Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022

  CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN KhÔNG THỂ LỖI THỜI 

 

 Hầu hết những người phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn thường lập luận, thế giới ngày nay đã phát triển vượt bậc, mọi thứ đều đã khác, hệ thống tư bản chủ nghĩa đã thay đổi nhiều đến mức không còn nhận biết được so với hệ thống tư bản chủ nghĩa thời C.Mác nghiên cứu, do đó chủ nghĩa Mác - Lênin đã lạc hậu, tư tưởng của C.Mác không còn phù hợp! Nhưng những lời chống đối ấy đã cố tình lờ đi sự thật là: Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự phê phán sâu sắc nhất, khoa học nhất đối với những bất công, bất bình đẳng. Đó là hệ tư tưởng phản biện duy nhất đã và đang làm thay đổi thế giới theo hướng ngày càng công bằng và tốt đẹp hơn. Cũng có nghĩa, chừng nào xã hội hiện đại còn có những bế tắc, khủng hoảng thì chừng đó chủ Nghĩa Mác - Lênin vẫn tồn tại và phát triển cấp tiến hơn. Một điều chắc chắn là các thế hệ tiếp nối tư tưởng đương nhiên sẽ làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi thời.

 Chúng ta thấy rằng, những điều tưởng như hiển nhiên trong cuộc sống của loài người hôm nay như: trẻ em được đến trường chứ không phải đi làm; phụ nữ được giải phóng và bình đẳng với nam giới; người lao động làm việc 8h một ngày, thời gian rảnh không bị ai quản thúc; y tế được chăm sóc toàn dân; giáo dục được phổ cập; người nghèo được quan tâm, người có hoàn cảnh đặc biệt được chia sẻ...tất cả những điều tưởng chừng như hiển nhiên hôm nay không phải ngẫu nhiên có được mà chính sự thật là nhờ sự thức tỉnh được chỉ ra từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chúng ta phải biết ơn Mác và những nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác - Lênin, bởi chính họ mang đến, gieo mầm để những sự thật tốt đẹp đó từng ngày hiển hiện khắp hành tinh.

Khác với tất cả các học thuyết trước đó hoàn toàn chỉ là nhận thức thế giới, với chủ nghĩa Mác – Lênin, vấn đề không chỉ có nhận thức, mà điều quan trọng phải là cải tạo thế giới, nghĩa là làm cho thế giới thay đổi, làm cho thế giới tốt đẹp hơn. C.Mác luôn ý thức được bản chất không ngừng vận động của cái hệ thống tư bản chủ nghĩa mà ông phản bác. Chính nhờ C.Mác mà loài người có được những khái niệm về các hình thái lịch sử khác nhau đã song hành hoặc kế tục nhau tồn tại của tư bản: tư bản thương mại, tư bản nông nghiệp, tư bản công nghiệp, tư bản độc quyền, tư bản tài chính, đế quốc… C. Mác còn nhìn thấy trước được cái mà giờ đây chúng ta gọi là “toàn cầu hóa”.

 Sự thật là, tại thời điểm C.Mác và Ph.Ăngghen viết Tuyên ngôn đảng Cộng sản, ở khắp Châu Âu và Hoa Kỳ, trẻ em từ 5 đến 14 tuổi phải làm việc phổ biến trong các ngành nông nghiệp, nhà máy, hầm mỏ hay bán báo, thậm chí phải làm đến 12h/ngày. Tuyên ngôn Cộng sản của C.Mác và Ph.Ăngghen đã không khoan nhượng tình trạng ấy, các ông yêu cầu giáo dục miễn phí cho trẻ em trong các trường học công và xóa bỏ bóc lột trẻ em trong các nhà máy. Các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác đã khởi xướng và bắt nhịp cho dàn đồng ca khắp thế giới để ngăn chặn chấp dứt lao động trẻ em và đưa trẻ đến trường. Cũng chính ở thời điểm đó, người phụ nữ ở Mỹ và các nước Châu Âu vốn có địa vị thấp kém hơn so với đàn ông, họ bị coi như nô lệ trong gia đình, thậm chí bị coi như là một món món hàng để giới tư sản mua bán, trao đổi, quyền công dân của họ bị tước bỏ, không được bỏ phiếu bầu cử và cũng chẳng được tham gia bất cứ hoạt động chính trị nào. C.Mác và Ph.Ăngghen đã tố cáo gay gắt sự bất công ấy, nhưng quan trong hơn, các ông không chỉ vách trần nguồn gốc sự bóc lột tư bản đối với nữ giới mà còn chỉ ra con đường giải phong phụ nữ thành công. Đó là một tầm cao mà tại thời điểm đó tư tưởng nhân loại chưa thể vươn tới.

Đối với nhân loại cần lao, quyền bình đẳng là cái mà họ phải phấn đấu đấu tranh cả đời, nên ai ai cũng rất hiểu và thấm thía. Khi ấy giới tư bản chỉ tập trung làm giầu trong một số ít giai cấp tư sản, còn đại bộ phận nhân dân không được bảo vệ trước áp bức, bất công. Nơi nào có áp bức tất yếu nơi đó có đấu tranh. Dự báo của C.Mác về việc đấu tranh rút ngăn thời gian lao động từ 14, 15h/ngày xuống còn 8h/ngày trở thành mục tiêu quan trọng được tuyên bố trong Quốc tế Cộng sản I, sau này tiếp tục được nêu trong Quốc tế Cộng sản II để rồi từ ngày 1/5/1890, Quốc tế lao động đầu tiên ra đời với quy mô toàn thế giới cùng hiệp lực, cùng đấu tranh đã biến ngày làm 8h thành hiện thực. 

Có lẽ chính bởi sự vạch trần và phê phán gay gắt, quyết liệt đến tận cốt tử về bản chất của CNTB nên CNTB trở lên thù hận Chủ nghĩa Mác - Lênin, thậm chí họ còn ngông cuồng coi đó như là một bóng ma cần phải trừ khử. Thế nhưng chính sự phê phán của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khiến CNTB tự biến đổi, tự sửa chữa những sai lầm của mình như, xây dựng các nhà nước phúc lợi hay tìm cách thu hẹp khoảng cách giầu nghèo nhằm điều hòa mâu thuẫn xã hội, mâu thuấn giai cấp. Thực tế CNTB không phải đi từ tờ giấy trắng để có sự tốt đẹp. Để có thành tựu hôm nay, CNTB đã để lại trên con đường đi của mình biết bao mồ hôi, xương máu của con người. Biết bao người da đen, da đỏ, da vàng đã phải bị giết chóc, tù đầy, biết bao người lao động đã bị hành hạ, bóc lột đến tận xương tủy…để họ xây dựng chế độ như ngày nay? 

Jacques Derrida, một nhà triết học người Pháp viết trong tác phẩm “Những bóng ma của Mác” cho rằng: "con người trong xã hội hiện đại, dù là những người theo Chủ nghĩa Mác - Lênin hay những người phê phán C.Mác cũng gắn chặt với C.Mác. Sẽ không thể có tương lai nếu không có các di sản của C.Mác". Ông khẳng định: “cần phải trở về với Mác để chống lại cái "trật tự thế giới mới" của thị trường tư bản chủ nghĩa”. Còn Tery Eagleton, giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Lancaste Vương quốc Anh thì viết trong cuốn “Vì sao Mác đúng?” rằng: "Chủ nghĩa Mác giống như bác sỹ, khi mà cơ thể khỏe mạnh sẽ không để ý, song một khi CNTB gặp vấn đề nghiêm trọng thì chủ nghĩa Mác lại phát huy tác dụng phê phán vốn có của mình. Chính Mác đã thúc đẩy những thay đỏi tích cực của các nước tư bản". Đối với các đảng cộng sản, đảng công nhân, đảng dân chủ xã hội và loài người tiến bộ, hàng tỉ người trên khắp thế giới vẫn khẳng định học thuyết của C.Mác có giá trị thời đại, vững bền.

Linh hồn và sự sống của chủ nghĩa Mác - Lênin chính là phương pháp luận, những đòi hỏi đổi mới và sáng tạo không ngừng. Nhưng nguyên lý này không chỉ đúng trong thế kỷ trước, trong thế kỷ này mà còn đúng cho những thế kỷ sau, vì đó là những quy luật khách quan. Một số người chống đối chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ tập trung phê phán 3 người sáng lập C.Mác, Ph.Ăngghen, VI. Lênin mà tách rời tư tưởng hoặc tìm cách đối lập tư tưởng của họ với những người tiếp nối về sau. Họ cố tình lời đi sự phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin trong hơn một thế kỷ qua mà chỉ nhằm vào mục tiêu chứng minh chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời, giáo điều, hay xa rời thực tiễn. Cách suy luận siêu hình đó tất yếu sai lầm. Tiếp nối C.Mác, VI.Lênin khắp thế giới có nhiều nhà tư tưởng kiệt xuất. Ở Việt nam, chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng tài tình chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam mà còn cống hiến, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tạo nên những tư tưởng tầm vóc lịch sử, những cuộc cách mạng chấn động địa cầu, đẩy lùi chiến tranh xâm lược của Đế quốc, thực dân, những nô dịch, áp bức, bất công để thiết lập lên nền tảng của cuộc sống độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. Tiếp sau Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công hơn 30 năm đổi mới tạo ra sự biến đổi về chất, từ một đất nước bị bóc lột, tàn phá đến quyệt quệ, bị cô lập, chống phá quyết liệt sau chiến tranh thành quốc gia tự tin hội nhập cùng thế giới. Bởi vậy, chính sự nối tiếp một cách biện chứng và bản chất sáng tạo, luôn phát triển của mình làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi thời hay lạc hậu.

Sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ bởi tính lôgic, khoa học mà còn tính nhân văn, nhân bản trong mục tiêu, đích đến. Giá trị thời đại trong chủ nghĩa Mác chính là sự hiện tồn những giá trị tốt đẹp của CNXH. CNXH liệu có xa xôi đến mức không tưởng? Thực ra không cần tìm kiếm đâu xa, chỉ nhìn rất gần xung quanh chúng ta, rất nhiều người dù thành đạt hay chưa thành đạt lắm vẫn dành thời gian đều đặn tham gia nấu những bữa cơm cho người bệnh, vui vẻ chung tay xây dựng những chương trình từ thiện, lo những xuất ăn cho người nghèo… Dù là chủ doanh nghiệp hay cán bộ, nhân viên, thỉnh thoảnh lại chi ra một số tiền cho hoạt động thiện nguyện và trực tiếp thực hiện những chương trình của mình. Không những thế, họ rất chu đáo, tậo tâm với công việc này, vẫn quan tâm chi sẽ nỗi lo, niềm vui vì lợi ích của người khác, cho dù thế giới đang khủng hoảng tài chính hay nền kinh tế gặp khó khăn. 

V.I.Lênin gọi những người quan tâm đến lợi ích của những người bà con xa là những người của CNXH. Ở Việt Nam, sự tự nguyện, tự giác chăm lo cho người khác ngày càng được nhân lên nhiều mô hình phong phú: những phụ nữ làm tủ bánh mì miễn phía cho người cơ nhỡ; những người đàn ông bơm, vá xe miễn phí cho sinh viên, người lao động nghèo; góc đường phố có bình nước mát miễn phí ai đó đặt... Trong kinh tế thị trường ai cũng vất vả kiếm sống không dễ, nhưng chia sẻ với nhau bằng tấm lòng vị tha, nhân ái thì không phải là xã hội nào cũng có. Họ có lẽ chưa hiểu đầy đủ về CNXH, CNCS nhưng họ đã có hành động như vậy đấy.

CNXH không phải là sản phẩm của C.Mác, của Ph.Ăngghen, của VI.Lênin.  Ngay từ thế kỷ VII, VIII, các nhà tư tưởng ở phương Đông đã mơ về một xã hội không còn người lầm than, không còn người lê la ở nơi hang cùng, xóm vắng nữa. Thuật ngữ CNXH đã bắt đầu xuất hiện trước lúc C.Mác sinh ra hơn 100 năm. Có điều, làm thế nào để xây dựng được một xã hội như vậy thì các nhà tư tưởng lúc đó chưa tìm ra được con đường, thế cho nên người ta gọi CNXH không tưởng. Chỉ đến khi C.Mác và Ph.Ăngghen phát hiện ra cơ sở lịch sử để thực hiện lý tưởng XHCN thì CNXH mới không còn là một “bóng ma”. Các ông đã tìm thấy ở đó lực lượng, điều kiện mà những người trước đó không tìm thấy. Với Tuyên ngôn Đảng Cộng sản 1848, CNXH được khẳng định là một thực thể, một sự tồn tại có thật và đang lớn lên từng ngày, trở thành lực lượng khuynh đảo thế giới, cân bằng lại thế giới đang trong thời của bờ vực rạn vỡ.

CNXH mới được hơn 100 năm kể Cách mạng tháng Mười. Nếu nhìn rộng ra CNTB có tận 500 năm lịch sử. Thế nên nếu chỉ nhìn vào sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu những năm 90 mà vội kêu lên CNXH đã cáo chung thì hoàn toàn sai lầm. CNXH là chủ nghĩa cộng đồng, tư tưởng cộng đồng không dễ gì bác bỏ, tiêu vong được. Nhân loại đã đi qua rất nhiều chặng đường và lịch sử của CNXH cũng đã trải qua những bước thăng trầm tất yếu với 4 lần khủng hoảng, điều đó cho thấy sức sống của một lý tưởng không hề bằng phẳng. Các thế lực thù địch công kích nó đã đành, nội tại bản thân nó cũng phải đấu tranh để tồn tại và phát triển. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “CNCS  không phải là một lý tưởng hay một khuân mẫu để chạy theo. Đối với chúng tôi CNCS là sự vận động của đời sống hiện thực”. Con đường đi lên CNXH sẽ không bằng phẳng mà còn rất nhiều gập ghềnh, thử thách, thậm chí phải trả giá bởi những thất bại tạm thời, bởi đó không phải con đường có sẵn, mà muốn đi lên phải tìm tòi, thử nghiệm, điều chỉ, sửa chữa, đục kết, hoàn thiện… Để có một chế độ xã hội tốt đẹp phải trải qua quá trình xây dựng. Đó là con đường tất yếu mà xã hội nào cũng phải trải qua. CNXH mà Hồ Chí Minh quan niệm là độc lập, tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một nước XHCH tức là một nước có cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do và độc lập. Ba mục tiêu mà chúng ta hướng tới đó là độc lập, tự do và hạnh phúc. Đó là mục tiêu sống còn, là đích đến cuối cùng mà chúng ta xây dựng. Lựa chọn con đường nào để đi đến chân trời tươi sáng là quyền của mỗi quốc gia, dân tộc. Người ta có thể nghi ngờ, nhưng rõ ràng ở Việt Nam hiện nay phát triển theo CNXH là con đường duy nhất đúng. Để đạt được mục tiêu ấy con đường đi lên của chúng ta không phải là con đường tư bản đã đi, mà là đi theo con đường XHCN. Một đất nước ổn định về chính trị, yên bình về xã hội, an toàn về quốc phòng an ninh để phát triển kinh tế, thu hút đầu tư phải là một nước Việt Nam của con người CNXH. Khi đất nước đã bước qua những năm tháng chiến tranh đói khổ, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXH ở Việt Nam tiến lên một bước mới: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Thế giới đã đổi thay, thế nhưng thực tiễn xã hội cũng như sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ vẫn không đưa ra được bằng chứng xác thực nào để bác bỏ nguyên lý căn bản của triết học Mác - Lênin. Hơn thế, đi ngược về các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thế kỷ này, tức là trên dưới 150 năm học thuyết Mác ra đời người ta buộc phải tìm lại giá trị Mác để tìm ra giải pháp cho cuộc khủng hoảng đương thời, bởi Mác đã mô tả hoàn toàn chính xác về quy luật phát triển của CNTB. Cho đến hôm nay, chính nội tại của các nước Tư bản, đằng sau sự hào nhoáng thì con người phải đối diện với những bất an, bất lực, phân biệt chủng tộc, khoảng cách giầu nghèo, xung đột, khủng bố, bạo lực và bất ổn chính trị xã hội. Và cũng chính ở đó, sự an hòa, yên bình, người với người sẻ chia của xã hội XHCN lại là những chân trời mà nhân loại khao khát vươn tới. 

Hơn 100 năm qua tư tưởng của các nhà kinh điển đã vượt qua thử thách của thời đại cũng như sự công kích, chống phá của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, bất chấp mội công kích, bôi nhọ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn vững vàng và phát huy vai trò trong thời đại mới. Sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đối với tư tưởng Mác ngày càng tăng như một đơn đặt hàng của lịch sử./.

 

CỬ TRI ĐỒNG TÌNH VỚI KIẾN NGHỊ XỬ TỬ HÌNH TỘI THAM Ô, NHẬN HỐI LỘ TRÊN 1 TỶ ĐỒNG Bộ trưởng Tư pháp Lê Thành Long đã trả lời các ý kiến, kiến nghị cử tri các địa phương gửi đến sau kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XV về nội dung tăng mức phạt đối với tội phạm tham ô, nhận hối lộ. Bộ Tư pháp nhận được kiến nghị của cử tri Đà Nẵng do Ban Dân nguyện (Ủy ban Thường vụ Quốc hội) chuyển đến, cử tri phản ánh điểm c, khoản 3, điều 40 của Bộ luật Hình sự quy định không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc trường hợp sau đây: Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn. Cử tri cho rằng việc quy định này là chưa hợp lý và sẽ tạo lỗ hổng trong công tác phòng, chống tham nhũng, khiến việc tham nhũng sẽ tinh vi hơn, nhiều thủ đoạn hơn và mức tham nhũng sẽ cao hơn. Do đó cử tri kiến nghị trình Quốc hội xem xét, điều chỉnh lại quy định này. Sau khi nghiên cứu, Bộ Tư pháp cho biết để thể chế hóa chủ trương hạn chế hình phạt tử hình được khẳng định tại nghị quyết 49 năm 2005 của Bộ Chính trị khóa IX về cải cách tư pháp đến năm 2020 và thực hiện chủ trương thu hồi tối đa tài sản do tham nhũng mà có nên tại điểm c, khoản 3, điều 40 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định như trên. Quy định này nhằm góp phần hạn chế hình phạt tử hình trên thực tế và tăng cường hiệu quả thu hồi tài sản do tham nhũng mà có. Bộ Tư pháp nêu rõ quy định này chỉ được áp dụng đối với trường hợp đã có bản án tuyên hình phạt tử hình và khi có đủ các điều kiện bao gồm: Chủ động nộp ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ; hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn. Trường hợp thiếu điều kiện thứ hai thì người bị kết án dù đã nộp đủ 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ vẫn phải thi hành án. Với những trường hợp thực hiện hành vi tham ô, nhận hối lộ thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4, điều 353 và khoản 4, điều 354 Bộ luật hình sự sẽ bị xem xét truy cứu với mức hình phạt cao nhất là tử hình - hình phạt nghiêm khắc nhất quy định trong chế tài hình sự. Do vậy, Bộ Tư pháp cho rằng, quy định tại điểm c, khoản 3, điều 40 Bộ luật Hình sự không ảnh hưởng tới việc xem xét quyết định áp dụng hình phạt trong quá trình xử lý hành vi phạm tội tham ô, nhận hối lộ đối với người phạm tội. Tham ô, nhận hối lộ từ 1 tỷ đồng trở lên có thể bị phạt tử hình Trong khi đó, cử tri tỉnh Hải Dương cũng gửi kiến nghị đến Bộ Tư pháp với nội dung đề nghị nghiên cứu trình Quốc hội xem xét, sửa đổi Bộ luật Hình sự, trong đó tăng chế tài xử phạt cao nhất lên tử hình đối với tội phạm về tham nhũng kinh tế lớn làm thất thoát tài sản của Nhà nước. Bộ Tư pháp cho biết, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã dành một chương XXIII quy định các tội phạm về chức vụ gồm 15 điều (từ điều 352 đến điều 366). Các điều luật của chương này được chia thành 2 mục, trong đó mục 1 quy định các tội phạm tham nhũng gồm 7 điều và mục 2 quy định các tội phạm khác về chức vụ; 1 điều về khái niệm tội phạm chức vụ. Trong đó 2 điều luật quy định mức hình phạt cao nhất là tử hình đối với tội tham ô tài sản (điều 353) và tội nhận hối lộ (điều 354). Cụ thể, khoản 4, điều 353 quy định người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý giá trị 1 tỷ đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản 5 tỷ đồng trở lên. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào cho chính bản thân người đó hoặc cho người, tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ mà của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1 tỷ đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản 5 tỷ đồng trở lên. Bộ luật Hình sự đã có quy định về việc áp dụng hình phạt tử hình đối với trường hợp tham ô, nhận hối lộ với giá trị tài sản 1 tỷ đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản 5 tỷ đồng trở lên.

DỰNG HÌNH ẢNH ANH HÙNG DÂN TỘC GIẢ TẠO

 Chẳng biết anh Tân Thái có xích mích gì với chính quyền mà rất hay phê phán. Gần đây, khi không biết phải lấy gì ra phê bình thì anh lại đem hình ảnh đền thờ chị Võ Thị Sáu ở Côn Đảo ra làm chủ đề để công kích và được mấy anh Tân Việt ghi nhận lại với tus: "Dựng hình ảnh anh hùng dân tộc giả tạo lừa bịp dân là tội lỗi khó tha thứ của đảng CSVN".

Có vẻ anh Tân Thái không cảm thấy hài lòng khi đền thờ anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu có phần khang trang để bà con đến thắp hương tỏ lòng tri ân. Thậm chí anh còn hoài nghi rằng liệu chị Võ Thị Sáu có thực trên đời hay không. Xem ra anh Thái Tân cần xem lại lịch sử rồi.

Chị Võ Thị Sáu, sinh năm 1933 trong một gia đình nghèo ở Đất Đỏ. Với bản chất thật thà, hiền lành và chất phát, yêu quê hương, đất nước, nên nhìn thấy những cảnh g.iết người, c.ướp của tàn bạo của bọn lính Pháp, trong lòng chị đã hình thành một ý chí căm thù mãnh liệt, sâu sắc bọn thực dân xâm lược 14 tuổi, chị theo anh gia nhập Việt Minh, trốn lên chiến khu chống Pháp. Chị tham gia đội công an xung phong, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ liên lạc, tiếp tế. Trong khoảng thời gian này, chị Sáu tham gia nhiều trận chiến đấu để bảo vệ quê hương, dùng lựu đạn tiêu diệt nhiều tên ác ôn và làm bị thương nhiều lính Pháp.

Cuối năm 1949, trong một chuyến công tác tại Đất Đỏ, chị Sáu đã sa vào tay gi.ặc, hơn một tháng bị giam giữ tại nhà tù Đất Đỏ và khám đường Bà Rịa, địch dùng nhiều thủ đoạn tra tấn dã man nhưng chúng vẫn không lấy được một lời khai nào của chị, sau đó bọn chúng đưa chị về giam giữ ở khám Chí Hòa.

Khi bị địch xử bắn vào năm 1952, chị vẫn thể hiện tinh thần bất khuất của người chiến sĩ cộng sản khi dõng dạc tuyên bố trước giờ hành hình: “Không cần bịt mắt tôi. Hãy để cho đôi mắt tôi được nhìn đất nước thân yêu đến giây phút cuối cùng và tôi có đủ can đảm để nhìn thẳng vào họng s.úng của các người”.

Có thể nói, chị Võ Thị Sáu là hiện thân của người phụ nữ cách mạng anh hùng, bất khuất, quyết không lùi bước trước quân xâm lược. Việc lập đền thờ chị thể hiện sự biết ơn với những công lao to lớn của chị đối với cách mạng Việt Nam. Con người thật và với những chiến công thực, mà anh Tân Thái với anh Tân Việt vẫn còn nghi ngại thì tôi không hiểu các anh nghĩ gì. Chả nhẽ lịch sử Việt Nam lại tự vẽ ra một con người xuất sắc như vậy hay sao? Hay do đất nước Việt Nam sinh ra con người kiên cường, bất khuất như thế mà khiến cho anh Tân Thái và anh Tân Việt sợ?

10 ĐIỀU NGƯỜI DÙNG FACEBOOK PHẢI BIẾT VÀ CẢNH GIÁC CAO ĐỘ

 1. Người nổi tiếng chưa chắc nói gì cũng đúng. Giả mạo người nổi tiếng là một nguy cơ cao mà bọn phản động hướng tới.

Thông tin được chia sẽ nhiều chưa chắc là thật. Hãy tìm hiểu kỹ trước khi cổ vũ, tuyên truyền.

2. Cái xấu bao giờ cũng lan truyền nhanh hơn cái tốt. Vì thế chịu khó tuyên truyền cái tốt nhé!

3. Các thông tin xuyên tạc nguy hiểm bao giờ cũng ẩn mình một cách kín đáo và khéo léo trong các vấn đề xã hội nhạy cảm.

4. Đảng và Nhà nước không bao giờ lãnh đạo sai. Chỉ có cá nhân làm sai. Vì thế, khi nói về tiêu cực cần phải chỉ rõ là ai sai, động cơ và mục đích là gì. Không được phép đổ lỗi cho Đảng và Nhà nước.

5. Chỉ nên chia sẽ các thông tin không liên quan hoặc không có yếu tố chính trị gây mất ổn định tình hình bảo vệ và phát triển đất nước.

6. Cảnh giác cao độ, đừng quá cả tin. Hình ảnh, video hoàn toàn có thể làm giả. Cần xác minh tính chính xác của thông tin thông qua các kênh thông tin chính thống của Việt Nam.

7. Đối với một thông tin nếu có lợi cho Tổ quốc hãy tuyên truyền. Nhất quyết không tuyên truyền các thông tin tiêu cực, bất lợi với sự nghiệp cách mạng, bất lợi với Quốc gia, dân tộc.

8. Chung tay bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc là sứ mệnh của tất cả mọi người. Việt Nam chiến thắng mọi kẻ địch mạnh nhất đều phải sử dụng “chiến tranh nhân dân”.

9. Và đến nay, chiến trường mạng xã hội, các bạn hãy gương mẫu, thể hiện tinh thần dân tộc đoàn kết, chung tay góp sức vào công cuộc bảo vệ sự nghiệp cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã chọn.

10. Mỗi công dân Việt Nam yêu nước, nếu sử dụng Facebook đều phải trở thành những chiến sỹ trên mặt trận thông tin, đều là thành viên của lực lượng chống thông tin xấu độc trên không gian mạng. Đây cũng được gọi là sự nghiệp cách mạng của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

GÁC LẠI QUÁ KHỨ CHỨ KHÔNG PHẢI ĐỂ BÓP MÉO QUÁ KHỨ

 Bộ phim Little Women là bộ phim nói về chủ đề 3 chị em gái lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn và chật vật trong những ước mơ riêng, được khán giả Hàn Quốc và khán giả quốc tế (trong đó có Việt Nam) đón nhận do chủ đề mới lạ.

Tuy nhiên, trong những tập gần đây tập 5,7,8 khán giả Việt đã phát hiện những tình tiết xuyên tạc lịch sử Việt Nam. Có lời thoại còn cho rằng một người lính Hàn có thể “địch lại 100 người lính Việt Nam”. Bên cạnh đó trong phim tình tiết “Loài Hoa Lan xanh” là biểu tượng của tội ác, lại được giới thiệu mang về từ chiến tranh Việt Nam.

Đáng nói rằng, sự “nêm nếm” sai sự thật của đoàn làm phim đã bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Những nội dung trên đã bị khán giả Việt Nam lên án gay gắt, người dân Việt Nam đòi tẩy chay bộ phim “Little Women”.

Có thể một số người đã quên rằng lính Hàn Quốc đã gây ra quá nhiều vụ thảm sát cho các dân thường ở miền Nam Việt Nam như: thảm sát Phong Nhất, Phong Nhị, thảm sát Hà My năm 1968 ở Quảng Nam được người dân chứng kiến miêu tả lại “Quân Đại Hàn đi đến đâu, bia mộ dân thường mọc lên đến đấy”. Tội ác của quân Đại Hàn được lưu lại trên hơn 20 bia đá, tượng đài về các vụ thảm sát và trong tâm trí người dân Việt Nam.

Đáng nói, chiến tranh đã lùi xa, mặc dù viết thương chiến tranh vẫn còn in hằn trong cuộc sống của cả dân tộc, nhưng Đảng và Nhà nước và Nhân dân Việt Nam vẫn xác định “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai” với các quốc gia trước đây từng tham gia cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, tuy nhiên “gác lại quá khứ chứ không phải để xuyên tạc quá khứ”, Nhân Dân Việt Nam sẽ luôn đấu tranh lên án với những hoạt động bôi nhọ, xuyên tạc, bóp méo lịch sử của dân tộc Việt Nam.

VIỆT TÂN LẠI CHƠI TRÒ: "NÉM ĐÁ VÀO NGỌN NÚI"

 Hậu duệ cha con phường bán nước, chạy sang tận đất Mỹ cũng chẳng thể ngồi yên tâm cho dân tộc binh yên, cứ toàn xào nấu tin vịt bôi nhọ lãnh đạo, ném đá vào ngọn núi...

Việt Tân vừa đăng bài viết: "Con trai ông Nguyễn Phú Trọng được thăng chức Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Ban Tuyên giáo Trung ương", rồi đưa ra dòng phân tích trong bài viết rằng “vị trí mới đầy quyền lực của Nguyễn Phú Trường là nấc thang cần thiết dọn đường cho anh ta giữ chức Trưởng Ban Tuyên Giáo - một chân ở Bộ Chính trị trong tương lai”, tiếp là chúng tự vẽ ra kết luận xanh rờn: "Người nói nhiều đạo lý đến đâu cũng khó từ bỏ được chữ tham"

Xin khẳng định với quý vị, ông Trường không phải là con trai Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Người khơi lò đốt vĩ đại của Việt Nam, cũng chẳng dây mơ rễ má gì với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cả.

Ông Trường sinh ngày 5/3/1978, quê quán: xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Tp. Hà Nội là Cử nhân xã hội học; Thạc sĩ Quản lý Hành chính công, Tiến sỹ Nhân học, còn con cái gia đình cụ Tổng tất cả đều là công chức bình thường, cả đời liêm khiết, cũng không giữ các chức vụ quan trọng gì ở Trung ương. Về thân nhân gia đình Cụ nhiều bài báo đã nói rất rõ điều này.

Thế nhưng, chỉ trùng có 1 chút tên đệm "Nguyễn Phú" mà Việt tân - những con ếch đã ngồi đáy giếng lại còn liên kết với 1 bầy phản động trong và ngoài nước để bỉ bôi xuyên tạc đất nước, bôi nhọ lãnh đạo Việt Nam thì không còn gì để nói nữa.

Đúng là phường bán nước nguy hiểm thật! Cái gì cũng xuyên tạc được. Dư mà chỉ là trò "ném đá vào ngọn núi", chỉ làm cho núi cao thêm!

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG VIỆC LAN TỎA THÔNG TIN TÍCH CỰC

 Hầu hết chúng ta nghe và nói rất nhiều về việc lan tỏa thông tin tích cực, nhưng thế nào là thông tin tích cực hay trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong vấn đề này như thế nào thì không phải ai cũng hiểu rõ. Trên thực tế, trước khi đặt ra vấn đề trách nhiệm của mình thì các cán bộ, đảng viên trong vai trò của một công dân cũng luôn quan tâm đến việc lan tỏa thông tin để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

1. Thế nào là thông tin tích cực

Hiểu một cách phổ biến, thông tin tích cực là thông tin đúng đắn, chính xác về một sự việc, một nhân vật, một mô hình, một giải pháp hay, có ý nghĩa, có giá trị. Thông tin đó có thể gieo cho người đọc những nhận thức, tình cảm tốt đẹp; có thể thúc đẩy người tiếp nhận có suy nghĩ tích cực, từ đó có hành vi tích cực; cung cấp cho người đọc những kiến thức, nhận thức đúng đắn, phù hợp, có ý nghĩa thiết thực… Ví dụ, hồi tháng 6/2021, báo chí đăng về việc anh Lại Văn Cường (32 tuổi) và vợ là chị Bùi Thị Hương (29 tuổi), tạm trú tại khu phố 1, phường Long Bình Tân, TP Biên Hòa (Đồng Nai), khi nhặt được điện thoại Iphone 11 đã chủ động đăng facebook, dán tờ rơi… tìm chủ nhân để trả lại. Anh Cường là người khuyết tật, đang mưu sinh bằng nghề bán vé số…. Câu chuyện này hẳn sẽ thúc đẩy suy nghĩ tốt đẹp, lương thiện trong hầu hết người tiếp nhận.

Có khi, đó là thông tin xác định rõ một vấn đề đang có nhiều ý kiến khác nhau hoặc bác bỏ một thông tin sai trái đang được lưu truyền; hoặc là thông tin giải đáp được thắc mắc, nghi vấn của nhiều người về một vấn đề nào đó.

Do đó, nhìn rộng ra, thông tin tích cực chính là các thông tin giúp củng cố lòng tin đối với tổ chức, cá nhân, dư luận xã hội…

2. Chọn thông tin tích cực để lan tỏa

Mỗi cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm trong việc chia sẻ thông tin tích cực, cả ở khía cạnh phải chọn thông tin phù hợp và thường xuyên thực hiện việc lan tỏa các thông tin đó. Mỗi người trước khi chia sẻ phải tư duy phản biện, thẩm định, đánh giá, phân tích, đối chiếu, so sánh… khi tiếp nhận thông tin.

Không phải thông tin nào được lan truyền rộng rãi, được nhiều người đọc và chia sẻ cũng là thông tin chính xác, đúng đắn. Do đó, cần thiết phải tìm cách khẳng định tính xác thực của thông tin chứ không dễ dàng tin theo và làm lan tỏa thông tin đó khi chưa biết rõ mức độ tin cậy của thông tin. Tuyệt đối không nên xác tín theo cách “thông tin do mạng A nói”, “do ông X trên mạng B nói”… mà phải căn cứ trên những nguồn thông tin chính thức, chính thống. Như trong đợt dịch năm 2021, rất nhiều người dùng mạng xã hội chia sẻ các chỉ dẫn được cho là của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhưng trên thực tế lại không phải như vậy.

Đồng thời, phải chú ý chọn thông tin nào mà mình tin là đúng, cảm nhận được cái hay, cái đẹp, bản thân được truyền cảm hứng. Mỗi người phải luôn ý thức rằng thông tin của mình sẽ có người đọc và ít nhiều chịu tác động, nên chọn thông tin tốt nhất, hay nhất, có ích nhất, ý nghĩa nhất.

Không chỉ vậy, là cán bộ, đảng viên còn phải luôn nghĩ đến liệu thông tin có gây hiểu lầm hoặc thúc đẩy ai đó nhận thức sai lệch không; nếu cảm thấy có thì không chia sẻ.

3. Gợi ý cách lan tỏa thông tin tích cực

Mỗi cán bộ, đảng viên có thể sử dụng tài khoản mạng xã hội hoặc trang mạng internet cá nhân của mình để chia sẻ, đăng tải, cung cấp, định hướng thông tin có ích cho người khác, cho xã hội và đất nước. Điều này hiện có thể được thực hiện dễ dàng bởi hầu hết chúng ta đều có ít nhất một tài khoản mạng xã hội; một số người còn có nhiều tài khoản đồng thời ở facebook, instagram, zalo, twitter…

Chúng ta cũng có thể đăng trên các trang diễn đàn (trên mạng internet hoặc các nền tảng mạng xã hội), trang cộng đồng (fanpage), nhóm (group)… những thông tin mà mình có căn cứ xác thực cho là đúng đắn, chính xác để có độ lan tỏa nhanh hơn, rộng hơn. Chẳng hạn, khi có căn cứ bác bỏ một thông tin chưa đúng, chúng ta có thể đưa thông tin đó vào các trang, nhóm có đông người theo dõi để tạo sự lan tỏa nhanh hơn, rộng hơn.

Trong điều kiện của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tuyên truyền, động viên để nhiều người khác hiểu rõ và thực hiện các quy chuẩn, quy tắc ứng xử của cán bộ, đảng viên khi sử dụng mạng internet và mạng xã hội. Với các cơ quan có quy chuẩn thì nên khuyến khích mọi người thực hiện theo quy chuẩn đó; hoặc gợi ý mọi người những cách thức sử dụng đúng pháp luật, văn minh, tiến bộ, hợp lý bằng các hình thức dễ hiểu, dễ thực hiện.

Trên trang mạng xã hội của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tích cực kêu gọi, động viên mọi người chấp hành tốt các quy định của pháp luật, các chủ trương, chính sách, các cuộc vận động, nhất là các nội dung có tính thời sự, đang cần sự tham gia của đông đảo người dân, các vấn đề đang có ý kiến khác nhau…

Đồng thời, tích cực giới thiệu, quảng bá các hình ảnh, thông tin tốt, có ích về địa phương, cơ quan, đơn vị, về TPHCM và đất nước…; làm lan tỏa những gương người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến, các câu chuyện có giá trị nhân văn… Việc góp phần lan tỏa những thông tin tốt, hình ảnh đẹp, câu chuyện hay đó không chỉ giúp người khác thưởng lãm mà còn có thể tác động đến suy nghĩ, tình cảm, hành động của họ, từ đó có thêm những hành động tích cực khác.

Sau cùng, chúng ta nên luôn gương mẫu, chuẩn mực khi phát ngôn, đăng tải hình ảnh, chia sẻ thông tin… trên mạng internet và mạng xã hội. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên nên luôn ý thức rằng mỗi thông tin, mỗi status mình đưa lên “có ích gì cho ai không”, chứ không phải nghĩ đến câu hỏi “có hại gì cho ai không”. Bởi trách nhiệm của chúng ta là đồng thời phải làm lan tỏa thông tin tích cực và tìm cách hạn chế, đẩy lùi các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc.

 

Niềm tin xã hội trong khát vọng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

(LLCT) - Trong lý luận của triết học Mác - Lênin, niềm tin là một hợp phần quan trọng trong thế giới quan khoa học, cái làm cơ sở, định hướng và làm nền tảng, động lực cho hoạt động của con người. Nếu như động lực phát triển của quốc gia, dân tộc được bắt đầu bằng động lực của các cá nhân trong các cộng đồng, nhóm, tầng lớp, giai cấp... thì niềm tin của các cá nhân trong các cộng đồng, nhóm, giai cấp là động lực để cộng đồng vượt qua các khó khăn, trở ngại... trở thành một động lực phát triển của cả quốc gia, dân tộc. Bài viết phân tích làm rõ niềm tin vào chủ nghĩa xã hội trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và trong khát vọng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Niềm tin xã hội trong khát vọng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Xây dựng nông thôn mới để phát triển sản xuất, làm kinh tế, thoát nghèo bền vững, xây dựng cuộc sống ấm no - Ảnh: baokontum.com

1. Niềm tin xã hội

Niềm tin từ lâu trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực lý luận khác nhau từ chính trị học, xã hội học, tôn giáo, triết học... bởi vai trò định hướng hết sức quan trọng của nó đối với con người và cộng đồng. Niềm tin được đề cập tới dưới nhiều khía cạnh như: lòng tin, đức tin, sự tin tưởng... Lúc đầu, niềm tin chủ yếu được đề cập trong các học thuyết triết học về tôn giáo và thần học. Dần dần, niềm tin được các hệ thống lý luận khoa học khác nhau giải thích. Thực tế, khi con người có những niềm tin tốt đẹp, cao cả định hướng cho hoạt động của mình thì con người sẽ xây dựng cuộc sống nhân văn, nhân bản. Khi mất niềm tin vào cuộc sống, con người sẽ mất phương hướng, thiếu động lực và dẫn đến hệ quả là làm rối loạn xã hội.

Niềm tin vào lý tưởng XHCN đã tạo nên sức mạnh giúp chúng ta đánh thắng những đế quốc hùng mạnh và ngày nay chúng ta đang tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới để xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam. Niềm tin là nhân tố bên trong của khát vọng phát triển, trở thành động lực, mục tiêu của cả một cộng đồng xã hội là điều hiển nhiên không phải bàn cãi.

Niềm tin là vấn đề thuộc về tư duy lý tính nhưng rất khó định hình xem niềm tin đóng vai trò, vị trí nào trong tư duy lý tính. Đây là nguyên nhân vì sao chưa có những phương án giải thích toàn diện nhất về cấu trúc của niềm tin, bản chất và nội dung của niềm tin.

Chủ nghĩa đại diện cho niềm tin là thái độ của con người trước các sự vật, sự việc mà con người đang nhận thức. Tiếp cận của chủ nghĩa đại diện là từ góc độ nhận thức luận, niềm tin là một vấn đề của lý tính, cách biệt và không phải thuộc về với nhận thức cảm tính. Niềm tin là thứ rất khó xác định thông qua các ngôn ngữ ký hiệu, rất khó nắm bắt nó thông qua biểu hiện ở các cơ quan cảm giác hay diễn đạt nó thành các mệnh đề ngôn ngữ(1).

Niềm tin là một trạng thái tinh thần của não người, là cơ sở và nguồn chất liệu để bộ não biểu đạt thành các ký hiệu và mã hóa thành ngôn ngữ trong hoạt động thần kinh khi con người cần phải thể hiện thái độ và động lực để hoạt động(2). Như vậy, chỉ có thể nhận thức sự tồn tại của niềm tin thông qua hệ thống các sản phẩm đã được mã hóa của hoạt động thần kinh, thông qua thái độ và tình cảm của con người trước sự vật và sự việc(3).

Niềm tin là nền tảng và luôn song hành cùng hoạt động hiện thực hóa của con người. Nó là nhân tố gắn kết thái độ và tri thức của con người với thế giới tạo thành động lực để con người hành động. Niềm tin tạo cơ sở và nền tảng cho những phán đoán, những suy lý của con người cũng như những mong muốn biến đổi của thế giới ở trong con người(4).

Thuyết chức năng của niềm tin cho rằng, niềm tin chỉ tồn tại và nhận thấy nó trong mối quan hệ nhân quả của các hành động. Thông qua hiệu quả của hành động có niềm tin để xác nhận sự tồn tại đích thực của niềm tin(5). Niềm tin có hình thức biểu hiện khác nhau nhưng thuyết chức năng nhấn mạnh đến biểu hiện nhân quả của niềm tin trong hành động. Thuyết chức năng nhấn mạnh hai chiều cạnh rất quan trọng của niềm tin: một là, niềm tin là kết quả của một quá trình nhận thức; hai là, niềm tin lại là điểm khởi đầu của một khát vọng hành động(6).

Niềm tin là một trạng thái tinh thần của con người, gắn với những hoạt động của con người trong thực tiễn: hoạt động sản xuất của cải vật chất, hoạt động chính trị và hoạt động cách mạng xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học. Niềm tin cũng có nhiều trạng thái và hình thức biểu hiện, nó có sự vận động và biến đổi theo quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo tự nhiên và cải biến xã hội của con người. 

Niềm tin xã hội là một bộ phận cấu thành thế giới quan khoa học của các cộng đồng xã hội. Niềm tin xã hội chung của cả một cộng đồng sẽ trở nên sâu sắc, bền vững khi niềm tin ấy được đặt trên một hệ thống lý luận khoa học đủ mạnh. Tính khoa học của hệ thống lý luận ấy mang lại cho các thành viên trong cộng đồng cảm giác an toàn, được bảo vệ và giúp cho con người chủ động, tích cực và tự giác cống hiến hết mình cho những mục tiêu chung mà cả cộng đồng đang hướng đến. 

Đối với con người, không có niềm tin, đặc biệt là niềm tin khoa học, con người sẽ sống và hoạt động không có định hướng, luôn bi quan, dao động và không phát huy được khả năng chủ động sáng tạo của mình. Niềm tin là một giá trị tinh thần vô hình, là sản phẩm của hoạt động của bộ não nhưng ở cấp độ của lý tính, nó tích tụ trong suốt quá trình con người hoạt động, con người tư duy, trải nghiệm trong các hoạt động thực tiễn, trong những tương tác xã hội mà con người đã thực hiện.

Niềm tin được hình thành một cách khoa học và có tính nhân văn, tiến bộ sẽ là những giá trị tích cực thúc đẩy hành động, suy nghĩ của con người. Là một nhân tố thuộc về thượng tầng kiến trúc và đời sống tinh thần xã hội của nhân loại, dân tộc, của một cộng đồng, hay một cá thể nên

niềm tin vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính xã hội. Bản thân niềm tin có những đặc trưng riêng biệt và có mối quan hệ với nhiều lĩnh vực của đời sống. Niềm tin có những biểu hiện rất khác nhau giữa các cộng đồng, các cá thể trong một cộng đồng.

Theo tiếp cận của triết học Mác - Lênin, niềm tin xã hội thuộc về ý thức xã hội, nó phản ánh tồn tại xã hội. Tuy nhiên, niềm tin xã hội chung của một cộng đồng xã hội là một thứ rất khó nắm bắt, cũng rất khó thực chứng được.

Niềm tin xã hội không phải là nhận thức, thái độ của từng cá nhân mà nó là thái độ, nhận thức của cả xã hội, là thái độ của cả cộng đồng xã hội trước các sự vật, hiện tượng thuộc về thế giới khách quan, đó là sự phản ánh của tồn tại xã hội, của những điều kiện hoàn cảnh nhất định trong đời sống xã hội đến nhận thức, thái độ của một cộng đồng người.

Niềm tin xã hội của một cộng đồng người bị lung lay có thể dẫn đến nguy cơ làm ảnh hưởng và phá vỡ cấu trúc của tồn tại xã hội. Niềm tin xã hội được củng cố và phát huy nó sẽ tạo ra động lực to lớn, thôi thúc cả cộng đồng xã hội hiện thực hóa niềm tin trên thực tế.

Một quốc gia muốn phát triển phải tạo lập được niềm tin giữa cộng đồng xã hội về một mục tiêu chung, niềm tin giữa cộng đồng xã hội với mục tiêu của giai cấp nắm quyền, với chính phủ, niềm tin của nhân dân vào pháp luật và đội ngũ công chức thực thi và vận hành quyền lực nhà nước, niềm tin của doanh nghiệp vào chính quyền và mục tiêu chung của doanh nghiệp với của giai cấp nắm quyền, với chính phủ các nước...

Củng cố niềm tin xã hội vào mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mục tiêu CNXH là động lực quan trọng để thôi thúc toàn thể nhân dân Việt Nam hiện thực hóa nó trên thực tế. 

Cũng theo phương thức tiếp cận của triết học Mác, niềm tin là một hợp phần của thế giới quan khoa học. Niềm tin trở thành một hợp phần quan trọng của thế giới quan tôn giáo, thế giới quan thần thoại, phản ánh nhu cầu tinh thần của cá thể, của cộng đồng và toàn xã hội vào những sức mạnh đang chi phối sự phát triển của xã hội và cộng đồng.

Như vậy, niềm tin xã hội là một bộ phận cấu thành thế giới quan khoa học của các cộng đồng xã hội. Niềm tin xã hội chung của cả một cộng đồng sẽ trở nên sâu sắc, bền vững khi niềm tin ấy được đặt trên một hệ thống lý luận khoa học đủ mạnh. Tính khoa học của hệ thống lý luận ấy mang lại cho các thành viên trong cộng đồng cảm giác an toàn, được bảo vệ và giúp cho con người chủ động, tích cực và tự giác cống hiến hết mình cho những mục tiêu chung mà cả cộng đồng đang hướng đến.

Đặc biệt, trong bối cảnh biến đổi xã hội diễn ra nhanh chóng, các chuẩn mực xã hội có xu hướng rối loạn thì niềm tin xã hội chung của các cộng đồng hết sức quan trọng, nó thôi thúc và tạo thành những sức mạnh để đưa cộng đồng đến những mục tiêu chung. Có ý kiến cho rằng, niềm tin là cơ sở cho hành vi của con người và là nhân tố quyết định sự thành công(7). Nhiều quốc gia đã đưa niềm tin trở thành một trong những điều luật quan trọng của Hiến pháp. Tu chính án số 11 của Mỹ đã có điều khoản công nhận: quyền có niềm tin của mỗi con người. Hiến pháp Việt Nam tuy không có một điều khoản riêng quy định về niềm tin nhưng nội dung xuyên suốt trong bản Hiến pháp được xây dựng dựa trên niềm tin của nhân dân vào Nhà nước, vào pháp luật, vào sự lãnh đạo của Đảng và mục tiêu CNXH mà chúng ta đang hướng đến. Hiến pháp Việt Nam bảo vệ cho niềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước, với pháp luật và mục tiêu CNXH.

2. Niềm tin trong khát vọng xây dựng chủ nghĩa xã hội

Niềm tin xã hội vào CNXH ở Việt Nam có những nội dung cơ bản như sau:

Một là, niềm tin xã hội vào mục tiêu CNXH có nền tảng là lý luận khoa học và cách mạng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Học thuyết triết học của Mác là sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa tính khoa học và cách mạng. Bản thân lý luận ấy là sự kế thừa, chắt lọc những thành tựu của tất cả các khoa học: khoa học tự nhiên, khoa học về xã hội và khoa học về con người. Triết học Mác đã chỉ ra những động lực thực sự của CNTB cũng như những giới hạn, những khuyết tật, sự tàn bạo của chế độ chính trị dựa trên nền tảng của quyền sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất. Học thuyết khoa học ấy đã chỉ ra tính tất yếu của sự xuất hiện CNXH, một hình thái kinh tế - xã hội tốt đẹp của con người và cách thức mà giai cấp công nhân cần phải thực hiện để giải phóng mình và giải phóng toàn thể nhân loại. V.I.Lênin đã viết: “Nhiệm vụ thứ nhất của bất cứ một chính đảng nào có trọng trách đối với tương lai là thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình”(8).

Ở Việt Nam, niềm tin xã hội vào khát vọng CNXH đã được dẫn dắt bởi một con người tiêu biểu của nền văn hóa mới, một xã hội mới là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã tìm thấy cơ sở lý luận khoa học thực sự làm nền tảng cho niềm tin của mình về một tương lai tốt đẹp cho tất cả người dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đi tìm đường cứu nước đã xác định, muốn giải phóng dân tộc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, trước hết phải tìm thấy lý tưởng và lý luận khoa học để phục vụ cho nhiệm vụ này. Người đã tìm thấy trong Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa vũ khí lý luận và con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Trong suốt quá trình cách mạng dưới sự dẫn dắt và lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, người dân đã có những trải nghiệm trong mối quan hệ giữa dân với Đảng, dân với Nhà nước và pháp luật, với mục tiêu và khát vọng CNXH mà niềm tin xã hội vào Đảng, Nhà nước và mục tiêu CNXH ngày thêm sâu nặng.

Để duy trì được niềm tin xã hội vào khát vọng CNXH của người dân, bản thân Đảng phải luôn luôn phấn đấu, trưởng thành và đổi mới không ngừng. Quá trình duy trì niềm tin xã hội với khát vọng CNXH đòi hỏi Đảng phải thường xuyên mở rộng dân chủ để thu nhận những đóng góp to lớn của quần chúng nhân dân, khuyến khích người dân tích cực, tự giác tham gia vào phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

V.I.Lênin chỉ rõ: “Khi đụng đến một phong trào bao gồm hàng triệu quần chúng nhân dân, thì chỉ những lời nói thôi không đủ; quần chúng nhân dân phải có kinh nghiệm của bản thân họ để họ tự kiểm nghiệm những chỉ thị và tin vào kinh nghiệm của bản thân”(9). Như vậy, để củng cố niềm tin xã hội vào CNXH, Đảng thực sự phải trở thành tiêu biểu, thành tấm gương cho quần chúng nhân dân về nỗ lực thực hiện khát vọng CNXH.

Hai là, niềm tin xã hội vào khát vọng xây dựng CNXH là tiền đề để Đảng ta tiến hành đổi mới

Quá trình tồn tại của mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu cho tới khi sụp đổ, tan rã đã để lại cho chúng ta những bài học rất đau xót về niềm tin, xây dựng niềm tin chính trị của cộng đồng, của người dân vào mục tiêu XHCN. Công tác xây dựng và chỉnh đốn đảng bị coi nhẹ, sự tự suy thoái, tự chuyển hóa trong đội ngũ đảng viên diễn ra nghiêm trọng mà thiếu đi những biện pháp ngăn chặn. Đảng Cộng sản cầm quyền ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã đánh mất niềm tin của dân chúng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mất niềm tin vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Ở nước ta, niềm tin xã hội của nhân dân vào Đảng Cộng sản Việt Nam và mục tiêu CNXH là ở mục tiêu vì nhân dân của Đảng và qua quá trình lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, với các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội. Điều này chính là động lực của nhân dân luôn quan tâm đến quá trình xây dựng Đảng, đến hoạt động của bộ máy nhà nước để cùng với Đảng hiện thực hóa lý tưởng CNXH.

Những đóng góp của người dân vào công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng trên thực tế là biện pháp để người dân tiếp tục duy trì, bồi đắp niềm tin xã hội vào mục tiêu CNXH. Đây chính là điểm căn bản nhất của niềm tin xã hội vào CNXH của cả Đảng với tư cách là người tổ chức, lãnh đạo nhân dân; nhân dân là người trực tiếp xây dựng xã hội của mình, cho mình. Do đó, niềm tin xã hội vào mục tiêu CNXH là sự cộng hưởng nỗ lực từ Đảng và quần chúng nhân dân, là khát vọng chung, cao cả của cả nhân dân và Đảng để cùng chung mục tiêu xây dựng và hiện thực hóa niềm tin chính trị về một nước Việt Nam XHCN phồn vinh, hạnh phúc và luôn giữ gìn, phát triển niềm tin đó qua mọi giai đoạn cách mạng.

Ba là, niềm tin vào sức mạnh của đoàn kết trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng kiến sức mạnh niềm tin của cộng đồng dân tộc đối với sự trường tồn và phát triển đất nước. Niềm tin vào cội nguồn của người Việt đã tạo nên sức mạnh để ông cha ta chiến thắng mọi thế lực ngoại xâm. Niềm tin vào tương lai tốt đẹp của CNXH đã làm nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân đánh thắng những đế quốc hùng mạnh.

Đoàn kết xã hội là sự liên kết giữa những thành viên trong cộng đồng xã hội trên những mối liên hệ về đạo đức, uy tín, niềm tin... Tùy từng lĩnh vực mà sự ràng buộc giữa các thành viên sẽ chặt chẽ hay lỏng lẻo phụ thuộc vào việc giữa các chủ thể có thể chia sẻ cùng nhau về một niềm tin. Mỗi xã hội, giống như mỗi cơ thể, cần phải xác lập những cơ chế chung để chi phối toàn bộ hoạt động của các bộ phận, cần phải xác lập hệ thống niềm tin chung là cơ sở để mọi người cùng hành động.

Trong một cộng đồng xã hội, mối quan hệ giữa các thành viên để tạo thành một cộng đồng đoàn kết là vừa hỗ trợ lẫn nhau, vừa phụ thuộc lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau, cả trong sản xuất, trong sinh hoạt, trong đời sống tình cảm và tôn giáo. Theo đó, niềm tin thể hiện sự thống nhất, tôn trọng những quy tắc chung của cộng đồng. Niềm tin là chất keo kết dính tình đoàn kết xã hội, niềm tin là tình cảm thiêng liêng gắn kết các quan hệ của cộng đồng người đang cùng hoạt động với nhau. Đoàn kết xã hội không thể thiếu được niềm tin vì nó là một phần của giá trị xã hội để tái tạo ra sự tồn tại, phát triển của xã hội.

Niềm tin tạo thành nhân tố cố kết cộng đồng người Việt Nam, chính là nền tảng tạo nên lòng nhân ái, đức khoan dung vốn có của người Việt. Trong bối cảnh Việt Nam thực hiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phân hóa giàu nghèo gia tăng, dịch bệnh, tệ nạn xã hội phát triển, ô nhiễm môi trường, thiên tai ngày càng khó lường... đòi hỏi phải tăng cường năng lực quốc gia để có thể ứng phó hiệu quả với những thách thức an ninh phi truyền thống mới.

Trong điều kiện như vậy, càng phải duy trì được niềm tin của con người về một xã hội tốt đẹp, để làm giảm bớt sự phân cách giữa các tầng lớp xã hội và tạo thành động lực mới từ sự đoàn kết của người dân Việt Nam vào phát triển đất nước.  

Như vậy, niềm tin xã hội và mục tiêu CNXH ở Việt Nam có mối liên hệ biện chứng với nhau. Niềm tin vào CNXH và mục tiêu CNXH sẽ góp phần truyền cảm hứng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng XHCN.

Công cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng trong việc gia tăng niềm tin xã hội, tạo thành động lực từ những khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.


Nguồn: TS PHẠM ANH HÙNG

Viện Triết học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Xây dựng cấu trúc xã hội phù hợp, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

(LLCT) - Để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI cần nhận diện đầy đủ và hành động chính xác, kịp thời đối với những vấn đề mang tính chiến lược của đất nước. Trong đó, có vấn đề xây dựng và bảo đảm cấu trúc xã hội phù hợp với bối cảnh và mục tiêu phát triển của Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ các thành tố và từ các góc độ tiếp cận cấu trúc xã hội, bài viết đưa ra một số định hướng nhằm góp phần xây dựng cấu trúc xã hội Việt Nam phù hợp, hướng đến bảo đảm các mục tiêu phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng cấu trúc xã hội phù hợp, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Khơi gợi lòng yêu nước, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước của thanh niên - Ảnh: IT

1. Cấu trúc xã hội và hướng tiếp cận

Cấu trúc xã hội hay còn gọi là cơ cấu xã hội là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội. Tuy nhiên, mỗi ngành có mối quan tâm và hướng tiếp cận riêng. Chẳng hạn, triết học Mác - Lênin quan tâm đến cấu trúc xã hội trong giải quyết mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng, nhấn mạnh đến hạt nhân cốt lõi cấu trúc xã hội - giai cấp. Cấu trúc xã hội - giai cấp do phương thức sản xuất và trao đổi quyết định; khoa học lịch sử quan tâm đến vấn đề cấu trúc xã hội ở lát cắt lịch đại và đồng đại; khoa học kinh tế quan tâm đến vấn đề cấu trúc thành phần của nền kinh tế và tỷ trọng các ngành kinh tế;... Trong khi đó, xã hội học tiếp cận cấu trúc xã hội theo hướng tổng thể, đa chiều từ nhiều thành tố và các lát cắt cấu trúc xã hội khác nhau; nhằm trả lời câu hỏi tại sao lại có sự khác nhau về trình độ phát triển, năng lực phát triển, kết quả phát triển, hệ quả phát triển.

Từ góc độ tiếp cận xã hội học, cấu trúc xã hội là một hệ thống các thành phần và mối quan hệ xã hội tác động qua lại nhau; được tiếp cận và xem xét đồng thời ở nhiều khía cạnh, cấp độ khác nhau. Cấu trúc xã hội phản ánh những đặc tính, đặc điểm, điều kiện, nguồn lực, khả năng phát triển và khuynh hướng phát triển của một tổ chức, cộng đồng, quốc gia.

Các thành tố cơ bản để tạo nên cấu trúc xã hội bao gồm: (1) Hệ thống vị thế xã hội; (2) Hệ thống vai trò xã hội; (3) Hệ thống quan hệ và mạng lưới xã hội; (4) Hệ thống nhóm xã hội; (5) Hệ thống thiết chế xã hội; (6) Hệ thống thống giá trị, chuẩn mực xã hội và các thành tố khác.

Như vậy, các thành tố tạo nên một tổ chức, cộng đồng, quốc gia không phải từ những cá nhân đơn lẻ cộng lại; mà chính là các cá nhân này phải luôn được định vị trong mối quan hệ mang tính cấu trúc - hành động, bởi các thành tố cơ bản như đã nêu trên. Tiếp cận cấu trúc xã hội đặt ra yêu cầu phải đánh giá đúng hiện trạng phát triển của một tổ chức, cộng đồng và xã hội.

Căn cứ vào loại thành phần hay thành tố tạo nên hệ thống xã hội có thể phân biệt cấu trúc xã hội vi mô với thành phần chính là các cá nhân, nhóm xã hội, tổ chức, cộng đồng... nhỏ; và cấu trúc xã hội vĩ mô với thành phần chính là các nhóm xã hội, tổ chức, cộng đồng lớn; các giai tầng xã hội tạo nên hệ thống xã hội vĩ mô.

Căn cứ vào các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội có các phân hệ cấu trúc xã hội, như: cấu trúc xã hội - dân số, cấu trúc xã hội - nghề nghiệp, cấu trúc xã hội - giai tầng, cấu trúc xã hội - học vấn, cấu trúc xã hội - dân tộc, cấu trúc xã hội - tôn giáo và nhiều phân hệ cấu trúc xã hội khác.

Phân tích cơ cấu xã hội vĩ mô giúp hiểu được tính chất, trình độ phát triển của một cộng đồng, quốc gia dân tộc nhất định. Cấu trúc xã hội vừa được tạo ra nhờ hành động của con người vừa là phương tiện của hành động xã hội. Cấu trúc xã hội và hành động xã hội của chủ thể có tính chất hai mặt: cái này không thể tồn tại nếu thiếu cái kia. Điểm khác biệt cơ bản giữa cấu trúc xã hội với cấu trúc vật lý là tính hai mặt của cấu trúc xã hội, hay tính chất vừa bị quy định bởi cấu trúc, vừa chủ động sáng tạo cấu trúc của chủ thể. Xét ở phạm vi cá nhân, mỗi cá nhân luôn bị cấu trúc xã hội quy định, đồng thời đóng vai trò tạo dựng cấu trúc xã hội. Cấu trúc xã hội có tác động tích cực theo hướng tạo điều kiện, cơ hội và cả nguồn lực đối với hành động của các cá nhân. Đồng thời, thông qua hành động của các cá nhân, cấu trúc xã hội được hình thành tái tạo, vận động, biến đổi, phát triển.

Tiếp cận cấu trúc xã hội, trước hết cho thấy hai thành tố quan trọng và có mối quan hệ biện chứng với nhau để tạo lập cấu trúc xã hội, với thành phần cốt lõi là vị thế xã hội và vai trò xã hội.

(1) Vị thế xã hội chính là vị trí xã hội gắn với những trách nhiệm, lợi ích và giá trị xã hội kèm theo. Nó thể hiện thứ bậc dành cho mỗi cá nhân đó trong cơ cấu tổ chức, nhóm xã hội, cộng đồng và trong toàn bộ hệ thống xã hội. Mỗi vị thế xã hội luôn có các nhiệm vụ, quyền hạn và mong đợi khác nhau;

(2) Vai trò xã hội được hiểu là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định. Nó nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những vị thế xã hội nhất định trong xã hội; là hành vi người ta mong đợi (được làm, được thực hiện) ở mỗi địa vị xã hội cho trước;

(3)  Vị thế xã hội và vai trò xã hội luôn gắn bó mật thiết với nhau. Nhiều vị thế sẽ dẫn đến nhiều vai trò xã hội; vị thế càng cao thì vai trò xã hội càng phải tích cực. Nếu thực hiện tốt vai trò xã hội thì sẽ củng cố và thăng tiến vị thế xã hội và ngược lại. Do đó, một tổ chức và xã hội phát triển bền vững là luôn phải tạo cơ hội cho mọi thành viên không ngừng vươn lên các vị thế xã hội cao hơn gắn liền với các vai trò xã hội ngày một tích cực hơn.

Tiếp cận cấu trúc xã hội có thể phân chia vị thế - vai trò xã hội thành 2 loại:  vị thế - vai trò xã hội gán cho và vị thế - vai trò xã hội đạt được, với đặc điểm hình thành và mục tiêu hướng đến rất khác nhau: (1) Vị thế và vai trò xã hội gán cho là loại vị thế và vai trò mà cá nhân không thể không tự quyết định lựa chọn mà nó được quy định bởi các yếu tố như: dòng dõi, thành phần gia đình, giới tính, màu da hay tuổi tác, quy định của tổ chức, bầu cử...;

(2) Vị thế và vai trò xã hội đạt được là loại vị thế và vai trò xã hội mà các cá nhân đạt được bằng trí tuệ, năng lực, phẩm chất và những cố gắng đóng góp, cống hiến của bản thân trong quá trình xã hội hóa và các hoạt động xã hội của mình. Cá nhân lựa chọn, hướng tới các vai trò đó có ý nghĩa quyết định đối với việc cá nhân đó đạt được vai trò xã hội cao hay thấp. Và do đó, một tổ chức, cộng đồng và xã hội phát triển luôn phải hướng đến việc thúc đẩy mỗi cá nhân, thành viên bắt đầu từ vị thế và vai trò xã hội gán cho và không ngừng hướng tới mục tiêu vị thế và vai trò xã hội đạt được. 

Từ góc độ tiếp cận xã hội học, cấu trúc xã hội là một hệ thống các thành phần và mối quan hệ xã hội tác động qua lại nhau; được tiếp cận và xem xét đồng thời ở nhiều khía cạnh, cấp độ khác nhau. Cấu trúc xã hội phản ánh những đặc tính, đặc điểm, điều kiện, nguồn lực, khả năng phát triển và khuynh hướng phát triển của một tổ chức, cộng đồng, quốc gia. 

Thành tố nhóm xã hội luôn đóng vai trò cơ bản để định hình đặc điểm và sự phát triển một tổ chức, cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Nhóm xã hội là một tập hợp người liên hệ với nhau về vị thế, vai trò, nhu cầu, lợi ích và những định hướng giá trị, chuẩn mực nhất định. Nhóm xã hội là đơn vị để phân tích, để hiểu đầy đủ cấu trúc xã hội của một tổ chức, cộng đồng và xã hội. Nhóm xã hội luôn gắn với quy mô, tính chất, mục tiêu khác nhau. Nhóm xã hội thể hiện bản chất của quá trình hấp dẫn, trao đổi, sự ảnh hưởng; cũng như mâu thuẫn, chống đối lẫn nhau giữa các cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng xã hội. Tiếp cận phân tích nhóm xã hội có vai trò, ý nghĩa quyết định đối với kết quả hoạch định và tổ chức thực hiện hệ thống chính sách, pháp luật. Hệ thống chính sách, pháp luật có thực sự đi vào cuộc sống hay không là phụ thuộc vào sự thẩm thấu, chia sẻ và hành động tích cực của các nhóm xã hội, chủ thể xã hội có liên quan.

Một tổ chức, cộng đồng và xã hội vận hành ra sao luôn được phản ánh thông qua các mạng lưới quan hệ xã hội. Mạng lưới xã hội là phức hợp các mối quan hệ của các cá nhân, nhóm xã hội. Mạng lưới xã hội thể hiện thông qua các quan hệ xã hội trên cơ sở: huyết thống, cộng đồng, tổ chức, nghề nghiệp, giai tầng xã hội, dân tộc...Các quan hệ xã hội chính là tương tác xã hội có mục đích, ổn định, lặp lại giữa các cá nhân.

Các mạng lưới xã hội có chức năng: (1) Duy trì, củng cố quan hệ xã hội; (2) Tạo dựng mối quan hệ xã hội mới; (3) Tạo dựng nguồn lực, nhất là vốn xã hội; (4) Tạo dựng vị thế xã hội và vai trò xã hội. Hệ thống các mạng lưới xã hội chính là môi trường tạo nên sự liên kết, thống nhất, đồng thuận của một tổ chức, cộng đồng và xã hội. Một tổ chức, nhóm, cộng đồng và quốc gia, dân tộc... muốn đạt đồng thuận tạo nên sức mạnh vượt trội để phát triển, cần nhấn mạnh sự tương tác, thấu hiểu, chia sẻ giá trị xã hội và sự đồng hành của tất cả các thành viên; giữa lực lượng lãnh đạo, quản lý và các giai tầng xã hội.

Hệ thống các hành vi và quan hệ xã hội luôn chịu sự chi phối bởi hệ thống thiết chế xã hội. Thiết chế xã hội được hiểu là một hệ thống tập hợp bền vững các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai trò, nhóm vận động xung quanh nhu cầu cơ bản của xã hội. Hệ thống thiết chế xã hội có các đặc điểm: (1) Tập hợp các nguyên tắc; (2) Cấu trúc chặt chẽ; (3) Khuyến khích, điều chỉnh, kiểm soát; (4) Chế tài các hành vi của con người; (5) Bền vững tương đối, chậm biến đổi; (6) Tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các thiết chế xã hội. Sự tồn tại và phát triển của thiết chế xã hội là do điều kiện khách quan, biểu hiện ở tính thống nhất với cơ sở kinh tế - xã hội. Bản thân thiết chế xã hội luôn có sự độc lập tương đối và có tác động trở lại đối với cơ sở kinh tế - xã hội. Bất kỳ một sự thay đổi trong một thiết chế xã hội nào đó đều có thể đưa đến sự thay đổi đáng kể của các thiết chế xã hội khác. Chẳng hạn, một sự thay đổi tích cực của thiết chế giáo dục sẽ dẫn đến những tác động tích cực của các thiết chế xã hội: kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa, gia đình... và ngược lại.

Một tổ chức, cộng đồng và xã hội được vận hành luôn được điều tiết bởi hệ thống chuẩn mực và giá trị xã hội hiện hành. Chuẩn mực xã hội chính là hệ thống các quy tắc điều chỉnh, là thước đo hành vi của cá nhân và nhóm được xã hội chia sẻ và mong đợi. Những biểu hiện tiêu cực, vi phạm pháp luật trong xã hội chính là biểu hiện về sự xung đột giữa các hệ thống chuẩn mực xã hội với nhau (nhất là chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức) với chuẩn mực kinh tế thị trường; giữa chuẩn mực của xã hội với chuẩn mực cá nhân. Giá trị xã hội là quan niệm về điều mong muốn đặc trưng hiện hay ẩn cho một cá nhân (nhóm xã hội), ảnh hưởng tới việc chọn các phương thức, phương tiện hay mục tiêu của hành động. Xã hội muốn ổn định và phát triển thì đòi hỏi phải phát triển và tôn trọng giá trị cá nhân, tuy nhiên giá trị cá nhân không được xâm phạm hay xung đột với hệ giá trị xã hội, giá trị cộng đồng và giá trị tập thể. Ngược lại, giá trị cá nhân luôn phải nương tựa, đồng hành và góp phần vun đắp cho hệ thống giá trị xã hội.

2. Đổi mới, phát triển đất nước Việt Nam trong bối cảnh mới - một số định hướng từ góc độ xây dựng cấu trúc xã hội phù hợp

Từ góc độ tiếp cận cấu trúc xã hội, có thể nhận thấy, trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã thể hiện rõ tư duy, tầm nhìn và hành động nhằm hướng tới xây dựng cấu trúc xã hội phù hợp trong bối cảnh mới, khi xác định mục tiêu tổng quát: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1). Đặc biệt là yêu cầu phải: dự báo đúng biến đổi cơ cấu xã hội ở nước ta trong những năm tới, xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp. Giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân(2).

Quá trình xây dựng cấu trúc xã hội để hướng đến mục tiêu đổi mới và phát triển xã hội bền vững của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay chính là quá trình xây dựng, phát triển các thành phần của cấu trúc xã hội; quá trình xác lập các mối quan hệ giữa các thành phần tạo nên cấu trúc xã hội một cách phù hợp với yêu cầu và bối cảnh mới của đất nước. Quá trình xây dựng cấu trúc xã hội là thường xuyên nhằm phát hiện và khắc phục những hạn chế, thiếu sót, bất cập trong quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện phát triển hệ thống kinh tế - xã hội. Một trong những yếu tố cốt lõi để thúc đẩy tổ chức, cộng đồng và đất nước Việt Nam phát triển bền vững cần nhấn mạnh, giải quyết có hiệu quả vấn đề: xây dựng, tái cấu trúc xã hội phù hợp với điều kiện, nguồn lực, mục tiêu, yêu cầu... trong bối cảnh mới. Đồng thời, cần dự báo, xây dựng một cấu trúc xã hội phát triển phù hợp, trong đó cần ưu tiên xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; gắn xây dựng giai cấp nông dân với phát triển nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn... Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong tình hình mới... Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc(3).

Trong tư duy, tầm nhìn và hành động cần xác lập cấu trúc xã hội là một công cụ tiếp cận và phân tích quan trọng; giúp chúng ta nhận thức được một tổ chức, cộng đồng, đất nước Việt Nam trong tiến trình phát triển đã, đang và sẽ có những thành công và hạn chế như thế nào; những thuận lợi, khó khăn trở ngại chủ yếu ra sao; các giải pháp và mục tiêu đề ra có tính khả thi hay không...? Từ phương diện tiếp cận cấu trúc xã hội, có thể khẳng định quá trình đổi mới và phát triển đất nước Việt Nam hướng mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính là quá trình biến đổi, điều chỉnh và phát triển quan hệ giữa các thành phần và trật tự thứ bậc, các mối quan hệ trong nội bộ cấu trúc xã hội theo nghĩa rộng; là quá trình hướng đến sự hài hòa, đồng bộ giữa cấu trúc xã hội, cấu trúc chính trị và cấu trúc kinh tế.

Để từng bước có một cấu trúc xã hội phù hợp nhằm thúc đẩy xã hội phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cần tạo dựng mối quan hệ vị thế xã hội và vai trò xã hội trong cấu trúc xã hội phù hợp; quyền lợi, nghĩa vụ tương ứng với vị thế và vai trò mong đợi của xã hội. Đồng thời, để hướng đến một xã hội năng động, phát triển và bảo đảm mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa cần tạo động lực tích cực cho sự chuyển hóa liên tục về vị thế và vai trò của cá nhân, nhóm xã hội. Bên cạnh đó, cần thúc đẩy việc hình thành và phát huy vai trò của hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội phù hợp với bối cảnh phát triển mới của đất nước.

Cần định vị và xây dựng cho toàn bộ xã hội Việt Nam không chỉ hành động vì mục tiêu lợi ích (lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội chính đáng) mà quan trọng hơn là phải đi tới một xã hội được dẫn dắt và hành động bởi động lực thúc đẩy giá trị xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh xã hội mà sự mâu thuẫn, xung đột xã hội cũng như giá trị xã hội và niềm tin xã hội đang có nhiều biểu hiện bất cập. Do đó, để bảo đảm mục tiêu trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, rất cần bảo đảm động lực thúc đẩy cho con người và xã hội phát triển không chỉ là “lợi ích xã hội mà còn là giá trị xã hội”. Đó là việc các cá nhân, nhóm, cộng đồng, giai tầng xã hội hướng tới lợi ích hài hòa và các giá trị tiến bộ, nhân văn, vì hạnh phúc bền vững trong phát triển xã hội.

Cần thúc đẩy hệ thống giá trị xã hội theo định hướng chủ đạo: (1) sự tiến bộ, công bằng và bình đẳng xã hội; (2) cơ hội, khát vọng và năng lực làm giàu chính đáng, hợp pháp của mọi người dân, mọi giai tầng xã hội; (3) sự tự do sáng tạo, tích cực thực hành dân chủ gắn với kỷ cương, kỷ luật trong xã hội; (4) sự đồng thuận, đoàn kết hữu cơ, “cùng thích nghi, cùng thắng, cùng phát triển” và công dân toàn cầu. Việc định hướng xây dựng, “lợi ích hài hòa”, “xã hội giá trị” là quá trình lâu dài, do đó cần có sự lãnh đạo thống nhất, trực tiếp và liên tục của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Cần đẩy mạnh việc “rút ngắn khoảng cách” tình trạng không tương thích giữa cách thức, mục tiêu học tập, đào tạo, bồi dưỡng và với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh mới. Muốn vậy, cần xử lý tốt mối quan hệ giữa mục tiêu giáo dục nhằm tạo ra những chủ thể xã hội có tính sáng tạo, có tinh thần dân chủ, tự do gắn liền với tính trách nhiệm xã hội và kỷ cương, kỷ luật cao. Đồng thời, mỗi con người, thành viên của tổ chức, cộng đồng và quốc gia dân tộc luôn phải có ý thức thực hiện tốt mục tiêu: “học tập suốt đời, học tập ở mọi nơi, mọi lúc; học biết cách học, học để làm việc; học để sáng tạo, học để chung sống”. Muốn vậy, quá trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, xã hội hóa cần nhấn mạnh tính phù hợp, tương tác xã hội thường xuyên, khả năng tự học hỏi lẫn nhau của các chủ thể xã hội.

Cần thực sự quán triệt và thực hiện có hiệu quả quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Con người là trung tâm của quá trình phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội”. Cần định vị và xây dựng các nhóm xã hội trong cấu trúc xã hội theo định hướng mô hình: (1) phát triển, trọng dụng và phát huy tối đa vai trò của nhóm xã hội cống hiến/tinh hoa; (2) mở rộng và phát huy tối đa vai trò của “nhóm nền”- tức là xây dựng mở rộng tối đa hóa những công dân tích cực, trách nhiệm xã hội của đất nước; (3) quan tâm thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, gắn kết và phát huy vai trò của nhóm “yếu thế” trong xã hội; (4) thực hiện kiểm soát, giảm thiểu thấp nhất về quy mô và tác hại xã hội đối với nhóm sai lệch xã hội, nhóm vi phạm pháp luật, nhóm tội phạm; (5) thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa đối với gia đình chính sách, người có công.

Phát huy vai trò của các môi trường xã hội hóa: vai trò gia đình, nhà trường, nhóm xã hội, truyền thông... trong quá trình xây dựng cấu trúc xã hội phù hợp với mục tiêu trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI. Quá trình xã hội hóa cần tạo lập vị thế và vai trò xã hội ở 3 cấp độ mục tiêu cơ bản: (1) làm con người hiện đại, hội nhập trong mối quan hệ với cộng đồng nhân loại trên thế giới; (2) làm công dân có trách nhiệm xã hội trong mối quan hệ với quốc gia, dân tộc; (3) làm phận sự chức nghiệp hiệu lực, hiệu quả trong mối quan hệ với vị thế, vai trò nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động.

Trong hoạch định, xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống chính sách phát triển kinh - tế xã hội của đất nước, cần tăng cường tính kết nối bởi các lát cắt cấu trúc xã hội khác nhau: (1) Cấu trúc xã hội - giai cấp; (2) Cấu trúc xã hội - nghề nghiệp, mức sống; (3) Cấu trúc xã hội - dân số; (4) Cấu trúc xã hội - giới; (5) Cấu trúc xã hội - tuổi; (6) Cấu trúc xã hội - học vấn; (7) Cấu trúc xã hội - dân tộc; (8) Cấu trúc xã hội - tôn giáo; (9) Cấu trúc xã hội nông thôn - đô thị. Trên cơ sở đó sẽ phát huy tối đa sức mạnh, khả năng tác động, mức độ thành công; cũng như nhìn thấy được sự “giới hạn” của từng chính sách kinh tế - xã hội trong tổng thể mục tiêu phát triển đất nước: nhanh, hài hòa và bền vững.

Trong các hoạt động quản lý, giải quyết có hiệu quả các vấn đề kinh tế - xã hội ở Việt Nam, bên cạnh hoạt động quản lý nhà nước cần gia tăng tư duy, phương pháp và mô hình quản lý phát triển xã hội. Trong đó nhấn mạnh vai trò tham gia đa chủ thể quản lý, bằng nhiều hệ thống công cụ quản lý; quan tâm và tập trung vào những vấn đề mà quản lý nhà nước chưa vươn tới, gặp khó khăn, ít hiệu quả... Chẳng hạn, để kiểm soát xã hội, kiểm soát quyền lực, kiểm soát tham nhũng... có hiệu lực và hiệu quả cần phát huy vai trò tham gia của nhiều chủ thể xã hội và thông qua hệ thống công cụ tác động đồng thời bởi các thiết chế xã hội: thiết chế pháp luật, thiết chế chính trị, thiết chế kinh tế, thiết chế gia đình, thiết chế giáo dục, thiết chế đạo đức, thiết chế văn hóa, thiết chế tôn giáo, thiết chế truyền thông, thiết chế dư luận xã hội...

Để bảo đảm một cấu trúc xã hội của Việt Nam phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển đô thị bền vững; xây dựng nông thôn mới; thực hiện dân chủ gắn liền với trách nhiệm, kỷ cương xã hội... nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước trên 5 trụ cột: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường, cần phải bảo đảm hệ thống chuẩn mực và giá trị xã hội hiện hành của đất nước có tác động sâu rộng trong nhận thức và hành động của mọi giai tầng xã hội. Đó là, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc; “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; “nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”.

                                                                                                                               Nguồn:TS ĐỖ VĂN QUÂN

Viện Xã hội học và Phát triển,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh