Thứ Ba, 1 tháng 11, 2022

Phản bác luận điệu sai trái, thù địch về bài viết của đồng chí Tổng Bí thư

Sau bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra đời, trên mạng xã hội đã xuất hiện nhiều luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, với ngôn ngữ vừa kích động, vừa mị dân, dẫn dắt có chủ ý nhằm xuyên tạc, phủ nhận nội dung bài viết. Chính vì vậy, nhận diện, đấu tranh với những luận điệu đó nhằm khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn của bài viết đối với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài. NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM Một trong những nội dung quan trọng trong bài viết của đồng chí Tổng Bí thư xoay quanh những vấn đề lý luận và thực tiễn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam. Bài viết dựa trên nền tảng thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn phong phú, sinh động của Việt Nam trong xây dựng CNXH. Trong đó nổi bật lên các nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, đi lên CNXH là yêu cầu khách quan, là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam. Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có sự khái quát cao về nhận thức CNXH Việt Nam từ thực tiễn Đổi mới của nước ta và từ những thành công cũng như thất bại của một số nước trên thế giới. Trên cơ sở đó, Tổng Bí thư đã khái quát thành đặc điểm riêng có của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng. Đó là phải là vì con người, vì cuộc sống của nhân dân chứ không phải vì lợi nhuận của một nhóm người nào; Nội hàm của CNXH Việt Nam là xử lý đúng đắn các mối quan hệ giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo an sinh xã hội, đó là lợi ích của nhân dân; hay như nhận định CNXH Việt Nam là sự hoàn thiện hệ thống chính trị, đặc biệt là xây dựng nhà nước pháp quyền và phân biệt rõ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) với nhà nước pháp quyền tư sản cũng là một điểm mới được làm rõ trong bài viết. Từ đó, Tổng Bí thư khẳng định con đường đi lên CNXH Việt Nam là một chặng đường rất dài; mỗi chặng đường đi trải qua những bước đi cụ thể, với những hình thức, biện pháp cụ thể; cùng với đó, phải tiếp tục tổng kết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Kết nối với thời điểm hiện nay, khi nước ta đang nỗ lực triển khai đưa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII vào cuộc sống, bài viết của Tổng Bí thư có tính định hướng quan trọng để Đảng và Nhà nước, nhất là bộ máy nhà nước pháp quyền không ngừng hoàn thiện để có trách nhiệm lịch sử, từ đó thể chế và hiện thực hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH mà Đại hội XI đã bổ sung, phát triển. Thứ hai, đi lên CNXH phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa là giải pháp để đạt mục tiêu, vừa là nhiệm vụ cần thực hiện trong suốt chặng đường phát triển đất nước. Xây dựng CNXH theo Tổng Bí thư đó là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, đó là không giống với bất kỳ một mô hình nào trên thế giới. Những điều đó mang tính chất đặc trưng riêng của Việt Nam, chỉ của Việt Nam. Từ đó, Tổng Bí thư khẳng định: "Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới"(1). Cả lý luận và thực tiễn chứng minh nhận định trên của Tổng Bí thư là hoàn toàn đúng đắn. Vì vậy, Tổng Bí thư đã cụ thể hóa nhận thức của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: Chính là "nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Thứ ba, trên con đường xây dựng CNXH, phải coi văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Luận bàn về văn hóa trong CNXH, Tổng Bí Thư nhấn mạnh: "Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hoá nhân loại". Theo Tổng Bí thư, nền văn hóa Việt Nam có nội dung là đậm đà bản sắc dân tộc, tâm hồn dân tộc, lối sống, truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc được bảo tồn, lưu truyền, kết nối với những giá trị, những xu hướng tiến bộ chung của nhân loại hiện nay. Tổng Bí thư đã quán triệt quan điểm của Đảng về trọng tâm của xây dựng văn hóa là xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp. Trong đó, coi phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Thứ tư, chế độ chính trị và cơ chế vận hành tổng quát trong mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Mối quan hệ: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” là vấn đề lớn, cơ bản, có ý nghĩa bao trùm, xuyên suốt cho quá trình vận hành của hệ thống chính trị; giải quyết tốt mối quan hệ này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Chính vì lẽ đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa đảng, nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”. Thứ năm, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi bàn về vai trò lãnh đạo của Đảng, Tổng Bí thư đã đưa ra nội dung đánh giá có tính định hướng chiến lược về công tác xây dựng Đảng nói chung, về vai trò lãnh đạo của Đảng với tiến trình cách mạng, đặc biệt trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước theo định hướng XHCN nói riêng. Theo đồng chí Bí thư: "Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng XHCN, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ XHCN"(5). Phân tích ý nghĩa những thành quả sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, cả những mặt hạn chế về kinh tế-xã hội trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, người lãnh đạo cao nhất của Đảng khẳng định: "Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng CNXH là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân". Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng sau hơn 35 năm qua là minh chứng hùng hồn chứng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới, bảo đảm đất nước phát triển bền vững, theo đúng định hướng XHCN. Đó là cơ sở, nền tảng để tiếp tục xây dựng dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TO LỚN TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ Thời gian qua, sau khi bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được đăng tải, các thế lực thù địch đã phát tán nhiều bài viết, bình luận trên nền tảng mạng xã hội và một số website, tờ báo nước ngoài có tư tưởng phản động chống phá Việt Nam như: Danlambao, kênh VOA Tiếng Việt, Đài Á Châu Tự Do... với nội dung xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nội dung bài viết trên. Chúng cho rằng Tổng Bí thư đã đưa ra “hệ thống lý luận cũ kỹ, không còn phù hợp với thời đại”, "lạc nhịp", "lỗi thời" và Việt Nam “lợi dụng tự do, dân chủ, tuyên truyền chống phá các nhà nước tư bản”; phản đối chế độ một đảng lãnh đạo ở Việt Nam; bôi nhọ, nói xấu chế độ ta. Thực chất đây là những luận điệu sai trái, thông tin sai sự thật, "lập lờ đánh lận con đen", cố tình xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam mà Tổng Bí thư đã trình bày trong bài viết quan trọng của mình! Trước những lập luận chặt chẽ trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, các thế lực thù địch cố gắng dùng mọi thủ đoạn để cố tình xuyên tạc, bôi nhọ bài viết, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, hòng gây hoang mang dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng XHCN. Xuyên tạc những vấn đề lý luận trong bài viết của Tổng Bí thư, các thế lực thù địch, cơ hội cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội chỉ là phương tiện cứu nước, giành độc lập dân tộc, và khi giành độc lập rồi thì cần phải thay đổi phương tiện”. Thực chất đây là thủ đoạn đánh tráo khái niệm, hòng phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Bài viết của Tổng Bí thư đã khẳng định chế độ XHCN là một chế độ xã hội mang bản chất tốt đẹp, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, lấy con người làm trung tâm, dựa trên lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội tư bản “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm đoạt của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”. Vậy mà, luận điệu của các thế lực thù địch lại cho rằng“chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hoàn toàn không có bình đẳng xã hội, không có an sinh, phúc lợi xã hội gì cả, mọi thứ đều phải trả bằng tiền”. Có lẽ nào chúng muốn dân tộc ta phải đi tìm cái bình đẳng của phương Tây khi mà một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng và do đó chi phối toàn xã hội. Trong nhiều bài viết chống phá con đường đi lên CNXH ở nước ta, các thế lực thù địch thường xuyên so sánh vấn đề dân chủ ở Việt Nam và vấn đề dân chủ Phương Tây nhưng họ không hiểu rằng trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át và người dân mất đi chính quyền làm chủ của chính mình. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ”, dù có thể thay đổi chính phủ, nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; núp đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự thống trị của các tập đoàn tư bản. Bài viết của đồng chí Tổng Bí thư đã làm rõ những vấn đề cốt lõi của chế độ XHCN mà chúng ta kiên định trong quá trình đổi mới đất nước; đồng thời đã khẳng định chế độ XHCN là một chế độ xã hội mang bản chất tốt đẹp, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, lấy con người làm trung tâm, dựa trên lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa cá nhân và phe nhóm. Để đạt được mục tiêu đó, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Không chấp nhận thực tế đó, những kẻ thù địch với chế độ XHCN ở trong và ngoài nước lại cố tình bịa đặt, lèo lái, dẫn dắt đánh lừa dư luận nhằm thực hiện mưu đồ phản động của mình bằng ngôn ngữ xấu, độc, võ đoán khi cho rằng: “Đảng cộng sản dốc tâm lo xây dựng chủ nghĩa xã hội để nắm giữ lợi quyền. Để độc quyền cai trị. Để có cơ nhũng lạm, cướp bóc, làm giàu cho cá nhân, phe nhóm, vinh sang cho một đảng trị vì khiến đất nước cứ mãi lạc hậu đói nghèo". Tiếp cận dưới góc độ một bài viết có tính lý luận cao, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng lập luận khoa học, thuyết phục qua những thành tựu xây dựng CNXH, thể hiện tập trung ở giải trình bản chất chế độ XHCN ở Việt Nam. Đó là cơ sở phản bác một cách thuyết phục, kể cả phản bác đanh thép, sắc bén trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Trong bài viết của mình, Tổng Bí thư khẳng định rằng: Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng là không thể phủ nhận; những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta là có thực, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong khi đó, các thế lực xấu, thù địch lại luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ CNXH ở Việt Nam. Đó là những khó khăn, trở lực cả khách quan lẫn chủ quan đang từng ngày, từng giờ đe dọa đến sự tồn vong của chế độ, mà thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Cũng từ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãnh phí, thoái hóa… trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị. Thực tế công tác xây dựng Đảng ở nước ta và những quyết tâm của đồng chí Tổng Bí thư trong bài viết là sự tiếp nối của tư tưởng Hồ Chí Minh: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Từ khi bài viết được công bố ngày 16/5/2021 đến nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, các báo, tạp chí… đã có hàng nghìn bài viết, bài bình luận, tâm tư tình cảm của độc giả, từ cán bộ hưu trí, đảng viên ở cơ sở, nhân dân ở mọi vùng, miền của Tổ quốc; từ đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo cho đến các nhà nghiên cứu, các chính trị gia, học giả quốc tế, văn nghệ sĩ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài… đón nhận bài viết của Tổng Bí thư với lòng yêu mến, niềm tin tưởng và sự hưởng ứng tích cực. Đối với các Đảng Cộng sản, Đảng Lao động trên thế giới như: Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Cộng sản Cuba, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, … đều bày tỏ sự đồng tình, đánh giá cao bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Những nhận định của bạn bè quốc tế năm châu về bài viết của đồng chí Tổng Bí thư không chỉ tiếp thêm niềm tin vững chắc cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đi trên con đường CNXH, mà còn trang bị vũ khí lý luận sắc bén để chúng ta tiếp tục đấu tranh, phản bác với những suy diễn vô căn cứ, chống phá, xuyên tạc những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong hơn 35 năm đổi mới đất nước. Từ tổng kết thực tiễn của Việt Nam, Tổng Bí thư đã đóng góp thêm tiếng nói của Việt Nam vào kho tàng lý luận thế giới về CNXH. Điều đó càng khẳng định rằng, sự lựa chọn và kiên định con đường đi lên CNXH không phải là "sai lầm" mà là sự lựa chọn, kiên định đúng đắn của lịch sử dân tộc, của nhân dân ta, của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ra đời cách đây hơn một năm, bài viết của đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã khơi dậy và lan tỏa niềm tin, niềm tự hào, tình cảm thiêng liêng đến các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước về CNXH ở Việt Nam; góp phần quan trọng củng cố niềm tin của nhân dân đối với con đường đi lên CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị sẽ tiếp tục đưa ra các luận điệu phản động, tìm cách phủ nhận, bôi đen thành tựu xây dựng, phát triển đất nước, xuyên tạc, bóp méo CNXH và con đường đi lên CNXH, hạ thấp uy tín đồng chí Tổng Bí thư. Do đó, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta cần hiểu rõ giá trị bài viết, coi đây là cơ sở khoa học, luận điểm để phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch. Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, thể hiện tầm tư tưởng, giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc, là kim chỉ nam tiếp tục chỉ đạo nhiệm vụ quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cho công cuộc đổi mới của đất nước trong thời gian tới. "Hiện nay, gần 1,5 tỷ người trên hành tinh vẫn đang đi theo con đường XHCN với những thành tựu đáng trân trọng và tự hào. Dù còn nhiều khó khăn, thách thức, phức tạp, nhưng sự phát triển của các nước XHCN hiện nay (Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba...) đã chứng minh rằng CNXH vẫn là hiện thực, là thực tế, là một chế độ xã hội tốt đẹp nhất trong lịch sử nhân loại đến ngày nay". Nhân dân tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta sẽ tiếp tục giành những thắng lợi to lớn hơn nữa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam - Điều vô lý, không thể chấp nhận

Xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam - điều vô lý, không thể chấp nhận Một thực tế không thể phủ nhận đó là kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng (XD,CĐĐ) đạt được trong thời gian qua không những được cán bộ, đảng viên và nhân dân ta ghi nhận, đánh giá cao mà còn khẳng định XD, CĐĐ là vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược để Đảng ta có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, các thế lực thù địch phớt lờ điều ấy, chúng còn ra sức công kích vấn đề có tính nguyên tắc và chiến lược này. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp Hội nghị lần thứ 5 từ ngày 4 đến ngày 10-5-2022. Ảnh: Nhandan.vn 1. Với tâm địa đen tối, cái nhìn hằn học, các thế lực thù địch cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Là một công việc bình thường trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vậy mà mỗi khi Đảng ta kỷ luật một số cán bộ cao cấp trong bộ máy Đảng, Nhà nước có vi phạm, trên một số đài, báo nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFA, RFI, VOA... và các trang mạng xã hội phản động, nhất là tổ chức Việt Tân luôn xuyên tạc rằng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam là “thanh trừng phe phái” hay “tính hiệu quả không thể cao khi người dân đứng ngoài cuộc chiến chống suy thoái”, cho rằng việc xử lý cán bộ vi phạm để “tăng cường quyền lực cho khối nội chính, tuyệt đối hóa quyền lực của Đảng”, v.v.. Thực ra, những nhận định này là hồ đồ và xuyên tạc vì công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục của Đảng để “cơ thể Đảng” thường xuyên khỏe mạnh, có khả năng “đề kháng”, “miễn dịch” trước sự chống phá của các thế lực thù địch. Từ lý luận và thực tiễn đều chứng minh một vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược, đó là Đảng phải thường xuyên được xây dựng, chỉnh đốn để Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh, đủ sức và xứng đáng với vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước, dân tộc. Trước yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, công tác XD, CĐĐ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ngày càng cấp thiết, bởi lẽ, đất nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới. Điều đó càng đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới, vươn tầm trí tuệ, Đảng phải được xây dựng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Do vậy, không thể có chuyện việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta là “giật gấu vá vai” như ai đó đã từng rao giảng. Thực tiễn đã chứng minh, càng làm tốt công tác XD, CĐĐ bao nhiêu thì Đảng ta ngày càng vững mạnh bấy nhiêu, luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. 2. Vì sao xây dựng, chỉnh đốn Đảng là vấn đề có tính nguyên tắc? Điều này được xác định ngay từ khi Đảng ra đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một tất yếu khách quan, gắn chặt với quá trình phát triển, trưởng thành của sự nghiệp cách mạng; Đảng là một tổ chức sống trong lòng xã hội, một bộ phận hợp thành cơ cấu của xã hội. Tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ chức vụ trong Đảng, Nhà nước luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng từ môi trường xã hội cả những cái tốt, tích cực, tiến bộ, cả những cái xấu, tiêu cực và lạc hậu. Trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng phải quan tâm nhiều hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định, nếu không làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì “... một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(1). Do vậy, đối với những cán bộ, đảng viên nắm giữ quyền lực càng phải đề cao ý thức, trách nhiệm trong XD, CĐĐ. Nó không chỉ góp phần làm cho Đảng ta mạnh lên mà còn là nhu cầu tự hoàn thiện, tự làm trong sạch và khẳng định nhân cách của mình. Bởi lẽ, nếu không biết sử dụng đúng quyền lực và đặt nó vào đúng vị trí thì nó sẽ phá hoại ghê gớm, nhất là khi người nắm giữ quyền lực bị tha hóa, biến chất, họ sẽ biến quyền lực của Đảng, của nhân dân thành đặc quyền, đặc lợi, rơi vào chủ nghĩa cá nhân. XD, CĐĐ là vấn đề có tính quy luật trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, đặc biệt là trước những biến cố, bước ngoặt quan trọng của cách mạng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng có mối quan hệ biện chứng, trong đó xây dựng là nền tảng, có tác dụng to lớn để thực hiện chỉnh đốn Đảng. Ai đó cho rằng chỉ cần xây dựng Đảng là đủ mà coi thường chỉnh đốn Đảng là điều phi lý, không thể chấp nhận; bởi chỉnh đốn Đảng là một mặt hết sức quan trọng và là điều kiện không thể thiếu của xây dựng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng gắn bó chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau, ràng buộc và quy định lẫn nhau, xây dựng Đảng ngay trong nội dung chỉnh đốn và chỉnh đốn là thành tố nội tại để xây dựng Đảng tốt hơn. Do vậy, không thể coi trọng, nhấn mạnh mặt này, xem nhẹ, coi thường mặt kia; hai mặt xây dựng và chỉnh đốn có quan hệ chặt chẽ, là vấn đề có tính quy luật của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nguyên tắc của XD, CĐĐ là lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; thực hiện đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách để Đảng không rơi vào độc đoán, chuyên quyền. Đồng thời trong sinh hoạt Đảng, phải thực hiện đúng đắn nguyên tắc tự phê bình và phê bình, bởi đó là thứ vũ khí, là quy luật làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Cùng với đó cần thực hiện tốt kỷ luật nghiêm minh và tự giác, làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát để giữ gìn sự đoàn kết và sự trong sạch của Đảng. Sự thật này không thể xuyên tạc, chân lý này không thể bẻ cong. 3. Đảng ta khẳng định phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về một số vấn đề cơ bản và cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay đã được triển khai sâu rộng, thực hiện quyết liệt và đạt những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, càng đi sâu vào quá trình đổi mới, nhiều vấn đề về công tác XD, CĐĐ càng được đặt ra cấp bách cần phải giải quyết, nhất là khi: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”(2). Sự ra đời của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường XD, CĐĐ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta đã bác bỏ mọi cách nhìn lệch lạc, quan điểm sai trái về công tác XD, CĐĐ. Thực tế chứng minh rằng, kết quả thực hiện nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Trung ương 4 khóa XII đã góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác XD, CĐĐ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về công tác XD, CĐĐ được nâng lên. Qua thực hiện các nghị quyết về XD, CĐĐ đã có nhiều tấm gương điển hình tiên tiến được nhân rộng, lan tỏa trong đời sống xã hội, đồng thời xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và xã hội, có tác dụng cảnh báo, răn đe, phòng ngừa chung. Kết quả này có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái cho rằng Đảng ta không thể XD, CĐĐ thành công. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định quyết tâm XD, CĐĐ trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 về đẩy mạnh XD, CĐĐ và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo đó, “XD, CĐĐ phải gắn với xây dựng hệ thống chính trị, phạm vi thực hiện không chỉ đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên mà còn cả các cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức, viên chức, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và thành viên, đoàn viên, hội viên của các tổ chức này”(3). Đây là những nội dung thể hiện sự phát triển và mở rộng của công tác XD, CĐĐ để đáp ứng với điều kiện mới của Đảng ta, là minh chứng bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch. Theo báo cáo của cơ quan chức năng, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và 87.000 đảng viên. Chỉ tính trong năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII, năm 2021, cả nước đã khởi tố, điều tra 390 vụ án với 1.011 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, trong đó đã khởi tố mới nhiều vụ án lớn, nghiêm trọng, phức tạp “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Như vậy, những ai hiểu biết ở mức bình thường nhất cũng phải thừa nhận rằng, việc xử lý cán bộ nêu trên thể hiện sự nghiêm minh của Đảng, Nhà nước, kiên quyết xử lý đúng người, đúng tội, không có chuyện sử dụng danh nghĩa chống suy thoái để “thanh trừng phe phái” như ai đó đã xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của Đảng. Đây là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc rất quyết liệt, là “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật vài người để cứu muôn người”. Những thành quả đã đạt được trong công tác XD, CĐĐ thời gian qua là niềm tin để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần đề cao cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vững tin xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh.

TÍNH TẤT YẾU CỦA "SỰ LÃNH ĐẠO TUYỆT ĐỐI, TRỰC TIẾP VỀ MỌI MẶT CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG"

Tính tất yếu của “Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang” Đối với mọi nhà nước trong mọi thời kỳ lịch sử, mọi vấn đề chính trị đều liên quan đến lợi ích và mục tiêu lợi ích của giai cấp cầm quyền, trong đó, lực lượng vũ trang (LLVT) hoặc các hình thức vũ trang ra đời và thực hiện chức năng của nó đều là biểu hiện về mặt chính trị của giai cấp cầm quyền. Việt Nam có đầy đủ những cơ sở lịch sử để khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với LLVT là một tất yếu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập ra đội quân chủ lực đầu tiên của các lực lượng vũ trang - Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, ngày 22-12-1944. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN). NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA LLVT” CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM Đối với cách mạng Việt Nam, mặc dù các thế lực thù địch, phản động quốc tế đã tiến hành nhiều chiêu bài, thủ đoạn, hình thức nhưng không thể thay thế được vai trò cầm quyền của Đảng ta, không thể lật đổ chế độ, không làm thay đổi mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta. Tuy nhiên, tham vọng và mục tiêu của các thế lực phản động quốc tế đối với cách mạng Việt Nam là không bao giờ thay đổi. Hiện nay, thủ đoạn của chúng ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn, được che đậy dưới nhiều chiêu bài, hình thức nhằm phù hợp với tình hình mới, cụ thể: Thứ nhất, thông qua các cơ quan truyền thông người Việt chống Cộng hải ngoại, các cơ quan truyền thông quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC tiếng Việt, RFA, RFI, VOA tổ chức những cuộc “Hội thảo”, “Tọa đàm bàn tròn trực tuyến”, “Phỏng vấn”... những “nhà nghiên cứu chính trị”, “luật sư”, “nhà văn”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà hoạt động dân chủ” - mà thực chất là các phần tử mất mãn, cơ hội chính trị trong và ngoài nước, đại diện một số hội, đoàn, Đảng phái phản động tự xưng như: Đảng “Việt Tân”, Chính phủ “Quốc gia Việt Nam lâm thời”, “Triều Đại Việt”... đã bị nhà nước Việt Nam đưa vào danh sách tổ chức khủng bố, nhằm chuyển tải những “lý lẽ”, “cơ sở” đòi “Phi chính trị hóa LLVT”, “Phi chính trị hóa Quân đội”; Thứ hai, chúng lợi dụng việc góp ý với Đảng, Nhà nước thông qua các “tâm thư”, “bản kiến nghị”... của những cái gọi là “nhà báo độc lập”, “văn đàn độc lập”, “Hội nhân sỹ 72”... đòi LLVT “chỉ phải trung thành với Tổ quốc và Nhân dân chứ không phải trung thành với Đảng Cộng sản”, kêu gọi “Quân đội, Công an hãy đứng ngoài chính trị”. Thứ ba, chúng kích động, chia rẽ giữa lực lượng quân đội với công an. Thứ tư, chúng kích động tụ tập đông người, biểu tình trái phép, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng; cắt ghép hình ảnh, vu khống, đặt điều LLVT đàn áp nhân dân và tung lên mạng Internet thông qua các nền tảng như You Tube, Facebook, Zalo. Thứ năm, kết hợp lực lượng bên trong với bên ngoài, tập trung tiến công trực diện vào những quan điểm cơ bản, nguyên tắc Đảng lãnh đạo của Đảng; phủ nhận và “kiến nghị” thay đổi Khoản 1, Điều 4 và Điều 65 của Hiến pháp 2013, phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với LLVT. Âm mưu, và những thủ đoạn nhằm “Phi chính trị hóa LLVT” là một trong những đòn tấn công mũi nhọn của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Sự thâm hiểm của chúng là tác động một cách âm thầm, thường xuyên, vừa gián tiếp vừa trực tiếp đến tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hàng ngũ LLVT; thẩm thấu từng bước dẫn đến quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật của Đảng. Mục tiêu của chúng là từng bước làm cho LLVT xa rời bản chất giai cấp công nhân; phai nhạt, xói mòn tính Đảng trong LLVT để từng bước xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối LLVT, tiến tới xóa bỏ chế độ Xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng mà Nhân dân ta đã giành được. Việc khẳng định “sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với LLVT” mang hàm ý LLVT là của Đảng, mang bản chất của Đảng, không thể phân chia, không thể tách rời Đảng; quyền lãnh đạo của Đảng đối với LLVT là tuyệt đối, trực tiếp, duy nhất, vô điều kiện trên mọi phương diện, mọi thời khắc, mọi tình huống. Hiện thực lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, nhờ có sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng mà LLVT nhân dân Việt Nam luôn khẳng định và thể hiện vị trí, vai trò, bản chất khoa học và cách mạng như chính danh xưng của mình; trở thành lực lượng nòng cốt, thường trực, đi đầu cùng cả dân tộc vượt qua mọi bước đường khó khăn, thách thức ngặt nghèo của lịch sử, đánh bại mọi kẻ thù, đảm bảo giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững vị thế, vai trò cầm quyền của Đảng, giữ vững chế độ, giữ vững thành quả của cách mạng; góp phần cùng toàn thể dân tộc tạo lập cơ đồ vững chắc, khẳng định vị thế danh dự và hình ảnh đất nước Việt Nam hòa bình trên trường quốc tế. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với LLVT chính là một nguyên lý, là cơ sở đảm bảo vị trí, vai trò cầm quyền của Đảng, của chế độ, của Nhà nước, đồng thời cũng là cơ sở đảm bảo cho sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam. TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG Trong xu thế quốc tế hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường cùng sự bùng nổ của công nghệ thông tin…, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong đó có LLVT đã không giữ vững lập trường tư tưởng chính trị trước những cám dỗ vật chất dân đến sự tha hóa tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chạy theo lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, hách dịch, cửa quyền, quan liêu, vi phạm pháp luật,... tạo môi trường, thời cơ để các thế lực thù địch lợi dụng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, từng bước xa rời bản chất cách mạng, phai nhạt lý tưởng của Đảng, phủ nhận lý tưởng cao cả của chính mình, thậm chí phụ họa theo những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, quay lưng chống Đảng. Vì thế, đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” LLVT trở thành tất yếu khách quan, một nội dung đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng Quân đội về chính trị trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ rõ một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ LLVT là: “Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với LLVT; đòi “phi chính trị hoá” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an”. Những luận điệu cổ súy cho quan điểm LLVT phải trung lập về chính trị, loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với LLVT chính là những cái bẫy “phi chính trị hóa” hết sức tinh vi và thâm hiểm của các thế lực thù địch, chúng ta phải hết sức cảnh giác, không mắc mưu trước những chiêu trò “phi chính trị hóa” LLVT của các thế lực thù địch. Để vô hiệu hóa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, thù địch nhằm “phi chính trị hóa LLVT”, chia rẽ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với LLVT, trong thời gian tới cần tiếp tục thực hiện tốt một số giải pháp sau: Một là, giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với LLVT. Đảng phải luôn nắm quyền lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với LLVT trong mọi hoàn cảnh, mọi thời khắc, mọi tình huống. Quyền lãnh đạo của Đảng đối với LLVT là không đổi, không phân chia, không tranh cãi; là điều kiện, là yêu cầu tiên quyết, ắt có, là một nguyên lý cầm quyền của Đảng. Sự mặc nhiên, minh định nguyên tắc này này phải được thể hiện trong mọi quy định về tổ chức và hoạt động của LLVT; biểu hiện cụ thể, tuyệt đối, trực tiếp, xuyên suốt và hiệu quả trên tất cả các mặt, các lĩnh vực hoạt động của LLVT, đặc biệt là về chính trị, tư tưởng, tổ chức, giáo dục đạo đức cách mạng và công tác cán bộ của Đảng đối với LLVT. Hai là, LLVT phải luôn giữ vững, phát huy bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nắm vững bài học nằm lòng của mình là trung với Đảng, hiếu với dân, vì nước quên thân, vì dân phục vụ. Để LLVT luôn giữ vững và phát huy bản chất cách mạng của giai cấp công nhân thì trên hết và trước hết LLVT phải luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, nghĩa vụ thiêng liêng, cao quý nhưng hết sức nặng nề của mình. Điều đó phụ thuộc vào tính “tự thân” của LLVT, trong đó vấn đề tiên quyết và thường trực là phải nắm vững, quán triệt sâu sắc quan điểm, cương lĩnh, đường lối, Nghị quyết và các quy định của Đảng; thường xuyên tự răn mình, trau dồi đạo đức cách mạng; không ngừng nỗ lực nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị đáp ứng mọi yêu cầu nhiệm vụ, sẵn sàng xung kích và đánh thắng mọi kẻ thù trên mọi mặt trận, trong mọi tình huống. Theo đó, cán bộ, chiến sĩ, cấp ủy các cấp trong LLVT phải quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi, ngăn ngừa những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc đánh giá hiệu quả thực hiện chức trách nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” trong nội bộ LLVT. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị, tăng cường bản chất giai cấp công nhân trong LLVT nhằm tăng “sức đề kháng” của LLVT trước các âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát gắn liền với nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác “Tự phê bình” và “Phê bình” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên LLVT nhằm kịp thời phát hiện, ngăn ngừa những những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Ba là, không ngừng nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ, đảng viên trong LLVT các cấp ngang tầm nhiệm vụ, khẳng định vị trí đi đầu trên mọi mặt trận, đấu tranh và làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch dưới chiêu bài phi chính trị hóa LLVT. Xây dựng LLVT trở thành đội quân tinh nhuệ, thường trực nơi tuyến đầu của mặt trận tư tưởng; LLVT phải là mũi nhọn hữu hiệu trong đấu tranh vạch trần mọi âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; phản bác mọi luận điệu “phi chính trị hóa” LLVT bằng các luận cứ, luận chứng, luận điểm khoa học trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường đoàn kết nội bộ, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa lực lượng quân đội với lực lượng công an; giữa mặt trận quốc phòng với mặt trận an ninh. Đồng thời, không ngừng củng cố mối quan hệ máu thịt giữa LLVT với Nhân dân, củng cố vững chắc thế trận lòng dân, tuyên truyền vận động Nhân dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn đòi “Phi chính trị hóa LLVT” của các thế lực thù địch. LLVT nhân dân Việt Nam như chính tên gọi của nó: từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, luôn gắn bó máu thịt với Nhân dân, được Nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc, che chở. Mặt khác, nhờ được sự dìu dắt, lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng mà LLVT trở thành “thanh bảo kiếm” sắc bén, là “tấm khiên” vững chắc để bảo vệ bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện sứ mệnh, lợi ích tối cao của Đảng là phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Đây vừa là sự phản ánh bản chất giai cấp, vừa mang bản chất dân tộc; vừa là quy luật hình thành, phát triển; vừa là sứ mệnh và cũng là cơ sở tồn tại của LLVT. Nói cách khác, LLVT là của Đảng, của nhân dân và của dân tộc, sinh ra là để phục vụ Đảng, để phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân, cho nên, yêu cầu về sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với LLVT là tất yếu.

Việt - Trung ra tuyên bố chung, nhất trí tăng cường hợp tác

 

Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc cho rằng cần tăng cường hợp tác thực chất, hiệu quả trên các lĩnh vực, đáp ứng tốt hơn lợi ích của nhân dân hai nước.

Trong Tuyên bố chung được công bố ngày 1/11 nhân chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai bên nhất trí Việt Nam và Trung Quốc vừa là láng giềng tốt, bạn bè tốt, vừa là đồng chí tốt, đối tác tốt, chia sẻ vận mệnh chung, dốc sức vì nhân dân hạnh phúc, đất nước giàu mạnh và sự nghiệp hòa bình và phát triển của nhân loại.

Hai bên đề ra các biện pháp nhằm tăng cường hợp tác thực chất, hiệu quả hơn nữa trên các lĩnh vực, đáp ứng tốt hơn lợi ích của nhân dân hai nước.

Việt Nam và Trung Quốc sẽ tích cực thúc đẩy kết nối chiến lược phát triển hai nước, đẩy nhanh trao đổi, ký kết kế hoạch hợp tác về kết nối giữa Khuôn khổ "Hai hành lang, một vành đai" với Sáng kiến Vành đai và Con đường, sớm hoàn thiện đánh giá quy hoạch tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.

Hai bên đề cao vai trò của thương mại điện tử trong hợp tác kinh tế - thương mại song phương, tăng cường trao đổi chính sách và chia sẻ kinh nghiệm về phát triển thương mại điện tử qua biên giới, thúc đẩy hợp tác giữa các doanh nghiệp về logistic. Trung Quốc sẽ tiếp tục mở rộng tiêu thụ các sản phẩm đặc sắc, chất lượng cao của Việt Nam thông qua các hoạt động xúc tiến tiêu dùng bằng thương mại điện tử.Hai nước đồng ý xử lý ổn thỏa vấn đề trên biển, đóng góp tích cực cho an ninh lâu dài khu vực.

Việt Nam tái khẳng định kiên trì chính sách "Một Trung Quốc", ủng hộ hòa bình ở eo biển Đài Loan, cũng như không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Trung Quốc đánh giá cao lập trường này.

Giữa bối cảnh tình hình thế giới nhiều biến động, Việt Nam và Trung Quốc cho rằng hai nước cần kiên trì đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, phát triển quan hệ song phương trên tầm cao chiến lược và tầm nhìn dài hạn, cũng như kiên trì với phương châm "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai".

Trong khuôn khổ chuyến thăm, hai bên đã ký kết nhiều thỏa thuận và bản ghi nhớ. Việt Nam và Trung Quốc khẳng định chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thành công tốt đẹp, góp phần tích cực vào quan hệ hai nước.Nhằm giảm bớt mất cân bằng thương mại, hai nước sẽ xuất nhập khẩu nhiều hơn nữa các sản phẩm nông sản, thực phẩm chất lượng cao của nhau. Phía Trung Quốc sẽ tích cực thúc đẩy tiến trình mở cửa thị trường cho khoai lang, các loại hoa quả có múi, tổ yến và một số nông thủy sản của Việt Nam. 

Phía Việt Nam sẽ thúc đẩy tiến trình mở cửa thị trường cho sữa của Trung Quốc.Hai nước cũng tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác trong vận tải hàng không, đường bộ và đường sắt, nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa, nâng cao kim ngạch thương mại.

Việt Nam - Trung Quốc sẽ thúc đẩy sớm đàm phán ký kết hiệp định mới về hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ, sớm ký kết các thỏa thuận về tìm kiếm cứu nạn, hoạt động nghề cá trên biển.

Tăng cường hợp tác chia sẻ số liệu khí tượng, thủy văn trên các sông lớn để nâng cao năng lực phòng ngừa hạn hán, lũ lụt. Đẩy mạnh hợp tác sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước cân bằng, hợp lý trong cơ chế hợp tác Mekong - Lan Thương.

Trong hợp tác y tế, hai nước sẽ tiếp tục đàm phán ký kết Hiệp định hợp tác y tế Việt - Trung.

Việt Nam và Trung Quốc cũng tiếp tục phát huy vai trò của cơ chế hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới, tăng cường an ninh trật tự và bảo đảm phòng chống dịch bệnh.

Ngoài các lĩnh vực trên, lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc nhất trí tăng cường hợp tác quốc phòng, làm sâu sắc thêm hợp tác về an ninh chính trị, cũng như tăng cường tiếp xúc cấp cao và giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Về vấn đề Biển Đông, hai bên nhất trí trao đổi ý kiến chân thành và thẳng thắn, đánh giá cao tầm quan trọng của kiểm soát bất đồng và duy trì hòa bình, ổn định. 

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng rời Bắc Kinh hôm nay, kết thúc chuyến thăm Trung Quốc. Tổng bí thư sau đó gửi điện cảm ơn Tổng bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đón tiếp nồng hậu, chu đáo đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và nhà nước Việt Nam.Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hài lòng về kết quả chuyến thăm, tin rằng chuyến thăm góp phần định hướng cho quan hệ song phương phát triển ổn định, bền vững, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc vì sự phát triển của hai nước, lợi ích của nhân dân, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và thế giới.

vn



BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Bảo đảm quyền con người tại Việt Nam: Thắng lợi của sự thật và chân lý Ngày 11/10, Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025. Đây là một tin vui đối với nhân dân Việt Nam, và một lần nữa khẳng định sự đúng đắn trong chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước lấy con người làm trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển, bảo đảm tất cả người dân được hưởng các quyền con người, trong khuôn khổ luật pháp. Cán bộ, chiến sĩ quân y thăm, khám bệnh cho đồng bào Tây Nguyên. Quan điểm nhất quán về bảo đảm quyền con người tại Việt Nam đã được cụ thể hóa trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật, theo đó các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Trước đó, năm 2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2014-2016. Để đạt được kết quả này, phía Việt Nam đã cam kết và nhấn mạnh các ưu tiên cũng như những nỗ lực đóng góp của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế và thúc đẩy quyền con người trên thế giới, thúc đẩy đối thoại, hợp tác quốc tế bằng tinh thần khách quan, phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ và thúc đẩy quyền của các nhóm dễ bị tổn thương, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ. Dư luận quốc tế và trong nước rất ủng hộ khi đón nhận tin vui Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Ngày 14/10, Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội lên tiếng chúc mừng trên Facebook: "Chúng tôi (Phái bộ ngoại giao Mỹ) gửi lời chúc mừng Việt Nam trúng cử Thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và hy vọng cùng làm việc để thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trên toàn cầu và tại Việt Nam". Trước đó, trên tờ Washington Times - một tờ báo uy tín của Mỹ ngày 21/9/2022 đăng tải bài viết trong đó đánh giá cao việc Việt Nam cử cán bộ tham gia Phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan và cộng hòa Trung Phi. Mặt khác, qua cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, Việt Nam được ghi nhận là hiệu quả chống dịch tốt, đồng thời tích cực hỗ trợ cho một số quốc gia về trang thiết bị y tế. Bài viết khẳng định từ khi tham gia chính thức là thành viên Liên hợp quốc từ tháng 9/1977, Việt Nam đã đóng góp hiệu quả vào hoạt động trong xây dựng hòa bình, phát triển và bảo đảm quyền con người. Bên cạnh việc trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, và nhiệm kỳ 2023-2025 sắp tới, Việt Nam còn làm tốt các vai trò khác trên trường quốc tế như: hai lần trúng cử Ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiệm kỳ 2020-2021); hiện là điều phối viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tại Hội đồng nhân quyền. Từ 10 năm qua, khi quyết định từ Mỹ về Việt Nam sống và làm việc, tôi đã có nhiều cơ hội đi khắp các vùng miền, từ miền xuôi tới mạn ngược, từ vùng núi tới hải đảo, tôi nhận thấy, một trong những thành tựu lớn nhất, rõ ràng nhất trong việc bảo đảm quyền con người là công cuộc xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Mỗi nơi tôi đi đến để khảo sát, chứng kiến cuộc sống của người dân, sự lãnh đạo của các cấp chính quyền, qua thực tế đều thể hiện, khẳng định ý chí, coi trọng và phát huy hiệu quả nhân tố con người trong phát triển đất nước, cho thấy đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Các chính sách hỗ trợ người nghèo, cận nghèo; người dân tộc thiểu số; người tàn tật, người có công với cách mạng, hay các chính sách quốc gia nâng cao đời sống như chương trình nông thôn mới, chương trình xóa mù chữ vùng cao, vùng sâu, vùng xa, nhằm thúc đẩy và nâng cao đời sống, bảo đảm quyền sống của người dân. Trong khi cộng đồng quốc tế và người dân trong và ngoài nước vui mừng, ủng hộ việc Việt Nam được Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu vào Hội đồng Nhân quyền, khẳng định sự công nhận vị thế của Việt Nam, đồng thời khẳng định và ghi nhận nỗ lực của Việt Nam trong thúc đẩy bảo vệ quyền con người suốt thời gian qua, thì một số đối tượng phản động, thù địch, thiếu thiện chí trong và ngoài nước đã tỏ ra cay cú, lợi dụng sự kiện này để ra sức xuyên tạc, phản đối, bằng mọi cách hạ uy tín Việt Nam cả trước, trong và sau khi sự kiện diễn ra. Bất chấp những nỗ lực và thành tựu mà Việt Nam đã đạt được, các đảng phái chống cộng cực đoan ở hải ngoại đã liên tục lên tiếng bôi nhọ vị thế của Việt Nam, họ bịa đặt hoặc dựa vào những thứ gọi là "báo cáo nhân quyền" để tham gia các diễn đàn dân chủ quốc tế, liên minh các nhóm nhân quyền phi chính phủ thuộc châu Âu, Canada, Mỹ hòng gây sức ép đối với Việt Nam. Tổ chức khủng bố "Việt tân" đã vận động được 8 tổ chức nhân quyền đề nghị Liên hợp quốc không cho Việt Nam vào Hội đồng nhân quyền vì "không xứng đáng", vì "Việt Nam đang vi phạm nhân quyền"... Tuy nhiên việc Việt Nam thuộc nhóm được sự ủng hộ cao nhất tại phiên bỏ phiếu ngày 11/10 vừa qua là kết quả khách quan, phản bác mạnh nhất, đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch đang cố tình phủ nhận thành tựu nhân quyền của Việt Nam. Nhiều ý kiến thẳng thắn chỉ ra rằng mục đích đánh phá uy tín Việt Nam phía sau đó còn có yếu tố vụ lợi về mặt chính trị và kinh tế. Bởi lẽ các hội nhóm phản động sẽ núp dưới danh nghĩa "đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam" để gây quỹ, bòn rút, thu tiền người dân ở hải ngoại qua nhiều hình thức như biểu tình, ký thỉnh nguyện thư, nhận tiền từ các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử chính quyền các cấp từ tiểu bang đến liên bang... Ngoài ra, các kênh Youtube cá nhân của các đối tượng chống đối bên ngoài nước cố tình xuyên tạc, chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam nhằm khích động, với mục đích câu view, câu like, tạo dư luận trái chiều. Nhóm "truyền thông đen" này tìm mọi cách để tạo dư luận kể cả bằng những thủ đoạn bẩn thỉu, hèn hạ nhất nhằm thu hút sự chú ý của người sử dụng mạng xã hội, vì với lượng truy cập đông đảo thì đó là cách kiếm view tốt nhất, dễ nhất để phục vụ cho mục tiêu kiếm lợi của họ qua không gian mạng. Hiện nay nhiều Youtuber đã lạm dụng quyền tự do sử dụng các nền tảng mạng xã hội để công kích, mạt sát cá nhân, tổ chức, tung tin sai, giả, bôi nhọ cá nhân, tổ chức và thậm chí cả lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Để kịp thời chấn chỉnh, ngày 15/8/2022 Chính phủ đã ban hành Nghị định 53/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng, có hiệu lực ngày 1/10/2022 nhằm kiểm soát, xóa bỏ những thông tin trái pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng. Ngay sau đó, ngày 14/9/2022, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh đã ký Quyết định số 1079/QĐ-TTg phê duyệt Đề án truyền thông về quyền con người ở Việt Nam giai đoạn 2023-2028. Đây là những căn cứ quan trọng cho thấy quyết tâm bảo đảm quyền con người ở Việt Nam trong giai đoạn tới. Theo ý kiến luật sư Hoàng Duy Hùng (Houston, Mỹ), từng là người chống cộng cực đoan đã thừa nhận rằng một thời gian dài do không đủ thông tin về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, lại mang thêm định kiến sẵn có cùng những luận điệu sáo mòn về chống cộng từ những kẻ cực đoan nên đã có những đánh giá sai, không chính xác về Đảng, Nhà nước Việt Nam. Cho đến khi trực tiếp về Việt Nam tìm hiểu thực tế, ông mới thấy những gì mình biết trước đây là phiến diện, sai lầm. Nhà báo Minh Giang (kênh Trực Diện TV, Mỹ) phân tích: nếu cho rằng Việt Nam cần phải cải thiện về nhân quyền, thì các nhóm chống đối trong và ngoài nước thay vì chống đối họ phải ủng hộ, phải chúc mừng Việt Nam vì trong vai trò thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam sẽ có trách nhiệm và nỗ lực để tiến bộ hơn trong vấn đề quyền con người. Nhưng thực tế họ không muốn Việt Nam tiến bộ, không muốn Việt Nam có vị thế tốt trên trường quốc tế. Họ kích động những đối tượng phản động, cực đoan gây rối trật tự, vi phạm luật pháp ở Việt Nam. Đã có nhiều bằng chứng cho thấy họ hứa hẹn, tác động, nuôi dưỡng các phần tử bất mãn chế độ, biến những đối tượng này thành "những nhà đối lập" với mục tiêu gây bất ổn chính trị, làm ảnh hưởng đến an ninh xã hội, sự bình yên của đất nước. Tất cả các động thái trên được che đậy dưới chiêu bài kêu gọi dân chủ, nhân quyền, để thực hiện âm mưu thay thế, lật đổ chính quyền Việt Nam. Tuy nhiên, sự chống phá, cay cú từ những hội nhóm, thế lực thù địch trong nước và ngoài nước nói trên chỉ là những cản trở cục bộ, không thể xuyên tạc được sự thật, ngăn cản được sự phát triển của Việt Nam. Những thành tựu của Việt Nam đã được thế giới và bạn bè quốc tế ghi nhận. Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ là thắng lợi của sự thật và chân lý. Trả lời phỏng vấn nhân dịp Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn khẳng định: "Là đối tác tin cậy, thành viên tích cực và có trách nhiệm, Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các nước thành viên, đóng góp thực chất vào công việc chung của Hội đồng Nhân quyền, thúc đẩy đối thoại và hợp tác quốc tế trên tinh thần tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy quyền con người, đáp ứng điều kiện, nhu cầu và lợi ích chính đáng của các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển". Việc Việt Nam là một trong 14 quốc gia trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao, và được các thành viên ASEAN nhất trí ủng hộ là ứng viên duy nhất của ASEAN vào vị trí này là "minh chứng cho nỗ lực bền bỉ của Việt Nam trong việc thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế về quyền con người, mà còn khẳng định sự ủng hộ, tín nhiệm cũng như kỳ vọng của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp quan trọng và có trách nhiệm của Việt Nam vào thúc đẩy quyền con người trên thế giới". Với vai trò này, Việt Nam sẽ có thêm cơ hội đóng góp, tham gia tích cực trong các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc./.

PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

Phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về công tác tuyên truyền của Việt Nam hiện nay Công tác tuyên giáo nói chung, công tác tuyên truyền nói riêng là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng nhằm xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhận diện để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận công tác tuyên truyền của của Đảng, Nhà nước ta trong tình hình hiện nay là một nhiệm vụ quan trọng. Cán bộ Trạm Kiểm soát Biên phòng Cửa Lân, Bộ đội Biên phòng tỉnh Thái Bình tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân xã Nam Thịnh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. (Ảnh: thaibinh.gov.vn) NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH Trong những năm gần đây, các tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài; các lực lượng cạnh tranh về tư tưởng, chính trị (những người nghiên cứu lý luận, hoạt động chính trị đảng phái tại một số nước phương Tây và cả những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam…); các cá nhân người Việt ở trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, lợi dụng, núp bóng dưới ngọn cờ “dân chủ, nhân quyền”… ngày càng tăng cường xuyên tạc, phủ nhận và tiến hành chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt, khi công tác tuyên truyền của chúng ta ngày càng khẳng định được vai trò nòng cốt trong quá trình bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì các thế lực này lại càng ráo riết chống phá bằng nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, trong đó việc sử dụng triệt để tiện ích của Internet qua các website, mạng xã hội, các kênh thông tin truyền thông… là hình thức phổ biến nhất. Có thể nhận diện điều này qua các nhóm vấn đề sau: Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng, hoạt động tuyên giáo - tuyên truyền của Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ là “kỹ năng lừa gạt”, “ru ngủ nhân dân”(!?) Để “minh họa” cho luận điệu này, họ đã tạo dựng lên cái gọi là ý kiến của “một số nhà quan sát và phân tích thời sự, chính trị Việt Nam” để chia sẻ với báo chí chống cộng ở hải ngoại những “quan điểm” về công tác tuyên giáo - tuyên truyền của Đảng ta. Qua đó bóp méo, xuyên tạc về thành tựu sau hơn 35 năm đổi mới của ngành Tuyên giáo. Từ những nhận định hết sức hồ đồ của một số người bất đồng chính kiến như Nguyễn Quang A, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Nguyên Bình… rồi cho rằng, Tuyên giáo “đã thành công trong việc định khung (framing) tư duy cho nhiều người Việt Nam để tin vào đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng đó là nghệ thuật tuyên truyền chứ không hề khoa học gì cả”; “Vai trò của tuyên giáo... chỉ là “trò tuyên truyền” chứ không phải lý luận khoa học gì cả, càng không “đi trước-mở đường””…(!). Nhân sự kiện ngày 1/8/2020, khi Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo, các thế lực chống đối, thù địch đã tìm mọi cách xuyên tạc. Điển hình như, trước ý kiến của TS. Vũ Ngọc Hoàng (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng khóa X, XI, nguyên Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương) khẳng định rằng: “mục đích đầu tiên và quan trọng nhất của công tác tuyên giáo là nhằm tham gia khai hóa văn minh cho cộng đồng dân tộc và thực hiện nhiệm vụ chính trị”, thì trên một số trang mạng và báo điện tử ở hải ngoại đã dùng chiêu trò giật tite câu view bằng một số bài viết kiểu như “Lời lừa dối hoành tráng” rồi lu loa rằng “tuyên truyền của tuyên giáo lừa dối dân”, rằng “từ trước đến giờ cộng sản luôn có một lối ru ngủ nhân dân duy nhất, làm cho người dân dù bất mãn cỡ nào cũng không phản kháng hoặc phản kháng yếu ớt…” (!?). Thứ hai, các thế lực thù địch cho rằng công tác tuyên truyền của Việt Nam hiện nay chỉ là một sự “tụt hậu” và bản chất là “làm người dân mụ mẫm”(!?) Đài BBC News Tiếng Việt, Đài Châu Á Tự do thường xuyên đăng phát những nội dung xuyên tạc, phủ nhận vai trò của ngành Tuyên giáo đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta. Họ tập hợp "những ý kiến độc lập” để đưa tin sai lệch, bôi xấu về tình hình trong nước nhằm tung hê cho luận điệu: Tuyên giáo “làm người dân mụ mẫm(!?). "tẩy não người dân, thuyết phục người dân, lừa bịp để làm người dân mụ mẫm”. Gần đây nhất, liên quan đến việc chúng ta đặt tên đường phố, công trình công cộng, trong đó có sự cân nhắc về một số nhân vật lịch sử còn có những ý kiến trái chiều, thì ngay lập tức, thế lực thù địch đã lấy đó làm cơ hội để thực hiện ý đồ xuyên tạc, chống phá. Một mặt, họ cố tình lờ đi nội dung quan trọng là “một số nhân vật lịch sử còn có những ý kiến trái chiều”, mặt khác, nhân danh “giới nghiên cứu” rồi ấu trĩ viện dẫn lịch sử “thời pháp thuộc” thời “Việt Nam Cộng hòa”… và tiến hành trích dẫn ý kiến của những kẻ hời hợt, bảo thủ, kém hiểu biết để rêu rao rằng: “văn bản này của Ban Tuyên giáo Trung ương đi ngược lại sự thật của lịch sử và gây hoang mang trong nhân dân”(!?). Thứ ba, xuyên tạc về công tác nhân sự của ngành tuyên giáo. Đây là một trong những chiêu bài mà các thế lực chống đối, thù địch thường xuyên sử dụng, nhất là đối với những nhân sự chủ chốt của ngành tuyên giáo. Chúng bôi nhọ thông tin, dẫn dắt sai lệch bản chất để đưa ra những nhận định xuyên tạc về việc sắp xếp cán bộ lãnh đạo của ngành. Tất cả những luận điệu mà các thế lực phản động, thù địch đưa ra đều thể hiện cái nhìn định kiến, hằn học với mục đích sâu xa là xuyên tạc, phủ nhận, chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước ta, từ đó hòng thực hiện âm mưu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, tiến tới phá hoại, lật đổ chính quyền, lật đổ chế độ XHCN, xóa bỏ những thành quả cách mạng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã dày công xây dựng. BẢN CHẤT CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Trước những luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch đã và đang hiện hữu, rất nhiều câu hỏi đặt ra cho chúng ta và cho cả bạn bè quốc tế là: Bản chất, vai trò của hoạt động tuyên giáo - tuyên truyền là gì? Phải chăng chỉ có Cộng sản, chỉ có Việt Nam mới có công tác tuyên truyền? Công tác tuyên truyền của Đảng và Nhà nước ta, liệu có giống như lời rêu rao của các thế lực thù địch...? Thứ nhất, về bản chất của hoạt động tuyên truyền. Theo Từ điển Tiếng Việt thì tuyên truyền là “Giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo”. Như vậy, tuyên truyền (propagate) là hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những kiến thức, giá trị tinh thần đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng; thôi thúc đối tượng hành động theo những định hướng, những mục tiêu do chủ thể tuyên truyền đặt ra. Mục tiêu quan trọng nhất của hoạt động tuyên truyền không dừng lại ở thay đổi suy nghĩ hay thái độ của quần chúng, mà cần phải tạo hành động trong quần chúng. Rõ ràng, bản chất, vai trò của công tác tuyên truyền là một hoạt động thiết yếu của bất cứ tổ chức, quốc gia nào. Nếu không có hoạt động này thì tất yếu tổ chức, chính quyền, quốc gia đó sẽ tự cô lập chính mình với nhân dân trong nước, cô lập mình với các tổ chức, chính quyền, quốc gia khác. Và khi đã không có sự kết nối, nguy cơ đe dọa về tính chính danh, về sự an toàn… sớm muộn cũng sẽ hiện hữu. Thứ hai, phải chăng chỉ có Việt Nam mới có công tác tuyên giáo, tuyên truyền? Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, với tư cách là chủ thể về lãnh thổ, chính quyền, dân cư, về khả năng tham gia vào quan hệ với các quốc gia khác, về quyền dân tộc tự quyết… đương nhiên trong hoạt động đối nội và đối ngoại, phải tiến hành các hoạt động tuyên truyền để đảm bảo về quyền và lợi ích của mình. Ví dụ như, ở Trung Quốc, công tác tuyên truyền luôn được nước này xem là một bộ phận quan trọng trong công tác Đảng; luôn coi tuyên truyền và quản lý thông tin là ưu tiên hàng đầu, dành nguồn lực vật chất và bộ máy nhân lực đáng kể cho công tác tuyên truyền; chú trọng việc kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao văn hóa để định hướng và quản lý dư luận. Tại Nga, hoạt động tuyên truyền được hiểu là sự lan truyền thông tin đại chúng nhằm thúc đẩy quan điểm, nhận thức hoặc chương trình nghị sự của chính phủ. Theo đó, Chính phủ nước này tăng cường đầu tư cho các kênh tuyên truyền như Rossiya Segodnya (tổ hợp truyền thông chính thống của Nga, trong đó có đài Sputnik và hãng thông tấn RIA), mạng lưới truyền hình RT (Russia Today) và nhiều các kênh báo chí, truyền hình khác. Ở Anh, hoạt động truyền bá hình ảnh của vương quốc được tiến hành ở hầu hết các lĩnh vực. Riêng lĩnh vực truyền thông thì hãng BBC (thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland) đóng vai trò chủ đạo. Cùng với ngôn ngữ tiếng Anh, tất cả các hoạt động tuyên truyền của vương quốc này đã mang đến cho họ một hình ảnh “siêu cường văn hóa, và London được mô tả như một thủ đô văn hóa thế giới”. Tại Áo, nhắc đến đất nước này, hầu như cả thế giới đều cho rằng đây chính là kinh đô thế giới về âm nhạc cổ điển. Sở dĩ như vậy là vì quốc gia này cũng đã sử dụng các cơ quan, tập đoàn báo chí - truyền thông (đặc biệt là 3 tập đoàn: Đài Truyền hình quốc gia Áo - ORF, Báo Wiener Zeitung, Hãng thông tấn xã Áo - APA) thường xuyên tiến hành tổ chức các chương trình văn hoá, nghệ thuật nhằm tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, đất nước con người và âm nhạc cổ điển Áo ra thế giới… Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công tác tuyên truyền còn diễn ra rất mạnh mẽ và sôi động trên không gian mạng Internet. Hầu hết các quốc gia, tôn giáo, tổ chức xã hội… đã khai thác triệt để ưu thế của công nghệ số để xây dựng các website, cổng thông tin điện tử, các trang mạng xã hội… để tuyên truyền, hướng người dân và công chúng theo mục đích, con đường phát triển của mình. Dù khác nhau về hình thức, cách thức tương tác (thực, ảo)... nhưng bản chất vẫn là hoạt động tuyên truyền, quảng bá. Như vậy, với bất cứ quốc gia nào, để người dân tin tưởng và làm theo chính quyền, để khẳng định được vị thế quốc gia trên trường quốc tế thì tất yếu phải có công tác tuyên truyền. Thứ ba, công tác tuyên truyền của Đảng và Nhà nước ta liệu có như những lời rêu rao của các thế lực chống đối, thù địch? Có thể thấy rằng, đối với công tác tư tưởng của Đảng ta, tuyên truyền là một trong ba bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng (lý luận, tuyên truyền, cổ động), có nhiệm vụ phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân. Công tác tuyên truyền góp phần nâng cao nhận thức, hình thành và củng cố niềm tin cho mọi tầng lớp nhân dân; cổ vũ, động viên, thúc đẩy và biến nhận thức, niềm tin, nhiệt huyết của quảng đại quần chúng thành hành động cách mạng, góp phần xây dựng con người mới, cuộc sống mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác tuyên truyền đã cổ vũ, động viên phong trào thi đua yêu nước giúp bảo vệ an ninh chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại; giúp uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm, hành động sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Kể từ khi ngành tuyên giáo ra đời (1/8/1930) đến nay, công tác tuyên truyền đã khẳng định vai trò và sức mạnh của mình trên mặt trận tư tưởng - văn hóa của Đảng. Thực tiễn đã chứng minh, công tác tuyên truyền của chúng ta không phải tự nhiên sinh ra, mà trải qua một chặng đường lịch sử, trong đó “có sự cống hiến, đóng góp công sức của các thế hệ cán bộ tuyên huấn, nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nghệ sĩ, nhà khoa học... đã vượt qua biết bao gian khổ, hy sinh, làm nên những thành tích vẻ vang, đóng góp vào công cuộc bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới, phát triển đất nước”(1). Đặc biệt, trong đối nội và đối ngoại, công tác tuyên truyền của Đảng ta được tiến hành bài bản, khoa học, đem lại những hiệu quả, lợi ích to lớn, quan trọng cho quốc gia - dân tộc. Công tác tuyên truyền - thông tin đối ngoại đã góp phần tạo sự lan tỏa hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế, giúp bạn bè quốc tế biết đến một Việt Nam Khát vọng hòa bình và Phát triển bền vững; biết đến một Việt Nam có hàng nghìn năm lịch sử, có nền văn hóa mang bản sắc riêng và độc đáo, có truyền thống tốt đẹp; là quốc gia có đóng góp tích cực góp phần nâng cao vai trò của Liên hợp quốc trong thời kỳ mới; là nơi an toàn lý tưởng để các nhà đầu tư quốc tế lựa chọn, là nơi mà du khách có thể cảm thấy an toàn, thân thiện và hạnh phúc khi đặt chân đến… và là “Điểm đến của thiên niên kỷ mới”! Cũng từ các hoạt động định hướng, tuyên truyền thiết thực, khoa học mà chất lượng tuyên truyền biển, đảo và biên giới trên đất liền ở nước ta được nâng cao, nhận được sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Nội dung công tác tuyên truyền biển, đảo và biên giới trên đất liền luôn được thực hiện đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn; được bạn bè, cộng đồng quốc tế ủng hộ, thừa nhận tính chính danh và chính nghĩa của Việt Nam. Công tác tuyên truyền - thông tin đối nội cũng đã đạt được nhiều thành tựu vẻ vang đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, “góp phần giáo dục, tuyên truyền và bảo vệ đường lối Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội của cách mạng nước ta”(2) đồng thời bảo vệ, gìn giữ sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực tư tưởng - lý luận, tuyên truyền, khoa giáo, văn hóa - văn nghệ; là vũ khí đấu tranh, phản bác có hiệu quả trước các quan điểm sai trái, thù địch. Có thể thấy, nhờ có hoạt động tuyên truyền mà chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã đến với nhân dân một cách kịp thời, hiệu quả và thiết thực. Các vấn đề quan trọng của đất nước, từ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, văn hóa… cho đến đời sống tư tưởng tình cảm, thực hành tôn giáo tín ngưỡng… của nhân dân được phản ánh kịp thời, sinh động. Đây chính là vai trò “cầu nối” giữa “Ý Đảng” với “Lòng Dân” của ngành tuyên giáo; góp phần tăng cường bồi đắp, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước; góp phần nâng cao vị thế quốc gia, lòng tự hào dân tộc, khát vọng Việt Nam. Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ không ngừng xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội của chúng ta. Trong bối cảnh đó, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng được xác định là nhiệm vụ và nội dung tất yếu, cơ bản, hệ trọng, quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân ta. Trong đó công tác tuyên truyền phải luôn được xác định là nòng cốt, tự giác, thường xuyên và thiết thực như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tuyên truyền là đem một phần việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm, nếu không đạt được mục tiêu đó thì tuyên truyền thất bại”(3)./.

BÀI HỌC VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Kế thừa những giá trị quý báu của Cách mạng Tháng Mười Nga về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng, từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ xây dựng Đảng. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng chủ trương lấy phát triển kinh tế làm nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng làm nhiệm vụ then chốt. Ngoài ra, Đảng luôn quán triệt sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, đề ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Từ thực tiễn Cách mạng Tháng Mười chứng minh rằng, bất cứ một chế độ nào đi ngược lại lợi ích chân chính của dân tộc, của nhân dân, cản trở tiến bộ xã hội tất yếu bị đào thải, thay thế bởi một chế độ xã hội khác tốt đẹp hơn. Ngoài ra, để một tổ chức Đảng có thể tập hợp được sức mạnh của quần chúng nhân dân, tất yếu phải vì những mục tiêu cao đẹp, nhân văn. Nếu khi tiến hành Cách mạng Tháng Mười, Đảng Bôn-sê-vích Nga luôn nêu cao khẩu hiệu “Chính quyền về tay các Xô viết” thì ngay nay, Đảng Cộng sản Việt Nam khi lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới và phát triển đất nước luôn hướng đến mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Những mục tiêu cao đẹp đó chính là ngọn cờ tập hợp lực lượng để Đảng ta kế thừa những bài học quý giá của Đảng Bôn-sê-vích Nga trong việc phát huy sức mạnh của đông đảo quần chúng nhân dân tham gia cách mạng.

Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin đã soi đường cho cách mạng Nga thành công từ năm 1917 thì chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh đã dẫn đường cho cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi quan trọng và vĩ đại trong suốt hơn 90 năm qua. Đảng ta luôn tự hào mà khẳng định rằng: “Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác -  Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”(4).

Ngay sau Cách Mạng tháng Mười thành công, Đảng Bôn-sê-vích Nga đã đứng trước sự chống phá quyết liệt của các phe phái đối lập. Do đó, một vấn đề đặt ra liên quan đến sự tồn vong của Đảng là Đảng vừa phải bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa phải đấu tranh chống những phe phái phi mácxít như chủ nghĩa Ma-khơ, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa cơ hội… để bảo vệ nền tảng tư tưởng của mình. Tinh thần đó hiện đang được Đảng ta kế thừa một cách sâu sắc.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng luôn nhận thức rõ và xác định: một mặt cần phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; một mặt phải đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái của các thế lực phản động, cơ hội chính trị đang ra sức tấn công nhằm phủ nhận, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Không chỉ kế thừa bài học xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị; thành công của Cách mạng Tháng Mười còn để lại bài học quý giá cho Đảng ta trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tổ chức, đạo đức và cán bộ. Hơn một thế kỷ trước - ngay từ sau thành công của Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin đã nhận rõ một “căn bệnh tất yếu” của những người chiến thắng - đó là bệnh kiêu ngạo của người cộng sản. Trong bài viết “Chính sách kinh tế mới và những nhiệm vụ của các ban giáo dục chính trị” để báo cáo tại Đại hội II toàn Nga các ban giáo dục chính trị ngày 17/10/1921, V.I.Lênin đã vạch ra ba thứ kẻ thù chính - kẻ thù “nội xâm” mà những người cộng sản Nga phải kiên quyết đấu tranh tiêu diệt chúng. Một trong ba thứ kẻ thù ấy - kẻ thù mà V.I.Lênin nói đến đầu tiên - chính là “tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa” khi “tưởng rằng chỉ bằng những pháp lệnh cộng sản là có thể giải quyết được tất cả mọi nhiệm vụ của mình”. V.I.Lênin cảnh báo rằng “Không có gì nguy hại và tai hại đối với chủ nghĩa cộng sản bằng thói lên mặt ta đây là cộng sản”(5). Theo V.I.Lênin, bệnh này tất yếu dẫn đến sự chủ quan, buông lỏng tổ chức, suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên vì “nếu một người cộng sản cứ tưởng rằng ta biết tất cả rồi… thì chính cái tâm trạng ngự trị trong chúng ta đó làm cho chúng ta thất bại”(6).

Kế thừa bài học đó, trong thời gian qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng về tổ chức, đạo đức và cán bộ. Điều đó xuất phát từ “tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn; một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng và Nhà nước”(7); “Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên”(8). Đảng ta đã thừa nhận tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là một trong những hạn chế rất nghiêm trọng làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và là một nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và của chế độ: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc”(9). Thời gian qua, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, như: Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay (năm 2012), Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ (năm 2016); trước tình trạng suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, Đảng cũng đã ban hành một số Quy định về nêu gương nhưQuy định 101-QĐ/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” (năm 2012), Quy định số 55-QĐ/TW về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” (năm 2016), Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” (năm 2018)… Những nghị quyết, quy định đó là sự khẳng định, thể hiện ý chí quyết tâm, kiên trì của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn tổ chức, đội ngũ của Đảng. (tuyengiao.vn)

TẦM VÓC VĨ ĐẠI CỦA CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

 Ngày 7/11/1917, Cách mạng Tháng Mười Nga do V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích lãnh đạo đã giành thắng lợi, lập nên nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Từ chỗ chỉ là ước mơ cao đẹp của loài người, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội (CNXH) đã trở thành hiện thực và có sức mạnh vô cùng to lớn, mở đường cho các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do.

Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra đã đáp ứng đầy đủ nhất những yêu cầu cấp thiết của lịch sử là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa để xây dựng một chế độ xã hội mới - chế độ xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là CNXH. Để có được thắng lợi vang dội đó, những người Bôn-sê-vích Nga dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin đã chuẩn bị về mọi mặt như chính trị, tư tưởng, tổ chức, quân sự... Dưới ánh sáng của “Luận cương tháng Tư” và sự chỉ đạo của V.I.Lênin, những người Bôn-sê-vích xác định nhiệm vụ cấp bách và quan trọng nhất cho toàn Đảng là phải lôi cuốn đông đảo giai cấp công nhân và nhân dân lao động về phía cách mạng; thành lập đội quân chính trị đông đảo đủ sức mạnh đánh bại lực lượng phản cách mạng; thành lập lực lượng vũ trang cách mạng làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh chính trị và chủ động đối phó với sự thay đổi của tình hình.

Sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích Nga đã tập trung củng cố chính quyền Xô-viết, xây dựng chế độ xã hội mới, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho quần chúng nhân dân. “Sắc lệnh hòa bình” và “Sắc lệnh ruộng đất” được ban hành ngay sau khi cách mạng thành công đáp ứng được ý nguyện của quần chúng nhân dân lao động Nga về một cuộc sống hòa bình, tự do và hạnh phúc. Sự thống nhất về mặt lợi ích của giai cấp vô sản với nhân dân lao động đã hình thành và phát triển một nguyên tắc đạo đức mới, đó là chủ nghĩa tập thể.

Trong hơn 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã đạt được sự phát triển mạnh mẽ về tiềm lực kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất của CNXH trên quy mô lớn với trình độ hiện đại, bảo đảm ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Với sự lớn mạnh toàn diện, CNXH có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống chính trị thế giới, đóng vai trò quan trọng đối với sự sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và thời đại quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Chính CNXH và cuộc đấu tranh rộng lớn, mạnh mẽ của nhân dân lao động đã là động lực to lớn buộc các thế lực thực dân, đế quốc phải thừa nhận quyền độc lập, tự do của các dân tộc thuộc địa; chính quyền các nước tư bản có những cải cách xã hội để cải thiện đời sống của người lao động… Từ sau Cách mạng Tháng Mười, Liên Xô đã giành được những thành tựu to lớn về nhiều mặt, nhất là đã huy động được lực lượng vật chất và tinh thần đánh thắng liên minh các thế lực đế quốc trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, các thế lực phát xít tàn bạo trong Chiến tranh thế giới thứ hai, hình thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Cách mạng Tháng Mười để lại nhiều bài học quý giá, trong đó quan trọng nhất là bài học về công tác xây dựng Đảng. Thực tế lịch sử cho thấy, V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích Nga đã chủ động chuẩn bị mọi mặt cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười. Trước sự biến động của tình hình cách mạng, cùng với việc đề ra chiến lược, sách lược cụ thể, Đảng Bôn-sê-vích Nga đã sáng suốt khi xác định rõ, cách mạng Nga phải chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa mà nhiệm vụ trọng tâm là lật đổ chính quyền lâm thời tư sản, bảo vệ các Xô viết đại diện. Đồng thời, công tác vận động, tập hợp quần chúng cũng được những người Bôn-sê-vích Nga chú trọng gắn với việc đấu tranh vạch trần bộ mặt cải lương, phản động của giai cấp tư sản và chính quyền lâm thời tư sản. Với hàng loạt khẩu hiệu cách mạng, nhất là khẩu hiệu “Chính quyền về tay các Xô viết”, Đảng Bôn-sê-vích Nga đã thành công trong việc tập hợp và phát huy sức mạnh của các lực lượng cách mạng như công nhân, nông dân, các dân tộc bị áp bức cùng kiên quyết đấu tranh lật đổ chính quyền lâm thời tư sản. 

Từ sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh, để xứng đáng với tư cách là một đảng cách mạng chân chính, các đảng cộng sản phải luôn đề phòng và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn mọi biểu hiện tiêu cực trong nội bộ đảng như: suy thoái về tư tưởng chính trị, đặc quyền, đặc lợi, xa dân, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cơ hội chủ nghĩa; phải nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình; phải thường xuyên tự điều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Đây là những chỉ dẫn hết sức quý báu của V.I.Lênin được rút ra từ thành công của Cách mạng Tháng Mười.

Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười đối với phong trào cách mạng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, ngay từ những năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật không phải tự do, bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang ở bên An Nam..”(1). Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt coi trọng việc vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười, nhất là bài học về công tác xây dựng Đảng. Người cho rằng: “Cách mệnh Nga dạy chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất”(2); chỉ rõ việc cần kíp trước hết mà cách mạng đòi hỏi là “phải có Đảng cách mệnh”, “Đảng có vững thì cách mạng mới thành công… Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt”, “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là Chủ nghĩa Lênin”.

Dù đã hơn một thế kỷ trôi qua với muôn vàn biến động và những thay đổi liên quan đến “địa- chính trị” thế giới, nhưng không ai có thể phủ nhận được ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga đối với phong trào cách mạng thế giới lúc bấy giờ. Đối với Việt Nam, Cách mạng Tháng Mười chính là ánh sáng soi đường cho nhân dân ta đi đến một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử dân tộc - cách mạng vô sản do giai cấp công nhân và nhân dân lao động khởi xướng để xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay, trải qua chặng đường hơn 90 năm, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn kiên trì, kiên định con đường này và luôn quán triệt, vận dụng bài học thành công từ Cách mạng Tháng Mười đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Rèn luyện đạo đức cách mạng thường xuyên, liên tục

 Đấu tranh để trừ bỏ, khắc phục các chứng bệnh của chủ nghĩa cá nhân là “tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót”. Đó là cuộc đấu tranh khó khăn, phức tạp, gian khổ, đau đớn, lâu dài mà Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên không được nản chí, buông xuôi. Dùng đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để khắc phục những “bệnh cá nhân”, để kiên quyết loại bỏ kẻ địch nội xâm ra khỏi mỗi con người, ra khỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương là nhiệm vụ trọng tâm hiện nay. 
Vì rằng, “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”, cho nên để đấu tranh trừ bỏ, khắc phục những “bệnh cá nhân”, thì: 
Một là, đối với mình: Mỗi cán bộ, đảng viên đều phải thấm nhuần lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Trong đó, chú trọng việc tự rèn mình, tự sửa mình để phòng, tránh sự kiêu ngạo, tự mãn, tự túc, vì tự mãn, tự túc sẽ thoái bộ, lạc hậu, sẽ không thể tiến bộ. Đồng thời, phải tìm tòi, học hỏi trong nhân dân; trong đồng nghiệp, đồng chí; trong cấp trên và cả cấp dưới để cầu tiến bộ, để học lấy điều hay của người mà làm giàu tri thức khoa học, nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo, quản lý của bản thân mình, nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó.
Hai là, đối với tổ chức: Quán triệt yêu cầu xây dựng Đảng về đạo đức, nỗ lực “rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” gắn với phát huy vai trò nêu gương theo Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, với Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm... để kiên quyết làm đúng nghị quyết của Đảng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện, trọng trách càng cao càng yêu cầu người cán bộ, đảng viên phải luôn đặt lợi ích của Đảng, lợi ích của tập thể, của nhân dân lên trên hết, trên tinh thần “đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”. 
Ba là, đối với công việc: Mỗi người đều phải “ra sức học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin”, “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn” và “luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”. Trong mọi công việc, trước khi quyết định đều phải nghiên cứu, tìm hiểu, điều tra rõ ràng, xem xét kỹ lưỡng, vì lợi ích chung. Khi đã triển khai thực hiện thì phải quyết tâm làm và làm đến cùng, chứ không làm nửa vời, được chăng hay chớ; đồng thời, phải phát huy vai trò tiền phong của mình, của đội ngũ cán bộ, đảng viên để khắc phục mọi khó khăn, trở ngại hoàn thành nhiệm vụ. Trong quá trình triển khai, không vì thành tích, sự hiếu danh, hiếu vị và tiền tài mà bất chấp tổn hại, bất chấp quy luật khách quan...
Bốn là, đối với nhân dân: Một trong những phương pháp để đấu tranh thắng lợi, trừ bỏ được các “bệnh cá nhân” chính là người cán bộ, đảng viên hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Do lời nói và việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng; tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng hǎng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng. Vì thế, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, để giám sát cán bộ, đảng viên ở cơ quan và địa bàn cư trú cũng chính là một trong những “biệt dược” để chữa được các “bệnh cá nhân”. Và cũng vì thế, khi đội ngũ cán bộ, đảng viên hướng về nhân dân, vì nhân dân hết lòng, hết sức phụng sự với tinh thần liêm chính, với phương châm “việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, thì nhất định sẽ không còn sự lợi dụng, lạm dụng quyền lực để tham ô, tham nhũng, lãng phí, cũng như sẽ không còn những cán bộ vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật phải xử lý như thời gian qua. ( trích báo QĐND)

Tự soi để nhận diện các loại "bệnh cá nhân"

 Những cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, mang nặng tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trong mình là những người đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường, họ không còn thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; không còn gương mẫu, tiền phong, thống nhất giữa nói và làm; không còn xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn. 

Họ quên mất rằng “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”, nên, trong họ cái tôi luôn được đề cao. Họ luôn coi mình là trung tâm, có quyền hưởng thụ, chăm chăm tính đếm lợi ích của cá nhân mình và người thân, dòng họ mình mà không màng đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Vì thế, khi đã để những chứng bệnh cá nhân chủ nghĩa nảy sinh, thì dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là sống có lý tưởng, vì lý tưởng của Đảng mà hành động.

Họ kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại, chỉ thích “nhìn từ trên xuống” khi phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình mình. Họ sợ tự phê bình hay bị người khác phê bình sẽ làm mất đi cái uy thế, cái thể diện, cái uy tín của họ, nên “họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh cán bộ ngoài Đảng”. Không dừng ở đó, “họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi, họ muốn lựa chọn công tác theo ý thích cá nhân mình, không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ. Họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng”. Thậm chí có những người còn cho rằng mình là “cứu tinh’ của dân, “công thần” của Đảng nên đã “kể công” với Đảng, “muốn Đảng phải “cảm ơn” họ. Họ đòi ưu đãi, họ đòi danh dự và địa vị. Họ đòi hưởng thụ”. Khi không được thỏa mãn thì họ quay sang bất mãn, “oán trách Đảng”, vì cho rằng mình “không có tiền đồ”, “bị hy sinh”, thậm chí theo đuôi và cổ xúy cho những đối tượng phản động, cơ hội nhằm bôi đen sự thật, chống phá Đảng và chế độ. 

Trong công việc, vì không muốn “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” và tự cho mình quyền hành động tự do, vô tổ chức, vô kỷ luật, nên họ độc đoán, chuyên quyền và mắc các trọng bệnh là “con đẻ” của chủ nghĩa cá nhân như: Bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, bệnh khai hội, bệnh nể nang, bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, bệnh “hữu danh vô thực”, kéo bè kéo cánh; bệnh cận thị, bệnh tị nạnh, bệnh xu nịnh, a dua, bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, bệnh nóng tính, bệnh lụp chụp... Những chứng tật bệnh này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong nhiều bài viết, bài nói và bài phát biểu của mình; và cũng theo Người, những “bệnh cá nhân” này không chỉ gây bức xúc, làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dân với những cán bộ, đảng viên đã và đang suy thoái, mà còn đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng.  

Trong quan hệ với quần chúng, họ tự cho rằng “mình cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng". Họ không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”, nên đóng cửa, ngồi bàn giấy, xây dựng kế hoạch, viết chương trình rồi dùng mệnh lệnh “cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo”, ép dân chúng làm. Vì tự cho mình quyền là “quan phụ mẫu”, nên những cán bộ, đảng viên để chủ nghĩa cá nhân chi phối này thậm chí trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện còn không bàn bạc, không giải thích với quần chúng; không cho quần chúng phát biểu, tham gia ý kiến đóng góp mà chỉ “bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh” của mình. Vì tự cho mình quyền được “ăn trên ngồi trốc”, nên những vị “cha mẹ dân” này không cần biết đến cơ sở, cũng không quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, ý kiến xác đáng của quần chúng... khiến “quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.

Tất cả những chứng bệnh nêu trên đều do chủ nghĩa cá nhân sinh ra; đều xuất hiện ở những người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Tất cả những “bệnh cá nhân” này dường như không chững lại mà còn tiếp tục nảy nở cùng với thời gian. “Chúng” đã, đang và sẽ xuất hiện với những biểu hiện mới, khi công khai, khi ngấm ngầm, song dù ở dưới dạng nào thì “chúng” cũng đều trái với đạo đức cách mạng, trái với tinh thần cần, kiệm, liêm, chính và vì thế “chúng” đều vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật đảng và các nguyên tắc của một Đảng Mácxít-Lêninnít chân chính, cách mạng. Tất cả những “trọng bệnh” này đều đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc tự soi để nhận diện đúng và tự sửa/tự khắc phục bằng những phương pháp hữu hiệu theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh! (trích báo QĐND)