Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022

Đấu tranh phản bác âm mưu, thủ đoạn chống phá trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật

     

Văn học, nghệ thuật là một bộ phận quan trọng của văn hóa, tác động trực tiếp đến quan điểm, nhận thức, tư tưởng, tình cảm và thẩm mỹ của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Văn học, nghệ thuật cũng là mục tiêu chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, là một trong những lĩnh vực mà các thế lực thù địch, phản động cùng những phần tử cơ hội thường xuyên lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta. Nhận diện và đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm trong sáng đời sống tinh thần, tư tưởng cho con người và toàn xã hội.

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Thời gian qua, các kênh truyền thông và các trang mạng xã hội đã được thiết lập để tạo kênh kết nối các lực lượng cực đoan, cơ hội ở trong và ngoài nước để lợi dụng lĩnh vực văn học, nghệ thuật nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, đồng thời lập quỹ để cung cấp tài chính, trả nhuận bút cho số văn nghệ sĩ cực đoan. Số văn nghệ sĩ này tiếp tục lợi dụng, núp bóng các tổ chức xã hội dân sự để thành lập các tổ chức đối lập, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Các đối tượng này móc nối với các cá nhân, tổ chức nước ngoài thường xuyên thông qua các hoạt động tài trợ, biểu diễn, triển lãm, tọa đàm, hội thảo, giao lưu văn hóa, văn học, điện ảnh, mỹ thuật, sân khấu để tuyên truyền ảnh hưởng, lôi kéo lực lượng văn nghệ sĩ có tư tưởng dao động để khuếch trương lực lượng, tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng đa nguyên, đòi tự do sáng tác một cách vô chính phủ

Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ người Việt ở hải ngoại trong nhiều năm nay đã sử dụng văn học, nghệ thuật làm công cụ tuyên truyền tư tưởng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta. Họ tung ra hàng loạt tác phẩm đủ các thể loại như tùy bút, nhật ký, hồi ký, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ… Mục đích của thế lực thù địch là ngụy tạo sự kiện, chứng cứ, làm sai sự thật nhằm hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh, phủ nhận thành quả cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cùng với đó, các thế thực thù địch, chống phá triệt để lợi dụng các kênh ngoại giao, các tổ chức phi chính phủ để gây áp lực hòng tạo ra không gian hoạt động chống đối trong văn học, nghệ thuật trong nước.,… Ngoài ra, các đối tượng này còn tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, tôn vinh các tác giả, tác phẩm đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Mục đích của hoạt động chống phá trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật là tạo ra “mũi đột phá”, “thọc sâu” vào ý thức hệ của nhân dân, nhằm làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Sự chống phá được tiến hành rất xảo quyệt, tinh vi nên việc nhận diện chúng không dễ dàng vì nó ẩn khuất trong những vỏ bọc “văn học”, “nghệ thuật”, “những sự kiện có thật”, đánh vào thị hiếu của con người. Các thế lực thù địch đã truyền bá các tác phẩm văn học, hội họa, những chương trình ca nhạc, phim ảnh có nội dung chống chế độ, dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để phủ nhận thành quả của cách mạng, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chế độ xã hội chủ nghĩa. Có những tác phẩm văn học đánh giá sai lệch, phiến diện về cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, làm lẫn lộn hoặc cố tình lập lờ về bản chất, tính chính nghĩa của các cuộc kháng chiến; từ đó, gây ra sự hoài nghi, mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ. Chúng còn đẩy mạnh tuyên truyền sai lệch về quan điểm, đường lối văn học, nghệ thuật của Đảng, rằng: “đường lối văn nghệ của Đảng là cứng nhắc, ép buộc”; cáo buộc các tác phẩm “phải chịu sự kiểm duyệt chặt chẽ của Nhà nước”, hay vu cáo “sự độc đoán về tư tưởng đã bóp chết văn học, nghệ thuật”, ...

Hiện nay, có khoảng gần 150 hội, nhóm bất hợp pháp, "trong đó có gần 100 nhóm có khuynh hướng hoạt động đối lập chính trị, có quan điểm cực đoan, quá khích, sai trái, thù địch và trong số đó có người nguyên là cán bộ lãnh đạo, tướng lĩnh, các nhà khoa học, văn nghệ sĩ đã có những đóng góp, cống hiến cho cách mạng, cho Đảng và đã từng được nhân dân tin tưởng”(1). Thông qua các nhà xuất bản bên ngoài, nhiều đối tượng văn nghệ sĩ, trí thức có quan điểm cực đoan đã sáng tác, in ấn và phát tán các tác phẩm văn học, thơ ca có nội dung sai trái, chống phá tư tưởng trên lĩnh vực văn học nghệ thuật. “Từ năm 1986 đến nay, công an đã phát hiện 272 tác phẩm văn học nghệ thuật có nội dung sai trái, phản động nhằm chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân ta”(2).

Hoạt động xuất bản phát tán tài liệu bài viết, bản thảo có nội dung nhạy cảm, trái với quy định và mục tiêu tuyên truyền của nhà nước. Đáng chú ý, chúng tán phát vào trong nước hàng chục nghìn tài liệu có nội dung xấu độc, thù địch và một số tác phẩm văn học, nghệ thuật được xuất bản ở nước ngoài có nội dung sai trái về chính trị, lồng ghép những quan điểm trái chiều, phức tạp để tuyên truyền xuyên tạc, kích động... Các lực lượng phản động, cơ hội chính trị đã móc nối, sử dụng một số cán bộ lão thành, có cả cán bộ đương chức, có tướng lĩnh đã nghỉ hưu, bộ phận trí thức, văn nghệ sĩ có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tạo dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng chống đối, tán phát trên internet, mạng xã hội bài viết, tư liệu, tài liệu với luận điệu thâm độc, quan điểm sai trái, cổ xúy cho “dân chủ tư sản”, “xã hội dân sự”, “xã hội dân chủ” để tuyên truyền kích động, gia tăng các hoạt động chống phá.

Bên cạnh đó, thời gian qua, có không ít văn nghệ sĩ đã tận dụng uy tín cá nhân, tầm ảnh hướng với xã hội để đăng tải trên các trang cá nhân, các blog, tài khoản zalo, trang mạng xã hội facebook để bình luận những vấn đề thời sự, chính trị của đất nước bằng ngôn ngữ của văn chương, nghệ thuật với cái nhìn một chiều, cực đoan. Trên một số tài khoản facebook cá nhân, một số văn nghệ sĩ, trí thức cũng đã đăng tải những trạng thái, những bài thơ, đoạn trích văn xuôi bày tỏ cảm xúc, quan điểm cá nhân trước một số vụ việc trong nước theo hướng phê phán, reo giắc sự hoài nghi về đường lối, chủ trương của Đảng, quy định của chính quyền, ngành nhằm tạo cớ để các thế lực thù địch có dịp chống phá Đảng và chế độ ta.

Những âm mưu, thủ đoạn chống phá trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật có tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhận dân trong thời gian qua, trong đó có giới trẻ. Có không ít người đã hoang mang, hoài nghi về lịch sử của dân tộc cũng như những thành quả cách mạng của nhân dân. Thậm chí có những người có tâm lý bi quan, chán nản, mất niềm tin vào những giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Đó là một nguy hại rất lớn không thể coi thường, xem nhẹ.

THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT

Trong suốt thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm: “Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, chăm lo bồi dưỡng và tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ. Đổi mới phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật”. Khoản 2, Điều 60 của Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 cũng nêu rõ: “Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đó là cơ sở chính trị, pháp lý và định hướng quan trọng để phát triển văn học, nghệ thuật của nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc đấu tranh phòng, chống những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật.  

Ban Chỉ đạo Đề án 213 đấu tranh trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật đã phối hợp chặt chẽ với Ban tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, các ban ngành, cơ quan phụ trách đấu tranh cấp tỉnh và các địa phương không cấp phép, chấp nhận thành lập các nhóm, hội hoạt động bất hợp pháp, các nhóm hội có biểu hiện sai trái. Đồng thời, vận động cán bộ, đảng viên và người dân không tham gia hội, nhóm, tích cực phát hiện các biểu hiện sai trái của các nhóm đối tượng để đấu tranh chống lại, vạch trần âm mưu và thủ đoạn của thế lực thù địch. Vận động văn nghệ sĩ, trí thức không tham gia các hội nhóm, tổ chức sai trái mà tích cực tìm ra, vô hiệu hóa, kiên quyết không để các đối tượng công khai kế hoạch tuyên truyền thủ đoạn sai trái, thù địch để đấu tranh chống lại các thủ đoạn đó.

Các cơ quan đấu tranh đã phát hiện và chủ động phân loại các nhóm đối tượng với tính chất và mức độ sai phạm, thái độ chính trị sai trái thù địch của các nhóm đối tượng để sử dụng các biện pháp đấu tránh phù hợp, có hiệu quả. Với những đối tượng phức tạp, có hành vi cực đoan, quá khích xâm phạm đến an ninh quốc gia, chủ quyền thì bắt và xử lý trước pháp luật; đối tượng vi phạm ở mức nhẹ hơn thì răn đe, kiềm chế hoặc giáo dục, thuyết phục và tác động để đối tượng không tham gia hội, nhóm, từ bỏ các hoạt động và rời khỏi hội, nhóm.

Ngoài ra, các cơ quan pháp luật cũng xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện nhiệm vụ này như Hiến pháp năm 2013; Luật Xuất bản; Luật Báo chí; Luật An ninh mạng; Luật Điện ảnh; Luật sở hữu trí tuệ; Nghị định 79/2012/NĐ-CP quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang, thi người đẹp và người mẫu, lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu và Nghị định số 15/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang, thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu; Nghị định 75/2010/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong hoạt động văn hóa; Nghị định số 113/2013/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động mỹ thuật; Quyết định số 3196/QĐ-BVHTTDL ngày 13/12/2021  của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành kèm theo “Quy tắc ứng xử của người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật”. …. Về cơ bản, các văn bản quy phạm pháp luật hiện có đã xác định tương đối rõ ranh giới cho hoạt động sáng tạo, chỉ ra những hành vi, hoạt động không được phép. Các văn bản quy phạm pháp luật trên cũng đã cơ bản tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật đồng thời có khả năng ngăn chặn, xử lý những quan điểm sai trái, phản động.

 Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, lực lượng lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển lĩnh vực văn học, nghệ thuật nói chung, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trong lĩnh vực này nói riêng. Ở một số hội chuyên ngành văn học, nghệ thuật Trung ương, đội ngũ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu đã cao tuổi, sức khỏe hạn chế; trong khi đó ở một số hội văn học, nghệ thuật địa phương vẫn còn tình trạng bố trí lãnh đạo hội không có chuyên môn, chưa am hiểu sâu về lĩnh vực văn học, nghệ thuật mình phụ trách. Vì những lý do đó, người lãnh đạo chưa phát huy được vai trò tập hợp đội ngũ, hoặc những người làm chuyên môn không phục, thậm chí có nơi không giữ được đoàn kết nội bộ,…

Mặt khác, trong một thời gian dài, chúng ta chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của công tác tổ chức, cán bộ trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, dẫn đến bố trí sai những cán bộ lãnh đạo, quản lý hoặc hạn chế năng lực, hoặc có tư tưởng phức tạp, khiến cho việc xử lý hậu quả trở nên rất khó khăn.

NÊU CAO TINH THẦN TRÁCH NHIỆM TRƯỚC CỘNG ĐỒNG VÀ XÃ HỘI

Để tăng cường công tác đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn chống phá của thế lực thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật ở nước ta giai đoạn hiện nay, cần chú trọng đến những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đấu tranh ngăn chặn âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật, coi đây là một mặt trận trọng yếu trong cuộc chiến đấu tranh chống lại các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.  

Hai là, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với hoạt động văn học, nghệ thuật, nhất là các hội, nhóm hay hoạt động của các nhà văn, nhà thơ, các văn nghệ sĩ bằng những quy định cụ thể; đồng thời có chế tài nghiêm khắc để xử lý những trường hợp vi phạm quy định. Có cơ chế, chính sách phù hợp để huy động những nhà văn, nhà thơ, các văn nghệ sĩ tham gia đấu tranh chống lại các hoạt động lôi kéo, kích động, chống phá của các thế lực thù địch trên các diễn đàn, nhất là trên mạng xã hội.

Ba là, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân trong giám sát, phản biện hoạt động văn học, nghệ thuật. Các cơ quan truyền thông cần phát huy tinh thần trách nhiệm trong việc biểu dương, lan tỏa những hoạt động văn học, nghệ thuật có giá trị tích cực, có tính định hướng theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, đồng thời, lên tiếng phê phán những hoạt động văn học, nghệ thuật phản cảm, đi ngược lại quy định của Đảng, Nhà nước và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Các đoàn thể chính trị - xã hôi và nhân dân phát huy vai trò giám sát, phản biện hoạt động của các nhà văn, nhà thơ, các văn nghệ sĩ; kịp thời đóng góp ý kiến để điều chỉnh những hành vi “lệch chuẩn”.

Bốn là, bản thân những người hoạt động trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trước cộng đồng và xã hội; chấp hành nghiêm chỉnh những quy tắc đạo đức nghề nghiệp và quy định về văn hóa ứng xử; nêu cao tinh thần dân tộc, ý thức bảo vệ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, biết tận dụng lợi thế, uy tín của người nổi tiếng để tuyên truyền, quảng bá những giá trị tích cực; lên án, bài xích những biểu hiện sai trái, lệch lạc.

Có thể nhận thấy, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật là một nhiệm vụ rất quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay. Để cuộc đấu tranh này thực sự có hiệu quả, ngoài việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật mà đội ngũ văn nghệ sĩ, những người làm công tác lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật cũng cần nâng cao nhận thức, bản lĩnh, trách nhiệm của mình trong việc xây dựng nền văn học, nghệ thuật trong sáng, phù hợp với định hướng của Đảng và thị hiếu lành mạnh của nhân dân, tránh để các thế lực thù địch lôi kéo, mua chuộc.

TS. Thành Thu Trang

Học viện Chính trị Khu vực I

 

(1) (2) Vũ Thành Nam: Cảnh giác với thủ đoạn móc nối, lôi kéo văn nghệ sĩ của các thế lực thù địch nhằm chống Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, Tạp chí Khoa học an ninh, tháng 8/2020, tr.26, 28.

Phai nhạt lý tưởng cách mạng - con đường dẫn đến “tự triệt tiêu mình”

 

Lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

CHIẾC XE ĐẠP CHỞ GẦN 4 TẤN HÀNG TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

 Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, chiếc xe đạp của chiến sĩ dân công Ma Văn Thắng (đoàn Phú Thọ) có chuyến đã chở 325 kg hàng, gấp 13 lần một người gồng gánh, một con số khủng khiếp đối với một người nông dân nhỏ bé và chiếc xe đạp thồ đơn sơ.

Đó là chiếc xe đạp hiệu "Lanh côn" do Pháp sản xuất, vốn của một người giàu có ở xã, được trưng dụng và giao cho ông Ma Văn Thắng sử dụng phục vụ chiến dịch Điện Biên. Thời gian đầu, trung bình mỗi chuyến chỉ chở được từ 80 - 100 kg gạo, nhưng cũng hết sức vất vả.
Để nâng cao năng suất thồ hàng, ông Thắng đã gia cố chiếc xe khi gắn thêm một đoạn tre già bằng cổ tay, dài khoảng 1 mét vào ghi đông xe, trục yên xe được gắn một đoạn tre cao hơn yên khoảng nửa mét để người thồ hàng có thể cầm và giữ thăng bằng cho xe. Ngoài ra, ông còn hàn thêm sắt, buộc thêm gỗ để tăng độ cứng của khung xe, lấy vải, quần áo cũ, săm cũ lót vào bên trong tăng độ bền của săm, lốp xe…. Với sáng kiến của mình, những chiếc xe thồ của ông Thắng và đồng đội mỗi chuyến chở được tới hơn 300 kg gạo. Trong một lần chở hàng đến ngã ba Nghĩa Lộ, qua kiểm tra - xe của ông đã chở khối lượng hàng hóa là 325 kg. Kỷ lục này được Ban chi viện chiến dịch xác nhận, biểu dương rộng rãi trên toàn mặt trận.
Kết thúc chiến dịch, xe của ông Thắng đã vận chuyển được 3.700 kg hàng hóa trên tổng chiều dài 2.100 km đường rừng núi và chiếc xe ông sử dụng để phục vụ chiến dịch đã trở thành chiếc xe đạp thồ có năng suất cao nhất chiến dịch. Với thành tích nổi bật này, ông Thắng đã được Ban Chỉ huy chiến dịch và Ban Cung cấp mặt trận tặng thưởng hai bằng khen, một Huân chương Chiến công hạng Ba. Hiện chiếc xe đạp thồ của ông Ma Văn Thắng được lưu giữ, trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 2.
Những chiếc xe đạp thồ trong chiến dịch Điện Biên khiến cả thể giới kinh ngạc, là biểu tượng của sự sáng tạo, sức mạnh của chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện./.


NGƯỜI HÀN QUỐC XUYÊN TẠC TRẮNG TRỢN LỊCH SỬ VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?

 Trong tập 8 bộ phim Little Women, một nhân vật trong phim đề cập đến sự thiện chiến của quân đội Hàn Quốc trong cuộc chiến tại Việt Nam. Nhân vật này cho biết vào năm 1967, một đội quân thiện chiến của người Hàn Quốc được tuyển chọn và đưa đến Việt Nam. Trong một trận thắng, một người lính Hàn có thể tiêu diệt 20 người lính Việt Nam và có những người lính Hàn Quốc có tiêu diệt 100 lính Việt Nam (?)

Chiếu theo mốc thời gian nói trong phim và những gì lịch sử Hàn Quốc từng đề cập, có khả năng bộ phim lấy tình tiết từ trận Trà Bình Đông - còn phía Việt Nam gọi là trận Quang Thạnh, nơi mà “rồng xanh bị xé xác, mãnh hổ bị phanh thây”, trận này khiến quân đội Hàn Quốc đóng tại nhiều cứ điểm gần Trà Bình Đông phải rút lui, các hoạt động càn quét phải tạm dừng cho tới giữa năm 1968 sau sự kiện Tết Mậu Thân khi quân ta yếu thế hơn trên chiến trường.
Còn với nhiều người Hàn Quốc, họ nói rằng đây là một trận đấu “2400 lính Việt Cộng phải chịu thua trước 249 lính Hàn Quốc”, “chỉ có 15 lính Hàn Quốc thiệt mạng khi đối đầu với 2 trung đoàn lính Việt Cộng”, “200 lính Hàn có khả năng tác chiến như một đội quân 5000 lính”...
Trên Youtube, những người Hàn Quốc yêu cầu những người dân Việt Nam phải cám ơn những binh lính Hàn Quốc, phải đúc tượng và treo tấm ảnh của những người lính Rồng Xanh - Mãnh Hổ, phải tôn thờ những chiến binh Đại Hàn… Liệu những người Hàn Quốc có biết rằng những chiến công mà binh lính Hàn Quốc khi tham chiến tại Việt Nam lại là những “chiến công tưởng tượng”, được thêu dệt và bịa đặt hay không?
Năm 1966, quân đội Hàn Quốc tham gia chiến dịch “Hành quân Van Buren” tại Phú Yên và chúng tự khai rằng đã tiêu diệt khoảng trên 900 lính Việt Cộng. Nhưng, hơn 900 lính Việt Cộng thiệt mạng đó hóa ra lại đến từ khoảng 22 vụ thảm sát khiến 925 người dân Việt Mạng thiệt mạng, trong đó vụ có thảm sát Hòn Đình (Đông Hòa, Phú Yên) khiến 65 người thiệt mạng… Còn nữa, trong năm 1966, một loạt các chiến dịch “tìm diệt” của quân Hàn Quốc tại Quảng Ngãi, Quảng Nam đã diễn ra chúng báo cáo rằng có hàng trăm lính Việt Cộng bị tiêu diệt, nhưng quãng thời gian này cũng là quãng thời gian ác mộng của những người dân hai tỉnh này khi một loạt các vụ thảm sát diễn ra. Mình được nghe câu nói của một bác nông dân sống ở Bình Sơn mô tả về sự dã man của quân lính Hàn Quốc: “Cứ quân Đại Hàn đi đến đâu, bia mộ của dân thường mọc lên đến đó”.
Một sự kiện vô lý khác là những người Hàn Quốc tuyên truyền về cuộc hành quân Operation Hoang Dieu 101 diễn ra cuối 1970 và đầu năm 1971 của lính Hàn đã khiến hơn 5000 lính Việt Công bị tiêu diệt. Nhưng trong trang niêm yết của Lực lượng Delta thuộc Thủy quân lục chiến - đơn vị phối hợp cùng quân đội Hàn Quốc, chiến dịch này chỉ khiến ~375 lính Việt Cộng thiệt mạng. Tức là phía Hàn Quốc đã thổi phồng lên gấp gần 20 lần số liệu thương vong.
Trong tập 5 của bộ phim Litte Women, phim tái hiện lại một góc của Bảo tàng tưởng niệm chiến tranh Hàn Quốc ở Seoul về cuộc chiến của lính Hàn tại Việt Nam. Phim ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của binh lính Hàn Quốc tại Việt Nam, những người xuất thân khó khăn nhưng đến một quốc gia xa xôi để chiến đấu vì công lý, chiến đấu vì Tổ Quốc, chưa hết, phim đề cao một tướng Hàn Quốc là “anh hùng chiến tranh Việt Nam”...
White Badge, một trong những bộ phim chính luận xuất sắc nhất lịch sử Hàn Quốc cũng có đề tài về cuộc chiến tại Việt Nam. Phim nói về một nhà báo và góc nhìn của những người lính tham chiến tại Việt Nam. Trong phim có phân cảnh quân Đại Hàn càn quét dân làng, bắt và hành hạ một người phụ nữ có bầu không vũ khí, người phụ nữ này nói: “Tao sẽ đẻ con và tao sẽ mang còn vào rừng, con tao sẽ chiến đấu đến khi lũ chúng mày cút khỏi Việt Nam”... Khi ra mắt và cả khi đạt giải thưởng Rồng Xanh, bộ phim cũng chịu sự phản đối gay gắt bởi những người cựu binh Hàn Quốc từng tham chiến ở Việt Nam. Đại diện của một nhóm cựu chiến binh còn cho rằng tình tiết phim xuyên tạc và bộ đội Hàn Quốc “không giết bất cứ một dân thường” nào trong chiến tranh Việt Nam…
Lịch đã qua và đôi khi nó đau thương khiến người ta không muốn nhớ lại… Lịch sử được phản ánh ở trong những chuyến thăm của những người Hàn Quốc đến Việt Nam trong phong trào “xin lỗi Việt Nam”, lịch sử tồn tại trong hơn 20 bia đá, tượng đài khắc ghi hàng chục ngàn những dân thường Việt Nam bị thảm sát bởi những người lính Hàn Quốc, lịch sử được đúc kết trong bức tượng Pieta Việt Nam tại Jeju…
Bao nhiêu sinh mạng vô tội của người Việt Nam đã mất đi, cuộc chiến giành độc lập thống nhất của người Việt Nam gặp khó khăn hơn rất nhiều bởi những người lính Hàn Quốc…. Người Hàn thu được rất nhiều ngoại tệ từ cuộc chiến còn người Việt Nam lại mất đi rất nhiều nước mắt…
Những vết sẹo vẫn đang âm ỉ đợi lành, chỉ xin đừng làm nó rách ra thêm lần nữa!

CHỈNH ĐỐN ĐẢNG KHÔNG PHẢI LÀ “VỞ TUỒNG”

 


Những năm vừa qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được Đảng ta thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh, đủ năng lực và uy tín lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thành tựu đó được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ghi nhận, thêm tự hào, tin tưởng và được dư luận quốc tế đánh giá cao.


Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã và đang tìm mọi cách phá hoại những thành công của Đảng ta. Chúng phủ nhận kết quả, bóp méo, xuyên tạc sự thật công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho rằng đó là những việc làm vô ích, không hiệu quả, thậm chí là thủ đoạn dùng để đấu đá nội bộ, triệt phá nhau hoặc bao che cho nhau mà thôi. Ví dụ như tháng 9-2022, Thoibao News cho rằng, chỉnh đốn đảng ở Việt Nam là “Vở tuồng đang diễn ra ở Việt Nam”.


Nhưng sự thật những gì mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm được và thực tiễn đang diễn ra của cách mạng Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu sai trái mang tính xuyên tạc, vu khống, chống phá của kẻ xấu. 


Chúng ta hãy cùng tìm hiểu một số nội dung mà Thoibao News đưa ra để chứng minh cho sự sai trái, thủ đoạn xấu xa, hành vi chống phá thâm độc, trắng trợn đó. Thoibao News cho rằng: chỉnh đốn Đảng chỉ là kịch bản chứ không phải là chủ trương và “Vở kịch này ngày càng dở”. Trong khi ngay từ rất sớm, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng ta đã rất chú ý đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Năm 1925, trước khi Đảng ra đời, Hồ Chí Minh đã xác định rõ vai trò của Đảng, yêu cầu Đảng phải vững mạnh để lãnh đạo cách mạng thắng lợi: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mới chạy”. Còn trong Di chúc, Hồ Chí Minh viết: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất trong Đảng”.


Không ai có thể phủ nhận được sự thật: sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn luôn là nhiệm vụ then chốt, đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta.


Hơn 92 năm qua, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên của Đảng. Trong quá trình trưởng thành, phát triển, Đảng luôn có đường lối, chủ trương, chính sách và biện pháp thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Năm 1939, trong tác phẩm “Tự chỉ trích”, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã nhấn mạnh tinh thần tự phê bình và phê bình trong Đảng, xác định: “Phê bình Đảng là để thống nhất tư tưởng, để rèn luyện mình, để đề cao uy tín và ảnh hưởng của Đảng, nhằm làm cho Đảng ngày càng mạnh và cách mạng ngày càng phát triển. Muốn vậy, phê bình phải nắm vững mục đích xây dựng Đảng, xây dựng đồng chí mình, không được đả kích hoặc cường điệu những sai lầm khuyết điểm của đồng chí mình”. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ cũng chỉ rõ: Đảng có trách nhiệm không bi quan, hoảng hốt, không đắc chí, tự mãn mà phải phân tích xác thực hoàn cảnh để tìm ra nguyên nhân thất bại và nghiên cứu phương pháp sửa chữa và tiến thủ.

Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới đất nước, chỉ tính từ Đại hội Đảng lần thứ XI đến nay, Đảng ta đã có Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII và khóa XIII với nhiều giải pháp, cách làm về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tháng 10-2021, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã đánh giá: “Năm năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, quyết liệt, thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm của các cấp ủy, tổ chức đảng, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, toàn diện, đồng bộ, thống nhất, thực sự đi vào cuộc sống, có nhiều bước đột phá quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ”. Ban Chấp hành Trung ương cũng đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thông chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, Trung ương cũng ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm với nhiều điểm mới nổi bật so với Quy định trước đó. 


Điều đáng phấn khởi là những chủ trương, biện pháp, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được thực hiện thành công và đem lại hiệu quả thiết thực trên thực tế. Xin nêu thực tế trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Ngày 30-6-2022 đã diễn ra Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong giai đoạn từ 2012 đến 2022. Phát biểu tại Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Công tác đấu tranh, phòng chống tham nhũng đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể, rất quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, và thực sự “đã trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược”, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận”. 


Cũng cần biết rõ thêm: Thoibao News còn cho rằng: “Lãnh đạo Việt Nam có vấn đề cả về thấy và nghe”. Nhưng với việc không thấy, không nghe những thực tiễn tốt đẹp đang diễn ra ở Việt Nam rồi cố tình nói bậy bạ thì chính Thoibao News mới có vấn đề và vấn đề rất nặng về thấy và nghe. Đó chỉ có thể là sự thấy và nghe của những kẻ chuyên xuyên tạc, chống phá, đi ngược lại sự thật.


Như vậy, chúng ta có đủ cơ sở để thấy rõ: xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã và đang là sự thật thắng lợi của Đảng Cộng sản Việt Nam chứ không phải “vở tuồng” như Thoibao News xuyên tạc, vu khống. Chỉ có Thoibao News và những kẻ phá hoại đã và đang cố tình diễn tuồng một cách trơ trẽn, lố bịch trước thực tế công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và sự phát triển tốt đẹp của cách mạng Việt Nam mà thôi.

Xin kết thúc bài viết này bằng lời phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành mới đây, tuyệt đại đa số ý kiến của người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; khiến cho mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực xấu, thù địch đều trở nên trơ trẽn, nực cười”!./.


CÔNG MINH

BÊN CẠNH SỰ ĐÊ HÈN CỦA TIỂU NHÂN, LÀ CHÍ KHÍ NGƯỜI ANH HÙNG!

         Vĩ tuyến 17, ngày và đêm - một bộ phim từ câu chuyện có thật: 
     Đồng chí Ba Thuận, bí thư chi bộ của xã, khi tên sỹ quan ngụy là Trần Sùng tìm cách lung lạc, nói sẽ tha cho ông nếu cùng hắn quỳ xuống thề “xoá bỏ hận thù”, ông đã đanh thép trả lời rằng: “Tao quỳ nửa đời người rồi, đã đứng lên được là không quỳ xuống nữa”!
     Và khi Trần Sùng lấy cái chết ra để đe dọa, muốn ông từ bỏ niềm tin vào lý tưởng của Đảng, Ba Thuận đã dõng dạc: “Nhìn vào mắt mày, tao thấy mày đang run rợ. Còn tao, dù có chết tao vẫn luôn tin vào Đảng, tin rằng đất nước sẽ sum họp, non sông sẽ thống nhất”.
     Khi bị lũ ngụy đê hèn thiêu sống, Ba Thuận vẫn hét lên động viên bà con: “Đừng kêu khóc trước mắt kẻ thù. Trong chiến tranh, việc sinh tử là lẽ thường tình”!


Yêu nước ST.

 NHỮNG TỔNG THỐNG MỸ THẤT BẠI Ở CHIẾN TRANH VIỆT NAM 

-----

1. David D. Eisenhower (1890-1969) được coi là Tổng thống Mỹ đã khơi mào cuộc chiến tranh Việt Nam. Với chiến lược “Chiến tranh đơn phương”, ông ta đã dựng lên chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm và biến miền Nam Việt Nam thành “thuộc địa kiểu mới” ở Đông Nam Á. Dưới sự bảo trợ của Tổng thống Eisenhower, chính quyền Diệm – Nhu đã mở hàng loạt chiến dịch “tố Cộng”, “diệt Cộng”, lê máy chém đi khắp miền Nam Việt Nam để tàn sát những người kháng chiến và yêu nước.

 

2. Người kế nhiệm Eisenhower là Tổng thống Mỹ John F. Kennedy (1917-1963). Với chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Kennedy đã thúc đẩy việc xây dựng quân đội Sài Gòn mạnh với vũ khí, trang bị và cố vấn Mỹ. Thời Kennnedy, chính quyền Diệm ra sức tiến hành “bình định”, lập “ấp chiến lược” nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam. Sự nghiệp của Tổng thống Kenny kết thúc khi ông ta bị ám sát ngày 22/11/1963, ít ngày sau khi anh em Diệm – Nhu bị sát hại trong cuộc đảo chính do Mỹ giật dây.

 

3. Tổng thống Lyndon B. Johnson (1908-1973) với chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Với chiến lược này, Mỹ trực tiếp đưa quân sang Việt Nam, thực hiện “tìm và diệt” ở miền Nam và đẩy mạnh chiến tranh phá hoại miền Bắc trên quy mô lớn. Chính sách của Tổng thống Johnson không chỉ tàn phá nặng nề hai miền Việt Nam mà còn khiến quân đội Mỹ hứng chịu những tổn thất thảm khốc, khiến phong trào phản chiến ở Mỹ lan rộng với sự tham gia của hàng trăm nghìn người thuộc mọi tầng lớp quần chúng.

 

4. Richard Nixon (1913-1994) là vị Tổng thống Mỹ tai tiếng nhất thời chiến tranh Việt Nam. Dưới thời Nixon, Mỹ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, có mục tiêu rút quân nhưng để lại cố vấn chỉ huy, viện trợ lớn cho chế độ ngụy Sài Gòn, đồng thời đưa miền Bắc "về thời đồ đá". Theo mệnh lệnh của Nixon, máy bay chiến lược B-52 của Mỹ đã thực hiện hàng nghìn lượt ném bom rải thảm mang tính hủy diệt vào Hà Nội, Hải Phòng và các đô thị miền Bắc, bị truyền thông quốc tế lên án như tội ác chiến tranh không thể dung thứ.

 

5. Gerald Ford (1913-2006) là Tổng thống Mỹ cuối cùng dính líu đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông ta tiếp tục theo đuổi chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, hậu thuẫn cho ngụy Sài Gòn chống phá Hiệp định Paris và dùng lực lượng tấn công lớn trên chiến trường miền Nam. Dù vậy chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” từng bước bị phá sản, buộc Mỹ phải bỏ rơi đồng minh chế độ của Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 30/4/1975, Gerald Ford và giới chức Mỹ cay đắng nhìn cuộc chiến mà đất nước mình tiêu tốn hàng vạn nhân mạng kết thúc với thất bại toàn cục...

 

Nguồn: Sưu tầm

 

 

 KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC CỦA DÂN TỘC TA!

--------------

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta dù đã trải qua rất nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh nhiều của nhiều người nhưng thắng lợi rất vẻ vang. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Bác Hồ muôn vàn kính yêu đã viết nên khúc khải hoàn ca vĩ đại nhất, hào hùng nhất của thế kỷ XX. Đó là chiến công chung của cả dân tộc trước giặc Mỹ xâm lược, quân đội chư hầu và tay sai, bán nước ngụy Sài gòn, sự thật lịch sử đã quá rõ ràng, ánh sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng còn che mờ cả nhật nguyệt.

Ấy thế mà những năm gần đây, người ta xuyên tạc về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc Việt Nam. Tháng Tư về thì những tiếng vọng từ phía bên kia Đại Tây Dương và cả những kẻ bất mãn trở cờ trong nước, trong đó có cả một số nhà sử học, những người có chức sắc vẫn cứ tiếp tục ca bài ca muôn thủa, xuyên tạc bản chất của cuộc kháng chiến với luận điệu: "Cuộc chiến Việt Nam đã đi qua 47 năm nhưng Việt Nam vẫn ăn mừng chiến thắng 30/4. Đây là cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn thì có gì phải vui mừng. Người Cộng sản đã đối xử tàn bạo với những người thua cuộc sau năm 1975”... Xin luận giải vấn đề như sau:

BẢN CHẤT CỦA CUỘC CHIẾN:

Trước hết cần khẳng định rõ, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta (1954-1975) là cuộc chiến giữa một bên là nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và một bên là đế quốc Mỹ, quân đội chư hầu như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Úc…và tay sai bán nước ngụy Sài Gòn. Đây không phải là một cuộc nội chiến vì  kẻ nắm thực quyền và quyết định mọi việc của phe địch là đế quốc Mỹ, ngụy Sài Gòn chỉ do Mỹ dựng lên, làm tay sai để hợp thức hóa mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. 

Mỹ mang quân đội trực tiếp xâm lược, từ vũ khí cho đến mọi thứ đều do một tay Mỹ chu cấp, nuôi dưỡng bọn Việt gian, phản quốc để chống lại đất nước. Trong giai đoạn đỉnh quân số của Quân đội Mỹ triển khai ở chiến trường miền Nam Việt Nam lên đến 541.933 quân, nhằm phục vụ cho chiến lược Chiến tranh Cục bộ mà Lầu Năm Góc kỳ vọng sẽ giúp họ chiến thắng. Người Mỹ mang quân đi giết người Việt Nam và bị người giết, mất hơn 58.000 nhân mạng, hơn 303.000 người thành tàn tật, phế nhân và 1000 tỷ USD (thời giá 2010)…Vậy đây nhất quyết không phải là cuộc nội chiến! Nội chiến chỉ là câu chuyện nội bộ giữa các phe phái trong cùng một nước, không có quân đội nước ngoài tham gia, chi phối, làm chủ. Cuộc nội chiến ở Hoa Kỳ thế kỷ 19 là ví dụ điển hình. Phe miền Bắc với tư tưởng "tự do" đã đánh thắng phe miền Nam với tư tưởng không giải phóng nô lệ. 

THỜI HẬU CHIẾN: CHÚNG TA ĐÃ RẤT NHÂN ĐẠO!

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi trả lời chất vấn trước Nghị viện Pháp vào cuối thập niên 1980 đã tuyên bố: “học tập cải tạo là một chính sách nhân đạo, bởi nếu ở những nước khác, bao gồm cả Pháp, những tù nhân này lẽ ra đã bị xử tử hàng loạt vì tội phản quốc, cộng tác với quân xâm lược nước ngoài. Những người đã phạm phải những tội ác tày trời chống lại đất nước, những người mà nếu ở những nước khác, mà chính quý vị ở đây (các nghị sỹ, nhà báo Pháp) ngay sau khi được giải phóng khỏi Đức Quốc xã, biết chuyện gì đã xảy ra (nước Pháp đã xử tử hơn 10.000 người cộng tác với Đức Quốc xã sau khi được quân Đồng Minh giải phóng năm 1945, xem Épuration légale)... Những người này được cho cơ hội trở lại làm một công dân bình thường, tham gia vào cộng đồng cả nước như bao người. Các vị còn đòi hỏi gì nữa?”. 

Người Pháp từng sát hại dã man cả gái điếm chỉ vì họ bán thân cho quân Đức Quốc xã trong thế chiến thứ Hai để trả thù, còn chúng ta dù trải qua nhiều năm chiến tranh, đất nước tổn thất nặng nề nhưng vẫn tạo điều kiện, nhường cơm, xẻ áo cho hơn 200.000 người, những người mang nợ máu với non sông trong số 1.000.000 người ra trình diện, cho họ học tập, cải tạo và đa số họ trở thành người có ích cho xã hội, cùng nhau xây dựng đất nước sau này. Vậy Mỹ, Pháp sao có thể nói là nhân văn hơn chúng ta, sao có thể nói là hòa giải, hòa hợp dân tộc theo cách khoan hồng, độ lượng như chúng ta?

HOÀ HỢP DÂN TỘC KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ QUÊN ĐI QUÁ KHỨ!

 

Hòa hợp dân tộc là việc làm thường xuyên, liên tục, bắt đầu từ sau khi Việt Nam thống nhất chứ không phải bây giờ. Tuy nhiên lịch sử phải được nhắc lại cho con cháu hiểu để thêm yêu tổ quốc, căm ghét bọn bán nước cầu vinh, giáo dục công dân Việt Nam về lòng yêu nước, trân quý giá trị hòa bình và phẩm giá của người Việt Nam; tri ân các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của tổ quốc. Ngày 30/4 hàng năm, người Việt Nam mãi mãi tôn vinh, mãi mãi tự hào, mãi mãi nhắc tới, mãi mãi ăn mừng. 

Hòa hợp dân tộc không đồng nghĩa với xuyên tạc lịch sử, cào bằng giữa ta và giặc. Đám tàn dư đừng hòng trâng tráo, đánh bùn sang ao hòng rửa tội bán nước. Một số cán bộ, đảng viên trước đây trót ăn theo, nói leo đám ba que xỏ lá thì nên suy nghĩ lại, đừng có nói với nhân dân Việt Nam về cái gọi là “30/4 không nên ăn mừng, không nên kỷ niệm”. Đó là giọng điệu của giống vô loài, phản chủ./.

 

Nguồn:TUYENGIAOBINHPHUOC.ORG.VN.

 

 

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI BÀI QUỐC CA VIỆT NAM

 

Quốc ca Việt Nam ra đời đã được 76 năm – cùng với Quốc kỳ, Quốc huy và Thủ đô Hà Nội – Quốc ca Việt Nam đã hòa vào máu thịt của mỗi người dân đất Việt.

Dù ở đâu trên trái đất này, nếu ai đó hát Quốc ca Việt Nam thì hãy tin rằng đó là người bạn, người đồng chí của chúng ta. Nhưng cũng ít ai biết rằng Quốc ca Việt Nam gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày sôi nổi của Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Chính Người đã lựa chọn và sửa chữa để trở thành bài ca bất diệt của nước Việt Nam. Bác Hồ đã xem xét và sửa chữa một cách cẩn thận bài “Tiến quân ca”. Người đã sửa chữa một số câu từ, như câu mở đầu của “Tiến quân ca”, nguyên bản là “Đoàn quân Việt Minh đi…”, Người đã sửa lại là “Đoàn quân Việt Nam đi…”; hoặc câu “Thề phanh thây uống máu quân thù…”, Người đã sửa lại “Đường vinh quang xây xác quân thù…”. Rõ ràng những câu chữa lại của Bác Hồ chính xác hơn, đẹp hơn và đáp ứng yêu cầu của bài Quốc ca Việt Nam.

Ngày 2/9/1945, trong không khí tưng bừng của lễ Tuyên ngôn Độc lập, Quốc ca Việt Nam đã vang lên trong hàng triệu trái tim của con dân Việt Nam, báo hiệu một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc. Nhắc lại sự kiện này, cố nhạc sĩ Văn Cao đã nói: "Đây là hạnh phúc lớn lao nhất của đời tôi, là niềm tự hào không bao giờ quên khi được lãnh tụ kính yêu sửa chữa một tác phẩm nghệ thuật của mình".

Quốc ca Việt Nam đã trở thành một phần máu thịt của Tổ quốc và chắc chắn còn trường tồn rất lâu dài với lịch sử dân tộc.

 

 SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI MỘT CÁCH ĐÚNG ĐẮN

Mạng xã hội có nhiều lợi ích không thể phủ nhận nhưng cũng gây ra nhiều tác hại và hệ lụy, đòi hỏi chúng ta phải là những người sử dụng thông thái, biết "gạn đục, khơi trong."

Trong thời đại hiện nay, mạng xã hội đang là xu thế và ngày càng được nhiều người sử dụng, nhất là lớp trẻ. Nhiều mạng xã hội đang hoạt động song đặc tính chung của chúng là người dùng tự cung cấp nội dung, ý tưởng và chia sẻ rộng rãi trên internet.

Mạng xã hội có nhiều lợi ích, trong đó có việc giúp chúng ta nhanh chóng cập nhật tin tức đời sống xã hội; kết nối một cách thuận tiện và không tốn kém các mối quan hệ khi chúng ta không thể gặp gỡ trực tiếp người thân, bạn bè, đồng nghiệp, đối tác…; nâng cao kỹ năng sống và sự hiểu biết về mọi lĩnh vực; cảnh báo mọi người để tránh được nhiều hiểm họa trong cuộc sống, nâng cao tinh thần cảnh giác.

Song mạng xã hội cũng gây ra nhiều tác hại và hệ lụy mà nguy hiểm nhất là làm trì trệ các hoạt động sống của con người (ăn, ngủ, nghỉ, làm việc); gây tâm trạng tiêu cực khi chúng ta tiếp nhận nhiều thông tin xấu; lấy mất quá nhiều thời gian khi chúng ta lướt web, chơi game, "chém gió" thiếu kiểm soát; tạo ra nguy cơ tiếp xúc với các nguồn tin lá cải không chính xác, không được kiểm chứng, nhằm mục đích câu "view" câu "like."

Ngoài ra, mạng xã hội là nơi hoàn hảo để những người "ngáo" quyền lực thể hiện bản thân. Việc thể hiện bản thân quá đà lại nhận được sự cổ vũ của "cư dân mạng" trong thời gian dài sẽ dẫn đến con người ta lẫn lộn giữa đời thực và thế giới ảo, hoang tưởng về quyền lực, vượt ra khỏi ranh giới đạo đức, có thể phải đối mặt với bản án hình sự.

Có những vấn đề phức tạp, khiến người dùng mạng xã hội thiếu tỉnh táo không biết đâu là được phép, đâu là điều cấm kỵ. Do đó, người sử dụng mạng xã hội phải thực sự chú ý và được trang bị những kiến thức cần thiết để bảo đảm rằng mình sử dụng không gian mạng có trách nhiệm, không vi phạm quy định của pháp luật có liên quan như Bộ luật Dân sự, Luật An ninh mạng và vi phạm Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội.

Theo Nghị định 15, mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin đối với cá nhân là 100 triệu đồng. Hành vi lưu trữ, truyền đưa thông tin giả mạo, sai sự thật, vu khống, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị phạt 50-70 triệu đồng.

Mức phạt 50-70 triệu đồng cũng được áp dụng đối với hành vi cung cấp thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc.

Luật pháp, các quy định, quy tắc ứng xử về mạng xã hội chỉ phát huy tác dụng khi chúng ta là những người sử dụng thông thái, biết "gạn đục, khơi trong"./.

 

 

  NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO, ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI

 

Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.

 

Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!

 

Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá

 

Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

 

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.

 

Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.

 

Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…

 

Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…

 

Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

 

Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.

 

Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”.

 

Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!

 

Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

 

Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

 

Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

 

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

 

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

 

Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

 

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...

 

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

 

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo.

 

Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

 

Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.

 

Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

 

Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.

 

Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…

 

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

 

 ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG TIK TOK CHO BỘ ĐỘI

Vấn nạn Tik Tok trong lực lượng vũ trang tới bây giờ là không mới. Hiện nay có rất nhiều người lan truyền hình ảnh kỉ luật trong Quân đội được đăng tải lên mạng xã hội Tik Tok những ý kiến bàn bạc đánh giá từ người dân ngoài quân đội. Và cũng có người gửi cho admin xem những video đó.

Việc quân nhân đăng tải những hình ảnh, cuộc sống, sinh hoạt trong quân đội quá nhiều rất nguy hiểm cho công tác huấn luyện. Trên thực tiễn cho thấy, trong các hoạt động quân sự của Ukraine và Nga đang diễn ra có rất nhiều trường hợp, quân đội Ukraine đăng video lên Tik Tok. Kết quả cuối cùng thì chúng ta cũng đã biết, báo chí cũng đã đăng tin rất nhiều.

Còn vấn đề kỉ luật trong quân đội, có câu "kỉ luật chính là sức mạnh của quân đội" quân đội là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biên giới. Nếu nhưng không áp dụng kỉ luật thì sẽ ra sao?. Khi chiến tranh xảy ra quân nhân không có tính kỉ luật, không được rèn rủa tôi luyện thì sẽ như thế nào? Đã là quân nhân chúng ta phải tuân thủ. Không riêng gì các tổ chức lực lượng vũ trang, trong các cơ quan đoàn thể, công ty, xí nghiệp công dân, người lao động khi tham gia sinh hoạt, học tập, lao động cũng cần tuân thủ tốt các quy định, nội quy mà cơ quan, doanh nghiệp đoàn thể đưa ra. Khi vi phạm sẽ bị xử phạt bằng nhiều hình thức cảnh cáo, biên bản, sa thải.... Đó là điều hiển nhiên không cần bàn cãi.

Việc sử dụng mạng xã hội như thế nào cho đúng, an toàn mới là vấn đề chúng ta cần phải xem xét trong thời đại công nghệ 4.0 này.

 

 

 HẾT LÒNG PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN

Một trong những đặc trưng cơ bản về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được nêu trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương là: “Có đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy”.

Qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, phẩm chất cao đẹp ấy vẫn luôn được các cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta gìn giữ, phát huy, dù thời chiến hay thời bình.

Những người con của nhân dân mang sứ mệnh màu xanh áo lính đã đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người, cần mẫn hướng dẫn nhân dân phòng, chống dịch; đi chợ; thu hoạch nông sản; phục vụ trong khu cách ly; canh gác các chốt kiểm dịch; cứu chữa người bệnh; chăm sóc em bé mồ côi; mai táng đồng bào tử vong do dịch bệnh bằng tất cả tấm lòng và trái tim chan chứa tình người. Kể sao hết được những người cha, người mẹ suốt mấy tháng trời chỉ nghe thấy tiếng, chỉ nhìn thấy mặt con yêu thương qua điện thoại; không ít cán bộ, chiến sĩ đã không thể về đưa tiễn người thân đến nơi an nghỉ cuối cùng. Họ cũng sẵn sàng hoãn cưới vợ, cưới chồng, cưới con; không thể ở nhà lúc vợ trở dạ, sinh con... để hoàn thành mọi trọng trách mà nhân dân giao phó.

Đó chính là sự ghi nhận xứng đáng, sự đánh giá khách quan của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đúng với bản chất, truyền thống của Quân đội ta.

Trải qua các cuộc kháng chiến, nhiều người con đã hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; đã dũng cảm chiến đấu, xả thân, sẵn sàng “vì nhân dân quên mình”. Tiếp nối trách nhiệm, nghĩa vụ cao cả ấy, trong thời bình, Bộ đội Cụ Hồ đang ngày đêm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vùng biển, vùng trời, vùng đất thiêng liêng của Tổ quốc, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo... và làm nghĩa vụ quốc tế. Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, mỗi cán bộ, chiến sĩ đã và đang tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, để trong gian khó, nguy nan, quân đội tiếp tục là chỗ dựa tin cậy của nhân dân, góp phần tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới./.

 

 ĐỪNG ĐỂ BỊ LỪA KHI TIẾP CẬN CÁC THÔNG TIN TRÊN  MẠNG

÷÷÷///////÷÷÷

 

Mới đây, trên các trang phản động như Việt Tân đang đăng tải một hình ảnh được cho là bản sao của công trình luận văn tốt nghiệp của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và cho rằng tổng bí thư của chúng ta chưa tốt nghiệp đại học.Có thể thấy, chúng đang lợi dụng một bản sao để kết luận về bác Trọng một cách xuyên tạc trắng trợn.

Nếu nhìn bằng mắt thường thì ai cũng có thể nhận ra bản sao trên chắc chắn không phải được in vào năm 1967 mà ít nhất cũng phải hơn chục năm sau đó bởi chữ in trên bản sao thuộc nhiều font chữ khác nhau mà thời đó chưa có, chưa kể tới việc đây là chữ in của máy in.

Bên cạnh đó, Việt Tân còn lấy dẫn chứng từ một nguồn mà ai cũng biết là không đáng tin cậy là Wiki, một mã nguồn mở ai cũng có thể chỉnh sửa.Chúng xuyên tạc Gs Khánh được phong Gs năm 1980 thì không thể để trên bản sao là Gs vào năm 1967 được.

Trên thực tế, ngày 11 tháng 9 năm 1976, 29 nhà giáo, nhà khoa học tiêu biểu đã được nhà nước phong hàm giáo sư đầu tiên của Việt Nam, trong đó không có Gs Đinh Gia Khánh. Nhưng đối với bản sao trên, thì việc để học hàm của Gs Đinh Gia Khánh là Giáo sư là điều hoàn toàn bình thường bởi ông đã được phong Gs năm 1980.

Tóm lại, thông tin trên chưa được kiểm chứng và chúng ta có thể thấy nhiều hạt sạn trong luận điệu của các đối tượng, bài viết của chúng sặc mùi quy chụp và một chiều. Mọi người hãy cảnh giác, kiểm chứng thông tin trước khi nghe theo các đối tượng xấu.

 

 

  NGẠI PHÊ BÌNH, GÓP Ý - KHÔNG CHỈ LÀ SUY THOÁI...

 

Thời gian qua, khá nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật và pháp luật, phải xử lý nghiêm khắc. Điều rất đáng báo động là, đa số những người này có vi phạm kéo dài, thậm chí suốt vài năm và với nhiều hành vi, thế nhưng cấp ủy, chi bộ, đồng nghiệp cùng công tác lại “không biết”, hoặc biết rõ nhưng...“mũ ni che tai”!

 

1. “Ông ấy bây giờ mới bị xử lý là quá muộn”; “Vi phạm lâu rồi, bây giờ cấp trên mới biết thôi”; “Nhiều người trong cơ quan biết sếp vi phạm nhưng sợ “đấu tranh, tránh đâu”...

 

Không ít lần tôi được nghe như thế khi hỏi chuyện những người quen ở cơ quan, đơn vị, địa phương có cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, pháp luật.

 

Ví dụ thì rất nhiều và có lẽ cũng chẳng cần nêu ra. Chỉ riêng những kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay đã cho thấy, nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm nghiêm trọng từ lâu, chủ yếu là: Thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát dẫn đến gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước; suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; mất đoàn kết nội bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; vi phạm các quy định trong công tác cán bộ, quản lý đầu tư, xây dựng, sử dụng đất đai, tài chính, tài sản; tham nhũng... Những vi phạm này, không thể nói là các đồng chí trong cấp ủy, ban lãnh đạo và chi bộ, đồng nghiệp cùng công tác với cán bộ, đảng viên đó đều... không biết!

 

Bên cạnh những vi phạm nghiêm trọng, khá nhiều cán bộ, đảng viên có những khuyết điểm, như: Độc đoán, gia trưởng, tham gia tệ nạn xã hội, vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương đối với cán bộ, đảng viên, người đứng đầu... Đồng chí, đồng đội, nhân viên là những người trực tiếp chịu tác động hoặc được chứng kiến, nhưng vẫn không mạnh dạn góp ý, phê bình!

 

Chính vì không được thẳng thắn góp ý, phê phán nên những cán bộ, đảng viên đó càng “tự tung tự tác”, “cái sảy nảy cái ung”, vi phạm tăng thêm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

 

Ngoài những nguyên nhân dẫn đến tình trạng không phê bình, ngại góp ý với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp, nhất là với cấp trên, như: Sợ mất lòng, sợ bị trù dập, quy chụp là gây mất đoàn kết; vì cùng có chung lợi ích; hoặc đơn giản là tâm lý “an phận thủ thường”, sợ bị hiểu sai... thì lâu nay, không ít cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có quan điểm “việc ai nấy làm”, không tham gia vào công việc và cuộc sống của người khác. Sự thờ ơ, vô cảm trước những việc sai trái, biết rõ những sai phạm, khuyết điểm của đồng nghiệp, đồng chí, đồng đội mà không thẳng thắn góp ý, phê bình đã dẫn đến nhiều hệ lụy: Cán bộ, đảng viên tiếp tục vi phạm, làm suy yếu tổ chức, ảnh hưởng sự trong sạch vững mạnh và uy tín của Đảng.  

 

2. “Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau...” và “đoàn kết xuôi chiều” là một trong những biểu hiện của sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ.

 

Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) của Đảng thẳng thắn đánh giá: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm...

 

Để thực hiện mục tiêu kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đã xác định nhiệm vụ và giải pháp đầu tiên là: Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình; trong đó nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị-xã hội, nhất là cấp ủy, thường vụ cấp ủy, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, "dĩ hòa vi quý". Kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Bên cạnh đó, chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, kịp thời phát hiện từ nội bộ để chấn chỉnh ngay những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn.

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng với rất nhiều giải pháp, nhưng quan trọng nhất, theo Người, trước hết là phải “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (bài báo Người viết nhân dịp kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng). Muốn thực hiện được điều này, Người chỉ rõ: “Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Ðảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”...

 

Bác Hồ nhấn mạnh “Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc” vì tất cả hoạt động của chi bộ chủ yếu được thông qua sinh hoạt với 3 hình thức: Sinh hoạt lãnh đạo; sinh hoạt học tập; sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Mỗi hình thức sinh hoạt có yêu cầu riêng, nhưng đều phải có tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu, trên cơ sở thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, đó là: Tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình.

 

Thế nhưng, tình trạng ngại phê bình, “ngại nói thật” trong sinh hoạt chi bộ và cả sinh hoạt cấp ủy, đảng bộ vẫn khá phổ biến. Đây là nguyên nhân cơ bản làm mất tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng, dẫn đến không kịp thời ngăn ngừa những vi phạm của cán bộ, đảng viên, để xảy ra sai phạm kéo dài và nghiêm trọng. Thậm chí, không ít cán bộ, đảng viên có sai phạm mà vẫn được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ và đề nghị khen thưởng, bổ nhiệm.

 

Thật đáng buồn khi hầu hết các vụ việc cán bộ, đảng viên vi phạm về đạo đức, lối sống, kỷ luật, pháp luật, nhất là tham nhũng... đều do quần chúng nhân dân, báo chí hoặc cơ quan chức năng cấp trên phát hiện. Trong khi đó, chi bộ, cấp ủy là nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện và tiến hành kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ, đảng viên; người cùng chi bộ, cùng cơ quan thường xuyên gần gũi, công tác, hiểu hết tính cách cũng như những việc làm của nhau-như “cùng nằm trong chăn mà lại... không biết chăn có rận”!?

 

Rõ ràng, việc cần làm ngay là phải quy trách nhiệm, xử lý kỷ luật nghiêm đối với những cán bộ, đảng viên cùng sinh hoạt trong cấp ủy, chi bộ mà không phê bình, góp ý, để đồng chí, đồng đội vi phạm pháp luật, kỷ luật, nhất là với những vi phạm nghiêm trọng, kéo dài (như Bộ luật Hình sự đã quy định tội danh “không tố giác tội phạm” và “che giấu tội phạm”). Bên cạnh đó, cần ban hành quy định bình xét cán bộ, đảng viên theo thang điểm 10 trên từng nội dung, trong đó có tinh thần tự phê bình và phê bình...; đồng thời xếp loại cán bộ, đảng viên trong từng chi bộ theo số thứ tự (từ tốt nhất đến yếu nhất) để tăng tính đấu tranh phê bình trong sinh hoạt đảng, bảo đảm kết quả bình xét thực chất hơn, tránh tình trạng "tạo điều kiện cho nhau cùng ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ”. Có như vậy mới khắc phục được tình trạng “dĩ hòa vi quý”, nể nang, né tránh, thấy sai không đấu tranh.

 

3. “Tôi vô cùng cảm ơn anh đã rất kiên trì, dũng cảm, chân thành góp ý, giúp tôi sửa được tính nóng nảy, gia trưởng, đồng thời biết tôn trọng, lắng nghe cấp dưới. Nếu không, sai lầm của tôi không chỉ dẫn tới hậu quả nghiêm trọng mà tôi còn mất hết tình cảm đồng đội, bạn bè”.

 

Hầu như lần nào làm nhiệm vụ lái xe “tháp tùng” bố đi dự gặp mặt hội truyền thống của đơn vị cũ, tôi cũng được nghe một bác nguyên là trung đoàn trưởng nói với bố tôi như vậy.

 

Chuyện là, thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, bố tôi là trợ lý tác chiến trung đoàn. Thấy đồng chí trung đoàn trưởng nóng tính, “quân phiệt miệng”, thường xuyên quát mắng cấp dưới khiến anh em vừa sợ vừa không hài lòng nên trong các cuộc họp chẳng ai ý kiến gì, nhưng khi ra ngoài thì xì xào với nhau; sau hai lần chân thành góp ý nhưng bị trung đoàn trưởng gạt phăng, bố tôi đã định “mặc kệ”. Nhưng một hôm, nghe các tiểu đoàn trưởng và sĩ quan tham mưu bàn tán rằng phương án tác chiến do trung đoàn trưởng quyết định không hợp lý, dễ bị thất bại, bố tôi cũng thấy như vậy nên quyết định phải ý kiến với thủ trưởng.

“Được nhận” những lời khó nghe, bố tôi ức chảy nước mắt, chạy về hầm. Không thể để một quyết định nặng tính chủ quan, sai lầm có thể dẫn đến “nướng quân”, bố tôi quyết tâm viết thư gửi trung đoàn trưởng. Lá thư đó rất dài, ngoài nêu những bất hợp lý của phương án tác chiến còn góp ý riêng với thủ trưởng cần bỏ tính gia trưởng, “quân phiệt miệng” khiến cấp dưới ức chế và không thể phát huy dân chủ trong đơn vị, thậm chí cán bộ, chiến sĩ chán nản... Cuối thư, bố tôi mạnh dạn viết: Nếu trung đoàn trưởng không tiếp thu phê bình và chỉnh sửa thì tôi sẽ viết thư gửi chỉ huy sư đoàn. Còn nếu tôi sai thì tôi xin hoàn toàn chịu kỷ luật!

Thật may, lá thư này đã khiến đồng chí trung đoàn trưởng thay đổi. Ông gọi bố tôi lên nói lời cảm ơn...

 

“Phê bình cho đúng để trị bệnh cứu người” là tư tưởng có tính nhân văn rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người chỉ rõ: Khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình giống như uống thuốc. Nếu sợ phê bình thì cũng khác nào có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. Như vậy thì bệnh tình lại càng nặng thêm. Do vậy, đối với đảng viên, cán bộ mà nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc thì khác nào thấy đồng chí mình ốm mà không chữa cho họ... Biết người ta sai mà không nói cho người ta sửa tức là hại người. Tự phê bình và phê bình phải xuất phát từ tình đồng chí, thương yêu lẫn nhau. Càng yêu thương thì càng phải thẳng thắn phê bình, có như vậy mới thực sự giúp nhau tiến bộ.

 

Cổ nhân cũng đã đúc rút: Những người chân thành, mạnh dạn phê bình bạn chính là người bạn tốt và điều gì xuất phát từ trái tim sẽ đi tới được trái tim. Ngược lại, những ai biết rõ bạn đang làm sai mà không khuyên can thì đó chính là người xấu.

 

Có thể khẳng định, việc chân thành, thẳng thắn phê bình, góp ý không chỉ là yêu cầu có tính nguyên tắc trong sinh hoạt đảng và các tổ chức thuộc hệ thống chính trị mà còn thể hiện tình người sâu sắc, nhân văn. Việc biết đồng chí, đồng đội đang mắc khuyết điểm, lầm đường lạc lối mà vẫn “mũ ni che tai” chính là làm hại tổ chức và đồng chí, đồng đội. “Tội” này cần phải kiên quyết đấu tranh, phê phán, cả trong công tác và trong cuộc sống đời thường.