Thứ Ba, 4 tháng 10, 2022

Phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta


          (LLCT) - Thời gian qua, các thế lực thù địch đã công kích, xuyên tạc chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta. Từ đó họ nêu những "đề xuất", "kiến nghị" đòi thay đổi chính sách quốc phòng của Việt Nam. Bài viết phân tích làm rõ những luận cứ khoa học và thực tiễn để phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc đó, đồng thời khẳng định tính đúng đắn trong chính sách quốc phòng "bốn không" của Đảng, Nhà nước ta.

 

          1. Nhận diện quan điểm sai trái, xuyên tạc chính sách quốc phòng của Việt Nam

          Những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam tập trung vào các vấn đề sau:

(1) Các thế lực thù địch cho rằng: “Chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”.

          Họ cho rằng chính sách “không liên minh quân sự” không chỉ dẫn đến mất lãnh thổ và quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông vào tay Trung Quốc mà còn đe dọa an ninh tổng thể của Việt Nam trong trường hợp chiến tranh xâm lược năm 1979 được lặp lại. Họ lý giải rằng, Việt Nam thực hiện chính sách “bốn không” là nguy cấp, vì sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”. Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần liên minh quân sự với một nước lớn có thực lực quân sự, quốc phòng mạnh, như: Mỹ, Nga hay Nhật,... thì sẽ được hỗ trợ tối đa về mặt quân sự, kể cả đưa vũ khí trang bị, lực lượng quân đội đến trợ giúp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia. Chúng kết luận, chính sách “không liên minh quân sự” chẳng những không giữ được nước trước xâm lược Trung Quốc mà cũng không giữ nổi chế độ cộng sản, nó còn làm Đảng ta “mất cả chì lẫn chài” (ám chỉ Đảng ta sẽ mất cả quyền lãnh đạo). Thậm chí, chúng cho rằng: “Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ sớm ngày nào thì nguy cơ tiếp tục mất đảo, mất quyền chủ quyền trên Biển Đông vào tay Trung Quốc cũng như nguy cơ hứng chịu một cuộc chiến tranh trên biển lẫn đất liền bị đẩy lùi ngày ấy” (!?).

          (2) Chúng đưa ra luận điệu: “Không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi”.

Với quan điểm “Không liên minh với nước này để chống nước kia” trong sách trắng quốc phòng, họ cho rằng, “Một khi đã tuyên bố rõ ràng như vậy, chúng ta sẽ khó kiếm được đồng minh” và “làm mất đi con bài mặc cả quan trọng của Việt Nam với cả Mỹ và Trung Quốc’’. Theo chúng, không liên minh quân sự là lỗi thời, lạc hậu; là “đường lối sai lầm”, “đối sách nhu nhược”, là “hành động tự trói”, không phù hợp với xu thế của thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải thay đổi. Đảng, Nhà nước ta nên liên minh quân sự, phải liên kết với nước này thì mới kiềm chế, đối phó được với nước kia để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Thực chất đây là thủ đoạn thâm độc nhằm chống phá đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta, làm cho chúng ta dao động và ngả sang một bên nào đấy để chống lại bên kia.

          (3) Chúng cho rằng “Đảng, Nhà nước ta vẫn kiên định chính sách “bốn không” là sẽ không có bạn chí cốt nên dễ bị cô lập trước những tình huống nguy hiểm”.

          Họ cho rằng việc Đảng, Nhà nước ta thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” sẽ cản trở hoặc làm mất đi cơ hội để Việt Nam kết bạn với các nước, thậm chí sẽ làm mất đi những người bạn chí cốt đã từng keo sơn gắn bó với Việt Nam trước đây. Từ đó suy diễn rằng chúng ta “dễ bị cô lập trước những tình huống nguy hiểm”(!).

          2. Luận cứ phê phán

          (1) Phải chăng muốn bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải liên minh quân sự với một cường quốc?

          Một là, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao không thể phó thác hoàn toàn cho bên ngoài, dù đó là một đồng minh cường quốc.

          Chúng ta không phủ nhận vai trò, tác dụng tích cực của liên minh trong bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Tuy nhiên, trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chúng ta chưa bao giờ liên minh quân sự với cường quốc nào. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Việt Nam nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước bạn bè, nhưng chúng ta không tham gia khối liên minh quân sự nào của Liên Xô và Đông Âu. Chúng ta tham gia thành lập khối liên minh Việt Nam - Lào - Campuchia (13-3-1951) nhằm tăng cường khối đại đoàn kết ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và tay sai, giành độc lập hoàn toàn, xây dựng đất nước, làm cho nhân dân ba nước được tự do, hạnh phúc và tiến bộ. Đây là liên minh mang tính tự vệ, chính nghĩa trong vai trò như một trong những phương thức bảo vệ Tổ quốc vào thời điểm lúc đó. Xuyên suốt lịch sử quân sự Việt Nam, cho đến nay, không có quan điểm lý luận liên minh quân sự để chống lại nước khác, hoặc như là một giải pháp để bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ. Ngay trong điều kiện hai cuộc kháng chiến cực kỳ tàn khốc, ác liệt, gian khổ và kéo dài, Việt Nam vẫn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ không tham gia liên minh quân sự với cường quốc.

          Trong điều kiện hòa bình hiện nay, khi mà xu hướng đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc trên thế giới ngày càng chủ đạo thì việc các nước giúp nhau bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc không hề đơn giản. Cốt vật chất để gắn kết các liên minh chính là lợi ích chung và phần lợi ích của mỗi bên thành viên trong liên minh nhận được. Những liên minh “thần thánh” đều là giả tưởng trong đầu óc của những nhà huyễn tưởng, không có chỗ đứng trong thực tiễn chính trị - quân sự sống động, phức tạp và thực dụng hiện nay.

          Hai là, muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ vào liên minh.

          Trên thế giới có ba kiểu liên minh phổ biến là: (1) Nước lớn liên minh với nước lớn; (2) Nước lớn liên minh với nước nhỏ hoặc nước nhỏ liên minh với nước lớn; (3) Nước nhỏ liên minh với nước nhỏ. Việc một nước nhỏ muốn liên minh quân sự với một cường quốc (nước lớn) nhằm mục đích bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của mình, vậy lợi ích của cường quốc sẽ là gì trong sự liên minh này? Xưa nay không ai cho không ai bao giờ; cái gì cũng có giá của nó. Cái giá ở đây là nước nhỏ có thể tránh được nguy cơ mất chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mình trước một mối đe dọa nào đó từ bên ngoài, nhưng trước khi có thể tránh được những nguy cơ đó, thì cái giá phải trả hiện hữu và có thật, đó là: nước nhỏ phải chấp nhận nhượng bộ ít nhiều về chủ quyền hoặc lợi ích quốc gia - dân tộc mình với cường quốc liên minh. Đó là vốn liếng, tài sản “thế chấp” để nhận được những “cam kết” bảo vệ an ninh từ đồng minh. Đó cũng là “luật chơi” không thể khác trong quan hệ quốc tế hiện nay. Ở đây nước nhỏ đã đem lợi ích thực tế để đánh đổi lấy khả năng bảo vệ an ninh. Một khả năng mà khi muốn hiện thực hóa nó bao giờ cũng gắn với những điều kiện “đính kèm” cần và đủ từ phía các đồng minh nước lớn. Nói như vậy không có nghĩa là hoài nghi, nghi kị đồng minh, mà muốn nói tới một thực tế, một khía cạnh của luật chơi trong quan hệ quốc tế hiện nay. 

          Thực tế lịch sử thế giới từ trước tới nay, nhất là gần đây cho thấy không phải cứ có liên minh với một cường quốc quân sự là có thể bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của các nước trong liên minh, nhất là các nước nhỏ. Các cường quốc luôn xử lý quan hệ với các đồng minh theo tiêu chí và triết lý ưu tiên lợi ích “trước hết”, “trên hết”, “cốt lõi” của họ. Trong thực tế, không ít đồng minh của các cường quốc đã bị “lạnh nhạt”, “làm ngơ” đến “bỏ rơi”, thậm chí “phản bội” đồng minh để bắt tay với đối thủ của cường quốc đồng minh. Gần đây, trường hợp của Philíppin, một đồng minh thân cận của Mỹ, khi bị một cường quốc khác đe dọa, xâm phạm chủ quyền trên bãi cạn Scaborough (Hoàng Nham, năm 2012), nhưng siêu cường Mỹ cũng không làm gì trước sự cầu cứu của đồng minh nước nhỏ. Bởi tại Điều khoản số 5 của Hiệp ước an ninh Mỹ - Philíppin (năm1951) chỉ xem các cuộc tấn công vũ trang trên lãnh thổ thuộc quyền tài phán (jurisdiction) của cả hai ở khu vực Thái Bình Dương là mối đe dọa chung đối với an ninh của cả hai và Mỹ có trách nhiệm phải bảo vệ. Mỹ sẽ không có trách nhiệm phải bảo vệ Philíppin khi bãi cạn Scarborough bị tấn công. Mặt khác, Mỹ cũng không muốn phải vướng vào một cuộc chiến không đáng có ở Biển Đông. Điều này cũng đúng với thực tế lịch sử, trên thế giới chưa bao giờ một nước nào đó lại hy sinh lợi ích của dân tộc mình vì lợi ích của một dân tộc khác. Từ đó, có thể rút ra một hệ luận: trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, kể cả thời bình lẫn thời chiến, phải luôn nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ sự trợ giúp của nước ngoài.

          Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là phải tự lực, từ cường, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, dựa vào sức mình là chính, trên cơ sở thực lực sức mạnh của quốc gia - dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè và cộng đồng quốc tế, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam không nghiêng hẳn về một bên nào; không đi theo một cường quốc nào, không dựa hẳn vào một cường quốc nào để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc mình.

          Ba là, không phải vì sức mạnh quốc phòng của ta “quá yếu” và “lạc hậu” nên phải liên minh quân sự với nước ngoài. 

          Nếu cho rằng chỉ vì ta yếu và lạc hậu mới cần đến liên minh vậy khi ta mạnh và hiện đại có cần liên minh không? Vì thực tế cho thấy, có những trường hợp nước lớn vẫn chủ động liên minh với nước nhỏ và cũng có trường hợp nước nhỏ khước từ liên minh với nước lớn. Vậy phải lý giải thế nào cho thỏa đáng vấn đề này? Như chúng ta đã biết, mấu chốt của liên minh quân sự không hoàn toàn bắt nguồn từ sức mạnh quân sự yếu hay mạnh mà từ lợi ích và quan điểm của mỗi bên tham gia liên minh.

          Hơn nữa, cho rằng sức mạnh quân sự của ta yếu và lạc hậu là không hoàn toàn đúng với thực tế. Theo bảng xếp hạng Chỉ số sức mạnh quân sự toàn cầu của trang web Global Firepower (Hỏa lực toàn cầu - GFP), dựa vào 55 chỉ số (ngoại trừ vũ khí hạt nhân), chủ yếu là dân số, diện tích, số lượng vũ khí, ngân sách quốc phòng, nguồn nhân lực, giao thông, việc tiếp cận các tài sản chiến lược, nguồn nhiên liệu, và điều kiện kinh tế hiện tại, thì trong 5 năm gần đây, Việt Nam luôn ở trong tốp 25 nước có sức mạnh quân sự lớn nhất trên thế giới. Cụ thể là, năm 2016, Việt Nam xếp ở vị trí số 17/126 nước; năm 2017, ở trí số 16/127 nước; năm 2018, ở vị trí số 20/133 nước; năm 2019, ở vị trí số 23/137 nước; năm 2020, ở vị trí thứ 22/137 nước.

          Tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng cường; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, môi trường hòa bình, trở thành điểm thu hút đầu tư và du lịch hấp dẫn của thế giới.

          Về xây dựng Quân đội, chúng ta đã và đang thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ  trong mọi tình huống.

          Mặt khác, sức mạnh quân sự của một quốc gia bao giờ cũng đặt trong mối quan hệ với sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó, không thể tách rời được. Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới, sức mạnh tổng hợp của quốc gia - dân tộc bao gồm sức mạnh vật chất và tinh thần, sức mạnh của truyền thống và hiện đại, sức mạnh cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại bắt nguồn từ sức mạnh của con người Việt Nam không ngừng được nâng cao, thế và lực của đất nước được nâng lên một tầm cao mới. Chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững và tăng cường, ngày càng phát huy tính ưu việt, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được giữ vững. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Nhờ đó, tạo ra vận hội mới, tạo nên bệ phóng vững chắc để đưa nước ta vươn lên những đỉnh cao mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

          Như vậy, trên bình diện sức mạnh quân sự, cũng như trên bình diện sức mạnh tổng hợp của quốc gia, sức mạnh của Việt Nam không phải là “quá yếu” và “lạc hậu” như những kẻ ác ý, hay yếu bóng vía rêu rao. Chúng ta hoàn toàn có đủ cơ sở để khẳng định và tin tưởng vào sức mạnh của đất nước và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đủ để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong mọi tình huống, mà không nhất thiết phải liên minh quân sự với nước ngoài.

          Bốn là, thành công của Việt Nam trong giữ vững chủ quyền, độc lập, bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc những năm qua chính là thành công của xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự cường và thực hiện thắng lợi “đa dạng hóa, đa phương hóa” quan hệ đối ngoại.

          Lịch sử chiến tranh của Việt Nam đã khẳng định, chính việc phát huy sức mạnh nội lực, tự lực, tự cường mới là yếu tố quyết định tạo ra nguồn sức mạnh to lớn nhất, vững chắc nhất để bảo vệ Tổ quốc. Thực tế trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và tay sai trong thế kỷ XX đã khẳng định: nhân dân ta giành được thắng lợi to lớn chính là nhờ thực hiện đường lối quân sự độc lập, tự chủ, gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt, trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang. 

          Ngày nay, việc xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường kết hợp với mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh là bảo đảm vững chắc cho bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. 

          Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016) của Đảng khẳng định: Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định.

          Chủ động hợp tác về quốc phòng, an ninh là tạo điều kiện củng cố và phát triển quốc phòng, an ninh, để hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang. Tính đến nay, Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Liên hợp quốc và 37 quốc gia khác; có 49 quốc gia đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Quan hệ quốc phòng của Việt Nam với các nước ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả hơn. Quan hệ hợp tác quốc phòng được nhiều nước đối tác coi là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hợp tác với Việt Nam. Bên cạnh việc coi trọng quan hệ hợp tác về an ninh và quốc phòng với các nước láng giềng (Lào, Campuchia, Thái Lan, Philíppin, Xinhgapo...), Việt Nam cũng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước, các khối nước, như Nhật Bản, Ôxtrâylia, Ixraen, Cuba, Ấn Độ, Italia, Liên minh châu Âu (EU),... đặc biệt chú trọng tới quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước lớn, có ảnh hưởng chi phối trong khu vực và trên thế giới, như Nga, Trung Quốc và Mỹ.

          Như vậy, chủ trương không tham gia liên minh quân sự là đúng đắn và phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay khi hòa bình, hợp tác, phát triển đang là xu thế chủ đạo và chủ trương đối ngoại của Việt Nam là đa dạng hóa, đa phương hóa. Thực hiện chủ trương này là cơ sở để chúng ta tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay.

          (2) Phải chăng không liên minh với nước này để chống nước kia “là đi ngược lại xu thế của thời đại, là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi?”

          Một là, có phải xu thế thời đại hiện nay là liên minh với nước này để chống nước khác?

          Thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới mở bằng Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, là “thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”. Xét về bản chất, toàn cầu hóa là “quá trình tăng lên mạnh mẽ các mối liên hệ, sự ảnh hưởng lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các quốc gia, các khu vực trên thế giới”. Toàn cầu hóa từ một xu thế đã trở thành một quá trình hiện thực của sự vận động và phát triển của xã hội loài người. Song hành và đối ngược với quá trình toàn cầu hóa là phong trào chống toàn cầu hóa (nội dung cốt lõi là chống lại mặt trái của toàn cầu hóa). Những người ủng hộ toàn cầu hóa liên kết với nhau và những người chống toàn cầu hóa cũng liên kết với nhau. Hai nhóm người này đấu tranh với nhau, căn nguyên của cuộc đấu tranh này chính là những bất đồng về lợi ích mà quá trình toàn cầu hóa đem lại cho mỗi nhóm. Trong đó, có nhóm được hưởng lợi và nhóm bị thiệt thòi. Cuộc đấu tranh này chính là nhằm phân chia lại lợi ích của các lực lượng trong quá trình toàn cầu hóa. Trong cuộc đấu tranh đó, tất yếu có sự liên kết tự nhiên của những lực lượng, những nhóm người có cùng lợi ích, chủ yếu ở góc độ kinh tế. Nó không phải là liên minh/liên kết quân sự giữa các quốc gia với nhau hay giữa quân đội của các quốc gia với nhau. Sự liên kết (tập hợp) lực lượng ở đây, nếu có, chỉ là để chống hoặc ủng hộ toàn cầu hóa chứ không phải là liên minh với nước này để chống nước kia hay ngược lại. Vì trong nội bộ mỗi nước, kể cả các nước nhỏ lẫn siêu cường, cũng đều vấp phải cuộc đấu tranh giữa hai lực lượng này khi phải quyết định lựa chọn xu hướng phát triển cho đất nước mình. Cuộc đấu tranh này chi phối từ dân thường đến các cấp lãnh đạo của mỗi quốc gia.

          Cho nên, nói rằng không liên minh với nước này để chống nước kia “là đi ngược lại xu thế của thời đại” là cách hiểu phiến diện, không đầy đủ, không đúng về bản chất của toàn cầu hóa và chống toàn cầu hóa, không nắm được bản chất, xu hướng và quy luật vận động, phát triển của xã hội loài người trong giai đoạn hiện nay.

          Hiện nay, thế giới bước vào một giai đoạn phát triển mới mà ở đó: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế”. Chính trong bối cảnh ấy mà Việt Nam liên minh quân sự với nước nào, nhất là liên minh với nước lớn, để chống nước khác mới là không thực tế và rất nguy hiểm.

          Hai là, có phải không liên minh quân sự “là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi?”

          Trước hết, cần phải thống nhất rằng, liên minh quân sự không đồng nhất với quan hệ hợp tác quốc tế về quân sự, quốc phòng. Khi tham gia liên minh, các nước sẽ nằm trong một khối quân sự chung, với những mục tiêu cụ thể, dùng các biện pháp quân sự để tranh giành lợi ích, xung đột chống đối thủ chung. Các nước trong liên minh sẽ phải đặt dưới sự chỉ huy, lãnh đạo của một quốc gia, thường là nước lớn và tuân thủ các nguyên tắc của liên minh, cho dù không hoàn toàn phù hợp với mình. Và chính điều này đã tạo ra sự ràng buộc giữa các nước, làm cho mỗi nước không còn độc lập, tự chủ về những vấn đề của đất nước mình.

          Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự nhưng chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng - an ninh với tất cả các nước trong khu vực, trao đổi thông tin tình báo, hợp tác tuần tra chung biên giới trên bộ, trên biển (Việt Nam - Campuchia, Việt Nam - Thái Lan, Việt Nam - Trung Quốc...); hợp tác chống tội phạm xuyên quốc gia, mua bán người và ma túy... Hiện nay, Việt Nam đang tham gia vào các sáng kiến nhằm thúc đẩy hợp tác quốc phòng - an ninh nội khối như hợp tác công nghiệp quốc phòng ASEAN; sử dụng nguồn lực và khả năng quân đội các nước khu vực trong hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa; xác định các biện pháp khả thi cũng như cơ chế tăng cường hợp tác giữa các tổ chức quốc phòng ASEAN. Trong khuôn khổ hợp tác, hằng năm, Việt Nam tham gia đầy đủ các hội nghị như: Hội nghị người đứng đầu quân đội ASEAN (ACDFIM), Hội nghị Tư lệnh Lục quân ASEAN (ACAMM), Hội nghị Tư lệnh Hải quân ASEAN (ANCM) và Hội nghị Tư lệnh Không quân ASEAN (AACC), Hội nghị không chính thức những người đứng đầu tình báo quốc phòng các nước ASEAN (AMIIM)... 

          Hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương của Việt Nam đã đóng góp vào giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, bảo vệ các lợi ích quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực; góp phần củng cố và duy trì hòa bình, ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho thực hiện nhiệm vụ trung tâm phát triển kinh tế đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, bảo vệ các lợi ích quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực; góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Quân đội ta.

Như vậy, trong điều kiện hòa bình hiện nay, “không liên minh quân sự”, “không liên kết với nước này để chống nước khác “không phải là “tự trói buộc mình”, mà nó giúp chúng ta độc lập, tự chủ, không bị chi phối, áp đặt bởi yếu tố bên ngoài, tức là không bị “người khác trói mình”. 

          Ba là, trên bình diện quan hệ quốc tế, Việt Nam hiện là nước thành viên của Phong trào Không liên kết, cho nên chủ trương không liên minh với nước này để chống nước kia là phù hợp với mục tiêu và nguyên tắc của Phong trào.

          Phong trào Không liên kết được thành lập vào năm 1961, đến nay có 120 nước thành viên, 17 nước quan sát viên, trở thành tổ chức có số lượng thành viên lớn thứ hai thế giới sau Liên hợp quốc. Không liên kết là một tập hợp lực lượng của các nước đang phát triển, với mục tiêu chính là thúc đẩy lợi ích của các nước đang phát triển; đóng góp vào duy trì hòa bình, độc lập dân tộc; chung sống hòa bình giữa các quốc gia và chung tay xây dựng một thế giới tốt đẹp, công bằng cho mọi người dân. 

          Việt Nam chính thức tham gia Phong trào Không liên kết năm 1976 và từ đó đến nay luôn tích cực hoạt động, có nhiều đóng góp đối với Phong trào vì các mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội và phát triển. Việt Nam luôn đóng góp vào việc giữ vững các nguyên tắc của Phong trào, tăng cường đoàn kết để cùng nhau phấn đấu vì những mục tiêu cao cả của Phong trào, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng bình đẳng chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các quốc gia và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình.

          Với việc không liên kết với nước này để chống nước kia, Việt Nam luôn thể hiện là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Và đây cũng là thành tựu đóng góp cho “đối ngoại tiếp tục là một điểm sáng trong những thành tựu chung của cả nước”, góp phần tạo dựng môi trường thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế của nước ta.

          (3) Phải chăng kiên định quan điểm “bốn không” sẽ không có bạn chí cốt, nên dễ bị cô lập trước các tình huống nguy hiểm?

          Trước hết, cần khẳng định quan điểm “bốn không” trong chính sách quốc phòng không hề mâu thuẫn với chủ trương: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(6). Trong thời kỳ chiến tranh trước đây, Việt Nam đã xử lý rất tốt mối quan hệ giữa chính trị, quân sự và ngoại giao; kết hợp “vừa đánh, vừa đàm” hết sức uyển chuyển, nhịp nhàng và hiệu quả. Ngày nay, những kinh nghiệm quý báu đó được đúc kết, vận dụng vào giải quyết quan hệ kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. 

          Việc thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”, vì thế không cản trở quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước và các đối tác, trái lại, chính sự minh bạch, rõ ràng và sòng phẳng về mặt quan điểm này lại là cơ sở cho các quốc gia, các đối tác xem xét, cân nhắc để thiết lập một mối quan hệ hợp tác bền chặt lâu dài với Việt Nam.

          Hai là, trên thực tế, Việt Nam thực hiện đúng đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng đã đề ra. Chính điều này đã đem lại lòng tin chiến lược - một nền tảng hết sức quan trọng cho các đối tác, các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Nhờ đó, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước cùng với 13 nước đối tác toàn diện; là nước duy nhất tại khu vực Đông Nam Á xây dựng khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với tất cả năm nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nước lớn, góp phần định vị vững chắc hơn vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn trong bối cảnh cục diện khu vực, thế giới có nhiều biến đổi; có quan hệ đặc biệt với Lào, quan hệ hợp tác toàn diện với Campuchia; xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với những nước có vai trò quan trọng ở các khu vực khác như châu Phi, Mỹ Latinh...

          Ba là, cũng cần phải nói rằng, Việt Nam chủ trương chính sách quốc phòng “bốn không” là cơ sở để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN hiện nay. Tuy nhiên, tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế. Việt Nam kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình. Trên thực tế, Việt Nam đã và đang thực hiện đồng bộ các nội dung: (1) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, quán triệt, nâng cao nhận thức của toàn Đảng toàn dân, toàn quân, nhất là các lực lượng chấp pháp trên biên giới, vùng biển, đảo về chính sách quốc phòng của Việt Nam; (2) Thực hiện có hiệu quả việc tăng cường hợp tác, đối ngoại quốc phòng theo chiều sâu và bền vững; (3) Quan tâm đầu tư xây dựng lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc.

          Cùng với thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”, Việt Nam cũng chủ trương “bốn tránh”: (1) Tránh xung đột về quân sự; (2) Tránh bị cô lập về kinh tế; (3) Tránh bị cô lập về ngoại giao; (4) Tránh bị lệ thuộc về chính trị. Có thể nói đây là hệ thống đồng bộ các quan điểm chiến lược của Việt Nam về chính sách quốc phòng và đối ngoại nhằm tạo lập và gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định, góp phần huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

                                                                                                            St

 

Một cách nhìn hết sức tồi tệ về nhân quyền Việt Nam

 

          Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả trong bảo vệ, bảo đảm thực hiện nhân quyền, nhưng lại nổi lên những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ về tình hình nhân quyền Việt Nam từ những tổ chức, cá nhân thù địch với chế độ xã hội tại Việt Nam, thậm chí họ cố tình quy chụp tình hình “nhân quyền ở Việt Nam là hết sức tồi tệ”. Chẳng hạn trong bản “Phúc trình Toàn cầu về tình hình nhân quyền năm 2021” của Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW) đã xuyên tạc rằng: “Trong năm 2020, Việt Nam tiếp tục vi phạm các quyền dân sự và chính trị cơ bản một cách có hệ thống”. Trả lời báo chí quốc tế, ông John Sifton, Giám đốc vận động châu Á của HRW cho rằng, Việt Nam về cơ bản đã hình sự hóa việc sử dụng internet hay các nền tảng mạng xã hội. Việc gia tăng trấn áp những người “cổ vũ cho tự do ngôn luận” được thực hiện trước thềm Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII “để bảo đảm Đại hội diễn ra suôn sẻ và không bị các tiếng nói bất đồng chống đối”.

          Luận điệu về “nhân quyền ở Việt Nam hết sức tồi tệ” thực chất là một cách nhìn hết sức tồi tệ về nhân quyền ở Việt Nam, bởi lẽ:

          Thứ nhất, thông tin cóp nhặt, manh mún, xuyên tạc về bức tranh nhân quyền ở Việt Nam

          Thực tế cho thấy, các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền, như các bản phúc trình toàn cầu về nhân quyền của HRW và các báo cáo của Mỹ về tự do tôn giáo, nhân quyền, buôn người, mắc hạn chế lớn là dựa trên những thông tin được thu thập theo kiểu cóp nhặt, cắt xén rời rạc, mang động cơ chính trị thực dụng, nên phiến diện và không phản ánh đúng thực tiễn nhân quyền tại Việt Nam. Thực tế qua những phiên tòa xét xử công khai, nghiêm minh, các đối tượng đều thừa nhận có hành vi vi phạm pháp luật. Việc các cơ quan chức năng tiến hành khởi tố, điều tra, xét xử công khai là việc làm cần thiết của một Nhà nước pháp quyền có chủ quyền nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật đến mức nguy hiểm của họ gây ra đối với xã hội. Hơn nữa, tại tòa, những người này đều công khai chấp nhận các kết luận của tòa về những tội danh của mình.

          Thứ hai, cách nhìn mang động cơ thù địch về chính trị, chính trị hóa mọi vấn đề xã hội

          Lợi dụng tình hình đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các tổ chức khủng bố (Việt Tân, Triều Đại Việt, Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời) và một số đối tượng chống đối trong nước đã đưa ra nhiều thông tin xuyên tạc về tình hình chính trị, xã hội ở nước ta, để tác động xấu đến tư tưởng nhằm gây bất ổn từ bên trong. Ở Cuba cũng vậy, ngay sau cuộc biểu tình nổ ra vào ngày 11-7-2021, nhiều trang mạng tại phương Tây, nhất là Mỹ, đã tung các bài bình luận, đánh giá biểu tình chủ yếu xuất phát từ chế độ chính trị; từ đó xuyên tạc bản chất của chế độ XHCN và kích động, kêu gọi người dân Cuba lật đổ chế độ. Trong khi đó, từ giữa năm 2020 đến nay, biểu tình, kể cả bạo động, đàn áp người biểu tình, đã diễn ra ở nhiều nước trên thế giới (Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Italia, Ôxtrâylia, Thái Lan...) do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Nếu cũng với cách nhìn mang động cơ thù địch về chính trị, liệu các đối tượng xấu có cho nguyên nhân biểu tình, bạo động trong đại dịch Covid-19 là xuất phát từ bản chất chính trị và người dân muốn lật đổ chế độ xã hội tại các nước này hay không?

          Thứ ba, việc lắp ghép khiên cưỡng yếu tố đạo đức vào thuật ngữ pháp lý, phản ánh cách tư duy chiết trung, ngụy biện, thiếu đạo đức khi không có cơ sở pháp lý cần thiết

          Thuật ngữ “tù nhân lương tâm” mà các thế lực thù địch thường rao giảng là sự lắp ghép khiên cưỡng yếu tố đạo đức vào khái niệm pháp lý. Tù nhân là cụm từ dành cho những người có hành vi vi phạm pháp luật, bị tòa án tuyên là có tội và phải chịu hình phạt tù theo quyết định có hiệu lực của tòa án. Việc một người bị phạt tù là hậu quả tất yếu khi người đó có hành vi phạm tội đã được quy định trong bộ luật hình sự, bị điều tra, truy tố, xét xử công khai, nghiêm minh tại tòa án. Cho nên trong nền tư pháp Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”. Việc cài đặt khiên cưỡng yếu tố đạo đức vào một thuật ngữ pháp lý phản ánh một cách tư duy chiết trung, ngụy biện, thiếu đạo đức khi không có cơ sở pháp lý cần thiết để tố cáo Việt Nam về dân chủ, nhân quyền.

          Cách gọi “tù nhân lương tâm” chỉ là một chiêu trò của các tổ chức, cá nhân thù địch với chế độ xã hội ở Việt Nam, nhằm cổ vũ, hậu thuẫn cho các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam để dễ bề can thiệp vào việc bảo vệ, kích động những đối tượng này. Dựa vào chiêu bài “tù nhân lương tâm”, các đối tượng chống đối trong nước tìm cách tạo cớ cho những thế lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, gây sức ép với chính quyền và xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tiến tới gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự để thực hiện âm mưu thúc đẩy “cách mạng màu” nhằm chuyển hóa chế độ xã hội tại Việt Nam.

          Tại Việt Nam cũng như ở bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào khác, những đối tượng vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Hoàn toàn không có việc bắt giữ, điều tra, truy tố, xét xử đối với những đối tượng vi phạm pháp luật lại bị coi là đàn áp những người “bất đồng chính kiến” hay giam giữ “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”, biến những kẻ vi phạm pháp luật thành nạn nhân, dễ bề đánh lừa dư luận trong và ngoài nước, lu loa với luận điệu nhân quyền ở Việt Nam là hết sức tồi tệ.

          Thứ tư, diễn giải tư biện, trừu tượng về nhân quyền phổ quát

          Nhân quyền phổ quát là quyền tự nhiên của mỗi người dựa trên nhân phẩm của con người. Các luận điệu phê phán Việt Nam thường cho Việt Nam (và các nước đang phát triển khác) xem xét nhân quyền theo một nội hàm quá rộng, nên chung chung, trừu tượng, mà coi nhẹ việc tôn trọng, bảo vệ, thực hiện quyền tự nhiên của những cá nhân cụ thể. Đúng là phải tôn trọng, bảo vệ, thực hiện quyền tự nhiên của cá nhân, nhưng không thể chỉ thấy quyền của bản thân một hay vài cá nhân cụ thể mà hy sinh quyền tự nhiên, trước hết của các cá nhân, nhóm xã hội trực tiếp liên quan đến những cá nhân đó. Bởi lẽ, nhân phẩm con người không chung chung, trừu tượng mà được thể hiện, tôn trọng, bảo vệ, thực hiện một cách tự nhiên trong thực tế ứng xử, quan hệ và hoạt động cùng với những cá nhân khác, trước hết là với những người sống quanh mình. Đó chính là biểu hiện tự nhiên của nhân quyền phổ quát. Vì thế không chỉ Việt Nam mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều tiếp cận và thực hành nhân quyền phổ quát không chung chung, trừu tượng, mà trong mối quan hệ tự nhiên giữa quyền cá nhân với quyền của nhóm xã hội hay quyền của cộng đồng. Chỉ khi quyền tự nhiên của cá nhân hài hòa với quyền tự nhiên của cộng đồng, trước hết là quyền tự nhiên của nhóm xã hội liên quan trực tiếp đến cá nhân đó, thì thuộc tính phổ quát của nhân quyền tự nhiên mới thành hiện thực.

          Các luận điệu phê phán theo lối tư biện nhân danh tính phổ quát của nhân quyền tự nhiên của cá nhân cùng lối suy diễn một chiều thái quá và mang động cơ thù địch về chính trị, đã dựa trên một số thông tin chưa được kiểm chứng cùng sự kỳ thị đối với Việt Nam để cường điệu hóa quyền của một vài cá nhân, mà bỏ qua quyền của các cá nhân, nhóm xã hội trực tiếp liên quan đến sự vi phạm nhân quyền của cá nhân đó. Cách nhìn nhận hết sức tồi tệ này thể hiện rõ trong các bản phúc trình nhân quyền toàn cầu của HRW; khi tổ chức này lâu nay liên tục báo động về “một xu hướng nhân quyền tiếp tục xuống cấp nghiêm trọng tại Việt Nam”. Nếu theo luận điệu này thì cho đến nay, HRW hầu như chẳng còn thu thập được chất liệu bảo đảm quyền con người nào ở nước ta để “sản xuất” phúc trình về nhân quyền. Đó chính là một logic hết sức tồi tệ của các luận điệu phê phán nhân quyền tại Việt Nam.

          Thứ năm, nhân danh nhân quyền phổ quát để che lấp ý thức hệ chính trị phương Tây

          Ý thức hệ chính trị này vốn đẫm màu sắc chủ nghĩa đế quốc văn hóa, xem văn hóa phương Tây là trung tâm, coi nhân quyền phương Tây chi phối nhân quyền phổ quát toàn thế giới và cao hơn chủ quyền quốc gia. Nó lại bị chi phối bởi nguồn kinh phí hoạt động của những cá nhân, tổ chức dân sự nước ngoài theo cơ chế thị trường và không thiện chí với Việt Nam. Nên điều dễ hiểu là nó thường sai sự thật, thiên vị, mang màu sắc chính trị thực dụng, vụ lợi, thậm chí nhiều khi có tính chống đối công khai, trắng trợn và quyết liệt. Từ đó nó dễ gây ra phản ứng tiêu cực trong dư luận Việt Nam và cả thế giới. Thí dụ các bản phúc trình về nhân quyền của HRW thường bị phản ứng, bị chỉ trích tức thì do chịu quá nhiều tác động bởi thế lực cực hữu trong chính quyền Mỹ, như về Vênêxuêla hoặc các hoạt động bài Hồi giáo. Để huy động được nhiều vốn cho hoạt động, HRW còn lợi dụng tâm lý chống Ítxraen để “sản xuất” phúc trình về nhân quyền theo cơ chế có lợi cho việc gây quỹ; tại nước Ả rập Xê út giàu có bằng cách tập trung chỉ trích Ítxraen nhưng lại “nhẹ nhàng” với các chế độ độc tài trong khu vực.

          Thứ sáu, vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác

          Cụ thể là đã vi phạm nghiêm trọng Điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 và Nghị quyết 2625 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng như trong nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Theo Nghị quyết 2625: không quốc gia nào hay nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoại của quốc gia khác. Mâu thuẫn nội tại của các luận điệu đó là mặc dù nhân danh nhân quyền phổ quát nhưng lại không tuân theo nguyên tắc điều chỉnh của luật nhân quyền quốc tế đối với chủ quyền quốc gia và trách nhiệm quốc gia, chẳng hạn theo Điều 1 của hai công ước quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như theo “Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế, điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc” (năm 1970).

          Xuất phát từ những nguyên tắc đó, Nhà nước Việt Nam, trong nhiều văn bản pháp luật đã quy định rõ các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và thành viên của những cơ quan đó phải: tôn trọng pháp luật và phong tục, tập quán của Việt Nam; không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. 

          Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và nền văn hóa do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống... nên cách tiếp cận nhân quyền phổ quát có thể khác nhau. Theo ông Lý Quang Diệu (Thủ tướng Xinhgapo), không ở đâu trên thế giới, các quyền này lại được phép thực hiện mà không có những giới hạn, vì nếu áp dụng một cách mù quáng những ý tưởng này có thể đi theo hướng hủy hoại xã hội có tổ chức.

                                                                                                                Đa22

Luận điệu của nhóm “dân chủ giả cầy”

 “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm” là câu cửa miệng quen thuộc của các nhà “dân chủ giả cầy” và các thành phần “tự nhục”, không bao giờ thừa nhận về sự phát triển của đất nước. Bởi đơn giản cái họ muốn nghĩ, muốn thấy và muốn nhiều người cùng nghĩ, cùng thấy như họ là về một đất nước Việt Nam đầy rẫy những bất công, tiêu cực, đói nghèo…

Nói về cụm từ “tự nhục”. Đây là một cụm từ khá đặc biệt. Sẽ không thể tìm thấy nó trong bất kỳ bộ Từ điển Tiếng Việt chính thống nào trước kia, mà chỉ trong thời gian gần đây, nó mới xuất hiện khá phổ biến trên các trang mạng xã hội. Cụm từ này dùng để chỉ trạng thái biểu hiện của một bộ phận người trong xã hội, luôn tự hạ thấp bản thân và quốc gia, dân tộc mình xuống, nhưng không phải để biểu hiện sự khiêm nhường, cầu thị, mà trái lại, vừa hạ thấp giá trị của dân tộc mình, vừa có xu hướng đề cao những giá trị ngoại, coi những thứ ngoại lai mà chủ yếu là các “giá trị phương Tây” mới là chuẩn mực, là tiêu chuẩn cần hướng tới. Như vậy, “tự nhục” chính là một dạng “tiêu chuẩn kép”, mà trong con mắt của những kẻ “tự nhục”, những gì thuộc về quốc gia, dân tộc mình sẽ luôn là xấu xa, tiêu cực, ngược lại, những thứ ngoại lai thì luôn mỹ miều, tốt đẹp và được họ ca tụng hết lời.

Điều đáng nói ở đây, căn bệnh “tự nhục” ý không chỉ dừng lại ở một số kẻ luôn nhân danh dân chủ, yêu nước, tiến bộ, mà thông qua các công cụ, phương tiện truyền thông, nó bắt đầu có chiều hướng lây lan sang nhiều thành phần xã hội khác nhau, cả người trẻ, cả người ít hiểu biết lẫn người có tri thức, trình độ, thậm chí lây lan sang không ít học giả tên tuổi và một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.

Có thể kể ra đây rất nhiều ví dụ về căn bệnh “tự nhục” hay “tiêu chuẩn kép” của những dạng người này:

Nói về thế chiến thứ hai, rất nhiều người đều khẳng định ý nghĩa của cuộc chiến chống lại chủ nghĩa phát xít, họ đều thừa nhận về vai trò của Hồng quân Liên Xô cũng như những đóng góp của các nước đồng minh, nhất là Quân đội Mỹ. Tuy nhiên, khi nói về cuộc trường chinh gian khổ của dân tộc Việt Nam, thì không ít người lại hoài nghi về tính tất yếu của cuộc đấu tranh đó và ý nghĩa lịch sử trong các chiến thắng của dân tộc ta. Thậm chí họ còn cho rằng chúng ta đã đuổi đi “một nền văn minh” sau năm 1954 và nhất là sau năm 1975. Thật nực cười!

Nói về khoa học công nghệ, có những fanpage cả triệu like luôn ra rả luận điệu: “người chế tạo ra máy móc nông nghiệp ở Việt Nam toàn là nông dân”, “nông dân chế tạo xe thiết giáp”, “các giáo sư, tiến sĩ, nhà khoa học Việt Nam đang ở đâu?”, “người Việt Nam thì đến cái ốc vít còn không làm được”… Những nhận định mang tính “tự nhục” đó thực sự quá ấu trĩ, không phân biệt được đâu là phát minh, sáng tạo, đâu là việc chế tạo và ứng dụng các phát minh. Nực cười vô cùng!

Nói về thiên tai, khi xảy ra sự cố cháy rừng ở Hà Tĩnh, họ hô hào “trực thăng cứu hỏa đâu”… rồi nhất loạt đổ cho “cộng sản ăn tiền thuế của dân”. Trong khi đó, vụ cháy nhà thờ Đức Bà ở Pa – ri, hay vụ cháy rừng đang diễn ra hai tháng nay ở Úc, cả Pháp và Úc đều sử dụng các công cụ, phương tiện cứu hỏa không khác gì Việt Nam… thì hạng người “tiêu chuẩn kép” lại “pray for”. Thật khó hiểu!

Nói về thể thao, khi chủ nhà Philippines bị phê phán về cung cách tổ chức SEAGames 2019, các thành phần “tự nhục” cho rằng: “Việt Nam đã hơn gì chưa mà nói”, “rồi người ta một năm chịu nhiều bão, được thế là tốt rồi”… Ấy thế mà, khi Việt Nam chúng ta đăng cai tổ chức các sự kiện quốc tế từ APEC, các hội nghị ASEAN, cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ – Triều… thì họ lại không tin, thậm chí còn rêu rao “Cộng sản ngăn cấm người dân tiếp cận Donal Trump”, “bảo vệ nguyên thủ nước người ta mà thế à”… Nực cười nhất là khi đội tuyển Việt Nam vô địch bóng đá nam trong kỳ SEAGames vừa qua thì họ lại bĩu môi, dè bỉu “chỉ là cái ao làng thôi”. Ô hay, chắc chẳng có gì làm họ tin vào sự phát triển của đất nước và Việt Nam phải tệ – đó chính xác là điều duy nhất những kẻ “tự nhục” tin.

Còn vô vàn “tiêu chuẩn kép” và những điều “tự nhục” đến ngỡ ngàng: họ nhục vì đồng bào họ ăn thịt chó mà quên rằng Hàn quốc cùng nhiều quốc gia khác, thịt chó được coi là một phần của văn hóa ẩm thực; họ nhục vì dân tộc Việt Nam không tạo ra nhạc Rock and roll mà quên rằng Nhã nhạc cung đình Huế, hát ca trù hay câu quan họ Bắc Ninh… của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là giá trị văn hóa phi vật thể, đó là niềm mơ ước của bao quốc gia, dân tộc khác. Buồn cười hơn là với họ – những kẻ tự nhục – tất cả những gì còn khiếm khuyết, các thói hư, tật xấu trong xã hội đều từ một nguồn gốc là “do cộng sản” mà ra.

Ngót ngét cũng gần một thế kỷ các tác phẩm “Số đỏ”, “Kỹ nghệ lấy tây”… của Vũ Trọng Phụng ra đời. Những nhân vật: “ông, bà Văn Minh”, “bà Phó Đoan” hay “Xuân”, “Tuyết”, “Ách Nhoáng”, “Đội Chóp”… những tưởng chỉ có trong tiểu thuyết văn học, ấy vậy mà giờ đây, những hệ lụy từ chính sách ngu dân của chế độ thực dân, kết hợp với sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, thì những “me Tây”, những kẻ sính ngoại… vẫn cứ tồn tại đâu đó trong xã hội. Đúng như nhà tư tưởng Nhật Bản Fukuzawa Yukichi từng nói: “Văn minh phương Tây… không có nghĩa là cái gì của họ cũng hoàn hảo”.

Đất nước Việt Nam đang từng ngày thay da, đổi thịt, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, thế và lực của ta đã mạnh hơn hẳn so với trước kia. Đó là một thực tế đáng tự hào và cũng đặt ra những thách thức to lớn, đòi họi mọi người dân nước Việt phải nỗ lực hơn nữa, trước hết là để vượt qua chính mình, bởi bằng lòng với cái đã đạt được là dấu hiệu của sự thụt lùi, suy vong. Chẳng hề ngẫu nhiên khi các thế lực thù địch lại ra sức hô hào, cổ xúy cho tư tưởng “tự ti” dân tộc, bằng cách này hay cách khác gieo rắc trạng thái tâm lý “tự nhục” trong một bộ phận người Việt. Mục đích của những hành động đó, không gì khác ngoài việc gây tâm lý e dè, tự ti trong nhân dân, xuyên tạc thành quả xây dựng, phát triển đất nước, gây xói mòn lòng tin của nhân dân vào công cuộc đổi mới, qua đó hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay./.

Nhất quán chứ không phải là tách biệt

 Thời gian vừa qua, cùng hùa theo những kẻ phản động, bất mãn, trên trang mạng Thongluan-rdp.orp có bài viết: “Bảo vệ Tổ quốc hay bảo vệ Mác – Lênin”, với nội dung xuyên tạc, phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc với bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin. Vì vậy, cần đấu tranh bác bỏ bởi cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây:

Một là, bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã trở thành nền tảng tư tưởng, là vũ khí lý luận sắc bén, chỉ đạo hành động của chính đảng giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên các châu lục, kể cả ở Việt Nam. Chủ nghĩa Mác – Lênin mang bản chất cách mạng, khoa học nên có sức sống trường tồn trong thực tiễn, không chỉ nhằm giải thích thế giới mà quan trọng hơn là cải tạo thế giới. Đây là hệ tư tưởng, là học thuyết trang bị thế giới quan, phương pháp luận khoa học và lý luận về xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội. Với giá trị khoa học và cách mạng, chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ dẫn công cuộc xây dựng, bảo vệ chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga và các nước trên thế giới giành được thành tựu to lớn trong khoảng thời gian ra đời chưa dài.

Thứ hai, chủ nghĩa Mác – Lênin, không chỉ ra tính tất yếu mà còn chỉ ra nội dung toàn diện bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”[1]. Ở thời kỳ V.I.Lênin đã kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng của C.Mác–Ph.Ăngghen vào điều kiện thực tiễn mới là giai cấp công nhân Nga đã giành được chính quyền, tổ quốc XHCN – một kiểu loại mới hình thành thì tất yếu phải bảo vệ Tổ quốc. V.I.Lênin đã khẳng định: “Kể từ ngày 25 tháng Mười 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành “bảo vệ tổ quốc”… bảo vệ nước Cộng hòa xô-viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội”[2]. V.I.Lênin đưa ra quan niệm, chỉ rõ nội hàm của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa để khẳng định nội dung bảo vệ Tổ quốc toàn diện cả yếu tố địa lý – tự nhiên và yếu tố chính trị – xã hội. Với sự tài tình của V.I.Lênin, cùng với Đảng Bônsêvic Nga đã lãnh đạo toàn dân đánh tan âm mưu xâm lược của 14 nước đế quốc, thù trong, bảo vệ thành công chính quyền Xô Viết non trẻ và chế độ XHCN.

Thứ ba, thực tiễn một số nước xã hội chủ nghĩa chưa chú trọng đúng mức việc gắn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc với nhiệm vụ bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin đã phải trả giá bởi sự sụp đổ của chế độ Xã hội chủ nghĩa. Sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu ở những năm cuối của thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, cả bên trong và bên ngoài. Đây là điều không mong muốn của những người cộng sản chân chính, qua tổng kết của các đảng cộng sản cho thấy nguyên nhân chủ yếu là do sai lầm chủ quan là nhận thức không đúng về mô hình, về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin. Do mơ hồ mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bị kích động đa nguyên nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cùng nhiều nguyên nhân khác nhưng hoàn toàn không phải là do “lỗi thời” của Chủ nghĩa Mác – Lênin như các thế lực thù địch rêu rao.

Thứ tư, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc gắn với bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là khách quan. Thực tế chứng minh, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam trên các lĩnh vực, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm suy yếu nội bộ Đảng tiến tới bạo loạn lật đổ chế độ và làm đổi màu chế độ theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhất quán khẳng định quan điểm: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[3], là nhất quán và biện chứng. Thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, trước hết là sản phẩm của đổi mới tư duy lý luận, trong đó có đổi mới tư duy về nhiệm vụ và mục tiêu, phương thức tiến hành bảo vệ Tổ quốc, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện nhiệm vụ xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều đó cho thấy, bảo vệ Tổ quốc với bảo vệ chủ nghĩa Mác – Leenin là thống nhất chứ không phải là tách biệt.

Vậy mà, bài viết “Bảo vệ Tổ quốc hay bảo vệ Mác – Lênin”, trắng trợn vu khống cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam bảo vệ “Mác – Lênin” là sai lầm, là không đúng. Đây là quan điểm sai trái và phản động. Chúng ta tin tưởng mỗi người dân Việt Nam và nhân loại vẫn đánh giá đúng về giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại hiện nay. Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo và thực hiện công cuộc đổi mới, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giành thắng lợi. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo duy nhất, bảo đảo cho đất nước phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đem lại hạnh phúc cho nhân dân./.