÊM là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. Quang minh chính đại trong khái niệm “LIÊM” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những đặc trưng của Bản lĩnh chính trị của người cán bộ. Người chỉ rõ: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà”. Đây là một đặc trưng cơ bản của Bản lĩnh chính trị của cán bộ, là sự chính trực của cán bộ và trên thực tế, người cán bộ chính trực thường được gọi là cán bộ có Bản lĩnh chính trị. 

Cán bộ và công tác cán bộ là những vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt, xuyên suốt trong tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng. Đặc biệt, huấn luyện cán bộ là một nội dung rất quan trọng, thể hiện trong các luận điểm nổi tiếng của Người: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”; “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”.

Huấn luyện cán bộ gồm nhiều nội dung, trong đó huấn luyện lý luận chính trị có vai trò quan trọng hàng đầu. Mọi cán bộ đều phải được huấn luyện lý luận chính trị. Huấn luyện cán bộ gồm huấn luyện ở nhà trường qua các lớp đào tạo cơ bản, các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm công tác; qua sinh hoạt đảng, đoàn thể; sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, sự kèm cặp của cán bộ chủ chốt ở cơ quan, đơn vị trong quá trình làm việc; qua thực tiễn công tác và việc tự học tập của cán bộ... Như vậy, học tập lý luận chính trị phải được kết hợp chặt chẽ với hoạt động thực tiễn của cán bộ thì mới đem lại hiệu quả, thiết thực.

Khi được trang bị tri thức lý luận chính trị và vận dụng vào trong công việc thực tế, cán bộ sẽ vững vàng, tự tin xử lý có kết quả những vấn đề nảy sinh, vượt qua những khó khăn, thách thức, kể cả những khó khăn lớn, thách thức quyết liệt, gay cấn để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; qua đó, họ từng bước trưởng thành. Đây là sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa việc học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, tạo nên sự trưởng thành của cán bộ, trong đó có sự trưởng thành về Bản lĩnh chính trị và được nâng cao qua từng thời kỳ cách mạng. Sự trưởng thành của cán bộ nhờ rèn luyện, thử thách trong thực tiễn sau khi học tập lý luận chính trị được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lúc học rồi, họ có thể tự mình tìm ra phương hướng chính trị có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo. Thế là lý luận thiết thực, có ích”. Như vậy, sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn sẽ đem lại hiệu quả về nhiều mặt đối với cán bộ, mà điều quan trọng hàng đầu chính là góp phần nâng cao Bản lĩnh chính trị của đội ngũ này.

Cách mạng luôn luôn vận động, phát triển không ngừng và ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn đòi hỏi Đảng, từng cán bộ phải không ngừng nâng cao BLCT để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng. Vì thế, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu việc giáo dục, rèn luyện, giữ vững và nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ; nhờ đó, chất lượng đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, góp phần đưa cách mạng nước ta vượt qua những khó khăn, thách thức lớn, nhất là khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới với nhiệm vụ mới mẻ, phức tạp, nặng nề hơn trước, để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nhận thức sâu sắc vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ đối với thắng lợi của cách mạng, trước khi Đảng ta ra đời, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo chọn những thanh niên ưu tú, “những hạt giống đỏ” đưa đi học tập lý luận chính trị ở Quảng Châu, Trung Quốc tại những lớp do Người trực tiếp biên soạn bài giảng và giảng dạy. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã truyền đạt những nội dung lý luận rất sâu sắc, thiết thực, với cách giảng dạy rất khoa học cho học viên; trong đó, Người rất coi trọng việc gắn chặt lý luận với thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước trên thế giới và với thực tiễn cách mạng nước ta. Nhờ đó, việc học tập lý luận chính trị đã nhanh chóng đem lại hiệu quả, có tác dụng rất to lớn, thiết thực đối với lớp cán bộ tiền bối của Đảng.

Nhờ kết hợp chặt chẽ việc học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trước những cam go, thách thức quyết liệt của cách mạng nước ta trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng khi đó được nâng cao, đáp ứng tốt yêu cầu của cách mạng. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, gian khổ và phải đối mặt với sự ác liệt của cuộc đấu tranh giành chính quyền, song Đảng ta luôn tìm ra các giải pháp phù hợp, hiệu quả để huấn luyện, trang bị lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả việc học tập lý luận chính trị với tăng cường rèn luyện, thử thách đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực tiễn để nâng cao chất lượng về mọi mặt, trong đó có Bản lĩnh chính trị của họ. Những hoạt động này, cùng với sự nêu gương, sự dẫn dắt, lan tỏa của những cán bộ tiền bối, Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng cao. Với Bản lĩnh chính trị vững vàng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng khi đó (chỉ khoảng 5.000 đảng viên) đã cùng toàn thể dân tộc giành thắng lợi to lớn trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, nhân dân Việt Nam từ kiếp nô lệ thành người làm chủ đất nước. 

Đội ngũ cán bộ tiếp tục được Đảng huấn luyện về mọi mặt, coi trọng huấn luyện lý luận chính trị kết hợp chặt chẽ với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, đã đem lại hiệu quả thiết thực; nhờ đó, BLCT của cán bộ luôn được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các thời kỳ cách mạng tiếp theo. Đây là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi to lớn trong các cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai và trong khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc sau khi thống nhất đất nước.

HAIVAN

Bản lĩnh chính trị và nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ

 

“Bản lĩnh” thường được hiểu là khả năng và ý chí kiên định trước mọi hoàn cảnh. Bản lĩnh chính trị của cán bộ là khả năng và ý chí kiên định, vững vàng về lý tưởng, mục tiêu của Đảng, nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, đặc biệt là trước những tình thế khó khăn, phức tạp thì cán bộ luôn bình tĩnh, sáng suốt cùng cấp ủy và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xác định được chủ trương, giải pháp đúng đắn để vượt qua tình thế đó, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối và từng bước hiện thực hóa lý tưởng, mục tiêu của Đảng.

Bản lĩnh chính trị là một bộ phận đặc biệt quan trọng của phẩm chất chính trị của cán bộ; cùng với trình độ trí tuệ và phẩm chất đạo đức, lối sống tạo nên chất lượng của đội ngũ cán bộ; bảo đảm cho đội ngũ cán bộ có khả năng vượt qua những khó khăn, thách thức, quyết tâm hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng.

Bản lĩnh chính trị của cán bộ được tạo nên bởi các yếu tố chủ yếu, như tri thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tri thức về các khoa học cần thiết khác; sự giáo dục, rèn luyện của các cấp ủy, tổ chức đảng; sự tham gia của các tổ chức trong hệ thống chính trị (HTCT) và nhân dân vào việc giáo dục, rèn luyện Bản lĩnh chính trị của cán bộ; tình yêu thương, gắn bó và trách nhiệm đối với nhân dân; sự tu dưỡng, rèn luyện, thử thách trong thực tiễn của cán bộ.

Nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ là toàn bộ hoạt động của các cấp ủy, tổ chức và từng cán bộ nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò của các yếu tố tạo nên Bản lĩnh chính trị với sự tham gia của các tổ chức trong HTCT các cấp và nhân dân, để làm cho Bản lĩnh chính trị của cán bộ được nâng lên, đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ được giao.        

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận chính trị của Đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh lật đổ các thế lực áp bức, bóc lột, giành chính quyền, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đường lối của Đảng cũng được coi là bộ phận lý luận chính trị quan trọng, bởi vì phần lớn nội dung trong đường lối của Đảng nhằm giải quyết những mục tiêu chính trị dưới dạng khái quát, cô đọng nhất ở mỗi giai đoạn cách mạng. Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng có quan hệ mật thiết và chi phối các yếu tố khác (những yếu tố tạo nên Bản lĩnh chính trị của cán bộ) - là cơ sở, yếu tố quan trọng hàng đầu hình thành, phát triển và nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh luận giải và khẳng định rõ trong các bài viết, bài nói của mình.

Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, khi luận bàn về nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt câu hỏi: Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Và Người khẳng định: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”. Đồng thời, Người chỉ rõ, đảng cách mệnh phải vững vàng, kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường cách mạng đã lựa chọn, xác định đúng đắn đường lối và đề ra các giải pháp lãnh đạo thực hiện hiệu quả nhằm đưa cách mạng đến thắng lợi. Đặc biệt, trong những lúc cách mạng gặp hiểm nguy, đảng cách mạng phải bình tĩnh, sáng suốt, kịp thời đề xuất và thực hiện các giải pháp đúng đắn ấy để đưa cách mạng vượt qua khó khăn, “thác ghềnh”, phong ba, bão táp, đi đến thắng lợi. Tức là, Đảng phải có Bản lĩnh chính trị vững vàng, như Người từng khẳng định: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ ra và khẳng định yếu tố đặc biệt quan trọng, mang tính cốt lõi tạo nên sự bình tĩnh, sáng suốt của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng và của đội ngũ cán bộ trong thực hiện nhiệm vụ được giao - yếu tố tạo nên Bản lĩnh chính trị của Đảng và của đội ngũ cán bộ - chính là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người viết: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục luận giải: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Phần lớn hoạt động phát triển và nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ là thông qua hoạt động thực tế của các cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong HTCT và của từng cán bộ. Các hoạt động này chỉ có thể đem lại hiệu quả, phát huy mạnh mẽ vai trò nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ khi được lý luận soi sáng, dẫn đường. Không được lý luận soi sáng, dẫn đường thì những hoạt động nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ sẽ mất phương hướng chính trị, gây hậu quả không tốt cho sự phát triển của từng cán bộ và cả sự nghiệp cách mạng.  

Tri thức của cán bộ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng chỉ có thể được hình thành thông qua việc học tập nghiêm túc của cán bộ ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là trong hệ thống trường đảng. Điều này phụ thuộc rất lớn vào chất lượng dạy và học, gồm chất lượng nội dung, chương trình phù hợp với từng đối tượng cán bộ; chất lượng đội ngũ giảng viên; hình thức, phương pháp dạy và học; việc quản lý dạy và học; môi trường học tập ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; tinh thần, thái độ của người học. Tri thức của cán bộ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng còn có được thông qua sinh hoạt đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động thực tiễn và việc tự giác thường xuyên tự học tập suốt đời của cán bộ.

HAIVAN

NHẬN THỨC RÕ RÀNG VỀ ÂM MƯU "DBHB" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

     Trong những năm gần đây, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa kinh tế thế giới và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là tin học đang phát triển mạnh mẽ cùng với những khó khăn, thách thức nảy sinh do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu và những diễn biến phức tạp mới trong tranh chấp chủ quyền Biển Đông, các thế lực thù địch ngày càng ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta. Những phần tử cơ hội chính trị ở trong nước hùa theo những luận điểm sai trái của địch, ra sức công kích Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

    Mục tiêu của chúng nhằm:

    Một là, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin để thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản trong các nước xã hội chủ nghĩa. Các nhà lý luận của chiến lược "diễn biến hòa bình" cho rằng, tư tưởng là lĩnh vực có tầm quan trọng hàng đầu, vì vậy, mục tiêu phải đạt tới là tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương và coi đó là khâu đột phá của chiến lược "diễn biến hòa bình".

    Hai là, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong các nước xã hội chủ nghĩa. Luận điệu được sử dụng thường xuyên là đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo là "độc tài", là "bóp nghẹt dân chủ", vì thế phải thay thế bằng chế độ chính trị đa đảng! Từ đó, tìm mọi cách nhen nhóm các lực lượng phản động chống đối, cơ hội chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa.

    Ba là, gây mất ổn định về chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn thường xuyên được sử dụng là lợi dụng, kích động những vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", "dân tộc", "tôn giáo" để gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ lôi kéo một bộ phận quần chúng vào các cuộc bạo loạn chính trị.

    Bốn là, làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế.

    Năm là, chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị phương Tây, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực và tha hóa con người, dẫn tới biến chất cả một xã hội.

    Sáu là, "phi chính trị hóa" để vô hiệu hóa quân đội và công an.

    Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận rõ bản chất, mục đích phá hoại của các thế lực thù địch. Quán triệt sâu sắc các quan điểm, giải pháp của Đảng, Nhà nước nhằm chống lại âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.

ỨNG XỬ VỚI “RÁC” THÔNG TIN

 


    Chính sự suy thoái, suy đồi về đạo đức khiến luận điệu của những đối tượng phản động lưu vong chỉ là một thứ “rác” thông tin trên không gian mạng. Nó làm vấy bẩn môi trường truyền thông văn hóa, tiến bộ. Nói như vậy là bởi, hầu hết những đối tượng phản động lưu vong đều có lai lịch chẳng hay ho gì. Chẳng hạn, Đường Văn Thái, từng có thời gian lao động hợp đồng tại Phòng Quản lý đất đai và Giải phóng mặt bằng thuộc UBND huyện Đông Anh, TP Hà Nội. Dù đã qua đào tạo, có kiến thức chuyên môn nhưng do ý thức rèn luyện, phẩm chất đạo đức kém nên Thái không được tuyển dụng. Tính tự cao, tự đại, tự huyễn hoặc bản thân khiến Thái bất mãn, đưa chân vào con đường chống đối chính quyền Nhà nước. Được các thế lực thù địch lôi kéo, Thái ngày càng lún sâu vào vũng bùn đen tối. Năm 2019, Thái trốn ra nước ngoài, trở thành con rối lưu vong. Cuộc sống khó khăn khiến Đường Văn Thái bất chấp đạo lý, tận dụng mớ kiến thức lỗ mỗ, lên MXH kiếm ăn bằng những trò lố.

    Bên cạnh những đối tượng được cho là “có học” thì Trương Quốc Huy chỉ là một tên côn đồ, trình độ văn hóa lớp 7, từng có tiền án tiền sự, đang sống lưu vong tại Mỹ. Dù trình độ ở mức “viết câu văn chưa sạch nước cản” nhưng được tổ chức khủng bố Việt Tân dung nạp, Trương Quốc Huy lập tài khoản N10TV, liên tục thực hiện các video, khua môi múa mép xuyên tạc tình hình đất nước với thái độ lố bịch. Với những trò vô văn hóa đó, Trương Quốc Huy bị ngay kiều bào yêu nước tại Mỹ gọi là “kẻ tâm thần chính trị”. Thực tế là ở nước ngoài hiện nay tồn tại khá nhiều đối tượng đã và đang bị các thế lực thù địch biến thành con rối kiểu như Trương Quốc Huy, Nguyễn Văn Đài... Với tinh thần lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, công chúng yêu nước cần tỉnh táo nhận diện thật-giả, trắng-đen... trên không gian mạng để có thái độ ứng xử đúng mực, đúng đắn. Không ở đâu có thể tốt bằng chính nhà mình, Tổ quốc mình! Không một thế lực phản động nào có thể làm lung lay ý chí của một dân tộc kiên cường như dân tộc Việt Nam! Không luận điệu nào, dù xảo biện, xảo quyệt đến đâu có thể làm đảo lộn chân lý cách mạng và thực tiễn phát triển của đất nước ta hiện nay!

    Không gian mạng như một khu vườn mênh mông. Hoa thơm trái ngọt, mình góp sức chăm bẵm để cùng hưởng thụ! Cỏ dại, rác rưởi thì dứt khoát phải nhổ bỏ, dọn sạch.