Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022

XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ: “DỰA VÀO DÂN ĐỂ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ RÈN LUYỆN ĐẢNG VIÊN

 

Dựa vào dân để xây dựng và chỉnh đốn Đảng là kinh nghiệm quý báu của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tạo điều kiện cho nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tại Hội nghị Trung ương 5 khoá XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định công tác lãnh đạo, chỉ đạo củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là công việc có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trên tinh thần đó, Trung ương đã thảo luận về Đề án “Về xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên” và thống nhất ban hành Nghị quyết nhằm tạo bước chuyển biến, đổi mới mạnh mẽ, thực chất, hiệu quả, nâng cao hơn nữa chất lượng, sức mạnh và tính chiến đấu của Đảng.
Một trong nhiều nội dung, yêu cầu đặt ra, tại phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 5, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: Phát huy thật tốt dân chủ trong Đảng và trong xã hội; tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và rèn luyện đảng viên.
Theo PGS-TS Lê Văn Lợi (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), dựa vào dân để xây dựng và chỉnh đốn Đảng là kinh nghiệm quý báu của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Để thực hiện tốt và hiệu quả chủ trương dựa vào dân để xây dựng Đảng, ông cho rằng, trước tiên phải thực hiện dân chủ rộng rãi, trước hết là dân chủ trong Đảng. Phát huy dân chủ được coi là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nhân dân có thể tham gia hiệu quả trong việc xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, cũng là cơ sở quan trọng để Đảng có thể dựa vào dân thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân cần chú trọng thực hiện một cách nền nếp, thực chất, tránh hình thức. Dân chủ phải được thực hành rộng rãi, từ dân chủ trong Đảng đến dân chủ trong toàn xã hội, dân chủ ở các cấp, các địa phương đến các lĩnh vực của đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Cùng với đó, cần xây dựng cơ chế phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để nhân dân thuận lợi tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì việc tạo điều kiện cần thiết để nhân dân có thể tiếp cận với các thông tin chính thống từ phía các cơ quan của Đảng, Nhà nước là điều hết sức cần thiết.
Cũng theo PGS-TS Lê Văn Lợi, trong việc dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và rèn luyện đảng viên cũng cần phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội phải thực sự gần dân, sát dân, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chăm lo, bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia đóng góp, xây dựng phát triển đất nước.
Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị. PGS-TS Nguyễn Viết Thông - nguyên Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương - phân tích, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng toàn diện về mọi mặt, cả về tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Trong đó, nội dung phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng được Đại hội XIII đặc biệt nhấn mạnh, làm rõ, toàn diện hơn và là sự tổng kết từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng thời gian qua.
Đại hội XIII đặt ra nhiệm vụ phải tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận; tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, cơ quan quản lý nhà nước và cả hệ thống chính trị; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới.
Về yêu cầu của cán bộ trong quan hệ đối với nhân dân và trách nhiệm thực hiện quy chế công tác dân vận, Đại hội XIII xác định giải pháp tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”; thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”; tăng cường phối hợp, thực hiện quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị; hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan, tổ chức với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp.
Theo PGS-TS Nguyễn Viết Thông, phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng là một nội dung trong những nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng. Đại hội XIII xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có ba nhiệm vụ trọng tâm đề cập đến phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.
Theo đó, nhiệm vụ trọng tâm thứ nhất nhấn mạnh: “Củng cố niềm tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”. “Nhận thức đầy đủ, sâu sắc và thực hiện nghiêm túc việc phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, chắc chắn sẽ góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện” - PGS-TS Nguyễn Viết Thông nhấn mạnh./.
NTH-H4
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết '"TÌNH TRẠNG "TRÊN NÓNG DƯỚI LẠNH", TRÊN BẢO DƯỚI KHÔNG NGHE, KỲ CƯƠNG PHÉP NƯỚC BI BUÔNG LỎNG CÒN DIỄN RA ở NHIỀU ΝƠΙ " 一 TÓNG BÍ THƯ- THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG'
Thích
Bình luận
Chia sẻ

DIỆT MÁY BAY ĐỊCH BẰNG PHƯƠNG PHÁP "3 ĐIỂM"


Cách đây 50 năm, kíp chiến đấu Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261, Sư đoàn 361 (Quân chủng Phòng Không-Không quân) đã bắn rơi chiếc máy bay F-4 trên bầu trời Hà Nội.
Đây là chiếc máy bay thứ 3.700 của không quân Mỹ bị ta bắn rơi ở miền Bắc trong cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Có được chiến thắng này là nhờ sự dày công luyện tập của cán bộ, chiến sĩ, đồng thời mở phương pháp đánh mới "3 điểm có quang học chỉ chuẩn" (kết hợp bám sát của trắc thủ xe điều khiển với chỉ chuẩn của các trắc thủ quang học).
Ngày 16-4-1972, Mỹ sử dụng không quân đánh phá ác liệt miền Bắc, trong đó Hà Nội, Hải Phòng là những mục tiêu trọng điểm. Lực lượng phòng không của ta đã nêu cao cảnh giác, kịp thời đánh trả các đợt tập kích của địch, bảo vệ các mục tiêu được giao. Tuy nhiên, sau hơn 3 năm ngừng hoạt động, không quân Mỹ đã có những đổi mới về trang thiết bị gây nhiễu, vũ khí không đối đất và các thủ đoạn đánh phá, gây nhiều khó khăn cho lực lượng tên lửa phòng không của ta. Thực tế là sau hơn hai tháng chiến đấu, các đơn vị tên lửa bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng đánh nhiều trận nhưng chưa bắn rơi tại chỗ máy bay Mỹ. Tiểu đoàn 57 cũng đã đánh 4 trận nhưng kết quả chưa cao, đơn vị hoài nghi trình độ kíp chiến đấu, cấp trên thì đốc thúc, nhắc nhở phải tìm mọi biện pháp để tiêu diệt máy bay địch.
"Bắn rơi máy bay Mỹ tại chỗ, bắt sống giặc lái" trở thành tư tưởng chỉ đạo, hành động của các kíp chiến đấu lúc bấy giờ. Hằng ngày, đơn vị miệt mài luyện tập, nhận thông tin mới nhất về địch để các trắc thủ chủ động hiệp đồng, có biện pháp xử lý phù hợp. Một vấn đề nổi cộm lúc đó là cấp trên yêu cầu các đơn vị phải tập trung phát hiện tín hiệu máy bay địch trên nền nhiễu tạp để đánh bằng phương pháp "đón nửa góc"-phương pháp điều khiển có xác suất diệt máy bay cao nhất của tên lửa SAM-2 lúc bấy giờ. Tuy nhiên, thực tế ở Tiểu đoàn 57 không thực hiện được vì bộ khí tài đã cũ nên khả năng phát hiện mục tiêu trên nền nhiễu tạp rất khó khăn. Qua các trận đánh, kíp chiến đấu chỉ phát hiện được mục tiêu ở cự ly rất gần và không đủ điều kiện bắn.
Dân chủ bàn bạc, tham khảo các thông tin về địch, tranh thủ sự giúp đỡ của cơ quan cấp trên, kết hợp quan sát thực tế trên màn hiện sóng và kính ngắm quang học, việc bám sát chia đôi dải nhiễu như trước đây không còn phù hợp và sẽ khó tiêu diệt được lũ "giặc trời". Trắc thủ hai góc phải bám sát dải nhiễu để đưa máy bay địch vào đúng tâm cánh sóng thì mới có thể bắn trúng mục tiêu. Phương án sử dụng trắc thủ quang học để chỉ chuẩn cho các trắc thủ tay quay xe điều khiển bám sát được thử nghiệm. Một trong những cải tiến đó là lắp thêm kính ngắm quang học PA-00 trên nóc ăng ten phương vị xe thu phát. Thiết bị này được thiết kế để khi hai trắc thủ quang học bám sát chính xác vào một máy bay thì trắc thủ góc tà và trắc thủ phương vị cũng bám sát ở trên màn hiện sóng có dải nhiễu tạp, với yêu cầu trục quang và trục điện của khí tài phải trùng nhau.
Kíp chiến đấu gồm sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên, trắc thủ góc tà Đỗ Văn Khay, trắc thủ cự ly Mè Văn Thi, trắc thủ phương vị Nguyễn Xuân Đài và hai trắc thủ quang học Đoàn Văn Xúc, Nguyễn Đình Thanh đã ngày đêm luyện tập, hiệp đồng chặt chẽ, phối hợp động tác, bám sát dải nhiễu vào đúng một chiếc trong tốp máy bay địch. Vấn đề quyết định cho việc đánh thắng mục tiêu gây nhiễu tạp là các trắc thủ quang học phải chỉ chuẩn cho trắc thủ góc tà của xe điều khiển vị trí đặt điểm ngắm trên nền dải nhiễu trùng với vị trí máy bay địch trong không gian. Ngoài ra, phải phối hợp với đài radar P-12 của tiểu đoàn xác định chính xác cự ly mục tiêu để chọn cự ly phóng đạn phù hợp.
Sau hơn hai tháng nghiên cứu, luyện tập, thực hành trên khí tài, 9 giờ ngày 27-6-1972, vận dụng phương pháp "3 điểm có quang học chỉ chuẩn", Tiểu đoàn 57 đã bắn rơi tại chỗ một máy bay F-4 trên bầu trời Hà Nội. Xác máy bay rơi xuống huyện Thanh Trì, 1 giặc lái tử trận, 1 tên nhảy dù xuống và bị bắt sống. Chiến thắng này tạo niềm tin cho đơn vị về phương pháp mới đánh trả lũ "giặc trời".
Được tin Tiểu đoàn 57 bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay thứ 3.700 của Mỹ trên bầu trời Hà Nội, đồng chí Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội đã ra tận trận địa chúc mừng cán bộ, chiến sĩ. Đại sứ quán Cuba ở Hà Nội cũng gửi lẵng hoa chúc mừng chiến công của đơn vị. Liên tục trong tháng 7-1972, bằng cách đánh trên, Tiểu đoàn 57 đã bắn rơi thêm 3 chiếc máy bay F-4 của địch. Đặc biệt, cuối năm 1972, Tiểu đoàn 57 đã lập công xuất sắc khi bắn rơi 4 máy bay B-52 của Mỹ trên bầu trời Hà Nội, góp công lớn vào Chiến thắng "Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không".
Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân NGUYỄN ĐÌNH KIÊN
Kíp chiến đấu Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 257, năm 1972 (tác giả bài viết ngoài cùng, bên phải). Ảnh tư liệu
Nguồn: qdnd.vn
Có thể là hình ảnh về 1 người
2

Nhận thức mới, tư duy mới về vấn đề dân tộc của Đảng

Vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Có thể khẳng định, chính sách dân tộc của Đảng ta luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong suốt hơn 90 năm qua theo nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ trên tinh thần tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, hướng tới mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tìm hiểu chính sách dân tộc của Việt Nam trong hơn 90 năm qua, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, có thể thấy một số nội dung cơ bản sau:

    Thứ nhất, giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong tất cả các văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới đều xác định, vấn đề dân tộc “có vị trí chiến lược lớn’’, “luôn luôn có vị trí chiến lược’’, “có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta"... Việc xác định vị trí chiến lược lâu dài của công tác dân tộc chính là xuất phát từ đặc điểm của cộng đồng dân tộc ở nước ta. Bởi vì, vấn đề dân tộc vừa là vấn đề giai cấp, vừa là vấn đề quốc phòng - an ninh và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trong điều kiện của một quốc gia đa tộc người, đa dạng về văn hóa như ở Việt Nam. Đó là một đặc điểm lớn, là đặc trưng, diện mạo lịch sử, văn hóa của Việt Nam. Nếu các văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ II đến lần thứ V đều nhấn mạnh nguyên tắc “Đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc’’, thì từ lần thứ VI đến lần thứ XI, nguyên tắc này tiếp tục được khẳng định và bổ sung là: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau’’ (Đại hội VI, VII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’’ (Đại hội VIII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển’’ (Đại hội IX), “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ’’ (Đại hội X), “Bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” (Đại hội XI), “Bình đẳng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát  triển” (Đại hội XII). Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định vị trí chiến lược của chính sách đoàn kết các dân tộc trên cơ sở “bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”.

Đảng ta luôn quan tâm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là nhân tố quan trọng, có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Chính sách dân tộc của chúng ta là nhằm thực hiện sự bình đẳng, giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội”(1). Chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta không chỉ hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, mà còn phát huy các giá trị truyền thống quý báu của từng dân tộc, của mỗi thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, tạo thành sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Đó là cơ sở để thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách dân tộc của Đảng, là động lực mạnh mẽ của tiến trình phát triển đất nước hiện nay.

    Thứ hai, bình đẳng giữa các dân tộc là quyền ngang nhau của các dân tộc, không phân biệt dân tộc đó là đa số hay thiểu số, trình độ văn hóa, dân trí cao hay thấp, là bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và được bảo đảm bằng pháp luật. Theo đó, bình đẳng giữa các dân tộc thể hiện trước hết ở sự bảo đảm và tạo mọi điều kiện để các dân tộc có cơ hội phát triển ngang nhau. Điều này được Đảng ta khẳng định nhất quán trong các văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới. Do đó, Đảng và Nhà nước ban hành nhiều đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội chung cho cả nước, đồng thời cũng ban hành những đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội đặc thù cho các dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số.

Theo quan điểm của Đảng, thực hiện chính sách bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để bảo đảm công bằng xã hội giữa các dân tộc. Thực hiện chính sách bình đẳng giữa các dân tộc phải trải qua một quá trình lâu dài, còn thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc có thể đạt được trong một thời gian nhất định, bởi tiêu chí công bằng xã hội luôn gắn với từng giai đoạn lịch sử. Công bằng xã hội không có nghĩa là cào bằng, dàn đều, mà thể hiện ở khâu phân phối tư liệu sản xuất và phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người, mọi cộng đồng, dân tộc có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực, tiềm năng, thế mạnh của mình.

    Thứ ba, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc là quan điểm xuyên suốt của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Đại hội VI của Đảng khẳng định: “Trong việc phát triển kinh tế, xã hội ở những nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể”(2). Với góc nhìn và tư duy mới, vấn đề dân tộc được đặt trong xây dựng quan hệ giữa các dân tộc và con đường phát triển của các dân tộc; chính sách dân tộc được gắn với đường lối chính trị, với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước, với các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm cũng như hằng năm. Để xây dựng quan hệ dân tộc theo những mục tiêu trên, đòi hỏi phải thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vì vậy, Đảng ta chủ trương: “Đầu tư thêm và tập trung sự cố gắng của các ngành, các cấp, kết hợp với động viên tinh thần tự lực, tự cường của nhân dân các dân tộc để khai thác, bảo vệ và phát triển thế mạnh về kinh tế ở các vùng có đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú. Đẩy mạnh công tác định canh, định cư, ổn định sản xuất và đời sống của đồng bào, trước hết ở các vùng cao, biên giới, các vùng căn cứ cũ của cách mạng và kháng chiến”(3). Điều này thể hiện rõ mục tiêu trong chính sách dân tộc của Đảng ta là không ngừng nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị của từng dân tộc; làm cho mỗi dân tộc được phát triển một cách toàn diện và bền vững; đồng thời, qua đó, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết giữa các dân tộc.

    Thứ tư, chú trọng tính đặc thù của từng vùng, từng dân tộc. Tại Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng ta quan tâm cụ thể hơn vấn đề dân tộc, nhấn mạnh, sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải gắn với đặc điểm riêng của từng dân tộc và điều kiện, đặc điểm của từng vùng: “Có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm của từng vùng, từng dân tộc, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc thiểu số khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.”(4). Cũng tại Đại hội VII, xuất phát từ tình hình thực tế của đồng bào người Hoa và đồng bào người Khmer, Đảng ta đã có quan điểm cụ thể về vấn đề này: “Bảo đảm cho người Hoa quyền và nghĩa vụ công dân, tôn trọng văn hoá, chữ viết, tạo điều kiện để bà con người Hoa yên tâm làm ăn, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam và vun đắp quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt - Trung. Tôn trọng văn hoá, tôn giáo của đồng bào dân tộc Khmer, có chính sách giúp đỡ bà con người Khmer về đời sống, nhất là ở những vùng đồng bào có nhiều khó khăn”(5).

Tại Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định nhất quán về chính sách dân tộc, đồng thời chỉ ra phương hướng, mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cụ thể hóa chủ trương này của Đại hội, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 đề ra quan điểm phát triển kinh tế - xã hội cũng như phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải căn cứ điều kiện và đặc điểm của từng vùng.

Nhằm cụ thể hóa chính sách dân tộc của Đại hội IX, tại Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12-3-2003, “Về công tác dân tộc”. Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng ta về công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trên cơ sở đánh giá toàn diện về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và xuất phát từ yêu cầu của tình hình mới, Nghị quyết khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam”. Đây là luận điểm rất quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy đổi mới của Đảng trong bối cảnh, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều chuyển biến, thay đổi.

Từ thực tế vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở nước ta, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển”(6). Đại hội XIII, trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế trong thực hiện chính sách về dân tộc, Đảng ta đề ra chủ trương: “Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững”(7). Việc áp dụng các chính sách cụ thể cho từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một bước tiến quan trọng, thể hiện sự đổi mới trong nhận thức của Đảng về sự công bằng trong phát triển giữa các dân tộc và các vùng, miền nói chung. Từ các tiêu chí phân chia vùng, miền (khu vực bước đầu phát triển, khu vực ổn định và khu vực khó khăn), Nhà nước đã có những chính sách đầu tư thích hợp cho mỗi nhóm đối tượng, theo đó, những khu vực khó khăn hơn sẽ nhận được những ưu đãi đặc biệt về quy mô đầu tư, để giúp cho những khu vực này nhanh chóng theo kịp trình độ phát triển chung của cả nước.

PHAO

LÀO ĐƯA TÁC PHẨM HỒ CHÍ MINH TOÀN TẬP VÀO CÔNG TÁC GIẢNG DẠY


Theo phóng viên TTXVN tại Vientiane, ngày 1/7 tại Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào đã diễn ra lễ công bố và hướng dẫn nghiên cứu tác phẩm Hồ Chí Minh toàn tập trong công tác giảng dạy và học tập tại Học viện. Tác phẩm được dịch từ tiếng Việt sang tiếng Lào, gồm: Hồ Chí Minh toàn tập (toàn bộ 15 tập) và một cuốn từ điển Hồ Chí Minh học.
Tại buổi lễ, chia sẻ với hàng trăm học viên và giảng viên Học viện, Tiến sỹ Khamla Keoounkham - Phó Giám đốc Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào cho biết việc đưa vào giảng dạy tác phẩm Hồ Chí Minh toàn tập được dịch từ tiếng Việt ra tiếng Lào là một công việc hết sức thiết thực, đáp ứng và tạo điều kiện thuận lợi để các nhà nghiên cứu, học giả, giáo viên, những người quan tâm có thể tiếp cận và nghiên cứu.
Tiến sỹ Khamla Keoounkham khẳng định tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong tác phẩm toàn tập là toàn bộ những hệ thống quan điểm sâu sắc bao gồm: Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc về tội ác, sự bóc lột của chế độ thực dân đối với người dân thuộc địa.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã tiếp cận được chủ nghĩa Marx-Lenin và nhận ra rằng đây chính là nền tảng lý luận chính trị sâu sắc cho con đường giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hướng đất nước Việt Nam đi theo con đường chủ nghĩa xã hội và lấy chủ nghĩa Marx-Lenin làm lý luận cách mạng. Để tổ chức và thực hiện một cách hiệu quả mục tiêu xây dựng đất nước đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Người coi trọng công tác xây dựng Đảng, phát triển Đảng, xây dựng sự mẫu mực trong công tác cán bộ, đảng viên, tất cả vì nhân dân, hy sinh, cống hiến cả cuộc đời mình cho cách mạng Việt Nam cũng như phong trào cộng sản quốc tế.
Trong các bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói nhiều về công tác ngoại giao, với một tinh thần vô tư trong sáng, nổi tiếng với câu nói “giúp bạn là giúp mình.”
Tiến sỹ Khamla Keoounkham phân tích mỗi một tác phẩm Hồ Chí Minh toàn tập có một giá trị lý luận mang tính kinh điển và thực tiễn sâu sắc, phản ánh quá trình hoạt động của Người, về những giai đoạn của lịch sử cách mạng Việt Nam và thế giới, là những bài học giá trị không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà còn dành cho cả nhân loại, những người yêu chuộng hòa bình nghiên cứu, tham khảo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về sự hy sinh vì nhân dân, vì lợi ích chung, vì đất nước, vì con người. Tiến sỹ nhấn mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân, bởi Người nhận thức sâu sắc rằng có quần chúng nhân dân thì sự nghiệp cách mạng mới đi đến thành công./.

Xả súng ở thành phố an toàn nhất thế giới - bất ổn của xã hội phương tây

 Vụ xả súng trong trung tâm thương mại Field's ở thủ đô Copenhagen của Đan Mạch khiến ít nhất ba người chết, hai người bị thương.

Cảnh sát Đan Mạch cho biết một vụ xả súng xảy ra tại trung tâm thương mại Field's ở thủ đô Copenhagen hôm 3/7 và không loại trừ đây là hành động khủng bố. Cảnh sát trưởng Copenhagen Soren Thomassen nói nghi phạm 22 tuổi đã bị bắt và giới chức đang xác định động cơ của người này, thêm rằng chưa có dấu hiệu cho thấy tay súng có đồng phạm.

Theo ông Thomassen, lực lượng cảnh sát đã tăng cường hiện diện xung quanh trung tâm thương mại Field's và trên khắp thủ đô Copenhagen.

Người dân hoảng loạn tháo chạy khỏi trung tâm thương mại Fields ở thủ đô Copenhagen, Đan Mạch, hôm 3/7. Ảnh: AFP.

Giới chức địa phương đang đề nghị các cửa hàng gần trung tâm thương mại Field's cung cấp video từ camera an ninh, song yêu cầu công chúng không chia sẻ những video liên quan vụ xả súng lên mạng xã hội.

"Hãy thận trọng. Không chia sẻ hình ảnh và video về các nạn nhân lên mạng xã hội hay bất cứ nền tảng nào khác", cảnh sát Copenhagen ra tuyên bố.

Một nhân chứng cho hay nghi phạm đã tìm cách lừa mọi người khi nói rằng súng của mình là giả, nhằm dễ tiếp cận nạn nhân hơn. Các nhân chứng khác kể họ nhìn thấy hàng trăm người tháo chạy về phía lối ra của trung tâm thương mại Field's khi phát súng đầu tiên vang lên.

Vụ xả súng xảy ra chỉ hơn một tuần sau khi tay súng tại nước láng giềng Na Uy tấn công một quán bar dành cho người đồng tính ở Oslo khiến hai người thiệt mạng và 21 người bị thương. Hồi tháng 2/2015, một vụ xả súng ở Copenhagen liên quan yếu tố Hồi giáo khiến hai người chết và 5 người bị thương.

PHAO

LUẬN ĐIỆU KÍCH ĐỘNG ĐẦY DÃ TÂM


Ngày 10/6/2022, bài viết “Danh nghĩa nhân dân” của Nguyễn Tiến Tường được đăng trên trang Tiếng Dân News và ngày 15/6/2022, cũng trên Tiếng Dân News, Nông Văn Tiềm đăng bài “Những gương mặt “tinh hoa” và sự bảo kê của đảng“. Đúng là mượn chuyện các vụ án tham nhũng, thêm một lần, những kẻ cơ hội, phản động như Nguyễn Tiến Tường và Nông Văn Tiềm theo đuôi các thế lực thù địch xuyên tạc bản chất mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân; đồng thời xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng .
Sự thật thì nhân dân là cội nguồn sức mạnh của Đảng; gắn bó với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng và chỉnh đốn Đảng là một nguyên tắc luôn được Đảng quán triệt và thực hiện trong hơn 92 năm xây dựng và phát triển.
Một là, chỉ cá nhân Nguyễn Tiến Tường nghĩ rằng “nhân dân vẫn đứng ngoài guồng quay chính trị, đứng ngoài tâm thức của cán bộ”. Còn mọi người dân Việt Nam đều nhận thức được vị trí của mình, đều không đứng ngoài guồng quay chính trị mà là một phần của lịch sử; là những người góp phần làm nên lịch sử Việt Nam nói chung, lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.
Từ khi chuẩn bị thành lập Đảng cho đến khi đã trở thành Đảng cầm quyền, Đảng luôn gắn bó với nhân dân và cổ vũ, động viên tất cả lực lượng của nhân dân tham gia vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ, phát triển đất nước. Trên những chặng đường cách mạng, ở vào những thời khắc khó khăn nhất, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn nhận được sự chỏ che, giúp đỡ, thậm chí hy sinh tính mệnh để bảo vệ của nhân dân. Thực tế, nhận thức sâu sắc rằng, gắn bó mật thiết với nhân dân là cội nguồn sức mạnh nội lực của Đảng; là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng Cộng sản; là nhân tố đảm bảo sự thành công của toàn bộ sự nghiệp cách mạng, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên đã luôn hướng về nhân dân, thấu hiểu nhân dân, đồng cam cộng khổ cùng nhân dân và thực sự đã giành được lòng tin yêu, kính trọng của nhân dân.
Trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, việc củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân không chỉ đảm bảo nguồn sức mạnh nội lực để Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân mà còn chính là thực hiện yêu cầu dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Vì thế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đã góp sức mình vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vào các cuộc kháng chiến chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc và trong hành trình kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hơn 92 năm xây dựng và phát triển là hơn 92 năm Đảng gắn bó với nhân dân, đồng hành cùng nhân dân làm nên những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, vậy thì chỉ những kẻ đầy dã tâm thâm độc như Nguyễn Tiến Tường mới cố tình xúc xiểm và cho rằng “nhân dân có trong lời cửa miệng của nhiều lãnh đạo, quan chức” nhưng “khó phân biệt đó là lời khuôn sáo hay thật lòng. Bởi vì, nhân dân vẫn đứng ngoài guồng quay chính trị, đứng ngoài tâm thức của cán bộ”.
Thực tế, nhân dân đã góp phần làm nên lịch sử một nước Việt Nam mới, ngày nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhân dân đang là chủ nhân một nước Việt Nam ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong khu vực và trên trường quốc tế, nên chắc chắn nhân dân không đứng ngoài chính trị, cũng không đứng ngoài tâm thức của cán bộ, đảng viên. Nhưng nhân dân yêu nước chân chính nhất định sẽ đứng ngoài tâm thức một kẻ bồi bút, kích động, chống phá Đảng và chế độ như Nguyễn Tiến Tường.
Hai là, dựa vào nhân dân để giám sát cán bộ, đảng viên trong thực thi nhiệm vụ, chức trách, trong rèn luyện đạo đức, lối sống, phòng và chống sự suy thoái, sự tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm xây dựng, chỉnh đốn Đảng được quán triệt và thực thi trong toàn Đảng và cả hệ thống chính trị. Cho nên, cả Nguyễn Tiến Tường và Nông Văn Tiềm đều lấy cớ vì “nhân dân” để xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng; để chống phá Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam khác với các đảng phái chính trị khác chính là “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”[1] và “Đảng phải luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài”[2] như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. Trong Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên đều phải thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng; phải gương mẫu đi đầu và làm tròn vị thế vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân. Vì thế, khi cán bộ, đảng viên tham ô, tham nhũng, nói không đi đôi với làm thì họ đã làm mất uy tín, danh dự của Đảng, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng và khi đó họ phải chịu kỷ luật của Đảng, sự trừng phạt của pháp luật.
Chủ trương chống tham nhũng của Việt Nam là quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không ngừng, không nghỉ. Thực tế, những cán bộ, đảng viên trong các vụ án tham ô, tham nhũng nói chung, vụ đại án Việt Á hay vụ án về những chuyến bay giải cứu liên quan đến cán bộ thuộc Bộ Ngoại giao nói riêng đã, đang và sẽ phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Đẩy mạnh chống tham nhũng chính là sàng lọc đội ngũ, để làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị. Mỗi cán bộ, đảng viên dù là lãnh đạo cấp cao hay là ở địa bàn cơ sở cũng đều phải tuân thủ quy trình về công tác cán bộ. Đương nhiên, trong quá trình phát triển, cũng sẽ có những kẻ thoái bộ, vô tình hoặc hữu ý trở thành người có tội với cách mạng và nhân dân. Khi có tội, họ sẽ bị kỷ luật và chịu sự trừng phạt của pháp luật. Cho nên, không thể bôi đen chế độ và xuyên tạc về Đảng khi cho rằng ở Việt Nam hiện nay thì “quyền lực song trùng. Đảng CSVN lãnh đạo, ngồi xổm lên Hiến pháp và tất cả các đạo luật khác, từ đó đảng đẻ ra “luật rừng” của riêng đảng, để có quyền thăng, giáng chức cho phe nhóm, kết tội và tha bổng bất kỳ quan tham nào, cho dù tội trạng lớn đến đâu” như Nông Văn Tiềm kích động.
Những giọt nước mắt hối lối, dù muộn màng của họ không chỉ làm xót xa những bậc sinh thành mà còn làm đau lòng các đồng chí lãnh đạo, những người đồng chí, đồng nghiệp, đồng đội cùng nhân dân – những người đã tin tưởng, lựa chọn và bỏ phiếu cho họ từ khi quy hoạch, đến đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm. Sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống… đã khiến họ sa ngã nên phải trả giá. Song không phải trong họ “khái niệm nhân dân cũng hoàn toàn lạ lẫm” hay “nhân dân không tồn tại trong suy nghĩ của cán bộ tham nhũng” như sự kích động của Nguyễn Tiến Tường. Đồng thời, cũng không phải những cán bộ mắc khuyết điểm mà vẫn “leo lên cao” hay được “bao che, dung túng từ lãnh đạo chóp bu của đảng trắng trợn” nên họ mới không sợ mà “cứ tham nhũng” như sự quy chụp của Nông Văn Tiềm!.
Sự thật, khi nỗi đau không thể cất thành lời thì cũng là lúc những người ngày hôm qua còn đang đảm nhiệm các trọng trách, ngày hôm nay đứng trước vành móng ngựa hay bị tạm giam đã “nói lời xin lỗi” muộn. Nhân dân có thể chưa xuất hiện cụ thể trong những lờì xin lỗi đó, nhưng chắc chắn nhân dân là người luôn theo dõi họ, giám sát họ trong công tác cũng như ứng xử đời thường; theo dõi từng bước trưởng thành của họ cũng như chứng kiến khi họ “ngã ngựa”. Việc họ suy thoái, sa vào vòng lao lý chính là do bị cám dỗ trước quyền lực; bị bả vinh hoa, phú quý che mờ mắt. Tuy nhiên, khi nói lời xin lỗi muộn thì cũng là lúc họ chẳng còn gì ngoài danh dự đã mất và quyền công dân cũng không còn. Nhân dân bao dung trước lỗi lầm của họ và chính nhân dân cũng là người bỏ phiếu tín nhiệm cho ông Nguyễn Thanh Long, ông Chu Ngọc Anh (lúc các ông ấy xứng đáng và chưa suy thoái), nên không thể vì sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên mà cho rằng “nhân dân chưa phải là chủ, vì nếu họ là chủ nhân thật sự thì không có chuyện những “đầy tớ” như ông Long, ông Anh có thể leo cao trào sâu” như Nguyễn Tiến Tường đã công kích.
Cũng cần phải nhắc lại rằng, cả Nguyễn Tiến Tường và Nông Văn Tiềm đều là những kẻ mượn danh nghĩa vì nhân dân để khoét sâu vào sự suy thoái trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; đều mượn cớ các vụ án tham nhũng và việc một số cán bộ lãnh đạo cấp cao dính vòng lao lý để đổ lỗi cho cơ chế. Cả Nguyễn Tiến Tường và Nông Văn Tiềm đều là những kẻ mượn danh nghĩa dân chủ, mượn cớ vì nhân dân để gieo giắc những thông tin phản động, hoài nghi cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam, để thông qua đó kích động, chia rẽ khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì thế, những luận điệu phản động của 2 kẻ này đều cần phải bác bỏ!
Hoàng Phi Hồng
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.289
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.290
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'Bất chấp đúng, sai. Xuyên tạc sự thật. BIF'
126
9 bình luận
14 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ