Ngày 10/6/2022, bài viết “Danh nghĩa nhân dân” của Nguyễn Tiến Tường được đăng trên trang Tiếng Dân News và ngày 15/6/2022, cũng trên Tiếng Dân News, Nông Văn Tiềm đăng bài “Những gương mặt “tinh hoa” và sự bảo kê của đảng“. Đúng là mượn chuyện các vụ án tham nhũng, thêm một lần, những kẻ cơ hội, phản động như Nguyễn Tiến Tường và Nông Văn Tiềm theo đuôi các thế lực thù địch xuyên tạc bản chất mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân; đồng thời xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng .
Sự thật thì nhân dân là cội nguồn sức mạnh của Đảng; gắn bó với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng và chỉnh đốn Đảng là một nguyên tắc luôn được Đảng quán triệt và thực hiện trong hơn 92 năm xây dựng và phát triển.
Một là, chỉ cá nhân Nguyễn Tiến Tường nghĩ rằng “nhân dân vẫn đứng ngoài guồng quay chính trị, đứng ngoài tâm thức của cán bộ”. Còn mọi người dân Việt Nam đều nhận thức được vị trí của mình, đều không đứng ngoài guồng quay chính trị mà là một phần của lịch sử; là những người góp phần làm nên lịch sử Việt Nam nói chung, lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.
Từ khi chuẩn bị thành lập Đảng cho đến khi đã trở thành Đảng cầm quyền, Đảng luôn gắn bó với nhân dân và cổ vũ, động viên tất cả lực lượng của nhân dân tham gia vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ, phát triển đất nước. Trên những chặng đường cách mạng, ở vào những thời khắc khó khăn nhất, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn nhận được sự chỏ che, giúp đỡ, thậm chí hy sinh tính mệnh để bảo vệ của nhân dân. Thực tế, nhận thức sâu sắc rằng, gắn bó mật thiết với nhân dân là cội nguồn sức mạnh nội lực của Đảng; là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng Cộng sản; là nhân tố đảm bảo sự thành công của toàn bộ sự nghiệp cách mạng, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên đã luôn hướng về nhân dân, thấu hiểu nhân dân, đồng cam cộng khổ cùng nhân dân và thực sự đã giành được lòng tin yêu, kính trọng của nhân dân.
Trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, việc củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân không chỉ đảm bảo nguồn sức mạnh nội lực để Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân mà còn chính là thực hiện yêu cầu dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Vì thế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đã góp sức mình vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vào các cuộc kháng chiến chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc và trong hành trình kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hơn 92 năm xây dựng và phát triển là hơn 92 năm Đảng gắn bó với nhân dân, đồng hành cùng nhân dân làm nên những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, vậy thì chỉ những kẻ đầy dã tâm thâm độc như Nguyễn Tiến Tường mới cố tình xúc xiểm và cho rằng “nhân dân có trong lời cửa miệng của nhiều lãnh đạo, quan chức” nhưng “khó phân biệt đó là lời khuôn sáo hay thật lòng. Bởi vì, nhân dân vẫn đứng ngoài guồng quay chính trị, đứng ngoài tâm thức của cán bộ”.
Thực tế, nhân dân đã góp phần làm nên lịch sử một nước Việt Nam mới, ngày nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhân dân đang là chủ nhân một nước Việt Nam ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong khu vực và trên trường quốc tế, nên chắc chắn nhân dân không đứng ngoài chính trị, cũng không đứng ngoài tâm thức của cán bộ, đảng viên. Nhưng nhân dân yêu nước chân chính nhất định sẽ đứng ngoài tâm thức một kẻ bồi bút, kích động, chống phá Đảng và chế độ như Nguyễn Tiến Tường.
Hai là, dựa vào nhân dân để giám sát cán bộ, đảng viên trong thực thi nhiệm vụ, chức trách, trong rèn luyện đạo đức, lối sống, phòng và chống sự suy thoái, sự tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm xây dựng, chỉnh đốn Đảng được quán triệt và thực thi trong toàn Đảng và cả hệ thống chính trị. Cho nên, cả Nguyễn Tiến Tường và Nông Văn Tiềm đều lấy cớ vì “nhân dân” để xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng; để chống phá Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam khác với các đảng phái chính trị khác chính là “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”[1] và “Đảng phải luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài”[2] như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. Trong Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên đều phải thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng; phải gương mẫu đi đầu và làm tròn vị thế vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân. Vì thế, khi cán bộ, đảng viên tham ô, tham nhũng, nói không đi đôi với làm thì họ đã làm mất uy tín, danh dự của Đảng, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng và khi đó họ phải chịu kỷ luật của Đảng, sự trừng phạt của pháp luật.
Chủ trương chống tham nhũng của Việt Nam là quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không ngừng, không nghỉ. Thực tế, những cán bộ, đảng viên trong các vụ án tham ô, tham nhũng nói chung, vụ đại án Việt Á hay vụ án về những chuyến bay giải cứu liên quan đến cán bộ thuộc Bộ Ngoại giao nói riêng đã, đang và sẽ phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Đẩy mạnh chống tham nhũng chính là sàng lọc đội ngũ, để làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị. Mỗi cán bộ, đảng viên dù là lãnh đạo cấp cao hay là ở địa bàn cơ sở cũng đều phải tuân thủ quy trình về công tác cán bộ. Đương nhiên, trong quá trình phát triển, cũng sẽ có những kẻ thoái bộ, vô tình hoặc hữu ý trở thành người có tội với cách mạng và nhân dân. Khi có tội, họ sẽ bị kỷ luật và chịu sự trừng phạt của pháp luật. Cho nên, không thể bôi đen chế độ và xuyên tạc về Đảng khi cho rằng ở Việt Nam hiện nay thì “quyền lực song trùng. Đảng CSVN lãnh đạo, ngồi xổm lên Hiến pháp và tất cả các đạo luật khác, từ đó đảng đẻ ra “luật rừng” của riêng đảng, để có quyền thăng, giáng chức cho phe nhóm, kết tội và tha bổng bất kỳ quan tham nào, cho dù tội trạng lớn đến đâu” như Nông Văn Tiềm kích động.
Những giọt nước mắt hối lối, dù muộn màng của họ không chỉ làm xót xa những bậc sinh thành mà còn làm đau lòng các đồng chí lãnh đạo, những người đồng chí, đồng nghiệp, đồng đội cùng nhân dân – những người đã tin tưởng, lựa chọn và bỏ phiếu cho họ từ khi quy hoạch, đến đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm. Sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống… đã khiến họ sa ngã nên phải trả giá. Song không phải trong họ “khái niệm nhân dân cũng hoàn toàn lạ lẫm” hay “nhân dân không tồn tại trong suy nghĩ của cán bộ tham nhũng” như sự kích động của Nguyễn Tiến Tường. Đồng thời, cũng không phải những cán bộ mắc khuyết điểm mà vẫn “leo lên cao” hay được “bao che, dung túng từ lãnh đạo chóp bu của đảng trắng trợn” nên họ mới không sợ mà “cứ tham nhũng” như sự quy chụp của Nông Văn Tiềm!.
Sự thật, khi nỗi đau không thể cất thành lời thì cũng là lúc những người ngày hôm qua còn đang đảm nhiệm các trọng trách, ngày hôm nay đứng trước vành móng ngựa hay bị tạm giam đã “nói lời xin lỗi” muộn. Nhân dân có thể chưa xuất hiện cụ thể trong những lờì xin lỗi đó, nhưng chắc chắn nhân dân là người luôn theo dõi họ, giám sát họ trong công tác cũng như ứng xử đời thường; theo dõi từng bước trưởng thành của họ cũng như chứng kiến khi họ “ngã ngựa”. Việc họ suy thoái, sa vào vòng lao lý chính là do bị cám dỗ trước quyền lực; bị bả vinh hoa, phú quý che mờ mắt. Tuy nhiên, khi nói lời xin lỗi muộn thì cũng là lúc họ chẳng còn gì ngoài danh dự đã mất và quyền công dân cũng không còn. Nhân dân bao dung trước lỗi lầm của họ và chính nhân dân cũng là người bỏ phiếu tín nhiệm cho ông Nguyễn Thanh Long, ông Chu Ngọc Anh (lúc các ông ấy xứng đáng và chưa suy thoái), nên không thể vì sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên mà cho rằng “nhân dân chưa phải là chủ, vì nếu họ là chủ nhân thật sự thì không có chuyện những “đầy tớ” như ông Long, ông Anh có thể leo cao trào sâu” như Nguyễn Tiến Tường đã công kích.
Cũng cần phải nhắc lại rằng, cả Nguyễn Tiến Tường và Nông Văn Tiềm đều là những kẻ mượn danh nghĩa vì nhân dân để khoét sâu vào sự suy thoái trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; đều mượn cớ các vụ án tham nhũng và việc một số cán bộ lãnh đạo cấp cao dính vòng lao lý để đổ lỗi cho cơ chế. Cả Nguyễn Tiến Tường và Nông Văn Tiềm đều là những kẻ mượn danh nghĩa dân chủ, mượn cớ vì nhân dân để gieo giắc những thông tin phản động, hoài nghi cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam, để thông qua đó kích động, chia rẽ khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì thế, những luận điệu phản động của 2 kẻ này đều cần phải bác bỏ!
Hoàng Phi Hồng
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.289
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.290

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét