Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022
CÁC THỦ ĐOẠN LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY VÀ CÁCH PHÒNG TRÁNH
Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh
Quan điểm của Đảng về kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Quốc phòng – An ninh trong giai đoạn hiện nay
Phương pháp tư duy Hồ Chí Minh “Coi trọng, gắn kết khách quan với chủ quan, kết hợp hài hòa giữa lý luận, thực tiễn và có tính tự giác cao”
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới những điều kiện khách quan
của cách mạng, đồng thời phát huy tính tích cực của nhân tố chủ quan để đề ra
cương lĩnh chiến lược cách mạng một cách phù hợp. Chánh cương vắn tắt của Đảng
(năm 1930) do Người soạn thảo có đoạn viết: “Tư bản bản xứ đã thuộc tư bản
Pháp, vì tư bản Pháp hết sức ngăn trở sức sinh sản làm cho công nghệ bản xứ
không thể mở mang được. Còn về nông nghệ một ngày một tập trung đã phát sinh ra
lắm khủng hoảng, nông dân thất nghiệp nhiều. Vậy tư bản bản xứ không có thế lực
gì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có
thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa nên chủ trương làm tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Sau này, các
văn kiện của Đảng đã ấn định phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam là,
tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến thẳng lên cách mạng xã hội
chủ nghĩa, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhận định về tình hình đất
nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước
thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần
chúng nhân dân rộng rãi... với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng
thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó
nhất định thắng lợi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dựa trên những điều
kiện khách quan, kết hợp với nhân tố chủ quan, trong đó có năng lực cá nhân
xuất chúng, nhãn quan sắc bén để đề ra các chủ trương, đường lối đúng đắn, đưa
cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt coi trọng công tác tổng kết lý
luận; bởi vì, theo Người, đó là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người
trên tất cả mọi lĩnh vực. Người cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết
những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã
hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”. Do đó, nếu kế thừa được những kinh
nghiệm đã được tổng kết thành lý luận, mỗi cá nhân sẽ có điều kiện nâng cao
năng lực của bản thân để phát triển tốt hơn.
Phương pháp tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở
việc xem trọng nhân tố tự giác. Người cho rằng, nền đạo đức mới
chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở tự giác tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân
trong xã hội. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong mỗi con người đều có hai mặt đối
lập: Thiện và ác, hay và dở, tốt và xấu,... Do vậy, điều quan trọng là, mỗi
người phải dám nhìn thẳng vào bản thân mình, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, phát
huy những cái thiện, cái hay, cái tốt, đồng thời khắc phục cái ác, cái dở, cái
xấu. Trong lần nói chuyện với thanh niên sinh viên tại Đại hội sinh viên Việt
Nam lần thứ II năm 1958, Người nhấn mạnh: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ
vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của
mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài”.
HAIVAN
Phương pháp tư duy Hồ Chí Minh “Gắn lý trí với tình cảm trong sáng, tình yêu thương con người”
Cốt lõi của tình cảm cách mạng là đạo đức cách mạng. Tình cảm cách
mạng là khởi nguồn để có sáng tạo cách mạng. Khi tình cảm đã nhạt phai thì trí
tuệ cũng sẽ chịu ảnh hưởng không tốt. Ngược lại, tình cảm mù quáng thì lý trí
sẽ mất phương hướng. Tình cảm có những quy luật riêng của mình. Nếu là xúc cảm
nhất thời, nó thường đi đôi với nhận thức cảm tính, bồng bột, thoáng qua và
thiếu bền vững. Song ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, những tình cảm trong sáng, rất
mãnh liệt bao giờ cũng chịu sự điều chỉnh, hướng dẫn chặt chẽ của lý trí. Đó là
bởi, tình cảm của Người dựa trên sự thấu hiểu sâu sắc về con người, điều chỉ có
ở một nhân cách lớn. Cả cuộc đời của Người là một tấm gương sáng ngời về đạo
đức cách mạng, về sự thống nhất giữa lý trí với những tình cảm trong sáng, thấm
đẫm tình yêu thương con người.
Ngay từ khi còn nhỏ, Người đã xúc động trước tình cảnh người dân
trên quê hương mình bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột, hành hạ một cách dã man.
Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi truyền thống nhân
nghĩa của dân tộc, cho nên đi tới đâu Người cũng chú ý tới hai cảnh sống trái
ngược giữa nhân dân lao động với tầng lớp thống trị, giữa người bóc lột và
người bị bóc lột; đồng thời, luôn có sự thấu cảm sâu sắc trước những khó khăn,
tủi nhục, vất vả của những người bị bóc lột và cuộc sống lầm than của nhân dân
lao động.
Tình yêu thương đồng bào, Tổ quốc và tình yêu thương con người đã
đưa Người đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đồng thời, chính lý luận cách mạng
Mác - Lê-nin cũng nâng tầm những tình cảm trong sáng của Người, giúp Người có
thêm nghị lực để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ và luôn lạc quan, tin tưởng
vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chủ tịch
Hồ Chí Minh am hiểu rất sâu sắc và độc đáo về chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người cho
rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin không chỉ bao gồm các khái niệm trừu
tượng, các quy luật, phạm trù và chỉ thuộc về nhận thức lý trí, mà còn bao hàm
cả tình nghĩa, tức là gồm cả phương diện đạo đức. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao
nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin”.
Lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn với những phong trào
hành động nhằm xây dựng và cải tạo xã hội. Người cho rằng, tư duy lành mạnh tự
nó bao giờ cũng hướng tới hành động cải tạo thực tiễn, cải thiện cuộc sống con
người. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy sôi nổi, phong phú và gian khổ
của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm vững mục tiêu chiến lược, đồng thời
biết vận dụng sách lược một cách khôn khéo để đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn
toàn. Trong bức thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh
viết: “Chúng ta phải làm gì? Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc.
Điều đó tùy hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta. Đối với tôi, câu trả lời đã rõ
ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ,
đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”.
HAIVAN
Phương pháp tư duy Hồ Chí Minh “Quyết tâm vượt lên mọi thành kiến tư tưởng”
Đối với mỗi con người, để vượt qua được những thành kiến do lối
mòn tư tưởng cũ chi phối là một việc không dễ. Trong khi đó, khác với tất cả
những nhà yêu nước đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn biết vượt lên những
thành kiến tư tưởng và thể hiện năng lực làm chủ bản thân rất cao. Không đi
theo con đường cứu nước mà các vị tiền bối đã thực hiện, Chủ tịch Hồ Chí Minh
quyết định đi ra nước ngoài, tới chính đất nước của kẻ thù đang giày xéo, đặt
ách thống trị lên Tổ quốc mình để tìm đường cứu nước, cứu dân, mang lại ấm no,
hạnh phúc cho nhân dân, để tìm hiểu xem những gì ẩn giấu “đằng sau khẩu hiệu
“tự do, bình đẳng, bác ái là gì?”. Liệu người dân ở đó có được tự do, bình đẳng
và hạnh phúc thực sự hay không?
Ngay từ năm 1921, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh không đồng tình với
ý kiến cho rằng, Đông Dương chưa thể tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin do giai
cấp vô sản ở Đông Dương chưa phát triển. Cùng với đó, Người đã tích cực tiếp
thu, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận cách mạng vô sản của V.I. Lê-nin
và kiên quyết đấu tranh cho tư tưởng này được hiện thực hóa trên thực tế.
Nguyễn Ái Quốc đề nghị: “Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả
các nước thuộc địa”. Từ những điều kiện lịch sử - xã hội của các nước phương
Đông, Người nhận thấy chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn có thể thâm nhập, tồn tại và
phát triển ở châu Á, thậm chí còn dễ dàng hơn so với châu Âu: “những lý do lịch
sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu”.
Trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 khai sinh
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn bản Tuyên
ngôn độc lập của Mỹ cũng như bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền của Pháp. Tuy nhiên, Người không chỉ dừng lại ở việc trích dẫn 2
bản tuyên ngôn đó, khẳng định quyền tự do của mỗi cá nhân như tinh thần của 2
bản tuyên ngôn này, mà còn khẳng định quyền độc lập, tự do và quyền bình đẳng
cho các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
HAIVAN
Giải pháp phòng chống diễn biến hòa bình trên các lĩnh vực
Phương pháp tư duy Hồ Chí Minh “Đề cao tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo”
Đây là nội dung bao trùm và điển hình nhất trong phương pháp tư
duy Hồ Chí Minh. Trong phương pháp tư duy của Người, độc lập đồng
nghĩa với không phụ thuộc, không bắt chước, không theo đuôi bất kỳ một lý luận
nào nếu không có sự đánh giá cẩn trọng, khoa học của chủ thể. Mặc dù con đường
nhận thức chân lý bao giờ cũng có sự kế thừa, nhưng là sự kế thừa biện chứng,
kế thừa và phát triển với tính độc lập của chủ thể nhận thức, không phải là sự
bắt chước, rập khuôn cách máy móc. Tự chủ có nghĩa là xuất
phát từ vị trí, vai trò của mình, chủ thể tự thân làm chủ mọi suy nghĩ, hành vi
của mình, làm chủ công việc của mình, tự thấy mình phải có trách nhiệm với tập
thể, với quốc gia, với dân tộc mình. Sáng tạo là sẵn sàng từ
bỏ những cái cũ, cái lạc hậu, cái không còn phù hợp đang cản trở sự phát triển;
đồng thời, tìm kiếm, học hỏi, đề xuất những cái mới có khả năng đáp ứng những
đòi hỏi của cuộc sống.
Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong phương pháp tư duy Hồ
Chí Minh hình thành từ sớm, bộc lộ càng rõ trong quá trình Người tìm đường cứu
nước. Đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lê-nin thì tinh
thần độc lập, tự chủ, sáng tạo càng được nâng cao, đã trở thành một phẩm chất
bền vững, được thể hiện trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.
Chính điều đó đã làm cho tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh khác biệt so với tư
duy của các nhà yêu nước tiền bối và đương thời, như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội
Châu, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường... về con đường cứu nước, mặc dù không
ai phủ nhận các ông đều mong muốn giành độc lập cho đất nước, tự do, hạnh phúc
cho nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần độc lập, tự chủ và sáng
tạo trong mọi hoạt động thực tiễn của mình. Người đã tư duy để đối chiếu, so
sánh, chắt lọc và tổng hợp những dữ liệu, những kinh nghiệm mà cuộc sống đã đem
lại, những tư tưởng của các thế hệ đi trước đã gợi mở, để từ đó đi đến những
nhận định mới, những kết luận mới và những tư tưởng mới. Phương pháp tư duy độc
lập, tự chủ, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở tính cách mạng
triệt để, tính biện chứng chặt chẽ và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Từ
đó, Người đã từng bước xác lập cả một hệ thống tư tưởng, luận điểm sáng tạo của
riêng mình.
HAIVAN
Nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn chú trọng việc kết
hợp chặt chẽ, hiệu quả học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán
bộ trong thực tiễn để nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán
bộ. Qua đó, Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ nước ta được nâng lên một
bước mới, cùng Đảng vững vàng lãnh đạo nhân dân ta vượt qua những khó khăn,
thách thức mới, quyết liệt chưa từng có, tận dụng những thời cơ và thuận lợi để
đưa sự nghiệp đổi mới đất nước giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa
lịch sử, mở ra thời kỳ phát triển mới của đất nước. Điều này đã được Đại hội
XIII của Đảng chỉ ra và khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi
mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước
được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý
nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi
mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật
chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có
được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Tuy nhiên, công cuộc đổi mới đất nước trong những thập niên tới sẽ
còn gặp những khó khăn, phức tạp, thách thức không nhỏ: “tình hình thế giới
tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo… Bốn nguy cơ mà
Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ
quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh
phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài
nguyên, xu hướng già hóa dân số; tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch,
các tổ chức phản động”. Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải đặc biệt coi trọng và
đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong đó, nâng cao Bản lĩnh
chính trị của đội ngũ cán bộ là vấn đề quan trọng hàng đầu.
Nâng cao Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu sự
nghiệp đổi mới đất nước trong thời kỳ phát triển mới được Đảng ta xác định là
một trong những nhiệm vụ trọng tâm; thể hiện trong các văn kiện quan trọng của
Đảng và sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt. Cụ thể là:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng,
chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” xác
định mục tiêu: “Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và
quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo,
quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng
lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của
tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân,
phục vụ nhân dân”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII “Về tập trung xây
dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và
uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, nhấn mạnh: “Xây dựng đồng bộ, toàn diện các đối
tượng cán bộ ở các cấp. Chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, tính chuyên
nghiệp, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức”.
Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục nâng cao lập trường, bản
lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên,
nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược”.
“Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, sự gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục
vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu
các cấp”. Đặc biệt, Đại hội XIII bổ sung và nhấn mạnh những đặc trưng cơ bản
rất quan trọng mà đội ngũ cán bộ cần có, đó là “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám
chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành
động vì lợi ích chung”. Những đặc trưng này, cũng là những đặc trưng rất cơ bản
Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ
trong giai đoạn hiện nay.
Những chủ trương, quan điểm và chỉ dẫn của Đảng là cơ sở và căn cứ
rất quan trọng để nâng cao nhận thức và xác định chủ trương, giải pháp đúng đắn
để nâng cao Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ
phát triển mới của đất nước. Trong đó, cần tập trung thực hiện những giải pháp
nhằm kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện,
thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán
bộ trong thời gian tới, cụ thể như sau:
Một là, nâng cao nhận thức sâu sắc, thống nhất và trách nhiệm của
các cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên về việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa
học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để
nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ, trước hết là những cán bộ của cơ quan,
đơn vị mình.
Hai là, tiếp tục cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ các cấp, các
ngành, cơ quan, đơn vị, trong đó coi trọng xác định rõ tiêu chuẩn cụ thể về Bản
lĩnh chính trị của chức danh cán bộ, làm cơ sở và định hướng cho việc đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ về mọi mặt, nhất là về lý luận chính trị và về rèn luyện, thử
thách cán bộ trong thực tiễn cũng như việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả các hoạt
động này.
Ba là, đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng dạy và học lý luận chính
trị; việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với việc rèn luyện, thử thách cán bộ
trong thực tiễn, tạo cơ sở cho việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả học tập lý luận
chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao Bản lĩnh
chính trị của cán bộ.
Bốn là, tiếp tục thực hiện quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Kết luận số
21-KL/TW, ngày 25-10-2021, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây
dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử
lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; đẩy mạnh học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó, cần coi trọng việc học tập và
làm theo tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư...
Năm là, cổ vũ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tự giác
học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, tự rèn luyện trong thực tiễn;
từng cán bộ thực hiện kết hợp việc tự học tập lý luận chính trị với việc tự rèn
luyện trong thực tiễn đạt kết quả để nâng cao Bản lĩnh chính trị.
Sáu là, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính
trị và sự tham gia của nhân dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với
việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện,
thử thách cán bộ trong thực tiễn để góp phần nâng cao Bản lĩnh chính trị của
đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới.
Vai trò của rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn đối với việc nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ
Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ chỉ có thể được hình thành
và từng bước nâng cao thông qua rèn luyện, thử thách bền bỉ, thường xuyên và
lâu dài trong thực tiễn, qua những thử thách cam go khi đứng trước những vấn đề
gay cấn, phức tạp nảy sinh trong thực tiễn hoạt động của cán bộ. Trong hoạt
động thực tiễn, cán bộ phải biết vận dụng sáng tạo những kiến thức lý luận đã
học vào thực tiễn, giải quyết đúng đắn những vấn đề nảy sinh, hoàn thành tốt
chức trách, nhiệm vụ được giao. Thực tiễn là “trường học” tốt nhất để củng cố,
phát triển và nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ. Thực tế cho thấy, sự rèn
luyện, thử thách trong thực tiễn, sự đối mặt với những khó khăn, thách thức,
quyết liệt đương đầu với kẻ thù tàn bạo, thâm độc, xảo quyệt đã tôi luyện, nâng
cao khả năng, ý chí kiên định, sự linh hoạt, sáng suốt của Đảng và của đội ngũ
cán bộ trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập, tự do để kịp thời đề ra các chủ
trương, giải pháp đúng đắn đưa cách mạng đến thắng lợi.
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, đội ngũ cán bộ tuy không phải trực
tiếp đối mặt với kẻ thù tàn bạo, phản động, tội phạm (trừ cán bộ là lực lượng
vũ trang); song, họ lại phải đối mặt với những tác động, thử thách không hề
nhỏ. Đó là những cám dỗ của tiền tài, vật chất, tác động từ mặt trái của nền
kinh tế thị trường, quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế; sự cám dỗ của địa vị,
quyền lực; sự lôi kéo, mua chuộc của các thế lực thù địch, phản động với âm
mưu, thủ đoạn rất thâm độc, xảo quyệt hòng làm cho người cán bộ suy giảm hoặc
đánh mất Bản lĩnh chính trị, gây thiệt hại cho Đảng và sự nghiệp xây dựng, bảo
vệ Tổ quốc.
Những thử thách nêu trên đối với cán bộ không kém phần gay gắt,
nghiệt ngã so với những thử thách trong chiến đấu chống quân thù giành độc lập
dân tộc. Vì thế, rèn luyện trong thực tiễn và nỗ lực vượt qua được những thách
thức hiện nay có vai trò rất to lớn trong việc củng cố, phát triển và nâng cao Bản
lĩnh chính trị của cán bộ.
HAIVAN
Tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện cán bộ đến bài học có giá trị lớn trong công tác cán bộ của Đảng ta
Bản lĩnh chính trị của người cán bộ là một nội dung rất quan trọng
trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Theo Người, đạo đức cách mạng
của người cán bộ được thể hiện ở những phẩm chất, như trung với nước, hiếu với
dân; thương yêu con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc
tế trong sáng... đây cũng là những biểu hiện của Bản lĩnh chính trị của người
cán bộ, trong đó sự liêm chính là biểu hiện rõ nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “LIÊM là
không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người
tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một
thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. Quang minh chính đại trong khái niệm
“LIÊM” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những đặc trưng của Bản lĩnh chính
trị của người cán bộ. Người chỉ rõ: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa
là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà”. Đây là
một đặc trưng cơ bản của Bản lĩnh chính trị của cán bộ, là sự chính trực của
cán bộ và trên thực tế, người cán bộ chính trực thường được gọi là cán bộ có Bản
lĩnh chính trị.
Cán bộ và công tác cán bộ là những vấn đề nhận được sự quan tâm
đặc biệt, xuyên suốt trong tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
công tác xây dựng Đảng. Đặc biệt, huấn luyện cán bộ là một nội dung rất quan
trọng, thể hiện trong các luận điểm nổi tiếng của Người: “cán bộ là cái gốc của
mọi công việc”; “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”;
“huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”.
Huấn luyện cán bộ gồm nhiều nội dung, trong đó huấn luyện lý luận
chính trị có vai trò quan trọng hàng đầu. Mọi cán bộ đều phải được huấn luyện
lý luận chính trị. Huấn luyện cán bộ gồm huấn luyện ở nhà trường qua các lớp
đào tạo cơ bản, các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm công tác;
qua sinh hoạt đảng, đoàn thể; sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, sự kèm cặp của
cán bộ chủ chốt ở cơ quan, đơn vị trong quá trình làm việc; qua thực tiễn công
tác và việc tự học tập của cán bộ... Như vậy, học tập lý luận chính trị phải
được kết hợp chặt chẽ với hoạt động thực tiễn của cán bộ thì mới đem lại hiệu
quả, thiết thực.
Khi được trang bị tri thức lý luận chính trị và vận dụng vào trong
công việc thực tế, cán bộ sẽ vững vàng, tự tin xử lý có kết quả những vấn đề
nảy sinh, vượt qua những khó khăn, thách thức, kể cả những khó khăn lớn, thách
thức quyết liệt, gay cấn để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; qua
đó, họ từng bước trưởng thành. Đây là sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa việc
học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, tạo nên sự
trưởng thành của cán bộ, trong đó có sự trưởng thành về Bản lĩnh chính trị và
được nâng cao qua từng thời kỳ cách mạng. Sự trưởng thành của cán bộ nhờ rèn
luyện, thử thách trong thực tiễn sau khi học tập lý luận chính trị được Chủ
tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lúc học rồi, họ có thể tự mình tìm ra phương hướng
chính trị có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và
lãnh đạo. Thế là lý luận thiết thực, có ích”. Như vậy, sự kết hợp
chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách
trong thực tiễn sẽ đem lại hiệu quả về nhiều mặt đối với cán bộ, mà điều quan
trọng hàng đầu chính là góp phần nâng cao Bản lĩnh chính trị của đội ngũ này.
Cách mạng luôn luôn vận động, phát triển không ngừng và ngày càng
đặt ra yêu cầu cao hơn đòi hỏi Đảng, từng cán bộ phải không ngừng nâng cao BLCT
để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng. Vì thế, trong suốt quá
trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu việc giáo
dục, rèn luyện, giữ vững và nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ; nhờ đó,
chất lượng đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, góp phần đưa cách mạng nước
ta vượt qua những khó khăn, thách thức lớn, nhất là khi cách mạng chuyển sang
giai đoạn mới với nhiệm vụ mới mẻ, phức tạp, nặng nề hơn trước, để đi từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác.
Nhận thức sâu sắc vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ
đối với thắng lợi của cách mạng, trước khi Đảng ta ra đời, lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc đã chỉ đạo chọn những thanh niên ưu tú, “những hạt giống đỏ” đưa đi học
tập lý luận chính trị ở Quảng Châu, Trung Quốc tại những lớp do Người trực tiếp
biên soạn bài giảng và giảng dạy. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã truyền đạt những
nội dung lý luận rất sâu sắc, thiết thực, với cách giảng dạy rất khoa học cho
học viên; trong đó, Người rất coi trọng việc gắn chặt lý luận với thực tiễn
cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước trên thế giới và
với thực tiễn cách mạng nước ta. Nhờ đó, việc học tập lý luận chính trị đã
nhanh chóng đem lại hiệu quả, có tác dụng rất to lớn, thiết thực đối với lớp
cán bộ tiền bối của Đảng.
Nhờ kết hợp chặt chẽ việc học tập lý luận chính trị với rèn luyện,
thử thách trước những cam go, thách thức quyết liệt của cách mạng nước ta trong
thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ,
đảng viên của Đảng khi đó được nâng cao, đáp ứng tốt yêu cầu của cách mạng. Mặc
dù gặp nhiều khó khăn, gian khổ và phải đối mặt với sự ác liệt của cuộc đấu
tranh giành chính quyền, song Đảng ta luôn tìm ra các giải pháp phù hợp, hiệu
quả để huấn luyện, trang bị lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên;
đồng thời, coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả việc học
tập lý luận chính trị với tăng cường rèn luyện, thử thách đội ngũ cán bộ, đảng
viên trong thực tiễn để nâng cao chất lượng về mọi mặt, trong đó có Bản lĩnh
chính trị của họ. Những hoạt động này, cùng với sự nêu gương, sự dẫn dắt, lan
tỏa của những cán bộ tiền bối, Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ ngày càng
được nâng cao. Với Bản lĩnh chính trị vững vàng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của
Đảng khi đó (chỉ khoảng 5.000 đảng viên) đã cùng toàn thể dân tộc giành thắng
lợi to lớn trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nhà nước công nông đầu
tiên ở Đông Nam Á, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, nhân dân Việt Nam từ kiếp
nô lệ thành người làm chủ đất nước.
Đội ngũ cán bộ tiếp tục được Đảng huấn luyện về mọi mặt, coi trọng
huấn luyện lý luận chính trị kết hợp chặt chẽ với rèn luyện, thử thách cán bộ
trong thực tiễn, đã đem lại hiệu quả thiết thực; nhờ đó, BLCT của cán bộ luôn
được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các thời kỳ cách mạng tiếp theo.
Đây là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi to lớn trong các cuộc chiến
tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai và trong khắc
phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc
sau khi thống nhất đất nước.
HAIVAN
Bản lĩnh chính trị và nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ
“Bản lĩnh” thường được hiểu là khả năng và ý chí kiên định trước
mọi hoàn cảnh. Bản lĩnh chính trị của cán bộ là khả năng và ý chí kiên định,
vững vàng về lý tưởng, mục tiêu của Đảng, nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn
vị, đặc biệt là trước những tình thế khó khăn, phức tạp thì cán bộ luôn bình
tĩnh, sáng suốt cùng cấp ủy và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xác định được
chủ trương, giải pháp đúng đắn để vượt qua tình thế đó, thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối
và từng bước hiện thực hóa lý tưởng, mục tiêu của Đảng.
Bản lĩnh chính trị là một bộ phận đặc biệt quan trọng của phẩm
chất chính trị của cán bộ; cùng với trình độ trí tuệ và phẩm chất đạo đức, lối
sống tạo nên chất lượng của đội ngũ cán bộ; bảo đảm cho đội ngũ cán bộ có khả
năng vượt qua những khó khăn, thách thức, quyết tâm hoàn thành tốt chức trách,
nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng.
Bản lĩnh chính trị của cán bộ được tạo nên bởi các yếu tố chủ yếu,
như tri thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tri thức về các khoa học
cần thiết khác; sự giáo dục, rèn luyện của các cấp ủy, tổ chức đảng; sự tham
gia của các tổ chức trong hệ thống chính trị (HTCT) và nhân dân vào việc giáo
dục, rèn luyện Bản lĩnh chính trị của cán bộ; tình yêu thương, gắn bó và trách
nhiệm đối với nhân dân; sự tu dưỡng, rèn luyện, thử thách trong thực tiễn của
cán bộ.
Nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ là toàn bộ hoạt động của
các cấp ủy, tổ chức và từng cán bộ nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò của các yếu tố
tạo nên Bản lĩnh chính trị với sự tham gia của các tổ chức trong HTCT các cấp
và nhân dân, để làm cho Bản lĩnh chính trị của cán bộ được nâng lên, đáp ứng
yêu cầu chức trách, nhiệm vụ được
giao.
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận
chính trị của Đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh lật
đổ các thế lực áp bức, bóc lột, giành chính quyền, xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc. Đường lối của Đảng cũng được coi là bộ phận lý luận chính trị
quan trọng, bởi vì phần lớn nội dung trong đường lối của Đảng nhằm giải quyết
những mục tiêu chính trị dưới dạng khái quát, cô đọng nhất ở mỗi giai đoạn cách
mạng. Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng
có quan hệ mật thiết và chi phối các yếu tố khác (những yếu tố tạo nên Bản lĩnh
chính trị của cán bộ) - là cơ sở, yếu tố quan trọng hàng đầu hình thành, phát
triển và nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ. Điều này đã được Chủ tịch Hồ
Chí Minh luận giải và khẳng định rõ trong các bài viết, bài nói của mình.
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, khi luận bàn về nhân
tố quyết định thắng lợi của cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt câu hỏi: Cách
mệnh trước hết phải có cái gì? Và Người khẳng định: “Trước hết phải có đảng
cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với
dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”. Đồng thời, Người chỉ rõ, đảng
cách mệnh phải vững vàng, kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường cách mạng
đã lựa chọn, xác định đúng đắn đường lối và đề ra các giải pháp lãnh đạo thực
hiện hiệu quả nhằm đưa cách mạng đến thắng lợi. Đặc biệt, trong những lúc cách
mạng gặp hiểm nguy, đảng cách mạng phải bình tĩnh, sáng suốt, kịp thời đề xuất
và thực hiện các giải pháp đúng đắn ấy để đưa cách mạng vượt qua khó khăn,
“thác ghềnh”, phong ba, bão táp, đi đến thắng lợi. Tức là, Đảng phải có Bản
lĩnh chính trị vững vàng, như Người từng khẳng định: “Đảng có vững cách mệnh
mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc cũng chỉ ra và khẳng định yếu tố đặc biệt quan trọng, mang tính cốt lõi
tạo nên sự bình tĩnh, sáng suốt của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng và
của đội ngũ cán bộ trong thực hiện nhiệm vụ được giao - yếu tố tạo nên Bản lĩnh
chính trị của Đảng và của đội ngũ cán bộ - chính là chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Người viết: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng
phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như
người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều,
chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh
nhất là chủ nghĩa Lênin”.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí
Minh tiếp tục luận giải: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho
chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt
mà đi”. Phần lớn hoạt động phát triển và nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ
là thông qua hoạt động thực tế của các cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong
HTCT và của từng cán bộ. Các hoạt động này chỉ có thể đem lại hiệu quả, phát
huy mạnh mẽ vai trò nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ khi được lý luận soi
sáng, dẫn đường. Không được lý luận soi sáng, dẫn đường thì những hoạt động
nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ sẽ mất phương hướng chính trị, gây hậu
quả không tốt cho sự phát triển của từng cán bộ và cả sự nghiệp cách
mạng.
Tri thức của cán bộ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối của Đảng chỉ có thể được hình thành thông qua việc học tập
nghiêm túc của cán bộ ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng, Nhà nước,
đặc biệt là trong hệ thống trường đảng. Điều này phụ thuộc rất lớn vào chất
lượng dạy và học, gồm chất lượng nội dung, chương trình phù hợp với từng đối
tượng cán bộ; chất lượng đội ngũ giảng viên; hình thức, phương pháp dạy và học;
việc quản lý dạy và học; môi trường học tập ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ; tinh thần, thái độ của người học. Tri thức của cán bộ về chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng còn có được thông qua sinh
hoạt đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động thực tiễn và việc tự giác
thường xuyên tự học tập suốt đời của cán bộ.
HAIVAN
NHẬN THỨC RÕ RÀNG VỀ ÂM MƯU "DBHB" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY
Trong những năm gần đây, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa kinh tế thế giới và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là tin học đang phát triển mạnh mẽ cùng với những khó khăn, thách thức nảy sinh do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu và những diễn biến phức tạp mới trong tranh chấp chủ quyền Biển Đông, các thế lực thù địch ngày càng ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta. Những phần tử cơ hội chính trị ở trong nước hùa theo những luận điểm sai trái của địch, ra sức công kích Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu của chúng nhằm:
Một là, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin để thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản trong các nước xã hội chủ nghĩa. Các nhà lý luận của chiến lược "diễn biến hòa bình" cho rằng, tư tưởng là lĩnh vực có tầm quan trọng hàng đầu, vì vậy, mục tiêu phải đạt tới là tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương và coi đó là khâu đột phá của chiến lược "diễn biến hòa bình".
Hai là, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong các nước xã hội chủ nghĩa. Luận điệu được sử dụng thường xuyên là đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo là "độc tài", là "bóp nghẹt dân chủ", vì thế phải thay thế bằng chế độ chính trị đa đảng! Từ đó, tìm mọi cách nhen nhóm các lực lượng phản động chống đối, cơ hội chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa.
Ba là, gây mất ổn định về chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn thường xuyên được sử dụng là lợi dụng, kích động những vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", "dân tộc", "tôn giáo" để gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ lôi kéo một bộ phận quần chúng vào các cuộc bạo loạn chính trị.
Bốn là, làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế.
Năm là, chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị phương Tây, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực và tha hóa con người, dẫn tới biến chất cả một xã hội.
Sáu là, "phi chính trị hóa" để vô hiệu hóa quân đội và công an.
Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận rõ bản chất, mục đích phá hoại của các thế lực thù địch. Quán triệt sâu sắc các quan điểm, giải pháp của Đảng, Nhà nước nhằm chống lại âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.
ỨNG XỬ VỚI “RÁC” THÔNG TIN
Chính sự suy thoái, suy đồi về đạo đức khiến luận điệu của những đối tượng phản động lưu vong chỉ là một thứ “rác” thông tin trên không gian mạng. Nó làm vấy bẩn môi trường truyền thông văn hóa, tiến bộ. Nói như vậy là bởi, hầu hết những đối tượng phản động lưu vong đều có lai lịch chẳng hay ho gì. Chẳng hạn, Đường Văn Thái, từng có thời gian lao động hợp đồng tại Phòng Quản lý đất đai và Giải phóng mặt bằng thuộc UBND huyện Đông Anh, TP Hà Nội. Dù đã qua đào tạo, có kiến thức chuyên môn nhưng do ý thức rèn luyện, phẩm chất đạo đức kém nên Thái không được tuyển dụng. Tính tự cao, tự đại, tự huyễn hoặc bản thân khiến Thái bất mãn, đưa chân vào con đường chống đối chính quyền Nhà nước. Được các thế lực thù địch lôi kéo, Thái ngày càng lún sâu vào vũng bùn đen tối. Năm 2019, Thái trốn ra nước ngoài, trở thành con rối lưu vong. Cuộc sống khó khăn khiến Đường Văn Thái bất chấp đạo lý, tận dụng mớ kiến thức lỗ mỗ, lên MXH kiếm ăn bằng những trò lố.
Bên cạnh những đối tượng được cho là “có học” thì Trương Quốc Huy chỉ là một tên côn đồ, trình độ văn hóa lớp 7, từng có tiền án tiền sự, đang sống lưu vong tại Mỹ. Dù trình độ ở mức “viết câu văn chưa sạch nước cản” nhưng được tổ chức khủng bố Việt Tân dung nạp, Trương Quốc Huy lập tài khoản N10TV, liên tục thực hiện các video, khua môi múa mép xuyên tạc tình hình đất nước với thái độ lố bịch. Với những trò vô văn hóa đó, Trương Quốc Huy bị ngay kiều bào yêu nước tại Mỹ gọi là “kẻ tâm thần chính trị”. Thực tế là ở nước ngoài hiện nay tồn tại khá nhiều đối tượng đã và đang bị các thế lực thù địch biến thành con rối kiểu như Trương Quốc Huy, Nguyễn Văn Đài... Với tinh thần lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, công chúng yêu nước cần tỉnh táo nhận diện thật-giả, trắng-đen... trên không gian mạng để có thái độ ứng xử đúng mực, đúng đắn. Không ở đâu có thể tốt bằng chính nhà mình, Tổ quốc mình! Không một thế lực phản động nào có thể làm lung lay ý chí của một dân tộc kiên cường như dân tộc Việt Nam! Không luận điệu nào, dù xảo biện, xảo quyệt đến đâu có thể làm đảo lộn chân lý cách mạng và thực tiễn phát triển của đất nước ta hiện nay!
Không gian mạng như một khu vườn mênh mông. Hoa thơm trái ngọt,
mình góp sức chăm bẵm để cùng hưởng thụ! Cỏ dại, rác rưởi thì dứt khoát phải
nhổ bỏ, dọn sạch.
