Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022

TIẾP BƯỚC CHA ANH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC

 

Giáo dục lịch sử truyền thống dân tộc, lý tưởng, cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ là vấn đề cần thiết trong mọi thời đại; hiểu lịch sử để yêu Tổ quốc hơn; yêu quê hương để tiếp bước cha anh xây dựng đất nước; để ngọn lửa không bao giờ phai nhạt

Thực trạng mặt trái của nền kinh tế thị trường đang đặt ra nhiều thách thức

đối với vấn đề trên, đồng thời mặt bằng nhận thức về lịch sử truyền thống dân tộc, tưởngcách mạng, đạo đức, lối sống trong xã hội hiện nay có nhiều mặt hạn chế, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Chúng ta cần phát huy mọi nguồn lực vận dụng linh hoạt sáng tạo nhiều giải pháp để làm tốt công tác giáo dục lịch sử truyền thống dân tộc.
Thực tế thấy rằng một bộ phận học sinh, sinh viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, chạy theo lối sống thực dụng, vọng ngoại; một số ít dao động, tin theo những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cổ suý cho chủ nghĩa tư bản, hoài nghi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; việc dạy học lịch sử theo truyền thống có nhiều điểm chưa phù hợp, khô cứng chưa thu hút được học sinh, sinh viên tham gia.
Để việc giáo dục đó trở nên lôi cuốn, có ý nghĩa thiết thực, cần thực hiện theo

một số giải pháp sau:

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục

Làm tốt công tác giáo dục cho các thế hệ trẻ để ngọn lửa không bao giờ phai nhạt

Công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho học sinh, sinh viên trong thời gian qua bên cạnh những mặt tích cựu vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, hiệu quả hoạt động giáo dục chưa cao, một số hoạt động còn mang nặng tính hình thức, chưa theo kịp sự phát triển.

Để công tác giáo dục truyền thống lý tưởng cách mạng cho học sinh, sinh viên tiếp tục được phát huy hiệu quả, cần phải tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, đó là: thu hút học sinh, sinh viên tham gia hơn nữa như: Giáo dục trực tuyến, xây dựng video, giáo dục truyền thống bằng việc sân khấu hóa, trải nghiệm thực tiễn tại các địa điểm di tích lịch sử, các cuộc thi tìm hiểu truyền thống quê hương, đất nước; tổ chức các hoạt động về nguồn, đến với địa danh lịch sử, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc, tôn tạo di tích lịch sử, di tích văn hóa để giáo dục truyền thống cho thanh thiếu nhi.

Tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị trong đoàn viên, thanh niên gắn với các dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện quan trọng của đất nước bằng nhiều hình thức phong phú như: Diễn đàn, tọa đàm, ngày hội học sinh sinh viên, liên hoan tuyên truyền ca khúc cách mạng, xem phim lịch sử, triển lãm, sử dụng mạng xã hội tuyên truyền... để bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, cho thế hệ trẻ.

Tích cực khích lệ động viên học sinh, sinh viên thông qua các gương người tốt việc tốt. Tổ chức tuyên dương khen thưởng, lan toả rộng rãi kịp thời những gương học sinh, sinh viên có hành động đẹp, ý nghĩa; chú trọng nhân rộng những cách làm mới, sáng tạo để học sinh, sinh viên trên cả nước noi theo.
Từ tự hào truyền thống là cơ sở để nêu cao lòng yêu nước, tự hào truyền thống quê hương, là động lực để cùng đoàn kết, không ngừng nỗ lực, góp phần xây dựng quê hương, đất nước; phát huy tinh thần “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” .

Tích cực tổ chức hoạt động phong trào, Đặc biệt, kinh nghiệm trong đại dịch Covid-19, cùng thế giới chung tay phòng chống dịch, trong nước sinh viên là một lực lượng quan trọng, đóng góp các phần việc ý nghĩa, thiết thực, vận động trao tặng các nhu yếu phẩm, thực phẩm phục vụ bà con tại các khu cách ly, bằng nhiều hình thức tuyên truyền về phòng dịch, sáng tác các ấn phẩm văn hóa nghệ thuật để cổ động các lực lượng tham gia phòng, chống dịch; thông qua được tham gia tích cực vào các hoạt động tình nguyện vì an sinh xã hội, vì cuộc sống cộng đồng, từ giáo dục truyền thống cách mạng sẽ bồi đắp, hun đúc trong tâm hồn các em những lý tưởng sống, tình yêu thương nhân loại, đồng bào và thể hiện nó thông qua nhiều hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ người dân có hoàn cảnh khó khăn, phát động, quyên góp trao tặng các phần quà giúp đỡ các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, thương binh liệt sỹ, mẹ Việt Nam anh hùng; tham gia vào các phần việc hỗ trợ người dân giằng chéo nhà cửa, dọn dẹp sân vườn, khắc phục hậu quả lũ lụt…

 


 

.

CHỐNG BẠO LOẠN LY KHAI

 

Hiện nay, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch nuôi dưỡng lực lượng phản động trong cộng đồng người dân tộc thiểu số, tuyên truyền, móc nối, phát triển lực lượng; lợi dụng vấn đề lịch sử để lại kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai, tự trị, âm mưu tiến hành bạo loạn ly khai ; vì vậy, đòi hỏi phải có giải pháp phòng chống có hiệu quả.

Phương thức, thủ đoạn tiến hành bạo loạn ly khai: Các thế lực thù địch khoét sâu những khó khăn, yếu kém, sai lầm của chính quyền về phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, giải quyết những mâu thuẫn không thấu tình, đạt lý, cán bộ tham nhũng và sự bất bình của nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số trong điều kiện còn nhiều khó khăn về kinh tế; tuyên truyền, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo tập hợp lực lượng kích động, vu cáo Nhà nước ta vi phạm tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và được sự hỗ trợ các đối tượng phản động bên ngoài, đấu tranh đòi ly khai tự trị.

Thực hiện thủ đoạn vu cáo chính quyền đàn áp dân tộc thiểu số, tiến hành các hoạt động chống đối chính quyền, đấu tranh đòi ly khai về chính trị, tư tưởng, chia tách lãnh thổ, lật đổ chính quyền, dựng lên “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc, “Nhà nước Đề-ga” ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khmer Krôm độc lập” ở vùng Tây Nam Bộ. Thiết lập quy chế tự trị, tuyên bố ly khai độc lập, kêu gọi cộng đồng quốc tế giúp đỡ, Liên hợp quốc công nhận là một quốc gia độc lập có chủ quyền.

Quy mô của bạo loạn ly khai ban đầu có thể diễn ra ở một số huyện trong một tỉnh, vùng “nhạy cảm” về dân tộc, tôn giáo. Khi các vùng “nhạy cảm” ấy kết nối được với nhau sẽ mở rộng trên phạm vi hai, ba tỉnh, với tính chất quyết liệt hơn. Cũng có thể nếu ta sơ hở, mất cảnh giác, ngay từ đầu có thể xảy ra bạo loạn ly khai ở hai, ba tỉnh trong một vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, sau đó lan rộng trên phạm vi nhiều tỉnh.

 

KỶ LUẬT LÀ SỨC MẠNH CỦA QUÂN ĐỘI

 

Tăng cường hơn nữa công tác giáo dục giáo dục; phải chuẩn bị cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu với một kẻ thù có âm mưu xảo quyệt và ưu thế về trang bị kỹ thuật. Con người, vũ khí trang bị phải thường xuyên ở tư thế sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt quân thù trong mọi điều kiện, mọi thời gian. Nếu kẻ thù phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, thì đây sẽ là một thử thách khốc liệt đối với chính trị - tinh thần, tâm lý và phẩm chất chiến đấu của bộ đội.

Bởi vậy, cần phải chuẩn bị cho bộ đội vững vàng về tư tưởng, chịu đựng được mọi thử thách khốc liệt, căng thẳng, kéo dài của chiến tranh, giữ vững khả năng chiến đấu và bản lĩnh làm chủ vũ khí và trang bị kỹ thuật trong mọi tình huống, tuyệt đối chính xác trong hành động. Bởi lẽ, nếu chỉ có ý thức dân chủ và kỷ luật đơn thuần thì chưa đủ mà còn phải có năng lực làm chủ và chấp hành kỷ luật thì quân nhân mới hoàn thành nhiệm vụ.

 Hoàn thiện các quy định, cơ chế thực hiện dân chủ, hệ thống điều lệnh, chính sách và các điều kiện đảm bảo cần thiết chính là tạo ra môi trường thuận lợi để rèn luyện ý thức, năng lực làm chủ, tính tự giác chấp hành kỷ luật cho mỗi quân nhân. Vấn đề quan trọng của việc hoàn thiện hệ thống điều lệ, điều lệnh, chế độ chính sách là phải xuất phát từ đặc điểm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, phản ánh đúng quy luật của chiến tranh và quan điểm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị của Đảng. Hoàn thiện hệ thống chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội là một điều kiện quan trọng tạo động lực phát huy dân chủ và tăng cường kỷ luật trong quân đội. Xây dựng hệ thống chính sách đối với quân đội phải phù hợp.

 Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hệ thống điều lệnh, điều lệ, quy chế dân chủ, chế độ quy định phải dựa trên nguyên tắc pháp lý và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Nhà nước. Nhưng do tính đặc thù của hoạt động quân sự, quân đội phải có hệ thống điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định, chính sách cụ thể phù hợp.

TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội đã và đang xuất hiện nhiều luận điệu xuyên tạc nhắm vào việc đấu tranh trên không gian mạng nhằm làm trong sạch môi trường internet. Chúng cố ý xuyên tạc, bóp méo sự thật; chúng cho rằng quân đội tham gia đấu tranh trên mạng xã hội, làm trong sạch môi trường internet chính là đang tham gia vào lĩnh vực dân sự, như vậy là vi hiến.

Chúng xuyên tạc rằng: Quân đội chỉ cần làm tốt nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là đủ, còn việc đấu tranh trên không gian mạng đã có lực lượng khác đảm nhiệm, không phải chức năng của quân đội. Vì vậy, quân đội tham gia đấu tranh trên không gian mạng là lấn sân, lạm quyền, sai chức năng nhiệm vụ, đụng chạm đến chức năng của các bộ, ngành khác. Hay ấu trĩ hơn, chúng còn cho rằng quân đội làm gì có đủ lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất mà đòi tham gia đấu tranh trên mạng xã hội. Tất cả luận điệu này là hết sức phi lý, trơ trẽn, xuyên tạc, hòng phủ nhận vai trò tác chiến của quân đội nhân dân Việt Nam

Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái đó, không để cho chúng lợi dụng không gian mạng để bôi nhọ quân đội ta. Quân đội cần tăng cường hơn nữa trong việc tham gia đấu tranh trên không gian mạng; nhằm, làm sạch môi trường internet ở Việt Nam là hết sức cần thiết hiện nay, phù hợp Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Việc đấu tranh trên không gian mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm an toàn thông tin, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, từng bước làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động.

 

NGĂN NGỪA NGUY CƠ “ TỰ DIỄN BIẾN”


 Tình trạng “cuồng” like, “cuồng” view, nếu không tỉnh táo, rất dễ bị cuốn theo các luồng thông tin tiêu cực, dẫn đến hoang mang, dao động, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất niềm tin vào hệ tư tưởng chính thống.

XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG TRONG ĐẢNG BỘ QUÂN ĐỘI

 

Để thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng trong Đảng bộ quân đội đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều chủ trương, biện pháp, trong đó tập trung vào các vấn đề sau đây:

Quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng và các nghị quyết của Đảng uỷ Quân sự Trung ương ở tất cả các cấp trong quân đội. Hiện nay, tiếp tục quán triệt thực hiện phương hướng và các giải pháp  đã tạo sự nhất trí cao trong Đảng bộ và toàn quân với đường lối quan điểm của Đảng, nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, và sự nghiệp đổi mới của Đảng tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về ý chí, niềm tin, trách nhiệm chính trị, năng lực hành động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và đủ khả năng phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địchtrong giai đoạn hiện nay.

Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động phòng ngừa không để những quan điểm, tư tưởng sai trái diễn ra trong quân đội. Kiên quyết đấu tranh khắc phục mọi biểu hiện suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống vi phạm bản chất cách mạng của quân đội trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thường xuyên coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, làm tốt công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh mọi biểu hiện mơ hồ mất cảnh giác, làm lộ bí mật quân sự và bí mật quốc gia; kiên quyết xử lý kỷ luật và đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách đảng viên.

Củng cố hệ thống tổ chức đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ của các cấp bộ đảng trong toàn quân. Trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ cấp uỷ viên,  đặc biệt lựa chọn, bố trí cán bộ chủ trì ở các cấp; giữ vững nguyên tác tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, các nhân phụ trách trong tổ chức sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của các tổ chức đảng.

LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 

Nội dung Quân đội tham gia phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Việt Nam, bao gồm các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về công tác dân tộc, chính sách dân tộc; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mục tiêu phát triển đất nước và chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng.

Tham gia các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, thực hiện các chính sách xã hội, các phong trào, các cuộc vận động cách mạng của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ cuốc Việt Nam và của địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đồng bào, vùng căn cứ cách mạng. Xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở các địa bàn chiến lược, trọng điểm, khu vực biên giới, vùng căn cứ cách mạng.

Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên vùng dân tộc thiểu số đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, nhất là chất lượng chính trị; làm tốt công tác phát triển đảng, tạo nguồn trong công tác tuyển quân, đào tạo nghệ cho bộ đội xuất ngũ là người dân tộc thiểu số. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn cán bộ dân tộc thiểu số trong quân đội; thực hiện chính sách hậu phương Quân đội, gia đình đội ngũ cán bộ Quân đội là người dân tộc thiểu số; tham gia xử trí biểu tình gây rối an ninh trật tự, bạo loạn.

Quân đội tham gia phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy, bộ tư lệnh quân khu, trực tiếp cấp ủy đảng, chính quyền và cấp ủy, chỉ huy quân sự các cấp, theo cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, các cơ quan, ban, ngành làm tham mưu.

 

ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ QUÂN ĐỘI CỦA CÁC THỂ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY


Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, cùng với sự phát triển bùng nổ của intenet, mạng xã hội đã đem lại những lợi ích thiết yếu trong đời sống xã hội, tạo ra môi trường cung cấp, chia sẻ, trao đổi, khai thác sử dụng thông tin và

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BÀI XÍCH VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG.


Trong xu thế toàn cầu hóa, để phát triển nhanh và bền vững, mỗi quốc gia, dân tộc đều phải biết phát huy các giá trị văn hóa truyền thống làm động lực tinh thần, nguồn lực nội sinh để tận dụng hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài và biến các nguồn lực đó trở thành sức mạnh cho sự phát triển bền vững. Ở Việt Nam, Đại

CÁI NÔI TINH THẦN VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC


🌹
Trường học không chỉ dạy học, viết, đếm, suy nghĩ, nhận thức thế giới xung quanh và sự phong phú của khoa học, nghệ thuật. Trường học dạy cách sống. Trong trường học học các em được học kỹ năng sống, đó là cái nôi tinh thần của dân tộc. Dân tộc nào càng quan tâm đến cái nôi của mình thì tương lai của dân tộc đó càng rực rỡ. Nhà trường là do nhân dân Việt Nam chúng ta tạo nên, trong trường học tồn tại nền văn hóa lâu đời của Tổ Quốc, nghĩa vụ của các em làm góp phần mình làm giàu thêm tài sản tinh thần của dân tộc.
Điều quan trọng là phải giáo dục cho các em quan niệm coi trường học là trung tâm quan trọng nhất của đời sống tinh thần của dân tộc. Giáo dục cho các em nhận thức được mình là một người công dân, người bảo vệ tinh thần của dân tộc, bảo vệ những tư tưởng, những tài sản, những giá trị và sự vĩ đại muôn đời của dân tộc. Nghĩa vụ của các em suốt đời giữ gìn thái độ với nhà trường như là với một giá trị thiêng liêng và truyền lại thái độ đó cho thế hệ sau.
Trường học là cái nôi tinh thần văn hóa của dân tộc - trước hết sống trong sách. Điều quan trọng là làm sao cho không những giáo viên mà cả học sinh đều thấm nhuần điều đó. Mỗi một trường học cần có một bộ mặt riêng của mình: những tập quán, truyền thống và ngày hội riêng của mình.
Trường học được vẻ vang là nhờ học sinh của mình. Bộ mặt của nhà trường là do học sinh của nhà trường tạo nên. Đôi cánh của con chim non càng cứng cáp, càng sải rộng, càng cao vút thì cái tổ càng trở nên hấp dẫn đối với nó. Trường học là nơi tập trung những tình cảm đôn hậu, những cảm xúc tinh tế. Trong nhà trường con người quan hệ với nhau một cách tế nhị và thân ái, mỗi người đều sáng tạo ra cái đẹp và trân trọng cái đẹp.
Điều quan trọng là làm sao cho trường học sống mãi trong ký ức của từng em học sinh như là mối lo nghĩ, sự lao động và sự sáng tạo của mình để thực hiện ước vọng làm tăng thêm vẻ đẹp của trường học.
ST

Có thể là hình minh họa về 1 người

SỰ ''IM LẶNG'' NGUY HẠI


Dân gian có câu “Im lặng là vàng”, với hàm ý khuyên nhủ ai đó nên có thái độ khiêm nhường, nhã nhặn đúng lúc đúng chỗ; biết im lặng cần thiết khi lời nói của mình có thể làm tổn thương, gây hại cho người khác hoặc làm rắc rối thêm vấn đề... Tuy nhiên trong cuộc sống, sự “im lặng” không phải lúc nào cũng là “vàng” mà có thể trở thành nguy hại cho sự phát triển, như khi cán bộ, đảng viên thấy đúng không ủng hộ, thấy sai không dám đấu tranh.
Thời gian qua, tâm lý “đấu tranh, tránh đâu” và thái độ “im lặng” có thể hiểu là hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm của nhiều cán bộ, đảng viên, xảy ra ở không ít cơ quan, tổ chức, đơn vị, được khoác tấm áo “đoàn kết, thống nhất cao” bên ngoài, còn thực tế bên trong thì hậm hực, tức tối, kéo bè, kết cánh để chống đối nhau đã xảy ra. Cũng có hiện tượng “im lặng” khác là không ít cán bộ, đảng viên không dám làm gì vì sợ sai nên chùng chình, không thực thi nhiệm vụ trước những khó khăn, bức xúc từ cuộc sống. Cả hai sự “im lặng” như trên đều gây hại cho tổ chức, địa phương và mở rộng ra là cản trở sự phát triển của đất nước.
Cách đây hơn 35 năm, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã phê phán rất gay gắt điều mà ông gọi là “sự im lặng đáng sợ” để tấn công vào “thành trì” quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. “Sự im lặng đáng sợ” là sự im lặng của người có chức, có quyền câu kết, tránh né, bao che cho nhau để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... “Sự im lặng đáng sợ” còn là sự im lặng của người dân, của những người tích cực trước những tiêu cực, sai trái hiển hiện trước mắt mà không có phản ứng gì. Do vậy, công khai chỉ ra “Những việc cần làm ngay” và phê bình trên báo chí chính là một giải pháp quan trọng, hiệu quả được Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh coi trọng.
Biểu hiện rõ nét khi sự “im lặng” diễn ra ở không ít cơ quan, đơn vị, địa phương gần đây là việc trì trệ trong triển khai thực hiện Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28-3-2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động bị ảnh hưởng do dịch Covid-19. Lý do chủ yếu là “sợ sai” nên ở cơ sở đã nghĩ ra nhiều “giấy phép con” để cốt cho “an toàn”. Hay như tình trạng giải ngân đầu tư công cũng vậy, khiến hàng chục nghìn tỷ đồng nằm im trong khi rất nhiều công trình, dự án… thiếu vốn.
Thực tế cho thấy, các tổ chức bị kỷ luật với hình thức Cảnh cáo gần đây như: Ban Thường vụ Đảng ủy Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025; Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương nhiệm kỳ 2020-2025… cũng có nguyên nhân từ hiện tượng "ai biết người nấy" nên khi có sai mà không phát hiện, phát hiện mà không đấu tranh kịp thời; hoặc cũng có thể đồng lõa, dung túng cho nhau, cùng nhau “ngậm miệng” vì lợi ích cá nhân, cục bộ. Hậu quả là cùng lãnh án kỷ luật cả tập thể.
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái. Trong đó có một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là: “Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”. Đối với cán bộ, đảng viên, nếu thể hiện sự im lặng như trên thì lâu ngày sẽ vô hình trung trở thành kẻ đồng lõa với cái xấu, dung túng cho cái sai và tiếp tay cho cái ác lộng hành. Khi cán bộ, đảng viên không bày tỏ thái độ, hành động gì trước một sự việc đáng lẽ phải có chính kiến kịp thời, vì lợi ích chung thì đó là biểu hiện của sự vô trách nhiệm.
Do đó, giải pháp để ngăn ngừa bệnh “im lặng” là cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; đồng thời, phải gắn vai trò, trách nhiệm đối với những hậu quả do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống gây ra. Có như vậy, việc ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống mới đạt được hiệu quả và có tác dụng động viên, khích lệ, khuyến khích cán bộ, đảng viên khác học tập, làm theo. Nhận diện đúng những biểu hiện suy thoái tạo cơ sở cho mỗi cán bộ, đảng viên suy ngẫm và hành động; tự soi, tự sửa, tự phê bình và phê bình, kiểm điểm đánh giá cá nhân, góp ý cho người khác và xử lý đối với cán bộ, đảng viên vi phạm.
Kiên quyết vạch trần, đấu tranh phòng, chống tình trạng số đông “im lặng”là một trong những việc làm cấp thiết để góp phần xây dựng các tổ chức Đảng trong sạch. Cụ thể là cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp như: Giáo dục, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, trách nhiệm công vụ cho cán bộ, đảng viên; phát huy dân chủ trong đảng và trong xã hội; coi trọng văn hóa phản biện lành mạnh; thực thi chặt chẽ các quy định về kiểm soát quyền lực, nhất là kiểm soát quyền lực cá nhân người đứng đầu; tăng cường giám sát, kiểm tra và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm dân chủ, độc đoán, chuyên quyền...
Đặc biệt là cần có sự nhìn nhận, xem xét với phương pháp biện chứng trước những sai sót trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ, không nên phủ định sạch trơn với những thang “điểm trừ” khi đánh giá cán bộ, đảng viên. Vì thế, các cấp ủy, tổ chức Đảng cần làm tốt hơn nữa công tác đánh giá cán bộ cho thật sát với điều kiện tình hình mới. Trong đó, phải xem sự sáng tạo, đột phá của cán bộ, đảng viên là tiêu chí quan trọng hàng đầu trong hệ thống tiêu chí đánh giá, cương quyết không “dĩ hòa vi quý”, cào bằng.
Phê phán, đấu tranh với tình trạng “im lặng”, suy nghĩ “đấu tranh, tránh đâu” là việc làm cần thiết nhằm góp phần rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần chiến đấu, phẩm chất trung thực, dũng cảm của cán bộ, đảng viên trong điều kiện hiện nay.
ST

CHUYỂN HƯỚNG CHIẾN LƯỢC, Ý NGHĨA QUYẾT ĐỊNH CỦA NGHỊ QUYẾT 128/NQ-CP

 Tại tọa đàm Nghị quyết 128/NQ-CP - CHUYỂN HƯỚNG CHIẾN LƯỢC, Ý NGHĨA QUYẾT ĐỊNH, TS. Angela Pratt, Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam khẳng định:

NQ128 là dấu mốc vô cùng quan trọng của Việt Nam trong phòng chống dịch COVID-19, là sự chuyển đổi rất quan trọng từ việc kiểm soát virus, kiểm soát sự lây lan bằng mọi giá và bây giờ chuyển sang trạng thái chung sống với COVID-19, hoặc quản lý bền vững để có thể cân bằng giữa việc áp dụng các biện pháp kiểm soát COVID-19 cộng với việc mở cửa nền kinh tế, xã hội.
Đại dịch COVID-19 đã tạo ra tác động rất lớn đối với Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới. Tôi nghĩ rằng chúng ta cần đánh giá đầy đủ những tác động về mặt xã hội. Trong đó rất nhiều người bị ảnh hưởng về sức khỏe tâm thần và sức khỏe nói chung. Vì vậy phải cân bằng các biện pháp khi mở cửa nền kinh tế.
Theo tôi, Việt Nam đã rất sáng suốt trong việc đưa ra Nghị quyết này. Trước hết Việt Nam đã bao phủ tỉ lệ tiêm chủng rất cao và tỉ lệ này gia tăng theo thời gian. Việt Nam đã rất thành công trong việc kiểm soát lây lan của virus ngay từ giai đoạn đầu của đại dịch nhờ áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội và các biện pháp tại nơi công cộng… Tôi cho rằng đó là một bài học kinh nghiệm nữa được rút ra ngay từ đầu đại dịch và có thể ứng dụng trong các giai đoạn tiếp theo trong việc kiểm soát và quản lý COVID-19. Thông qua Nghị quyết đã hỗ trợ nỗ lực này rất lớn.
NQ128 được đưa ra thông qua một quá trình có sự tham vấn rất sâu rộng với sự lãnh đạo của Chính phủ có sự tham gia của các bộ ngành, các đối tác, chính quyền địa phương, các đối tác quốc tế. Đây là một trong những bài học quan trọng nhất chúng ta học được trong phòng chống COVID-19, bởi vì ngành y tế không thể một mình đương đầu với COVID-19 được mà cần sự chung tay chung sức của toàn xã hội.
NQ128 là văn bản vô cùng quan trọng giúp chúng ta cân bằng phát triển xã hội nói chung cũng như áp dụng các biện pháp y tế công cộng. Những điều Việt Nam đưa vào NQ128 cũng là những điều Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo. Sau 1 năm chúng ta đang ở vị thế thoải mái hơn điều đó đã thể hiện rất rõ hiệu quả của Nghị quyết này.

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

 

Hiện nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 189 nước thành viên của Liên Hợp quốc, đồng thời, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức và diễn đàn quốc tế. Nhờ đường lối đối ngoại nhất quán, vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Những kết quả đó là minh chứng sống động để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam. Mặc dù vậy, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước thường xuyên thực hiện những âm mưu chống phá đường lối phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta.
Một trong những vấn đề chúng tập trung chống phá, xuyên tạc là đường lối đối ngoại của Việt Nam với nhiều phương thức, thủ đoạn nguy hiểm, tinh vi, khó lường. Đáng chú ý là các thế lực thù địch, các tổ chức lưu vong và một số đối tượng chống đối trong nước triệt để sử dụng không gian mạng, nhất là các mạng xã hội như Facebook, Youtube để xuyên tạc, tuyên truyền sai lệch chủ trương, đường lối đối ngoại của Việt Nam. Chúng cho rằng: Chính sách giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là “lý thuyết viển vông, phi thực tế”; “đã độc lập tự chủ thì không thể hội nhập quốc tế và ngược lại đã hội nhập quốc tế thì không có sự độc lập tự chủ”[1]; chính sách độc lập tự chủ của Việt Nam là “bảo thủ”, “tự cô lập mình”, “ngoại giao đu dây”, “nhạc nào cũng nhảy”(?!),… Chúng kêu gọi kích động bạo lực với cộng đồng người Nga tại Việt Nam, khuyên Việt Nam “phải chọn bên”, yêu sách Việt Nam phải “đổi mới” đường lối đối ngoại (?!).
Để chủ động đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu xuyên tạc nêu trên, cần tiếp tục tăng cường quản lý nhà nước về đối ngoại theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam”[2].
Thực hiện những định hướng nêu trên, trong quản lý nhà nước về đối ngoại cần quán triệt những quan điểm cơ bản:
Thứ nhất, đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Xây dựng nền ngoại giao hiện đại vì lợi ích quốc gia - dân tộc, lấy phục vụ người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Thứ hai, quản lý nhà nước về đối ngoại phải gắn bó chặt chẽ với giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, giữa hợp tác quốc tế toàn diện và sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội, đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước, nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước.
Thứ ba, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ những người làm công tác quản lý nhà nước nói chung và đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về đối ngoại nói riêng. Đội ngũ cán bộ này phải am hiểu sâu về khoa học quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về đối ngoại, về pháp luật quốc tế, thương mại, đầu tư quốc tế, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, trước là cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý nhà nước về đối ngoại và hội nhập quốc tế, giải quyết các tranh chấp quốc tế.
Thứ tư, quản lý nhà nước về đối ngoại phải gắn liền với hợp tác quốc tế nói chung và hợp tác quốc tế về pháp luật nói riêng, theo hướng chủ động, tích cực tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi, hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới nhằm tạo thay đổi về chất lượng công tác hợp tác quốc tế và hợp tác quốc tế về pháp luật. Nghiên cứu giải pháp gia tăng sự hiện diện của chuyên gia pháp luật Việt Nam trong các thiết chế luật pháp quốc tế.
Thứ năm, quản lý nhà nước về đối ngoại phải đảm bảo tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng,… Đồng thời, kiên quyết kiên trì đấu tranh, làm thất bại âm mưu, hoạt động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước.
Quán triệt quan điểm trên, quản lý nhà nước về đối ngoại thời gian tới cần tập trung giải quyết tốt những vấn đề sau:
Một là, đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về đối ngoại. Việc hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại cần tập trung trước hết vào ba lĩnh vực (ba trụ cột) của hoạt động đối ngoại là: Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về kinh tế, hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về chính trị và hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về văn hóa. Mặt khác, cần có quy định rõ trách nhiệm các cơ quan, tổ chức, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức làm công tác đối ngoại.
Hai là, hoàn thiện và củng cố bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn về quản lý nhà nước trong hoạt động đối ngoại. Thiết lập quan hệ phối hợp và mạng lưới thông tin một cách chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức làm công tác đối ngoại ở trung ương và các cơ quan, tổ chức làm công tác đối ngoại ở địa phương.
Ba là, tăng cường công tác thông tin đối ngoại và tuyên truyền trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại. Tiếp tục đổi mới phương thức, nội dung các hoạt động thông tin đối ngoại trong việc giới thiệu, quảng bá hình ảnh văn hóa, con người, tiềm năng phát triển và hợp tác của Việt Nam ra nước ngoài nhằm tăng cường sự hiểu biết, ủng hộ của cộng đồng quốc tế với sự nghiệp xây dựng và phát triển của Việt Nam. Đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại về văn hóa trên cơ sở phát huy giá trị di sản tự nhiên, nhân văn (vật thể, phi vật thể), xây dựng các sản phẩm văn hóa - nghệ thuật có bản sắc riêng gắn kết truyền thống với hiện đại, nhằm nâng cao hiệu quả quảng bá đất nước và con người Việt Nam với bạn bè quốc tế. Tăng cường sự phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong nước và các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức các sự kiện văn hóa quốc tế tại Việt Nam, sự kiện văn hóa Việt Nam ở nước ngoài nhằm quảng bá văn hóa Việt Nam với thế giới, nhằm thu hút ngày càng nhều du khách quốc tế đến Việt Nam.
Bốn là, xây dựng, đào tạo đội ngũ những người làm công tác quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại giàu về trí tuệ, bản lĩnh, giỏi ngoại ngữ, có kiến thức về khoa học công nghệ tiên tiến, thể lực tốt,… bởi họ chính là nguồn nhân lực chủ yếu góp phần vào công cuộc kiến thiết và phát triển đất nước. Đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng và ban hành chính sách thu hút người tài làm công tác đối ngoại, xây dựng và ban hành chính sách khuyến khích tạo động lực cho đội ngũ công chức làm công tác đối ngoại.
Năm là, quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút hợp tác quốc tế, đầu tư, xúc tiến thương mại, du lịch và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Sáu là, tận dụng có hiệu quả sức mạnh của của công nghệ thông tin và truyền thông nhằm xúc tiến liên tục, bền bỉ chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về công tác đối ngoại nói chung và quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại nói riêng, tạo niềm tin cho người nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài, các tổ chức quốc tế về đất nước, con người Việt Nam là nơi đáng sống và điểm đến an toàn.
Bảy là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo và điều hành của Nhà nước về hoạt động đối ngoại nói riêng.
Quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm và nội dung trên đây sẽ góp phần đấu tranh, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
PGS,TS. Trịnh Đức Thảo
Có thể là hình ảnh về 8 người, mọi người đang đứng và văn bản

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 07/10


“Không phải đã hòa bình thì thỏa mãn mà còn phải đấu tranh phức tạp, gian khổ, lâu dài. Cách đấu tranh có thay đổi là đấu tranh trong hòa bình, mà đấu tranh trong hòa bình còn gian khổ phức tạp hơn thời kỳ chiến tranh”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại Hội nghị cán bộ ngày 07 tháng 10 năm 1954.
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (07/5/1954), Hiệp định Geneve được ký kết, cuộc chiến tranh kết thúc. Quân Pháp rút về nước, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Theo Hiệp định Geneve, sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam. Nhưng đế quốc Mỹ với ý đồ xâm lược Việt Nam từ lâu, đã lợi dụng cơ hội, gạt Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy nguỵ quyền, nguỵ quân tay sai, viện trợ kinh tế quân sự, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài nước ta. Cả dân tộc ta lại bước vào chiến đấu chống xâm lược mới. Miền Bắc ra sức củng cố, xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm căn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nước; miền Nam từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa từng phần, đánh bại cuộc chiến tranh một phía của Mỹ.
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là khát vọng lớn lao của nhân dân ta, là yêu cầu của lịch sử giao phó, đó cũng đồng thời là nhiệm vụ của toàn quân, toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng ta. Bởi thế, để Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò tiền phong, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó, tất yếu đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải nghiêm túc tự chỉnh đốn, nâng cao tinh thần đạo đức cách mạng, phòng và chống chủ nghĩa cá nhân, chống tư tưởng thoả mãn, công thần…
Thấu triệt lời Bác dạy, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khăn và phức tạp; do vậy đã nghiêm túc đề cao tự phê bình và phê bình, chấn chỉnh những hạn chế, khuyết điểm, xác định đường lối, chủ trương đấu tranh cho phù hợp với sự phát triển của thực tiễn giành được những thắng lợi vẻ vang có ý nghĩa lịch sử to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thành công trong sự nghiệp đổi mới hơn 30 năm qua, vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, là lực lượng nòng cốt cùng với toàn Đảng, toàn dân chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập dân tộc. Nhớ lời Bác dạy năm xưa, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn đề cao cảnh giác cách mạng, thi đua huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, rèn luyện nghiêm, dân vận tốt, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diên, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, quyết không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, nhân dân tin tưởng, giao phó, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CHỦ TỊCH Há» CHÍ MINH'