Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 07/10
THIÊN ĐƯỜNG LÀ ĐÂY...???
Vậy là Chu Mạnh Sơn, "nhà rân chủ", sau bao ngày mong ngóng cũng đã đc đặt chân xuống xứ sở thiên đường tận bên Canada. Người đón Sơn ko ai khác chính là Bạch Quyền chuyên viên cao cấp của nghề sơn, nhôm, kính, mộc, điện, nước và cả trồng cần sa nữa. Thiên đường là đây. Đó là câu cách đây mấy năm Bạch Quyền đã hô lên khi đặt chân tới xứ sở này. Nhưng lần này Sơn đến ko thấy hô nữa. Vì có thể Sơn đã hỏi Bạch Quyền về cái xứ thiên đường này rồi. Ở đó ko làm thì cũng chả có cái gì đút vào mồm đâu. Về điều này thì Quyền là người rõ hơn ai hết và chính Quyền nhiều lần đã thổ lộ giấc mơ được quay về, được ở tù cộng sản chắc còn sướng hơn.
Dù
sao thì nay Chu Mạnh Sơn cũng đã cất cánh bay sang đây. Quyền cũng đỡ thấy cô
đơn hơn khi một mai Quyền sẽ dắt Sơn đi làm điện, nước, mộc và hai thằng cùng xới
xáo cần sa cho vui. Thiên đường nơi đó vui lắm. không làm thì chỉ có mút ngón
tay mà sống chứ nếu chỉ ngồi há mồm ngửa
lên trời chờ đợi thì có mỗi nước mưa với phân chim là rơi vào một cách miễn phí
mà thôi ...!
Và
tất nhiên rồi, ngoài giờ vắt sức lao động cật lực, đôi bạn hoàn toàn có thể rủ
nhau đi câu cá cải thiện bữa ăn và trao đổi về sự nghiệp dân chủ, rồi đêm đêm lại
cùng nhau mơ về nhà tù cộng sản như một niềm ao ước xa xỉ...!
Phan
xi păng
GÁC LẠI QUÁ KHỨ CHỨ KHÔNG PHẢI BÓP MÉO QUÁ KHỨ
Tôi
thấy Bộ phim Little Women là bộ phim nói về chủ đề 3 chị em gái lớn lên trong
hoàn cảnh khó khăn và chật vật trong những ước mơ riêng, được khán giả Hàn Quốc
và khán giả quốc tế (trong đó có Việt Nam) đón nhận do chủ đề mới lạ.
Tuy
nhiên, trong những tập gần đây tập 5,7,8 khán giả Việt đã phát hiện những tình
tiết xuyên tạc lịch sử Việt Nam. Có lời thoại còn cho rằng một người lính Hàn
có thể “địch lại 100 người lính Việt Nam”. Bên cạnh đó trong phim tình tiết
“Loài Hoa Lan xanh” là biểu tượng của tội ác, lại được giới thiệu mang về từ
chiến tranh Việt Nam.
Đáng
nói rằng, sự “nêm nếm” sai sự thật của đoàn làm phim đã bóp méo sự thật về cuộc
chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Những nội dung trên đã bị khán giả Việt Nam
lên án gay gắt, người dân Việt Nam đòi tẩy chay bộ phim “Little Women”.
Có
thể một số người đã quên rằng lính Hàn Quốc đã gây ra quá nhiều vụ thảm sát cho
các dân thường ở miền Nam Việt Nam như: thảm sát Phong Nhất, Phong Nhị, thảm
sát Hà My năm 1968 ở Quảng Nam được người dân chứng kiến miêu tả lại “Quân Đại
Hàn đi đến đâu, bia mộ dân thường mọc lên đến đấy”. Tội ác của quân Đại Hàn được
lưu lại trên hơn 20 bia đá, tượng đài về các vụ thảm sát và trong tâm trí người
dân Việt Nam.
Đáng
nói, chiến tranh đã lùi xa, mặc dù viết thương chiến tranh vẫn còn in hằn trong
cuộc sống của cả dân tộc, nhưng Đảng và Nhà nước và Nhân dân Việt Nam vẫn xác định
“gác lại quá khứ, hướng tới tương lai” với các quốc gia trước đây từng tham gia
cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, tuy
nhiên “gác lại quá khứ chứ không phải để xuyên tạc quá khứ”, Nhân Dân Việt
Nam sẽ luôn đấu tranh lên án với những hoạt động bôi nhọ, xuyên tạc, bóp méo lịch
sử của dân tộc Việt Nam!
PHẠM NGỌC THẢO - NGƯỜI ĐIỆP VIÊN CÔNG GIÁO HUYỀN THOẠI
Lịch sử tình báo thế giới đã lưu danh rất nhiều điệp viên huyền
thoại, nhưng nhiệm vụ mà nhà tình báo cách mạng Phạm Ngọc Thảo đã làm, đến nay
vẫn được coi là “có một không hai”. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng nhận định:
"Anh Phạm Ngọc Thảo đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có tiền lệ
trong công tác cách mạng của chúng ta".
Trong cuốn sách “Điệp viên hoàn hảo”, nhà sử học người Mỹ Larry
Berman đã dẫn lời điệp viên Phạm Xuân Ẩn: "Nhiệm vụ được giao cho Phạm
Ngọc Thảo khác với nhiệm vụ của tôi. Ông ấy có nhiệm vụ làm mất ổn định của chế
độ Diệm và vạch âm mưu đảo chính, còn tôi là một nhà tình báo chiến lược. Nhiệm
vụ của ông Phạm Ngọc Thảo nguy hiểm hơn nhiệm vụ của tôi rất nhiều".
Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Ngọc Thảo là tấm gương thầm
lặng hy sinh, trung thành với lý tưởng cách mạng đến phút giây cuối cùng. Đối
với kẻ thù, khi tra tấn Phạm Ngọc Thảo đến chết, chúng vẫn không hay biết ông
là điệp viên cộng sản. Ông được đồng bào, chiến sĩ cả nước biết đến nhiều hơn
sau khi nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý viết tác phẩm “Ván bài lật ngửa” mà Phạm
Ngọc Thảo là nguyên mẫu nhân vật chính.
Hồ sơ phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân của Đại tá
Phạm Ngọc Thảo đã đề cập ngắn gọn về cuộc đời như huyền thoại của ông:
“Đồng chí Phạm Ngọc Thảo (tức Phạm Thao), sinh năm 1922, tại
tỉnh Long Xuyên, dân tộc Kinh. Tham gia cách mạng năm 1945, nhập ngũ 1946. Lúc
hy sinh, đồng chí là Đại tá, cán bộ Cục Nghiên cứu, đảng viên Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Tháng 8-1945, đồng chí tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn. Đầu
năm 1946, đồng chí được cử ra miền Bắc học Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là
Trường Sĩ quan Lục quân I). Ra trường, đồng chí trở lại miền Nam hoạt động ở
địa bàn Khu 8, Khu 9.
Cuối năm 1947, được trên giao làm Trưởng phòng Mật vụ Nam Bộ (cơ
quan tình báo của ta). Với tinh thần trách nhiệm, trong một thời gian ngắn,
đồng chí đã thống nhất được các lực lượng tình báo toàn Nam Bộ.
Năm 1949, được trên điều sang làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 410
chủ lực Khu 9, tiểu đoàn đã chiến đấu nhiều trận thắng lợi lớn, góp phần mở
rộng vùng giải phóng.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, nhận chỉ thị của tổ chức, đồng chí ở
lại miền Nam, dựa vào thế lực là một gia đình trí thức, theo Thiên Chúa giáo,
thân cận với gia đình họ Ngô, đồng chí đã thâm nhập đi sâu, leo cao vào chế độ
ngụy quyền miền Nam, phục vụ yêu cầu tình báo chiến lược.
Trong thời gian làm việc trong chế độ ngụy, Phạm Ngọc Thảo lần
lượt là: Năm 1956, được phong Đại úy, Tỉnh trưởng Bảo an Vĩnh Long. Năm 1957,
được đề bạt Thiếu tá, thuộc Sở Nghiên cứu chính trị-xã hội của Phủ Tổng thống
(cơ quan mật vụ của ngụy do Trần Kim Tuyến phụ trách). Năm 1958, được bổ nhiệm
làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre).
Cuối năm 1961, do bị nghi ngờ là nội tuyến của Việt Cộng, nên
địch điều đồng chí đi học nước ngoài, đến giữa năm 1962 về đảm nhiệm chức Tham
vụ chuyên môn Phủ Tổng thống.
Với bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định quan điểm, đường lối
chiến tranh nhân dân của Đảng, với ý thức kỷ luật cao, đồng chí luôn thể hiện
là một cán bộ tình báo mưu trí, sáng tạo, giành thế chủ động tấn công địch.
Những năm làm tỉnh trưởng, với bình phong bất lợi nhưng đồng chí
đã cung cấp được nhiều tin tức, tài liệu liên quan đến các cuộc hành quân của
địch trong tỉnh và quân khu, nên đã ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do các cuộc
hành quân quy mô lớn của địch gây ra.
Lợi dụng chức vụ tỉnh trưởng, đồng chí đã đẩy được một trung
đoàn của Sư đoàn Bộ binh 3 của ngụy, 5 tiểu đoàn biệt động do địch đưa về đàn
áp phong trào du kích Bến Tre ra khỏi tỉnh. Hoặc khi địch mở cuộc hành quân ở
khu vực nào đó, đồng chí đã bí mật báo cho lực lượng ta biết để đối phó…
Năm 1965, không may sa vào tay địch, chúng tra tấn đồng chí rất
dã man, song không hề lay chuyển được ý chí sắt đá của đồng chí. Cay cú trước
khí phách hiên ngang của người cộng sản, địch đã giết hại đồng chí.
Đồng chí Phạm Ngọc Thảo là một cán bộ tình báo chiến lược, được
Trung ương trực tiếp chỉ đạo đi sâu, leo cao vào những vị trí trọng yếu của
địch. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp
cách mạng của Đảng, đồng chí đã lập được nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc.
Đồng chí đã được truy phong quân hàm Đại tá và được công nhận
liệt sĩ. Xét thành tích đặc biệt xuất sắc của đồng chí trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, ngày 30-8-1995, đồng chí được Chủ tịch nước truy tặng danh
hiệu Anh hùng LLVT Nhân dân".
Vì nhiều lý do, nhiều chi tiết, câu chuyện như huyền thoại về
cuộc đời hoạt động của Phạm Ngọc Thảo đến nay vẫn chưa được công bố. Nhiều nhà
phân tích tình báo quốc tế đã gọi Phạm Ngọc Thảo là “điệp viên có một không
hai” vì ông là điệp viên hoạt động đơn tuyến, không có đồng đội trực tiếp hỗ
trợ, chỉ chịu sự chỉ đạo về chiến lược của Trung ương.
Nhiệm vụ của ông không phải là thu thập tin tức mà là tác động
đến sự "rối loạn chế độ ngụy quyền". Bằng hoạt động của mình, Phạm
Ngọc Thảo là người có thể tác động trực tiếp đến ngụy quân, ngụy quyền. Là sĩ
quan cao cấp trong Quân lực Việt Nam cộng hòa, ông đã trực tiếp đạo diễn và
tham gia chỉ đạo hàng loạt vụ đảo chính làm rung chuyển, gây mất ổn định chính
phủ ngụy quyền những năm 1964-1965. Trong cuộc tranh giành quyền lực giữa các
phe phái quân đội ngụy, Phạm Ngọc Thảo bị xem là đối tượng nguy hiểm và bị đe
dọa tính mạng bất cứ lúc nào. Mặc dù vậy, ông vẫn tiếp tục nhiệm vụ mà không
trốn chạy để bảo toàn tính mạng. Thậm chí, cả khi bị bắt và tra tấn dã man, tàn
bạo đến chết, Phạm Ngọc Thảo vẫn không hé lộ tung tích của mình.
Mãi sau này, khi ông được truy phong Anh hùng LLVT nhân dân, người
ta mới biết ông là điệp viên cộng sản. Đồng chí Trần Bạch Đằng (bút danh Nguyễn
Trương Thiên Lý), nguyên Phó trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam,
cũng nhận xét: "Các nhà tình báo thông thường có nhiệm vụ giấu mình, thu
thập, khai thác tin tức chuyển về trung tâm. Riêng Phạm Ngọc Thảo đi thẳng vào
hàng ngũ kẻ thù, tung hoành hoạt động vì Tổ quốc cho tới tận lúc hy sinh,
trường kỳ mai phục và độc lập tác chiến. Anh là người tình báo đặc biệt có một
không hai".
St
Không thể xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam
Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam và được thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật, vì đây là một trong những quyền cơ bản mọi người, được Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 khẳng định trên nguyên tắc hiến định.
![]() |
| Tiến sĩ Vũ Chiến Thắng - Thứ trưởng Bộ Nội vụ. |
Thực tế đã chứng minh, đó là ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, dù còn bộn bề công việc, ngày 03/9/1945 tại phiên họp của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận đồng bào theo đạo.
Người nói: “Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố tín ngưỡng tự do và lương - giáo đoàn kết”. Ngày 14/6/1955, Người đã ký sắc lệnh 234/SL xác định “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện. Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo. Các tôn giáo phải tuân theo pháp luật của nhà nước như mọi tổ chức khác của nhân dân. Việc bảo vệ tự do tín ngưỡng bắt buộc phải trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo gây rối loạn”.
Người từng kêu gọi các tôn giáo hãy xóa bỏ hiềm khích, kỳ thị đoàn kết cùng toàn dân lo cho nền độc lập của nước nhà, và lịch sử đã chứng minh, dù trong điều kiện khó khăn của đất nước, nhưng chức sắc các tôn giáo đồng bào có đạo giáo khẳng định rõ sự gắn bó đồng hành với dân tộc.
Ở miền Bắc, sau ngày độc lập 02/9/1945 không lâu, các Giám mục và đồng bào công giáo Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình gửi thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dù phải hy sinh xương máu để kiến thiết một nhà nước tự do hạnh phúc hoàn toàn, thì chúng tôi cũng sẵn sàng không ngần ngại”, điều này đã khẳng định sự gắn bó đồng hành của Công giáo với chính quyền trong giai đoạn cách mạng bộn bề khó khăn. Các nhà sư trong Phật giáo đã hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ “toàn dân kháng chiến”, đã phát động phong trào, cởi áo cà sa, khoác chiến bào để tham gia cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc.
Kế thừa quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo, trong mỗi giai đoạn lãnh đạo cách mạng Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tạo cơ sở pháp lý để các tôn giáo hoạt động ổn định, tăng cường củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và Giáo hội. Từ Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác tôn giáo trong tình hình mới đến nay, Nhà nước ta đã ban hành trên 30 văn bản pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, thể hiện sự quan tâm đến nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của Nhân dân.
Cụ thể như: Pháp lệnh 21/2004/PL-UBTVQH 11 “Quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo”. Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, ngày 01/3/2005 “Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP,… Nhờ có chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo mà số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân được đảm bảo tốt hơn. Có thể nói, chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, chức sắc, chức việc, tín đồ ngày càng đông, cơ sở thờ tự ngày càng khang trang, việc sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam được công khai theo quy định của pháp luật.
Các hoạt động tôn giáo lớn trở thành lễ hội của người dân như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam 3 lần đăng cai Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc VESAK, với trên 1.000 đại biểu quốc tế đến từ 120 quốc gia, vùng lãnh thổ và hàng vạn quần chúng nhân dân tham dự; Lễ hội của Công giáo, Tin lành như: Đại hội đồng Giám mục Á châu; Lễ 100 năm Tin Lành đến Việt Nam; với Liên minh châu Âu (EU) phối hợp tổ chức hội thảo: Tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, những kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ” Đối thoại “Liên tín ngưỡng ASEM lần thứ VI”... đón và làm việc với nhiều tổ chức, chức sắc tôn giáo đến trao đổi, tìm hiểu pháp luật tôn giáo của Việt Nam như: Viện Can dự Toàn cầu Mỹ (IGE); tập đoàn truyền thông (WAZ) của Đức vào tìm hiểu chính sách tôn giáo của Việt Nam, kể cả các tổ chức nhân quyền tôn giáo quốc tế… ta đã chủ động cung cấp thông tin về tình hình tôn giáo và chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, trao đổi tận cùng các vấn đề mà dự luận quốc tế quan tâm, để thấy rõ về thực tiễn về đời sống tôn giáo ở Việt Nam đa dạng, phong phú. Chính sách, pháp luật đã đảm bảo quyền tự do tôn giáo chính đáng của Nhân dân.
Thực tế cũng cho thấy, chỉ tính trong gần 20 năm qua (2003-2022), số lượng chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự của các tôn giáo gia tăng. Năm 2003 cả nước có 06 tôn giáo 15 tổ chức, với 17 triệu tín đồ, khoảng 20 nghìn cơ sở thờ tự; 34 nghìn chức sắc, 78 nghìn chức việc.
Các hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc; các hoạt động thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi hiến chương, điều lệ; đăng ký chương trình hoạt động hàng năm... theo đúng quy định của pháp luật; chấp thuận cho 646 người được phong phẩm, suy cử làm chức sắc; 3.238 người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc; 424 chức việc các tôn giáo được thuyên chuyển… So sánh pháp luật của một số nước trong khu vực và thế giới cho thấy: Các hoạt động tôn giáo ở một số Quốc gia… khi tôn giáo tổ chức các hoạt động đông người tại cơ sở thờ tự, phải tự thuê bảo vệ làm nhiệm vụ đảm bảo an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, kiểm nghiệm về an toàn thực phẩm.
Nếu để xảy ra vi phạm, chính quyền sẽ căn cứ vào pháp luật và xử phạt tổ chức, cá nhân tôn giáo… Nhưng ở Việt Nam các tổ chức tôn giáo tổ chức các hoạt động tôn giáo có đông đảo nhân dân tham gia, được chính quyền hỗ trợ với mục tiêu cao nhất đảm bảo an toàn để nhân dân yên tâm thực hiện nghi lễ tôn giáo. Những kết quả nêu trên trong thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đã đáp ứng tâm tư, tình cảm và nguyện vọng chính đáng của chức sắc, chức việc tôn giáo và đồng bào có đạo.
Để tiếp tục phát huy nguồn lực của tôn giáo, Nghị quyết Đại hội Nghị quyết XIII của Đảng ta, tiếp tục khẳng định “phát huy những giá trị, văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước” để phát huy thế mạnh của các tôn giáo tham gia vào các lĩnh vực y tế, văn hóa, giáo dục, dạy nghề và công tác an sinh xã hội; nhờ có chủ trương, chính sách, pháp luật mà các tôn giáo hưởng ứng rất sớm các phong trào thi đua yêu nước thực hiện tốt “việc đạo, việc đời”.
Chính vì thế, trong những năm gần đây, tình hình kinh tế, văn hóa xã hội ở vùng có đông đồng bào tôn giáo đã trở thành điểm sáng về phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy và các tệ nạn xã hội khác giữ gìn tốt an ninh trật tự, an toàn xã hội; đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19 các tôn giáo đã đồng hành với chính quyền, ủng hộ kinh phí hàng trăm tỷ đồng; nhiều cơ sở thờ tự trở thành điểm cách ly tập trung chăm sóc bệnh nhân… giá trị nhân văn, yêu thương, chia sẻ, vì cuộc sống tốt đẹp được lan tỏa trong đời sống xã hội, được chính quyền và nhân dân ghi nhận.
Tuy nhiên, thế lực thù địch và một số tổ chức thiếu thiện chí chưa từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình”, chúng tìm mọi cách chống phá, tuyên truyền những luận điệu sai trái cho rằng, Việt Nam không có tự do tôn giáo, xuyên tạc trắng trợn về tình hình, đời sống tôn giáo ở nước ta, nói mãi điều phi thực tế nhằm tạo sự hoài nghi, nhằm phá hoại khối đoàn kết tôn giáo. Qua theo dõi, trong 5 năm qua (2017-2022), Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ, vẫn định kỳ ra báo cáo thường niên về tự do tôn giáo toàn cầu. Họ cho mình quyền, nhận xét, đánh giá phê phán về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo của Việt Nam và một số Quốc gia khác.
Họ sử dụng thông tin tài liệu cũ từ các nhóm, phái tôn giáo chưa được nhà nước công nhận, số chức sắc cực đoan bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng, Nhà nước để tiếp nhận thông tin không chính xác đưa vào báo cáo đánh giá; khuyến khích cổ vũ cho các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không cần xin phép, đăng ký chính quyền, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ” ở các vùng sâu, vùng xa gia tăng hoạt động mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Giáo hội và xã hội, gây bức xúc trong nhân dân, với âm mưu muốn giáo dân chống đối chính quyền, họ kích động với luận điệu, đây là quyền con người “quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do tôn giáo”; đồng thời lợi dụng mạng xã hội, Facebook, Blog… hội luận xuyên tạc Luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam, là “bước thụt lùi”; “bóp nghẹt tôn giáo” không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”…
Họ kiến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại những nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo (CPC) và “gây sức ép và hối thúc Việt Nam cho phép tất cả các nhóm, phái tôn giáo chưa được công nhận hoạt động một cách tự do; giảm can thiệp của chính quyền vào các công việc nội bộ của các nhóm tôn giáo đã được công nhận và nhấn mạnh tiến bộ về tự do tôn giáo có ý nghĩa quan trọng đối với việc cải thiện quan hệ song phương”.
Phải khẳng định ngay rằng, những thông tin, luận điệu sai lệch, xuyên tạc nêu trên là hết sức phi lý, với ý đồ mục đích xấu xa,nhằm tác động đến suy nghĩ, tình cảm của chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, nhằm tạo sự hoài nghi về chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Vậy tiêu chí, tiêu chuẩn của Ủy ban Tự do tôn giáo Quốc tế Mỹ là gì? Họ đại diện cho ai để phê phán, đánh giá về tự do tôn giáo của Việt Nam, khi mà các phê phán của họ chỉ là sự lạc lõng, không được chức sắc tôn giáo ủng hộ.
![]() |
Ban Tôn giáo Chính phủ thăm và chúc mừng Đại hội Hội đồng Giám mục Việt Nam lần thứ XV. |
Song, dù các thế lực thù địch có cố tình, xuyên tạc chống phá thế nào chăng nữa cũng không thể chia rẽ chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo tin tưởng vào chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được chính quyền quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi, chức sắc, tín đồ và nhân dân được tự do hành lễ ở nhà riêng, hay cơ sở thờ tự; đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19, chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo vẫn sinh hoạt tôn giáo online bình thường, vẫn thể hiện được niềm tin tôn giáo ngay tại tư gia… thực tiễn đời sống tôn giáo đã chứng minh, khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, khẳng định chính sách nhất quán, củng cố niềm tin tưởng của chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Thời gian tới, thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống đối dưới chiêu bài “đòi tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền”; xuyên tạc chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về tôn giáo; khuyến khích các nhóm, phái tôn giáo mới, “tà đạo, đạo lạ”; gia tăng các hoạt động truyền đạo trên không gian mạng, xuyên biên giới… khi chính quyền xử lý, họ vu cáo Việt Nam không có tự do tôn giáo, gây cản trở cho tiến trình hội nhập kinh tế của nước ta. Để ngăn chặn, không để thế lực xấu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo. Các cơ quan chức năng thực hiện các giải pháp sau:
1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo Hiến pháp năm 2013; thể chế quan điểm của Nghị quyết Đại hội lần XIII của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo. Thực hiện tốt chức năng nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Chính quyền các cấp quan tâm, giải quyết nhu cầu tôn giáo chính đáng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo của Nhân dân, phù hợp với công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo nâng cao cảnh giác, không tin, không nghe luận điệu xuyên tạc của thế lực xấu.
2. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền về thành tựu thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước; không để thế lực xấu lợi dụng xuyên tạc vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền. Đối với các vụ việc vi phạm pháp luật, phải chủ động công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trong và ngoài nước, để chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo hiểu rõ bản chất, mưu đồ của đối tượng cơ hội, bất mãn thiếu thiện chí lợi dụng tôn giáo vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo” là thủ đoạn của các thế lực xấu.
3. Thông qua các hoạt động quốc tế của tôn giáo, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại về chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Hướng dẫn tổ chức, cá nhân chức sắc tôn giáo tham gia tại các cơ chế diễn đàn, hội nghị, hội thảo ở khu vực và thế giới, chủ động, trao đổi thống nhất giải quyết những vấn đề tôn giáo, nhân quyền, đặc biệt là những vấn đề có tính chất quốc tế, bảo vệ lợi ích Quốc gia, lên tiếng phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của thế lực xấu, hạn chế sơ hở để thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng vu cáo, xuyên tạc Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo” ảnh hưởng uy tín của Việt Nam.
4. Định kỳ sơ kết về kết quả đã triển khai thực hiện, khắc phục những hạn chế, bất cập; đặc biệt là công tác thông tin, tuyên truyền, đấu tranh phản bác, xây dựng lập lập chặt chẽ, xác thực để trao đổi với các quốc gia có quan tâm về nhân quyền và tự do tôn giáo, giảm thiểu nhìn nhận khác biệt; tiếp cận các thông tin chính thống của Việt Nam cung cấp, không sử dụng thông tin trái chiều, thiếu khách quan để lợi dụng xuyên tạc chính sách, pháp luật của Việt Nam về tự do tôn giáo.
Đừng chuyên nghiệp hóa văn nghệ quần chúng
Phong trào văn nghệ quần chúng (VNQC) ở các cơ quan, đơn vị luôn là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống bộ đội.
Tuy nhiên, mỗi dịp diễn ra liên hoan nghệ thuật quần chúng (NTQC), không ít cơ quan, đơn vị sẵn sàng thuê đạo diễn, biên đạo và tuyển diễn viên “đóng thế”, được hợp thức hóa bởi quy chế “đơn vị kết nghĩa”. Kết quả, hội thi, hội diễn nào cũng thành công tốt đẹp nhưng vô hình trung làm mất đi vẻ hồn nhiên, mộc mạc, đậm chất lính vốn có của VNQC.
Trông cậy cả vào “đơn vị kết nghĩa”
Đội VNQC của đơn vị do Thiếu tá Nguyễn Hữu Huy, Phó chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 24, Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) phụ trách, tham gia liên hoan NTQC chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống sư đoàn đoạt giải nhất, khiến anh không khỏi vui mừng. Nhưng để có được thành tích này, ngoài việc phát huy tối đa từ hạt nhân văn hóa-văn nghệ của trung đoàn, sự giúp đỡ nhiệt tình của đơn vị kết nghĩa, đơn vị còn nhận được sự hỗ trợ tích cực của một đạo diễn nghệ thuật chuyên nghiệp cho các tiết mục đòi hỏi tính nghệ thuật cao, dàn dựng công phu. Cũng nằm trong thành phần tham gia liên hoan, Trung đoàn Pháo binh 4 chỉ trông vào “cây nhà lá vườn” nên kết quả ở mức trung bình.
Khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy, mỗi khi diễn ra các hội thi, hội diễn, liên hoan NTQC các cấp, đều phụ thuộc khá nhiều vào lực lượng đạo diễn, diễn viên chuyên nghiệp, hoặc bán chuyên nghiệp. Họ thường là các nghệ sĩ, diễn viên của đơn vị nghệ thuật trên địa bàn đóng quân. Để tránh “phạm quy” của ban tổ chức, lực lượng này thường đóng vai trò là “đơn vị kết nghĩa”, đến hỗ trợ, giúp đỡ đơn vị xây dựng kịch bản, dàn dựng chương trình, hướng dẫn luyện tập...
Theo nhiều đồng chí là cán bộ phong trào tại các cơ quan, đơn vị, chi phí cho các hoạt động như vậy không hề nhỏ. Đặc biệt, cấp tham gia hội thi, liên hoan NTQC càng cao thì chi phí cho việc thuê đạo diễn, diễn viên, hệ thống trang phục, đạo cụ càng tốn kém. Bởi tâm lý chung của nhiều lãnh đạo, chỉ huy: Đã “mang chuông đi đánh xứ người” là phải có khen thưởng. Từng tham gia làm giám khảo tại nhiều hội thi, hội diễn, liên hoan NTQC các cấp, Đại úy QNCN Dương Thị Tú (ca sĩ Cẩm Tú), diễn viên Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội, trăn trở: “Thật đáng buồn là cái “chất” quần chúng ở các cuộc thi NTQC đang dần bị mai một, thay vào đó là các chương trình, tiết mục trình độ khá cao, bởi nó được thực hiện bởi các diễn viên chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp. Sự "trợ giúp" này đã làm mất đi bản sắc giản dị vốn có của VNQC. Có thể giọng hát, điệu múa của các diễn viên không chuyên còn mộc mạc, giản đơn, ánh mắt, nụ cười còn bối rối, ngượng nghịu, nhưng cái bản sắc ấy mới phản ánh thực chất VNQC, thu hút sự quan tâm của bộ đội ở đơn vị cơ sở”.
Tìm hiểu tại các cuộc liên hoan, hội thi, hội diễn NTQC, chúng tôi nhận thấy, chính bệnh thành tích đã làm cho các hội thi, hội diễn này bị thương mại hóa, chuyên nghiệp hóa, không còn sắc màu thường thấy của văn nghệ không chuyên. Rõ ràng, một số đơn vị vừa trải qua một kỳ hội diễn thành công rực rỡ, giành kết quả cao, nhưng lại không gây dựng được lực lượng nòng cốt, bảo đảm tính bền vững cho hoạt động phong trào của đơn vị.
Giải “cơn khát” cán bộ phong trào
Thực tế cho thấy, một số cơ quan, đơn vị phải đi thuê đạo diễn, diễn viên hoặc phải phụ thuộc nhiều vào lực lượng đơn vị kết nghĩa mỗi khi tham gia các hội thi, hội diễn, liên hoan NTQC, cũng có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu do quân số mỏng, thiếu hạt nhân văn nghệ.
Nhằm tìm lời giải cho bài toán thiếu cán bộ phong trào ở đơn vị cơ sở, chúng tôi có chuyến thâm nhập một số đơn vị thuộc Quân chủng Hải quân. Trao đổi với chúng tôi, Thượng tá Phạm Văn Giang, Chủ nhiệm Nhà văn hóa, Cục Chính trị, Quân chủng Hải quân chia sẻ, xuất phát từ thực trạng đội ngũ cán bộ chính trị, phụ trách công tác tuyên huấn, nhà văn hóa câu lạc bộ chưa có kỹ năng tổ chức các hoạt động phong trào, thiếu kinh nghiệm trong quản lý các thiết chế văn hóa ở đơn vị cơ sở, trên cơ sở khảo sát, đề nghị của nhà văn hóa, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân đã phối hợp với Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội tổ chức lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về hoạt động tuyên truyền cổ động, văn hóa-văn nghệ cho 64 đồng chí thuộc quân chủng là cán bộ chính trị, nhân viên chuyên môn có khả năng về văn hóa-văn nghệ. Nội dung chương trình bám sát nhu cầu thực tiễn ở đơn vị cơ sở, trong đó chú trọng bồi dưỡng kỹ năng viết kịch bản sân khấu, sáng tác nhạc, biên đạo múa, hoạt động nhiếp ảnh, mỹ thuật... Kết quả, phần lớn học viên có thể đáp ứng cơ bản yêu cầu xây dựng các hoạt động VNQC tại đơn vị.
Theo Trung tá, Tiến sĩ Đỗ Linh Giang, Chủ nhiệm Khoa Quản lý văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội, ngoài Quân chủng Hải quân, một số đơn vị khác, như: Quân khu 2, Quân khu 3, Quân đoàn 1, Bộ đội Biên phòng... cũng đã liên hệ, phối hợp với nhà trường mở lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ cán bộ chính trị, nhân viên câu lạc bộ, đảm nhiệm công tác phong trào và được thực hiện dưới hai hình thức, gửi lực lượng tập huấn trực tiếp tại nhà trường hoặc mở lớp tập trung ở đơn vị. Nội dung tập huấn không chỉ gói gọn trong lĩnh vực VNQC mà mở rộng ra toàn bộ hoạt động văn hóa, tuyên truyền cổ động ở đơn vị cơ sở. Đây thực sự là mô hình thiết thực, hiệu quả, giúp tạo nguồn cán bộ phong trào cho các đơn vị.
Từ cách làm của một số cơ quan, đơn vị nêu trên, thiết nghĩ, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quan tâm hơn nữa đến việc tập huấn, bồi dưỡng năng lực, trình độ tổ chức các hoạt động phong trào cho đội ngũ cán bộ chính trị, nhân viên tuyên huấn, câu lạc bộ, hạt nhân văn hóa-văn nghệ của đơn vị, tạo nguồn cán bộ phong trào, hạt nhân nòng cốt cho hoạt động tuyên truyền cổ động tại đơn vị. Đây cũng là giải pháp thiết thực nhằm hạn chế tối đa bệnh thành tích trong các hội thi, hội diễn, liên hoan NTQC các cấp, để VNQC phát huy sức sống vốn có, không bị chuyên nghiệp hóa như đã phản ánh ở trên.
QĐND
Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh
Sáng 6/10, tại Bộ Tư lệnh Quân khu 1, Bộ Quốc phòng tổ chức hội thảo xây dựng lực lượng, huấn luyện, hoạt động và bảo đảm chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ. Thượng tướng Ngô Minh Tiến, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam chủ trì hội thảo
![]() |
| Thượng tướng Ngô Minh Tiến, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam chủ trì hội thảo. |
Dự hội thảo có thủ trưởng Bộ Tư lệnh Quân khu 1, lãnh đạo Ủy ban nhân dân 6 tỉnh trên địa bàn Quân khu 1: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang.
Tại hội thảo, các đại biểu đã thảo luận về các vấn đề: Định mức ngày công lao động cho dân quân; chế độ chính sách đối với dân quân tự vệ khi làm nhiệm vụ đặc biệt, đặc thù; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho dân quân tự vệ; chế độ chính sách đối với Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự xã; độ tuổi, bố trí sử dụng chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp xã; trụ sở làm việc của Ban Chỉ huy quân sự cấp xã, nơi ăn, ở của dân quân thường trực; chốt chiến đấu của dân quân thường trực trên tuyến biên giới đất liền.
Quán triệt, nghiên cứu các văn bản hướng dẫn triển khai thi hành pháp luật về dân quân tự vệ, Quân khu 1 đã chỉ đạo Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh tích cực, chủ động, kịp thời tham mưu cho Ủy ban nhân dân các tỉnh xây dựng Đề án “Tổ chức lực lượng, huấn luyện, hoạt động và bảo đảm chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ giai đoạn 2021-2025”.
Tính đến tháng 3/2021, các tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 đã hoàn thành 100% nhiệm vụ xây dựng Đề án, thông qua Hội đồng nhân dân phê duyệt và tổ chức thực hiện. Quân khu 1 có số tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Đề án sớm nhất cả nước. Trên cơ sở Đề án, Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh tham mưu cho Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân các tỉnh xây dựng Kế hoạch “Tổ chức lực lượng, huấn luyện, hoạt động và bảo đảm chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ giai đoạn 2021-2025” và triển khai lập dự toán ngân sách đúng quy định của pháp luật, bảo đảm tốt nguồn ngân sách cho thực hiện công tác dân quân tự vệ ở địa phương, cơ sở.
Việc hoàn thiện tổ chức xây dựng lực lượng, huấn luyện, hoạt động và bảo đảm chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ sẽ giúp cho Quân khu và các tỉnh trên địa bàn có cơ chế, chính sách bảo đảm chế độ cho lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng dân quân thường trực hoạt động thiết thực, hiệu quả.
Rõ vai trò tập thể lãnh đạo và người đứng đầu cấp ủy
Phương thức lãnh đạo của Đảng thể hiện nhuần nhuyễn trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo hằng ngày của cấp ủy đảng các cấp. Những cách làm sáng tạo trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng thể hiện qua việc phát huy vai trò, nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với hệ thống chính trị trong triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
![]() |
| Sản xuất ván ép và gỗ thanh từ gỗ rừng trồng ở Nhà máy sản xuất gỗ MDF Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. |
Để tổ chức thực hiện, đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống đạt hiệu quả cao, việc bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách được ghi nhận là yêu cầu quan trọng. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa X chính là việc nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực triển khai nghị quyết của các cấp ủy đảng và người đứng đầu cấp ủy theo hướng phát huy sáng tạo, tính chủ động, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, khắc phục tình trạng bao biện, làm thay, hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng.
Chủ động, sáng tạo, vận dụng quan điểm và tư duy mới
Ngay sau đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, cấp ủy đảng các cấp quán triệt và thực hiện nghiêm túc tinh thần mà đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Trong lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện, phải có quyết tâm rất cao, nỗ lực rất lớn, thật sự năng động, sáng tạo, chú trọng tạo đột phá để phát triển; coi trọng chất lượng, hiệu quả thực tế của công việc và đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Khảo sát thực tế tại các tỉnh, thành phố cho thấy, nhiều cấp ủy đã khẩn trương xây dựng quy chế làm việc phù hợp chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, tình hình thực tế địa phương và bổ sung những điểm mới theo yêu cầu của Trung ương. Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy coi trọng việc cụ thể hóa và khâu tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng. Đối với những vấn đề mới, quan trọng, nhạy cảm, các cấp ủy đảng đều coi trọng nghiên cứu thực tiễn, dành thời gian thảo luận kỹ và kiên định, quyết liệt trong tổ chức thực hiện.
Các tỉnh phía bắc có nhiều khu công nghiệp, đông công nhân sinh sống và làm việc là những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề của đợt dịch Covid-19 lần thứ tư. Trong khi chưa có đủ vắc-xin, chưa có kinh nghiệm đối phó tình huống dịch bệnh nghiêm trọng lan rộng trong thời gian ngắn, yêu cầu đặt ra là phòng, chống dịch hiệu quả và bảo đảm sản xuất ổn định.
Để tổ chức thực hiện, đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống đạt hiệu quả cao, việc bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách được ghi nhận là yêu cầu quan trọng.
Trong tình thế dịch diễn biến phức tạp, các tỉnh đã chủ động, linh hoạt ứng phó, triển khai kịp thời các biện pháp nhanh nhạy, phù hợp tình hình, đạt hiệu quả. Với cơ chế đồng chí Bí thư Tỉnh ủy là Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch của tỉnh, việc phòng, chống dịch đã có sự tham gia đồng bộ, hiệu quả của hệ thống chính trị và người dân, doanh nghiệp. Quyết liệt, thống nhất cao nhưng phân vai, phân nhiệm rõ ràng, quy chế phối hợp và các đầu mối giải quyết công việc cụ thể đã kích hoạt mọi nguồn lực xã hội tập trung thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép”.
Giữa tâm dịch, “mục tiêu kép” vẫn được Bắc Ninh thực hiện hiệu quả khi sáu tháng đầu 2021, tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,45%, trong đó khu vực công nghiệp-xây dựng có mức tăng cao nhất, 8,86%. Tỉnh ủy Bắc Giang có nghị quyết chuyên đề về thực hiện “mục tiêu kép” và kết quả mức tăng trưởng GRDP năm 2021 đạt 7,82%, trong nhóm 10 địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước… Thực tế khẳng định hiệu quả đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng thể hiện qua việc vận dụng quan điểm và tư duy mới, chủ động có giải pháp đột phá, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của các cấp ủy đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị trong phát triển kinh tế-xã hội.
Tỉnh miền núi, biên giới Lào Cai có đông đồng bào dân tộc thiểu số, gần đây được ghi nhận phát triển nhanh, năng động ở vùng Tây Bắc. Đó là kết quả phản ánh tư duy sáng tạo trong vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng, đề ra mục tiêu trên cơ sở tổng kết, nghiên cứu lý luận và thực tiễn gắn liền xác định các nguồn lực, trọng tâm đột phá. Những nhiệm kỳ gần đây, các chương trình, đề án trọng tâm của nhiệm kỳ được xây dựng và thảo luận trước và trong đại hội đảng bộ các cấp, có sự tham gia đóng góp, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các nhà khoa học, chuyên gia, các ý kiến là kinh nghiệm của cấp ủy, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các nhiệm kỳ trước đó…
Các chủ trương, quyết sách lớn được tỉnh ban hành nhờ vậy bảo đảm tính khoa học, đồng thuận cao, liên tục, xuyên suốt, đồng bộ, tránh được độ hẫng giữa các nhiệm kỳ. Theo Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai, Đặng Xuân Phong, quá trình nêu trên đồng bộ với tăng cường kiểm tra, giám sát, giao nhiệm vụ, xác định trách nhiệm cá nhân với địa bàn, lĩnh vực công tác. Trong triển khai thực hiện, các cấp ủy viên cần sớm phát hiện điểm nghẽn từ cơ chế, chính sách và đề xuất giải pháp kịp thời. Qua khảo sát thực tế tại nhiều huyện của Lào Cai, thấy rõ tinh thần đổi mới sáng tạo trong triển khai đưa nghị quyết vào cuộc sống đã tạo bước chuyển nhanh ở các huyện miền núi, biên giới như Mường Khương, Bát Xát, Bắc Hà…
Cách đây chưa lâu, Mường Khương còn ở trong danh mục những huyện nghèo nhất toàn quốc, trình độ canh tác lạc hậu, tài nguyên rừng cạn kiệt. Trên chính vùng đất giàu tiềm năng, huyện còn hơn 50% số hộ nghèo, nhiều xã hộ nghèo chiếm hơn 80%. Ba năm qua, Mường Khương ghi dấu ấn trong phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, an toàn, gắn với quá trình giảm nghèo ở từng xã.
Từ vùng đất nông nghiệp tự cung, tự cấp, thuận theo tự nhiên, với bước đi đột phá, toàn huyện dồn sức đã chuyển đổi gần 2.000ha đất trồng cây kém hiệm quả sang phát triển các ngành hàng chủ lực (chè, dứa, chuối, quế). Hiện nay, Mường Khương đã ở nhóm đứng đầu của Lào Cai về phát triển nông nghiệp hàng hóa, giảm nghèo nhanh, bền vững. Bí thư Huyện ủy Mường Khương, Tiến sĩ Giàng Quốc Hưng nhìn nhận, từ việc đánh giá đúng tiềm năng, thế mạnh, huyện coi trọng đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tác phong công tác và lề lối làm việc của cấp ủy, chính quyền các cấp.
Với tỉnh Nghệ An, quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong triển khai thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp đã tạo ra những hướng đi đột phá, những mô hình phát triển nhanh ở các huyện miền núi, biên giới, đông đồng bào dân tộc thiểu số, cũng như vùng trọng điểm phát triển. Đây cũng là quá trình cấp ủy, chính quyền các cấp dồn sức khắc phục những rào cản, sự trì trệ. Hoàng Mai từ huyện phát triển thành thị xã và đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2020. Với tầm nhìn mới về phát triển, Hoàng Mai được tỉnh Nghệ An định hướng trở thành đô thị biển gắn với du lịch, dịch vụ, thương mại, giáo dục, y tế, tài chính, ngân hàng...
Đảng bộ thị xã đề ra mục tiêu tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế-xã hội, phấn đấu đưa Hoàng Mai hoàn thành các tiêu chí đô thị loại III trước năm 2025 theo hướng văn minh, hiện đại… Bí thư Thị ủy Hoàng Mai, Lê Trường Giang trao đổi, Ban Thường vụ Thị ủy cùng Ban cán sự Ủy ban nhân dân huyện tập trung trí tuệ, xác định giải pháp để khai thác, phát huy các giá trị, nguồn lực trên địa bàn thành hiệu quả kinh tế-xã hội thiết thực. Thị xã hỗ trợ mạnh mẽ các doanh nghiệp, nhà đầu tư thu hút nguồn lực cho phát triển, đặc biệt là đầu tư về du lịch. Thị xã giờ là vùng du lịch đặc sắc, có tốc độ đô thị hóa nhanh, các ngành nghề phát triển đa dạng, đang khẳng định vai trò là một trong ba cực tăng trưởng của Nghệ An.
Bảo đảm nguyên tắc, thống nhất, rõ trách nhiệm
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bằng việc tổ chức triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng nhanh chóng, kịp thời, đúng và trúng, hiệu quả cao đặt ra yêu cầu chú trọng vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu cấp ủy.
Khảo sát thực tế triển khai nghị quyết của các cấp ủy đảng cho thấy rõ điều này. Cùng một nghị quyết, nhưng mỗi địa phương có kết quả thực hiện khác nhau. Có thể do đặc thù tình hình cơ sở nhưng khâu tổ chức thực hiện thể hiện qua năng lực hiện thực hóa nghị quyết của tập thể cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy. Không phải ngẫu nhiên mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã nhấn mạnh: Từng đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, từng đồng chí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải tự giác, gương mẫu thực hiện nghị quyết, nói đi đôi với làm, chỉ đạo quyết liệt với quyết tâm rất cao, sự nỗ lực rất lớn.
Để việc lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng bảo đảm đúng nguyên tắc, thống nhất và rõ trách nhiệm, Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa, cấp ủy đảng các cấp đều coi trọng việc hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ từng cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, xây dựng và thực hiện quy chế, chương trình làm việc; nêu cao trách nhiệm cá nhân, phân cấp mạnh hơn cho cấp ủy và tổ chức đảng trực thuộc. Đối với cấp cơ sở, Ban Bí thư các nhiệm kỳ gần đây đã ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các loại hình tổ chức cơ sở đảng để thực hiện. Trong đó, có hai quy định đối với tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn; ba quy định đối với tổ chức cơ sở đảng cơ quan; ba quy định đối với tổ chức cơ sở đảng đơn vị sự nghiệp; 10 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị quân đội; sáu quy định đối với tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị công an; bảy quy định đối với tổ chức cơ sở đảng trong các loại hình doanh nghiệp.
Từng đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, từng đồng chí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải tự giác, gương mẫu thực hiện nghị quyết, nói đi đôi với làm, chỉ đạo quyết liệt với quyết tâm rất cao, sự nỗ lực rất lớn.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
Cấp ủy đảng các cấp coi trọng đổi mới sinh hoạt cấp ủy, đề cao trách nhiệm cá nhân của các cấp ủy viên trong các hoạt động của tập thể cấp ủy, yêu cầu tự giác làm trước để nêu gương. Quy định số 69-QĐ/TW ngày 6/7/2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm quy định: Đảng viên trong tổ chức bị kỷ luật phải chịu trách nhiệm về nội dung vi phạm, hình thức kỷ luật của tổ chức đảng đó và phải ghi vào lý lịch đảng viên. Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương yêu cầu các cấp ủy đảng trực thuộc phân công cấp ủy viên trực tiếp phụ trách khu vực, lĩnh vực công tác hằng tháng có báo cáo tình hình để kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh từ cơ sở.
Thành ủy Hải Phòng có quy định về tăng cường công tác kiểm tra, sắp xếp, bố trí công tác, cho nghỉ công tác đối với cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đến mức phải thay thế hoặc cho nghỉ. Tỉnh ủy Ninh Bình ban hành quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là ủy viên Ban Thường vụ, ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và cụ thể thành “10 xây”, “10 chống” để triển khai trong toàn đảng bộ. Thành ủy Hà Nội có quy chế về nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác và chế độ làm việc của đồng chí ủy viên Ban Thường vụ phụ trách cơ sở. Tỉnh ủy Tuyên Quang ban hành quy định về giao việc đột phá, việc đổi mới đối với một số chức danh cán bộ lãnh đạo thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý để tập trung giải quyết những việc lớn, việc khó, những điểm nghẽn liên quan quá trình lãnh đạo, triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị…
Tuy nhiên, khảo sát thực tế ở một số địa phương, vẫn còn hiện tượng tổ chức đảng buông lỏng hoặc lấn sân chính quyền, vẫn còn tình trạng mất dân chủ, dẫn đến vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, sai phạm trong công tác cán bộ, gây thất thoát tài sản nhà nước, làm mất lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Quan hệ công tác và phong cách làm việc của một số tổ chức và cá nhân trong các tổ chức đảng và hệ thống chính trị chưa tốt.
Một số nơi, cấp ủy đảng thiếu sâu sát thực tiễn nên hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo. Qua một số vụ việc vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật nghiêm trọng của nhiều cấp ủy và người đứng đầu địa phương gần đây cho thấy vai trò kiểm tra, giám sát của cấp ủy, các cơ quan chức năng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội cùng cấp, của nhân dân chưa được phát huy, mờ nhạt, thậm chí bị vô hiệu hóa, dẫn đến sai phạm kéo dài, có hệ thống, ngày càng nghiêm trọng.
Một số nơi, quy chế làm việc của cấp ủy đảng vẫn nặng về hình thức, chưa chú trọng cơ chế kiểm soát quyền lực về cả phòng ngừa việc lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền và việc không thực hiện đầy đủ quyền hạn được giao. Quy chế làm việc cũng chưa rõ tinh thần đổi mới phong cách, lề lối làm việc khoa học, dân chủ, sát thực tiễn, gần dân, đề cao tính nêu gương và tăng cường thực hiện chất vấn trong Đảng. Một số cấp ủy nặng về họp hành, hạn chế thời gian đi cơ sở, giải quyết công việc thực tế…
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đảng ta hy sinh tranh đấu, đoàn kết, lãnh đạo nhân dân, tranh lại thống nhất và độc lập. Công việc đã có kết quả vẻ vang. Nhưng, nếu mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm việc đúng hơn, khéo hơn, thì thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa”. Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng phải được tiến hành đồng bộ với đổi mới từng lĩnh vực công tác xây dựng Đảng, nhất là củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức đảng và đảng viên; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; tăng cường vai trò trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu.
Đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng cũng đặt ra yêu cầu cần sự vào cuộc mạnh mẽ, hiệu quả của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhân dân thông qua hoạt động giám sát, phản biện xã hội, đồng thời thể hiện vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên với tư cách là chủ thể trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ và góp ý xây dựng Đảng, chính quyền.
THỰC HIỆN NƯỚC RÚT PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỂ VỀ ĐÍCH, TẠO ĐÀ CHO NĂM 2023
Sáng 1/10, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị trực tuyến Chính phủ với 63 tỉnh, thành phố và Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 năm 2022.








