Thứ Ba, 4 tháng 10, 2022

 PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trong lịch sử phát triển của các quốc gia, dân tộc trên thế giới, dù là nước lớn hay bé, phát triển hay đang phát triển, đều xây dựng cho mình những chủ thuyết, bao gồm hệ thống các quan điểm, nhận thức, tư tưởng mang tính lý thuyết nhằm định hướng cho sự phát triển của quốc gia. Hệ thống tư tưởng định hướng này được cụ thể hóa thành đường lối, chủ trương, chính sách, sách lược, chiến lược… nhằm hiện thực hóa những mục tiêu phát triển của các quốc gia, dân tộc trong thực tế. Chính nhờ được trang bị hệ thống lý luận khoa học, con tàu cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi đến đài vinh quang, sánh vai cùng bạn bè trên thế giới, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay…”[1].

Trong phạm vi hội thảo, tác giả tập trung phê phán các luận điệu, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch phủ nhận thành tựu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; phủ nhận quan điểm có tính nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”; bác bỏ quan điểm của các thế lực thù địch về yêu cầu xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo học thuyết tam quyền phân lập:

Thứ nhất, kiên quyết đấu tranh chống các luận điệu, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch phủ nhận thành tựu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Năm 1994, lần đầu tiên quan điểm, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII giữa nhiệm kỳ. Đây là quá trình mở đầu từ đúc kết, kế thừa có chọn lọc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại và quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật kiểu mới vào thực tiễn xây dựng Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm dụng quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự thống nhất của Trung ương”[2].

Trong quá trình đổi mới và cải cách đó, chúng ta nhận rõ một sự thăng hoa rõ rệt của nhận thức lý luận của Đảng ta trong vấn đề Nhà nước pháp quyền. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đưa yêu cầu đó lên thành quy tắc hiến định (Điều 2 Hiến pháp 1992 được sửa đổi năm 2001 và nay tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013) thể hiện sự thừa nhận và sự kết hợp tính phổ biến của một giá trị lịch sử nhân loại với những nét đặc trưng, những giá trị độc đáo của Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Đánh giá về thành tựu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã khẳng định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”[3]. Những thành tựu về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được thực tiễn kiểm nghiệm, hoàn toàn bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng, nhà nước pháp quyền chỉ có thể thành công ở mô hình tư bản chủ nghĩa, gắn với chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Thứ hai, bác bỏ luận điệu sai trái, phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đây là nguyên tắc Hiến định mang tính giai cấp sâu sắc, nguyên tắc bảo đảm sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp cách mạng xã hội của nước ta là sự nghiệp cách mạng của toàn dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận hợp thành hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhưng đồng thời là lực lượng lãnh đạo hệ thống đó. Vì vậy, Nhà nước là một thành viên trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa tất yếu phải do Đảng lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức xây dựng. Mọi hoạt động của Nhà nước, cũng như việc tổ chức xây dựng và phát huy vai trò hiệu lực của Nhà nước trong điều hành quản lý xã hội đều phải đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng, ngoài ra không lực lượng nào có quyền nắm và lãnh đạo Nhà nước. Đây là vấn đề thuộc về bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước, đồng thời cũng là một nguyên tắc hiến định, đã được ghi trong Hiến pháp năm 1992 và nay là Điều 4 Hiến pháp năm 2013. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện: Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật, chính sách cụ thể và lãnh đạo tổ chức nhân dân thực thi Hiến pháp, pháp luật, chính sách; lãnh đạo Nhà nước tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức; Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng công tác kiểm tra việc quán triệt, tổ chức thực hiện đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước; củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước làm tham mưu cho Đảng; phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và nhân dân trong việc tham gia xây dựng, kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước và bảo vệ Nhà nước.

Hiện nay, các thế lực thù địch đưa ra nhiều quan điểm, luận điệu hòng bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với Nhà nước và xã hội. Chúng lên tiếng cho rằng, ở Việt Nam không có “pháp trị”, chỉ có “đảng trị”. Đây là thủ đoạn nham hiểm của các lực lượng chống đối Đảng Cộng sản lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu những năm 80 của thế kỷ trước, tiếc rằng có một số người vẫn cổ xúy cho thủ đoạn trên, mà không biết những hậu quả khôn lường đối với đất nước, đối với xã hội, đối với người dân khi vai trò lãnh đạo của Đảng bị đặt ngoài Hiến pháp. Những người có lương tri trên thế giới không thể không nhớ đến sự kiện Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã năm 1991, những người dân chủ cấp tiến hả hê khi vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản bị đặt ngoài Hiến pháp, khi Điều 6 Hiến pháp Liên Xô năm 1977 (sửa đổi, bổ sung năm 1988) bị phá bỏ. Trên đất nước đó, sau những biến cố thăng trầm, chính Tổng thống Nga V. Putin trong cuộc gặp các đảng phái chính trị của Nga tại Điện Kremlin ngày 23/9/2016 cho rằng,Liên Xô sụp đổ là thảm họa địa chính trị lớn nhất trong thế kỷ XX, sự kiện Liên Xô sụp đổ không chỉ là thảm họa địa chính trị lớn nhất trong thế kỷ XX mà rất có thể là cả trong lịch sử chính trị thế giới, để lại những hậu quả có tính toàn cầu về tư tưởng, văn hóa, chính trị, kinh tế – xã hội và an ninh.

Những ai đó nếu còn phản bác, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp, trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thiết tưởng cần nhớ Điều 6, Hiến pháp Liên Xô năm 1977 (sửa đổi, bổ sung năm 1988) quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đã bị phá vỡ, để lại những hậu quả nặng nề trong không gian hậu Xô viết cho đến ngày nay.

Thứ ba, tiếp tục khẳng định nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”; không áp dụng học thuyết tam quyền phân lập trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Đặc trưng cơ bản, chung nhất của Nhà nước pháp quyền là quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng trong từng nước khi giải quyết các vấn đề tổ chức quyền lực của nhà nước cũng đều xuất phát từ đặc điểm thực tiễn riêng của mỗi nhà nước khác nhau. Ở một số nhà nước trên thế giới, do xuất phát từ thể chế chính trị, đặc điểm lịch sử hình thành… có tổ chức nhà nước theo nguyên tắc “tam quyền phân lập”, tức là phân lập các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp với những hình thức và mức độ khác nhau. Về bản chất, dưới khoa học chính trị học, đây thực chất là sự phân chia quyền lực giữa các đảng phái. Tuy vậy, trên thực tế cũng chưa có một nước tư bản nào thực hiện đúng nguyên tắc tam quyền phân lập, mà đều áp dụng linh hoạt phù hợp với tình hình của từng nước.

Ở nước ta, khi thảo luận vấn đề cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước cũng có ý kiến cho rằng cần phải xây dựng Nhà nước pháp quyền trên cơ sở nguyên tắc tam quyền phân lập dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, Đại hội IX của Đảng đã dứt khoát khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”[4]. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”[5]. Như vậy, điểm khác nhau cơ bản trong tổ chức quyền lực của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước tư sản, là: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập mà tổ chức quyền lực theo nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất”, không thể “phân quyền” theo lối phân chia, cắt khúc, đối chọi lẫn nhau giữa các quyền, mà chỉ có sự phân công trên cơ sở thống nhất và tập trung quyền lực cao nhất ở Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Các quan điểm chủ đạo của Đảng ta về xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã gắn chặt với sắc thái truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, cùng với các giá trị dân chủ, nhân đạo, nhân văn, nhân ái của nhân loại. Mô hình Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng phù hợp với các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc vận dụng một cách sáng tạo và có chọn lọc những kinh nghiệm khác nhau của các dân tộc về cách thức tổ chức Nhà nước pháp quyền, ưu tiên những giá trị có tính phổ biến, kết hợp hài hoà với các giá trị truyền thống, những đặc điểm phát triển và lịch sử phát triển đất nước. Mọi yêu cầu, đòi hỏi hay đề nghị, kiến nghị Việt Nam phải “tam quyền phân lập” chỉ là thủ đoạn, âm mưu phá hoại, biến đất nước thành nơi hoang tàn, đổ nát.

Bên cạnh đó, cũng cần phải nói, không phải chỉ tổ chức bộ máy nhà nước theo “tam quyền phân lập” mới kiểm soát được quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước là vấn đề vô cùng quan trọng, nhưng cũng rất phức tạp. Việc nắm giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu quả sẽ là điều kiện để thực hiện được những mục đích đã đề ra, mang lại hạnh phúc và nhiều lợi ích nhất cho nhân dân, đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình nắm giữ, tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thường tiềm ẩn rất nhiều những nguy cơ khác nhau như tham nhũng, lãng phí, lạm quyền… Vì vậy, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước là một nhiệm vụ cấp bách, quan trọng trong quản lý nhà nước trên thế giới nói chung, ở nước ta nói riêng, đây cũng chính là ước vọng hàng nghìn năm của nhân loại tiến bộ. Ở nước ta, thuật ngữ “kiểm soát” lần đầu tiên được hiện diện trong văn kiện của Đảng và thể chế hóa quan điểm đó, tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta bắt nguồn từ nguồn gốc và bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta không cần phải áp dụng cơ chế tam quyền phân lập, bởi các nhánh quyền lực của nhà nước ta không phải “nhánh quyền lực của phe nhóm này chống lại phe nhóm kia, vốn là gốc rễ của cơ chế tam quyền phân lập”.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo được Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII xác định “là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”. Chúng ta tin tưởng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo – chính đảng được trang bị hệ thống lý luận sáng tạo của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết bác bỏ những luận điệu xuyên tạc phủ nhận Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phủ nhận nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, văn bản có giá trị pháp lý cao nhất của Nhà nước ta.

Đại tá, TS NGUYỄN HỮU PHÚC

Chủ nhiệm Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị.

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.25.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.85-86.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.71.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.131-132.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.85.

Có thể là hình ảnh về 1 người

 

HOA ĐẸP MIỀN ĐÔNG

Gửi tin nhắn

3232

2 bình luận

5 lượt chia sẻ

Thích

Bình luận

Chia sẻ

 

 GIAN NAN CUỘC CHIẾN CHỐNG “GIẶC NỘI XÂM”

Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi là “giặc nội xâm” nguy hiểm không kém giặc ngoại xâm.

Nhiều năm qua, Đảng cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, kiên trì lãnh đạo cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” và đã thu được nhiều thắng lợi quan trọng. Tuy nhiên, cuộc chiến vẫn cam go…

Theo định nghĩa của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI) thì tham nhũng là hành vi lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. Tham ô là hành vi lợi dụng quyền hành để lấy cắp của công.

Không phải bây giờ mới có tham ô, tham nhũng mà vấn nạn này đã có từ rất lâu trong lịch sử loài người, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Tại Việt Nam, ngay từ thủa xa xưa, ông cha ta đã ghét thói tham ô, tham nhũng và đã có nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật phê phán tệ nạn này.

Bức tranh dân gian Đông Hồ “Trạng Chuột vinh quy” (hay còn gọi là “Đám cưới chuột”) là một ví dụ. Nhân vật chính trong tranh là Chuột (đã đỗ Trạng nguyên) “vinh quy” có “ngựa chàng đi trước, kiệu nàng theo sau”. Thế nhưng nhân vật to nhất (cả nghĩa đen và nghĩa bóng) trong tranh lại là con mèo.

Những con chuột đi đầu “dâng” đến mèo những thức ăn ngon như bồ câu, cá chép thì mèo cũng không có biểu hiện hành động gì. Nó coi như đấy là chuyện đương nhiên, thường tình.

Nhìn cách “ứng xử” này, người ta sẽ đoán mèo sẽ không “vồ” chuột như theo quy luật tự nhiên nữa, mà sẽ để cho “đám vinh quy” (đám cưới) này đi qua. Vì nó đã được “cống” những thứ kia...!!!

Trong truyện cười “Nhưng nó còn bằng hai mày”, chỉ vì một xô xát nhỏ không đâu vào đâu mà hai nông dân Cải và Ngô đưa nhau đến kiện nơi “cửa quan”, mà nghe đồn là người xử kiện giỏi nhất vùng.

Cải nghĩ “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” bèn đút thầy Lý (người xử kiện) 5 đồng để mong được “xử thắng”. Chốn công đường trang nghiêm, thầy xử đánh Cải 10 roi. Nghĩ “thầy” quên đã nhận tiền, Cải xòe 5 ngón tay phải ý nhắc “thầy” đã đưa 5 đồng và “thầy” đã nói xử phải cho mình. “Quan xử” ngang nhiên xòe 5 ngón tay trái của mình úp lên 5 ngón tay của Cải và nói “Tao biết mày phải. Nhưng nó còn bằng hai mày!”. Thì ra “thầy” đã nhận tiền của Ngô gấp đôi của Cải.

Nhiều triều đại phong kiến Việt Nam cũng đã nhận rõ sự nguy hại của nạn tham nhũng và có những quy định ngăn ngừa, nghiêm trị. Thời kỳ nhà Lý (1009 - 1225), nhà vua đề ra những quy định khắt khe để ngăn ngừa, trừng trị hành vi tham ô, ăn trộm của công của quan lại. Cụ thể, nếu quan nha, thư lại nào mà thu thuế vượt quá số lượng thì bị khép vào tội ăn trộm và bị xử nặng tội. Năm 1043, vua Lý Thái Tông đặt thêm quy định, ai trộm lúa của dân sẽ bị đánh 100 trượng; nếu không lấy được mà làm bị thương người khác sẽ bị tội lưu (tội đem đi nơi phương xa, suốt đời không được về). Quân lính lấy của cải của dân sẽ bị đánh 100 trượng và thích 30 chữ.

Bộ luật Hồng Đức là Bộ luật ra đời dưới thời vua Lê Thánh Tông có niên hiệu là Hồng Đức (1470-1497), đây là Bộ luật chính thức của nhà nước Đại Việt thời Lê sơ và hiện còn được lưu giữ đầy đủ. Điều 138, Bộ luật này ghi rõ, quan lại mà tham nhũng, nhận hối lộ, làm sai phép nước thì bị phạt: tham ô từ 1 đến 9 quan tiền bị cách chức; từ 10 đến 19 quan thì bị đánh trượng rồi đi đày; từ 20 quan trở lên bị xử chém. Đối với của hối lộ, một phần trả lại chủ, một phần sung vào kho.

Tuy đã có nhiều chế tải xử lý, răn đe, nhưng vấn nạn tham nhũng tại Việt Nam vẫn vắt qua nhiều thế kỷ và ngày càng biến tướng, tinh vi.

Trong những năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng với việc dồn sức, dồn lực chống giặc ngoại xâm, Đảng ta và Bác Hồ kính yêu vẫn rất quan tâm đến công tác chống “giặc nội xâm”.

Ngày 5-9-1950, tại chiến khu Việt Bắc đã diễn ra một phiên tòa đặc biệt gây chấn động dư luận xã hội lúc bấy giờ. Đó là vụ án Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ và làm nhiều điều bỉ ổi. Tại phiên toà, trước những chứng cứ đanh thép, Trần Dụ Châu phải cúi đầu nhận tội.

Kết thúc phiên tòa, Trần Dụ Châu bị tuyên phạt với mức án cao nhất - tử hình. Bản án đã nhanh chóng được báo cáo lên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi cân nhắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bác đơn xin giảm tội của Trần Dụ Châu.

Quyết định của Bác thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Điều đó cho thấy sự nghiêm minh và quyết tâm của Đảng, Chính phủ, Bác Hồ trong việc đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, lãng phí.

Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhất là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, tình trạng tham nhũng ở VN diễn ra với tính chất, mức độ khác nhau nhưng ngày càng tinh vi hơn, làm trì trệ sự phát triển của xã hội, là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (từ ngày 20 đến 25-1-1994) đã xác định tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của chế độ XHCN.

Đại hội VIII của Đảng năm 1996 tiếp tục khẳng định 4 nguy cơ này vẫn còn tồn tại.

Đến Đại hội IX của Đảng năm 2001 nhấn mạnh thêm: “Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ ta”.

Đại hội X của Đảng năm 2006 một lần nữa nêu quyết tâm: “Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta, nhằm xây dựng một bộ máy lãnh đạo và quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta”.

Tháng 5-2012, tại Hội nghị lần thứ 5, BCHTWĐ khóa XI đã thảo luận về Đề án "Kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng". BCHTW khẳng định, phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta.

Hội nghị đánh giá: “Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành, gây bức xúc, bất bình trong xã hội; là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước”.

BCHTWĐ đã quyết định chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban để chỉ đạo toàn diện công tác phòng chống tham nhũng trên phạm vi cả nước.

Ngày 1-2-2013, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 162-QĐ/TW thành lập BCĐTW về phòng, chống tham nhũng do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban chỉ đạo.

Với nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, từ năm 2013 đến nay, BCĐTW về phòng chống tham nhũng (sau đổi thành BCĐTW về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, gọi tắt là Ban chỉ đạo Trung ương) đã tạo ra nhiều bước đột phá trong cuộc chiến chống “giăc nội xâm, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, đánh giá cao, cộng đồng quốc tế ghi nhận, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Thực tế đã chứng minh, kể từ khi BCĐTW về phòng chống tham nhũng được thành lập đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực và đã đạt được thành quả quan trọng, tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, đồng tình ủng hộ.

Thực hiện Chương trình công tác năm 2022 và Kết luận tại phiên họp thứ 21 của BCĐTW về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác này, Bộ Chính trị đã giao cho Ban Nội chính Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan nghiên cứu, xây dựng.

Sau một thời gian chuẩn bị nghiêm túc, khẩn trương,Đề án này đã được thông qua. Ngày 2-6 vừa qua, Ban Bí thư đã ban hành Quy định số 67-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Ban Chỉ đạo). Đây là căn cứ quan trọng để Ban Chỉ đạo các tỉnh, thành phố đề ra phương hướng hoạt động hiệu quả, trách nhiệm.

Giặc ngoại xâm dù có mạnh đến đâu cũng có thể phát hiện từ khi chúng chưa xâm lược, còn “giặc nội xâm” ở bên trong mỗi con người, mỗi cơ quan, đoàn thể. “Giặc nội xâm” khó phát hiện, vì thế cuộc chiến chống thứ giặc này rất gian nan . Nhân dân đang kỳ vọng với “hỏa lực” mới là Quy định số 67-QĐ/TW. cuộc chiến chống “giặc nội xâm” ở Việt Nam sẽ được đẩy mạnh trong thời gian tới./.

ANH MINH

Có thể là hình ảnh về 1 người và đang ngồi

 

109Tôi Yêu Việt Nam và 108 người khác

3 bình luận

17 lượt chia sẻ

Thích

Bình luận

Chia sẻ

 

 

LIỆU ĐA ĐẢNG CÓ PHẢI LÀ “PHÉP MÀU” CỦA NHÂN QUYỀN?

Trong khi các hội nhóm cờ vàng ở hải ngoại và một số cá nhân đội lốt “dân chủ, nhân quyền” vẫn tin rằng mô hình đa đảng chắc chắn đem lại dân chủ, thịnh vượng cho Việt Nam, thực tế ở nhiều quốc gia đa đảng lại cho ta thấy những hình ảnh trái ngược.

Chẳng hạn trường hợp ở Philippines – một nước đa đảng và là đồng minh của Mỹ, thường được các hội nhóm cờ vàng ca tụng, so sánh với Việt Nam về thể chế, xã hội – dường như đang buộc chúng ta phải nghi ngờ về hình ảnh của một “đất nước đa đảng dân chủ”.

Trong một bài viết mới đăng trên VOA tiếng Việt hôm 08/07, cây bút Phạm Phú Khải đã gọi Philippines là một “chế độ phi dân chủ”. Lý do là không khí quân phiệt, gia đình trị của chính quyền Philippines hiện nay đã lên đến mức không thể che giấu. Khi đề cập đến tổng thống mới đắc cử của nước này, bài viết có đoạn như sau: “Ở Philippines, Ferdinand Marcos Jr đã tuyên thệ trong buổi lễ nhậm chức tổng thống vào ngày 30 tháng 6 vừa qua. Marcos con không ngần ngại ca ngợi thành tựu và con người của cha mình, mặc dầu Marcos cha là một nhà độc tài khét tiếng, đánh dấu bởi nạn tham nhũng lan tràn và vi phạm nhân quyền nghiêm trọng trong 21 năm cầm quyền. Marcos con đã chiến thắng cuộc bầu cử vào tháng 5 năm nay vì biết sử dụng đội ngũ chuyên về mạng truyền thông xã hội, tung tin sai lệch về thời đại của Marcos cha, và hóa giải những nghi vấn mà giới trẻ Philippines hiểu về thời điểm mà họ chưa sinh thành. Chiến dịch chiến tranh thông tin này không phải mới đây, mà nó đã được tiến hành từ ít nhất 3 năm trước, năm 2019, và được củng cố mạnh mẽ trong thời gian vận động tranh cử.”

Điều đáng nói là trong nhiệm kỳ trước, khi Philippines nằm dưới quyền lãnh đạo của một đảng khác, tình trạng nhân quyền của nước này cũng không khá hơn. Năm 2016, hai chuyên viên nhân quyền của Liên Hợp Quốc cho rằng, việc tổng thống Philippines Rodrigo Duterte trao quyền cho người dân bắn chết tội phạm ma túy mà không qua xét xử, là “kích động bạo lực, giết chóc, và là tội ác theo luật quốc tế”. Người ta ước tính, kể từ khi ông Duterte được bầu làm tổng thống năm 2016 đến năm 2019, con số thiệt mạng vì quyết định này có thể lên tới 27.000 người[1], trong đó có nhiều người vô tội.

Tháng 3 năm ngoái, Duterte tiếp tục kêu gọi người dân và cảnh sát nước này tiêu diệt “các chiến binh cộng sản ở Philippines” mà không qua xét xử. Chỉ hai ngày sau tuyên bố trên của ông ta, cảnh sát Philippines đã giết chết 9 nhà hoạt động nhân quyền, dù họ không hề tham gia các hoạt động vũ trang, mà chỉ thường xuyên phê phán tổng thống. Điều này không khỏi khiến chúng ta nhớ về các vụ giết ký giả ở hải ngoại của Việt Tân nhằm tẩy trắng các tội ác trong quá khứ của mình và hoạt động khủng bố vũ trang của Hoàng Cơ Minh.

Gần đây, Sri Lanka, một đất nước đa đảng, được kiểm soát bởi các liên minh đối nghịch do Đảng Tự do Sri Lanka cánh tả, với Chủ tịch Rajapakse, và Đảng Thống Nhất Quốc gia thân cánh hữu do cựu thủ tướng Ranil Wickremesinghe (đương kim tổng thống từ 20/7/2022) đứng đầu cũng đang phải trải qua thời kỳ đen tối với tình trạng khủng hoảng chính trị, vỡ nợ và thiếu hàng hóa, lương thực trầm trọng diễn ra trên cả nước.

Không biết các hội nhóm cờ vàng sẽ dùng những từ ngữ gì để “ca ngợi” mô hình một đất nước đa đảng khi chứng kiến cảnh người dân Srilanka đói lả trên hè phố, xếp hàng dài để chờ mua lương thực, nhiên liệu…? Nhưng chúng ta có thể tin rằng, bất cứ ai ở Việt Nam nếu được xem những cảnh tượng đó, hẳn sẽ trân quý, biết ơn khi đang được sinh sống trên đất nước Việt Nam với nền chính trị ổn định, an ninh, an toàn và đang từng ngày phát triển.

Hào Kiệt

Có thể là tranh biếm họa về một hoặc nhiều người và văn bản

 

8383

14 bình luận

16 lượt chia sẻ

Thích

Bình luận

Chia sẻ

 

Nguyễn Minh Sơn là “người bất đồng chính kiến”


Ngày 28/9/2022, Cơ quan ANĐT Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Nguyễn Minh Sơn, SN 1962, thường trú tại phường Trung Hoà, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Được biết, Nguyễn Minh Sơn bị bắt vì liên quan đến một video được Nguyễn Minh Sơn đăng tải vào ngày 31/12/2021 trên facebook cá nhân “Sơn Nguyễn” (video hiện đã được gỡ). Ngay sau khi Nguyễn Minh Sơn bị bắt, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đã lợi dụng vụ việc này để tuyên truyền xuyên tạc về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Điển hình như trang “Việt Tân” còn cho rằng chính quyền Hà Nội đã bắt thêm 1 người “bất đồng chính kiến”. Vậy thực tế Nguyễn Minh Sơn có phải là “người bất đồng chính kiến”?

BÀI HỌC VỀ SỰ DỐI TRÁ!


Một cô gái sau khi tốt nghiệp liền bắt đầu một cuộc sống vừa đi học vừa đi làm ở nước ngoài. Dần dần, cô phát hiện hệ thống thu vé các phương tiện công cộng ở đây hoàn toàn theo tính tự giác, có nghĩa là bạn muốn đi đến nơi nào, có thể mua vé theo lịch trình đã định, các bến xe theo phương thức mở cửa, không có cửa soát vé, cũng không có nhân viên soát vé, đến khả năng kiểm tra vé đột xuất cũng rất thấp.

Cô đã phát hiện được lỗ hổng quản lí này, hoặc giả chính suy nghĩ của cô có lỗ hổng. Dựa vào trí thông minh của mình, cô ước tính tỉ lệ để bị bắt trốn vé chỉ khoảng ba phần trăm. Cô vô cùng tự mãn với phát hiện này của bản thân, từ đó cô thường xuyên trốn vé. Cô còn tự tìm một lí do để bản thân thấy nhẹ nhõm:

- Mình là sinh viên nghèo mà, giảm được chút nào hay chút nấy.

Sau bốn năm, cô đạt được tấm bằng tốt nghiệp loại giỏi của một trường danh giá, cô tràn đầy tự tin đến những công ty lớn xin việc…

Nhưng những công ty này không hiểu vì lí do gì lúc đầu còn rất nhiệt tình nhưng về sau đều từ chối cô. Thất bại liên tiếp khiến cô tức tối. Cô nghĩ nhất định những công ty này có sự phân biệt, không nhận người nước ngoài.

Cuối cùng có một lần, cô trực tiếp đến bộ phận nhân lực của một công ty, yêu cầu giám đốc đưa ra một lý do vì sao từ chối cô. Kết cục họ đưa ra một lí do khiến cô không ngờ :

- Thưa cô, chúng tôi không hề phân biệt chủng tộc, ngược lại chúng tôi rất coi trọng cô. Lúc cô đến phỏng vấn, chúng tôi đều rất hài lòng với môi trường giáo dục và trình độ học vấn của cô, thực ra nếu xét trên phương diện năng lực, cô chính là người mà chúng tôi tìm kiếm !

- Vậy tại sao công ty ngài lại không tuyển dụng tôi ?

- Bởi chúng tôi kiểm tra lịch sử tín dụng của cô và phát hiện ra cô đã từng ba lần bị phạt tiền vì tội trốn vé !

- Tôi không phủ nhận điều này, nhưng chỉ vì chuyện nhỏ này, mà các anh sẵn sàng bỏ qua một nhân tài đã nhiều lần được đăng luận văn trên báo như tôi sao ?

- Chuyện nhỏ? Chúng tôi lại không cho rằng đây là chuyện nhỏ. Chúng tôi phát hiện, lần đầu tiên cô trốn vé là khi mới đến đất nước chúng tôi được một tuần, nhân viên kiểm tra đã tin rằng do cô mới đến và vẫn chưa hiểu rõ việc thu vé tự giác, cho phép cô được mua lại vé. Nhưng sau đó cô vẫn trốn vé thêm 2 lần nữa !

- Khi đó trong túi tôi không có tiền lẻ.

- Không, không thưa cô. Tôi không thể chấp nhận lí do này của cô, cô đang đánh giá thấp IQ của tôi ư. Tôi tin chắc trước khi bị bắt trốn vé, cô đã trốn được cả trăm lần rồi !

- Đó cũng chẳng phải tội chết, anh sao phải cứng nhắc như vậy? Tôi sửa là được mà !

- Không không, thưa cô. Chuyện này chứng tỏ hai điều: Một là cô không coi trọng quy tắc, cô lợi dụng những lỗ hổng trong quy tắc và sử dụng nó. Hai, cô không xứng đáng được tin tưởng. Mà rất nhiều công việc trong công ty chúng tôi cần phải dựa vào sự tin tưởng để vận hành, nếu cô phụ trách mở một khu chợ ở một nơi nào đó, công ty sẽ cho cô toàn quyền lực phụ trách. Để tiết kiệm chi phí, chúng tôi sẽ không lắp đặt các thiết bị giám sát, cũng như các hệ thống xe công cộng mà cô đã thấy đó. Vì vậy chúng tôi không thể tuyển dụng cô, tôi có thể chắc chắn rằng, tất cả các tập đoàn lớn cô sẽ không thể xin vào được nổi một nơi nào đâu.

Đến lúc này cô mới tỉnh ngộ và cảm thấy hối hận vô cùng. Sau đó, điều khiến cô ghi nhớ nhất là câu nói cuối cùng của vị giám đốc này: 

“ĐẠO ĐỨC CÓ THỂ BÙ ĐẮP CHO SỰ THIẾU HỤT VỀ TRÍ TUỆ, NHƯNG TRÍ TUỆ MÃI MÃI KHÔNG THỂ BÙ ĐẮP CHO SỰ THIẾU HỤT VỀ ĐẠO ĐỨC".

St

Triều Tiên lại thử tên lửa

Nhật Bản và Hàn Quốc cho biết tên lửa Triều Tiên vừa phóng đạt tầm bắn 4.500-4.600 km và độ cao gần 1.000 km, với các thông số tương đồng với mẫu Hwasong-12 từng bay qua Nhật hồi năm 2017.

Vạch trần, đấu tranh với những biểu hiện mới của chủ nghĩa cơ hội

 Nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đội lốt “yêu nước thương dân” là trách nhiệm không của riêng ai.

Những biểu hiện mới của chủ nghĩa cơ hội không thể xem thường

Chủ nghĩa cơ hội vốn không xa lạ. Nó thường che giấu bộ mặt thật của mình. Bản chất của những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội là khi cách mạng gặp thuận lợi, phát triển thì luôn tỏ ra cấp tiến, nhưng khi đất nước gặp khó khăn thì dao động, ngả nghiêng, sẵn sàng thỏa hiệp với các đối tượng phản động và phần tử xấu để chống phá cách mạng hoặc lợi dụng những kẽ hở của chính sách, pháp luật để làm nhiều điều mờ ám, gây tổn hại đến sự nghiệp chung. Thời gian gần đây, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện những biểu hiện mới không thể xem thường.

Một số ít người từng giữ cương vị lãnh đạo, quản lý lâu năm trong hệ thống chính trị các cấp, nhưng ít nhiều có biểu hiện “trở cờ” sau khi về hưu. Khi còn làm việc trong bộ máy công quyền, họ ít kêu ca, than phiền và cũng cố gắng làm tròn chức phận để vừa “giữ ghế”, vừa tận dụng cơ hội để có chức vụ cao hơn. Nhưng trong quá trình công tác, có thể có những điều gì đó làm họ không hài lòng và không đạt được mục đích như tham vọng cá nhân. Thế nên, khi trở về đời thường không còn liên quan đến việc công, họ đã giải tỏa những ức chế tâm lý và sự bức xúc cá nhân thông qua những phát ngôn trái chiều, những bài viết chủ yếu khoét sâu vào những mặt trái, tiêu cực xã hội, phê phán đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước rồi đưa lên mạng xã hội khiến dư luận hoang mang, phân tâm.

Một số người lợi dụng các đợt đóng góp ý kiến vào các dự thảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để đưa ra những quan niệm “mập mờ đánh lận con đen”. Số người này bề ngoài thì tỏ ra am tường, minh triết, học cao, hiểu rộng, nhưng khi viết bài, đóng góp ý kiến lại có những lời lẽ, ý tứ ngụy biện được bọc trong một cái lớp vỏ phản biện trên tinh thần khoa học. Không những thế, có ý kiến còn vẽ ra con đường này, lối dẫn nọ của nước khác để khuyến cáo, thậm chí đòi hỏi Việt Nam phải áp dụng. Thế nhưng, những “bức vẽ, lối đi” đó không màu sắc, không đường nét rõ ràng, bởi thực chất đấy chỉ là một thứ học đòi, học lỏm hay dung hòa, trộn lẫn hỗn độn bởi đủ thứ lý thuyết, học thuyết rối rắm, xa lạ, không phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế ở nước ta.

Một số người từng là cán bộ, đảng viên lâu năm đã mắc bệnh công thần chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vai trò, cống hiến của mình trong quá khứ để phê phán quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đề xuất những ý kiến lệch lạc. Mặc dù có ý kiến đã được cơ quan chức năng và người có trách nhiệm tiếp thu, giải trình một cách nghiêm túc, cầu thị, nhưng họ vẫn không đồng ý. Lợi dụng mạng xã hội, những người này công khai bày tỏ quan điểm thiếu thiện chí, cực đoan nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc và phủ nhận con đường dân tộc ta đang đi.

Một số ít trí thức, văn nghệ sĩ vốn là đảng viên cộng sản có những đóng góp nhất định trong lịch sử và có những công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học nghệ thuật được khá nhiều công chúng biết đến, nhưng nay lại bày tỏ sự sám hối của mình. Trên các mạng xã hội, ngoài việc công khai “hối hận”, “mặc cảm” và cố ý chối bỏ quá khứ cống hiến đáng quý của mình, những người này còn có những ý kiến hết sức chủ quan, thiên lệch về tình hình đất nước, xã hội và đời sống nhân dân. Đáng nói hơn, có người đã liên lạc, kết nối với các phần tử thù địch ở hải ngoại để "tiền hô hậu ủng", tạo thêm bệ đỡ cho các thế lực đó thường xuyên công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Một bộ phận cán bộ, đảng viên cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống chính sách, luật pháp để làm những việc sai pháp luật, trái đạo lý. Có những người triệt để lạm dụng lúc "tranh tối tranh sáng” để thu vén lợi ích cá nhân. Xuất phát từ chủ nghĩa cơ hội mà sinh ra bao thứ phiền toái: Nịnh hót, luồn lọt, tâng bốc nhau một tấc lên trời, lôi bè kéo cánh, cục bộ địa phương, thấy sai trái không dám đấu tranh, thấy cái đúng không biết bảo vệ, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cả cái ác... Cái thứ cơ hội này tuy không dễ “bắt tận tay, day tận mặt”, nhưng cũng là kẻ thù bên trong không kém phần nguy hiểm.

Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội

Trong những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội nêu trên, tuy mỗi loại có tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau, nhưng có đặc điểm chung là đều chĩa mũi nhọn trực tiếp hoặc gián tiếp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, thách thức sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực cản con đường đưa nước ta hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Những biểu hiện đó của chủ nghĩa cơ hội cũng là “mảnh đất màu mỡ” để đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên sớm thành hiện thực, là chất xúc tác thúc đẩy âm mưu “diễn biến hòa bình” ngày càng trở nên sâu sắc và nguy hiểm hơn.

Vì vậy, nhận diện và đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đột lốt “yêu nước, thương dân” là trách nhiệm không của riêng ai. Đây là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa một bên là những người yêu nước chân chính, có tâm đức với nhân dân, thủy chung và gắn bó với vận mệnh dân tộc, với một bên là những kẻ có cái nhìn a dua, thiển cận, xu thời, thực dụng, cơ hội, tiền hậu bất nhất, đục nước béo cò, sẵn sàng bán rẻ lương tâm vì tâm địa hẹp hòi.

Chủ động không để chủ nghĩa cơ hội len lỏi vào các tổ chức tổ đảng, bộ máy công quyền các cấp là một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của công tác tư tưởng chính trị hiện nay. Muốn vậy, trước hết các tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên tìm hiểu, nắm chắc diễn biến tư tưởng, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên để kịp thời ngăn ngừa, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc phát sinh, chủ động triệt tiêu mầm mống của chủ nghĩa cơ hội ngay từ khi manh nha. Cùng với vạch trần, tẩy chay với các loại chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, xét lại và những biểu hiện mơ hồ, dao động về tư tưởng chính trị, cần chú trọng làm tốt công tác giáo dục, bồi đắp nâng cao niềm tin cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân vào những giá trị tốt đẹp của Đảng và của chế độ xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng.

Một vấn đề không kém phần quan trọng là các cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng các cấp cần chú trọng công tác quản lý nội bộ, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật Đảng, giáo dục cán bộ, đảng viên (nhất là những người làm ở những vị trí nhạy cảm, phức tạp, có quan hệ xã hội sâu rộng) phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn, không được tự ý nói năng, phát ngôn, bày tỏ ý kiến, kiến nghị của mình hay tán phát các tài liệu trên mạng xã hội có nội dung trái quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước và không có lợi cho việc giữ vững đồng thuận xã hội, ổn định chính trị và an ninh tư tưởng-văn hóa.

Trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, các cơ quan, đơn vị cần chủ động định hướng, hướng dẫn, giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc sử dụng mạng xã hội; động viên, khuyến khích mọi người tiếp thu có chọn lọc và làm lan tỏa những thông tin tích cực, lành mạnh trên mạng xã hội, góp phần nhân lên những giá trị tiến bộ, nhân văn trong cuộc sống. Cùng với đó phải kịp thời nhận diện, kiên quyết sàng lọc, loại bỏ những thông tin lệch lạc, sai trái, tiêu cực, không để những thông tin này có cơ hội tán phát, lây lan trên không gian mạng dễ làm vẩn đục môi trường thông tin và gây nhiễu dư luận xã hội. Làm tốt việc này cũng là một cách góp phần ngăn ngừa, phòng, chống những tư tưởng cơ hội, lợi dụng mạng xã hội để thông tin sai lệch, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Nhận thức đúng bản chất vấn đề phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay

 Với mọi thể chế, mọi quốc gia trên thế giới,tham nhũng luôn được xác định là một trong những nguy cơ hàng đầu đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Chính vì vậy, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta xác định là cuộc đấu tranh lâu dài, quyết liệt, nhằm làm trong sạch bộ máy, để hệ thống chính trị phục vụ ngày một tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân.

Với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, hàng loạt các vụ việc tham nhũng, tiêu cực đã được phát hiện xử lý, nhiều quan chức “nhúng chàm”, kể cả một số cán bộ giữ vị trí cao trong hệ thống chính trị, đã bị xử lý, khởi tố… qua đó được dư luận đồng tình, ủng hộgóp phần củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Tuy vậy, trong thời gian qua, sau sự việc cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long; cựu Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chu Ngọc Anh và cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Công Tạc bị khởi tố, bắt tạm giam, trên nhiều phương tiện truyền thông phát tiếng Việt có tư tưởng thù địch, chống đối ở hải ngoại liên tục khai thác, thực hiện các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, chống phá đất nước với quy mô, cường độ ngày càng tăng. Bọn chúng rêu rao “cán bộ tham nhũng là do thể chế sinh ra”; cho rằng cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay thực chất là “cuộc thanh trừng nội bộ”, là “các phe phái trong Đảng đấu đá lẫn nhau”... mục đích nhằm làm suy giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quan lý của Nhà nước và chế độ trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ở nước ta hiện nay.

Không chỉ vậy, một vài cá nhân nảy sinh nhận thức lệch lạc, suy nghĩ tiêu cực, sợ sai, sợ trách nhiệm dẫn tới thụ động trong công việc, ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả, tiến độ triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị tại cơ quan, đơn vị, địa phương. Mặc dù đây chỉ là biểu hiện nhất thời, là trạng thái tâm lý bình thường trong đời sống xã hội; nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến môi trường văn hóa, tư tưởng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Trước hết khẳng định, những luận điệu của các thế lực thù địch cho rằng bản chất công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước là “thanh trừng nội bộ”, “tranh giành quyền lực”, “đấu đá phe cánh”... thực chất chỉ là sự bịa đặt thiển cận, là những luận điệu xuyên tạc, phản động, hại dân, hại nước. Chỉ những kẻ a dua, cơ hội chính trị, nhận thức chính trị kém mới tin vào những luận điệu ấy. Cái đáng quan tâm là những nhận thức, suy nghĩ thiếu tích cực, sợ sai, sợ chịu trách nhiệm… dẫn đến thụ động, ảnh hưởng tiến độ, hiệu quả công việc.

  Nguyên nhân của lối suy diễn tiêu cực nêu trên trước hết là do nhận thức của một số cá nhân chưa đúng, bị tác động bởi những luận điệu sai trái do các thế lực thù địch và phần tử phản động rêu rao, xuyên tạc. Những biểu hiện này không phải đến bây giờ mới diễn ra mà nó tồn tại âm ỉ, là một mặt trái của đời sống xã hội, khi có tình huống tác động lại bùng lên cục bộ.

Tuy nhiên, nếu để nó diễn biến theo chiều hướng cực đoan, tiêu cực, làm nảy sinh tư tưởng chán nản, bi quan, thậm chí là bất mãn, có những phát ngôn thiếu tinh thần xây dựng, để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước... thì đó là điều không thể chấp nhận. Trong cán bộ, đảng viên và hệ thống chính trị, những biểu hiện đó cũng chính là mầm mống của suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm, cần được chấn chỉnh, khắc phục kịp thời.

Cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị cần nêu cao bản lĩnh chính trị, nhận thức thấu đáo bản chất vấn đề để củng cố lập trường tư tưởng, trau dồi phẩm chất đạo đức, xây dựng và tăng cường lòng tin của Nhân dân đối với chủ trương tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Các cấp, các ngành và địa phương tiếp tục triển khai đồng bộ, nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII, gắn liền với việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", Kết luận số 21-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm và các quy định về nêu gương… qua đó góp phần xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh.

Người cách mạng phải có đạo đức làm nền tảng!

 Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn là nhiệm vụ then chốt của Đảng, có ý nghĩa sống còn, quyết định sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức trở thành một nhiệm vụ chủ yếu, vừa cơ bản, lâu dài, vừa cấp bách, thường xuyên của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; được thể hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ. Xây dựng Đảng về đạo đức là "nền tảng", là "cái gốc" cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. 

Đạo đức được hiểu là phẩm chất tốt đẹp của con người, dùng để chỉ một thành tố trong tính cách và giá trị của một con người, giúp con người luôn giữ được nhân cách, bản lĩnh làm người trong mọi hoàn cảnh. Đạo đức có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, trong đời sống của con người, giúp con người điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với lợi ích của cộng đồng, vì thế trong mọi thời đại việc xây dựng, rèn luyện đạo đức đối với mỗi con người càng trở nên quan trọng và cần thiết.

Trong tư tưởng của V.I. Lênin, đạo đức của người đảng viên cộng sản chính là những phẩm chất: Trung thành; đoàn kết, thống nhất, không bè phái, phường hội; "làm việc tận tụy và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật"; không ham địa vị, không quan liêu, không đặc quyền, đặc lợi, không "kiêu ngạo cộng sản"; gương mẫu, khiêm tốn, cầu thị; gần gũi quần chúng... "góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản"...

Đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đạo đức mới của người cách mạng - đạo đức cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân, kết hợp những phẩm chất đạo đức truyền thống của dân tộc với tinh hoa đạo đức của nhân loại. Người coi đức là gốc, là nền tảng, là phẩm chất đầu tiên, là vấn đề gốc - được đặt trước tài, cần phải xây dựng, rèn luyện đối với mỗi đảng cách mạng chân chính và với mỗi cán bộ, đảng viên, bởi nó liên quan tới sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Đề cao vai trò của đạo đức như là nguồn dinh dưỡng để phát triển con người, Hồ Chí Minh khẳng định: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được Nhân dân". Đồng thời, Người yêu cầu mỗi người cách mạng, cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng, đó là: Trung với nước, với Đảng, hiếu với Dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng và nguyện suốt đời đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, ấm no, hạnh phúc của Nhân dân.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, nhìn thấy trước đội ngũ cán bộ, đảng viên có thể bị tha hóa, biến chất trong hoàn cảnh mới; nhận thức rõ sự suy thoái về đạo đức tất yếu sẽ dẫn đến sự "tự tiêu vong" về chính trị, Người càng quan tâm hơn đến vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để mỗi cán bộ, đảng viên thực sự xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi người phải: "Vì Đảng, vì Dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ".

Trong tác phẩm "Đường cách mệnh" - một trong những văn kiện lý luận đầu tiên của Đảng ta, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên 23 điểm thuộc "tư cách một người cách mệnh", trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong 3 mối quan hệ cơ bản nhất của con người: Với mình, mọi người và công việc. Hay "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân" là bài viết sau cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng (1969), Người đã khẳng định vị trí, tầm quan trọng của đạo đức cách mạng, nhắc nhở, giáo dục cán bộ, đảng viên suốt đời rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, xứng đáng với niềm tin của Nhân dân, giữ vững uy tín, thanh danh của Đảng, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị mà Nhân dân và dân tộc giao phó.

Trong lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là nguồn sức mạnh "nội sinh" giúp mỗi người cách mạng khi gặp thuận lợi, thành công không kiêu ngạo, tự mãn; khi gặp khó khăn, thậm chí thất bại không nản lòng, nhụt chí và nhất là, để "Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục". Vì "Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị", cho nên muốn "Đảng là đạo đức, là văn minh" và xứng đáng với vai trò tiền phong, thì trong lý luận và thực tiễn đều phải chú trọng xây dựng, giáo dục, rèn luyện Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên về đạo đức.

Để một đảng cầm quyền vững mạnh phụ thuộc một phần rất quan trọng vào sự nêu gương về đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lịch sử từ xưa đến nay đều cho thấy, niềm tin chính trị của quần chúng nhân dân gắn liền với niềm tin, với tấm gương đạo đức của người cầm quyền, vì "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ "cộng sản" mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn Nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". Vì vậy "Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là người đứng đầu, người chủ trì phải gương mẫu, tự giác làm trước; căn cứ vào Nghị quyết, Kết luận và Quy định lần này, nghiêm túc tự phê bình, kiểm điểm, tự soi lại mình, đơn vị mình, gia đình mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình" như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai kết luận và quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng./.

Một số thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá Đảng, Nhà nước

 Các thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng vấn đề quyền của người dân tộc thiểu số (DTTS) để chống phá Đảng và Nhà nước. Chúng tuyên truyền, xuyên tạc nhằm làm tạo ra sự ngộ nhận về "quyền dân tộc tự quyết"; chúng bịa đặt ra cái gọi là "quyền tự quyết của các dân tộc thiểu số" và đồng nhất nó với "quyền dân tộc tự quyết". Kích động đòi thành lập "Nhà nước Tin lành Đề-ga" ở Tây Nguyên, "Vương quốc Khmer Krom" ở Tây Nam Bộ, "Vương quốc Mông" ở Tây Bắc...

​Trái với điều 5, Hiến pháp 2013: "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước".

Riêng các tỉnh Tây Nam Bộ có dân số khoảng 17 triệu người với hơn 27 dân tộc. Trong đó, dân tộc Khmer khoảng 1,3 triệu người, chiếm hơn 7% dân số. Đồng bào Khmer Tây Nam Bộ có truyền thống yêu nước, đoàn kết, gắn bó cùng các dân tộc anh em trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây và thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tuy nhiên, do còn không ít bà con cư trú tại các địa bàn giao thông khó khăn, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội còn thấp, trình độ nhận thức chưa được nâng cao; hệ thống chính trị cơ sở có chỗ chưa thật sự vững mạnh, một số vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết kịp thời… Lợi dụng những khó khăn đó, các thế lực thù địch đã và đang tiến hành nhiều thủ đoạn hoạt động chống phá với nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc.

Gần đây chúng vu cáo, tìm cách biện minh: Người Khmer chính là chủ nhân của di chỉ khảo cổ Ốc Eo (An Giang); quốc gia Phù Nam được thành lập vào đầu công nguyên là tiền thân của nước Chân Lạp, là giai đoạn lịch sử Cam-pu-chia sơ kỳ; lịch sử hình thành nhà nước Phù Nam, Chân Lạp và quốc gia Cam-pu-chia ngày nay là một... Từ đó xuyên tạc vùng đất Nam Bộ là của Cam-pu-chia; đòi thành lập "Nhà nước Khmer Krôm".

Chúng âm mưu tạo phe cánh trong Hội đoàn kết sư sãi yêu nước, tìm cách đưa người lên nắm vị trí chủ chốt nhằm thao túng hoạt động của Hội; không chấp hành các quyết định của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo và Hội đoàn kết sư sãi yêu nước nhằm lũng đoạn, vô hiệu hóa hoạt động của tổ chức này. Tiến tới tách Phật giáo Nam tông Khmer ra khỏi Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thành lập "Hội sư sãi độc lập" với chiêu bài "bảo tồn và phát triển lịch sử, tôn giáo và văn hóa người Khmer", xem đây là hệ tư tưởng cho "Nhà nước KKK độc lập tự trị" (KKK - Khmer Kampuchia Krôm).

Bọn chúng còn tìm cách móc nối, mua chuộc, lôi kéo những người có uy tín; tài trợ cho sư sãi, tăng sinh Khmer ra nước ngoài tu học với ý đồ chống phá lâu dài. Thời gian qua, các phần tử KKK cực đoan bên ngoài tài trợ kinh phí, móc nối xây dựng "ngọn cờ" nhằm lôi kéo, tập hợp sư sãi, phật tử Khmer kích động biểu tình, gây rối, phản đối chủ trương giải quyết của nhiều địa phương. Mặt khác, chúng lôi kéo, phát triển lực lượng chống đối nhằm tổ chức, đào tạo, huấn luyện phục vụ ý đồ chống phá. Hiện có hơn 1.000 sư sãi Khmer đi tu học nước ngoài (trong đó, có 66 trường hợp do tổ chức phản động lưu vong KKK đưa đi).

Nhằm đấu tranh góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên những địa bàn nói trên cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; làm rõ âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch cho bà con người Khmer trên địa bàn. Ra sức phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer. Chú ý  bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, đời sống tinh thần của đồng bào. Đề cao cảnh giác chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá của các thế lực thù địch.

Đề cao cảnh giác và tăng cường đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá. Nghiêm trị mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc!


Nhận diện thực chất của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền ở Việt Nam

 

          Các đối tượng xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền ở Việt Nam hiện nay về cơ bản là những lực lượng cực hữu ở một số nước phương Tây, chủ yếu tại Mỹ, lực lượng cực hữu người Việt ở nước ngoài và những cá nhân người Việt trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, lợi dụng để chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội tại Việt Nam. Bên cạnh đó, là những người nghiên cứu lý luận, hoạt động chính trị đảng phái tại một số nước phương Tây và cả những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam.

          Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền ở Việt Nam hiện nay thường tập trung vào hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận, thực tiễn về dân chủ, nhân quyền, như lợi dụng các hiệp định, dự án hợp tác với nước ngoài, nhằm phá hoại và làm chệch hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam; kích động vấn đề dân tộc thiểu số và xuyên tạc Việt Nam có “hai chính sách tôn giáo”: Chính sách bảo đảm trên hình thức và “chính sách” không bảo vệ, không bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số trong thực tế thông qua  “cơ chế xin - cho” và tạo lập các “tôn giáo quốc doanh”. Trong các báo báo về tình hình nhân quyền trên thế giới, phần viết về Việt Nam, họ thường phê phán, xuyên tạc Chính phủ Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, tự do hội họp; hay xuyên tạc cái gọi là “việc áp dụng một cách bất công Bộ luật hình sự”. Họ cho rằng, Việt Nam có chính sách hai mặt trong việc giam giữ tù nhân chính trị: công khai thì khép vào tội “vi phạm luật pháp” nhưng thực tế là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”; hay các luận điệu xuyên tạc về sử dụng cách tra tấn, bức cung, nhục hình đối với những người bị tạm giữ, tạm giam; bắt giữ và xét xử tùy tiện; duy trì án tử hình; cáo buộc tình trạng đàn áp, ngăn chặn, cản trở hoạt động của luật sư...

          Bên cạnh đó, các hoạt động xâm nhập, kích động, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” như đòi Nhà nước Việt Nam phải đáp ứng ngay tiêu chuẩn về các quyền dân sự, chính trị (tự do lập hội, tự do xuất bản báo chí tư nhân, hoạt động tôn giáo không cần sự quản lý của Nhà nước...) tương tự các quốc gia phát triển phương Tây. Họ gắn dân chủ, nhân quyền với các vấn đề hợp tác phát triển, dân chủ, tôn giáo, tiếp cận thông tin và các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp... Đặc biệt, họ đòi dân sự hóa hoạt động trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, nhằm thúc đẩy phát triển xã hội dân sự. Họ móc nối và tìm cách mua chuộc bằng tiền, hiện vật có giá trị để làm thay đổi tư tưởng, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một số cán bộ, đảng viên, nhất là ở cấp chiến lược và cơ quan trọng yếu nhằm thay đổi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm chệch hướng XHCN trong bảo đảm dân chủ, nhân quyền và quá trình đổi mới đất nước nói chung.

          Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch thể hiện khá rõ nhằm kích động các cá nhân, tổ chức trong nước tổ chức bạo động, bạo loạn thông qua cái gọi là “biểu tình ôn hòa” hay nhờ các tổ chức, chính phủ nước ngoài khiếu kiện Việt Nam. Thí dụ, trong UPR chu kỳ I (năm 2009), II (năm 2014) và III (năm 2019), một số tổ chức phi chính phủ người Việt và quốc tế có quy chế quan sát viên tại ECOSOC (Ủy ban bảo vệ quyền con người cho người Việt Nam - VCHR, Tổ chức Đảng cấp tiến xuyên quốc gia - TRP...) lợi dụng diễn đàn của Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người; hay tăng cường trao giải cho các đối tượng chống đối để tạo dựng “ngọn cờ” chống phá Nhà nước Việt Nam. Thông qua những “ngọn cờ” này, kích động, lôi kéo, tập hợp và phát triển lực lượng chính trị đối lập theo kiểu “đa nguyên, đa đảng” ở nước ta.

          Về phương thức, cách thức chống phá hiện nay, các thế lực phản động, thù địch triệt để sử dụng truyền thông đại chúng, đặc biệt là mạng internet, xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để xuyên tạc, kích động về tư tưởng, chính trị. Họ lợi dụng các sai sót trong công tác quản lý nhà nước để xuyên tạc, kích động khiếu kiện, biểu tình trái phép. Họ tổ chức các hội thảo để xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử, tuy âm thầm nhưng tác hại lâu dài, rất thâm độc. Các thế lực thù địch dùng chiêu bài  “mớm lời”, “rắc thính”, kích động để không chỉ gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

          Trước thực tế đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội cần nâng cao bản lĩnh, trí tuệ để nhận diện và vạch trần bản chất của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền ở Việt Nam hiện nay. Vì thực chất, đấu tranh trên mật trận tư tưởng lý luận về dân chủ, nhân quyền còn phản ánh cuộc đấu tranh về tư tưởng chính trị - pháp lý giữa hai loại hình giá trị tư tưởng XHCN và tư sản. Đây là đặc điểm có tính bản chất của cuộc đấu tranh không có giới tuyến địch - ta rõ ràng, mà nằm ngay trong nhận thức của mỗi người và mỗi tổ chức. Vì thế, nhân dân, trước tiên là mỗi cán bộ, đảng viên, đều là chủ thể đấu tranh với các thế lực thù địch trên lĩnh vực này. Trong phương thức đối thoại, đấu tranh trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền cần coi trọng cách thức, phương pháp, biện pháp tư tưởng chính trị, như truyền thông, vận động nhằm nâng cao nhận thức, tích cực phòng - chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và coi trọng cách thức kết hợp trong đối thoại có đấu tranh, trong đấu tranh có đối thoại.

                                                                                                        St