Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2023

Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna do Việt Nam đề xuất, soạn thảo.

 

Ngày 4/4, tại trụ sở Văn phòng Liên hợp quốc (LHQ) ở Geneva (Thụy Sĩ), Khóa họp thường kỳ lần thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền LHQ đã kết thúc, hoàn thành chương trình đề ra từ đầu Khóa họp, với 43 nghị quyết được thông qua, trong đó có Nghị quyết về kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna do Việt Nam đề xuất, soạn thảo.

Đây là dấu ấn nổi bật của Việt Nam ngay trong Khóa họp đầu tiên đảm nhận cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025.

Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên là sáng kiến của Việt Nam, được Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang đề xuất tại phiên họp cấp cao mở đầu Khóa họp 52 của Hội đồng Nhân quyền tại Geneva ngày 27/2, nhằm khẳng định lại và tăng cường các nỗ lực cũng như hành động hướng tới đạt được những mục tiêu và giá trị lớn, bao trùm của hai văn kiện quan trọng nêu trên, cũng như các cam kết chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người cho tất cả mọi người.

Nghị quyết nhận được sự tham gia đồng bảo trợ Nghị quyết của 98 nước (tính đến cuối giờ chiều 3/4 giờ Geneva), bao gồm 14 nước nòng cốt (Việt Nam, Áo, Bangladesh, Bỉ, Bolivia, Brazil, Chile, Costa Rica, Fiji, Ấn Độ, Panama, Rumani, Nam Phi và Tây Ban Nha), 34 nước thành viên Hội đồng Nhân quyền, các nước phương Tây và nhiều nước đang phát triển từ cả 5 nhóm khu vực, trong đó có hầu hết các nước ASEAN.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng.

     Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị” là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Để nhiệm vụ này đạt được hiệu quả cao trong thực tiễn, mỗi cán bộ, đảng viên cần hiểu và nhận thức đầy đủ những yếu tố tác động đến việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh tình hình hiện nay.

THỰC TIỄN CHỨNG MNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM LÀ CHIẾN LƯỢC ĐÚNG ĐẮN

 Trong thời gian gần đây trên các trang mạng xã hội lại xuất hiện một số thông

tin cho rằng; việc thực hiện Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”, là

không thực tế; không khả thi và cần phải bác bỏ. Đó là những luận điệu cố tình bóp

méo, xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Bài viết

đưa ra một vài dẫn chứng thực tiễn; Đảng, nhà nước, nhân dân ta đã và đang làm rất

thành công trong hơn 75 năm qua, không như những gì các thế lực phản động, thù

địch đã xuyên tạc.

Trước hết quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn

lọc tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại và là sự vận dụng

sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu

mới vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể ở nước ta. Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh,

vấn đề Nhà nước và pháp luật giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn

đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân.

Hồ Chí Minh cho rằng, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực

Nhà nước. Toàn bộ quyền lực Nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân. Điều 1, Hiến

pháp 1946 do Người làm Trưởng ban soạn thảo, khẳng định: “Nước Việt Nam là một

nước Dân chủ Cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt

Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thể hiện xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách

mạng. Đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,

gắn bó chặt chẽ với nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, dân tộc. Cương lĩnh

xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm

2011) khẳng định: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân

dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo”, được cụ thể hóa tại Khoản 1, Điều 2,


Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Nghị quyết

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu

quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước là nhiệm vụ trọng tâm của

đổi mới hệ thống chính trị...”.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được khẳng định trong các bản Hiến

pháp của Việt Nam. Với Hiến pháp năm 1946, chủ nghĩa lập hiến và quyền con người

từ các giá trị tư tưởng đã trở thành các giá trị pháp luật hiện thực trong điều kiện lịch

sử cụ thể của Việt Nam. Những quy định của Hiến pháp năm 1946 là những chuẩn

mực hiến định đầu tiên cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Đã hơn

75 năm qua, 5 bản Hiến pháp đã lần lượt tương ứng với các giai đoạn phát triển của

cách mạng nước ta. Vượt lên tất cả sự thăng trầm, phức tạp của thời cuộc, mỗi bản

Hiến pháp (các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013) là một mốc quan trọng trong quá

trình xây dựng và củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chúng ta.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đang thấm dần vào cuộc sống; với những

mục tiêu và khát vọng đưa nước ta trở thành một nước phát triển có thu nhập cao theo

định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI. Trong bối cảnh đó, việc thực hiện

Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” dưới sự lãnh đạo của Đảng là

một xu thế khách quan, mang tính quy luật; tạo sự đồng thuận và quy tụ sức mạnh đại

đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân

chủ, công bằng, văn minh”. Với sự đồng thuận của trên 90 triệu người dân Việt Nam,

đã tạo thành sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, không có thế lực phản động nào có

thể phủ nhận hay xuyên tạc, bôi nhọ được thực tế này./.

THAM NHŨNG KHÔNG PHẢI LỖI CỦA ĐỘC ĐẢNG HAY ĐA ĐẢNG

 Từ các nghiên cứu về lịch sử nhân loại cho thấy; ở mỗi thời đại, tham nhũng

được hiểu, đề cập và định danh với những tên gọi khác nhau, phạm vi rộng hẹp cũng

khác nhau,... nhưng điểm chung của vấn nạn này là gây ra những hậu quả nghiêm


trọng, cản trở hoặc đối lập với tiến bộ xã hội. Với cách tiếp cận đó, có thể hiểu tham

nhũng là một hiện tượng xã hội, xuất hiện cùng với sự xuất hiện tư hữu và quá trình

hình thành, phát triển của giai cấp, nhà nước; nó được biểu hiện qua hành vi của con

người, tác động tiêu cực đến xã hội và sẽ mất đi khi xã hội không còn sở hữu tư

nhân. Bản chất của hiện tượng này nằm ngay trong lòng xã hội, do cá nhân hay bộ

phận nắm giữ những trọng trách trong xã hội thực hiện với mục đích vụ lợi riêng, làm

cản trở, kìm hãm quá trình vận động, phát triển của xã hội. Vì vậy, đây là cuộc chiến

lâu dài, đầy gian nan, phức tạp đối với tất cả các quốc gia dân tộc, trong đó có Việt

Nam chúng ta.

Nghiên cứu lý luận và những bằng chứng khoa học cho thấy; thủa “bình minh”,

loài người muốn tồn tại phải đoàn kết, sống theo “bầy đàn”, cùng nhau sáng tạo ra

công cụ lao động, chinh phục, cải tạo tự nhiên và cùng nhau sản xuất, sử dụng tư liệu

sinh hoạt,… nên mọi của cải vật chất đều là của chung, chưa có hành vi chiếm hữu và

lúc đó chưa có tham nhũng. Khi sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định, năng

suất lao động được nâng lên, tư liệu sinh hoạt chung được sản xuất ra vượt quá nhu

cầu duy trì sự sống của cộng đồng, dẫn đến hiện tượng dư thừa; khi đó, bắt đầu xuất

hiện những cá nhân, bộ phận người bị “tha hóa”, tìm mọi cách độc chiếm lượng tư

liệu sinh hoạt dư thừa đó làm của riêng - hành vi tham nhũng xuất hiện. Sự “tha hóa”

ngày càng tăng, nhu cầu chiếm hữu ngày càng lớn, dẫn đến chiếm đoạt về lao động và

tư liệu sản xuất, rồi tổ chức lực lượng chuyên trách để bảo vệ, mở rộng nội dung,

phạm vi, lãnh thổ chiếm hữu,... Như vậy, tham nhũng xuất hiện từ cuối xã hội nguyên

thủy; khởi đầu là hành vi chiếm đoạt tư liệu sinh hoạt dư thừa trong cộng đồng; sau

đó, nội dung, phạm vi chiếm hữu ngày càng mở rộng. Ban đầu là một, hay một bộ

phận người trong cộng đồng, rồi đến giai cấp bóc lột (trong xã hội có đối kháng giai

cấp). Hiện nay, nhân loại đang trong giai đoạn phát triển có sự đan xen giữa cái cũ và

cái mới, vẫn còn cơ sở tồn tại, nên vẫn còn tình trạng tham nhũng, Việt Nam cũng

không ngoại lệ.

Quá trình nghiên cứu xây dựng học thuyết về con người; các nhà kinh điển

Mác - Lênin khẳng định: “con người khác với con cừu chỉ là ở chỗ trong con người,

ý thức thay thế bản năng, hoặc bản năng của con người là bản năng đã được ý thức”.

Thực tế là, sự tồn tại của con người luôn gắn liền với bản năng, nhu cầu tự nhiên:

ăn, uống, mặc, ở, đi lại,... và nó được “ý thức hóa”, đó là sự khác biệt căn bản nhất


giữa con người so với con vật. Quá trình hoạt động thực tiễn làm cho sự thống nhất

biện chứng giữa bản năng sinh vật và mặt xã hội trong con người ngày càng hoàn

thiện, nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần, tức nhu cầu về lợi ích ngày càng cao,

không có giới hạn, vì nó được “ý thức hóa”; ngược lại, những nhu cầu đó cũng tác

động mạnh mẽ trở lại, thúc đẩy hoạt động thực tiễn, làm cho ý thức con người phát

triển ngày càng hoàn thiện…

Tuy nhiên, số lượng cá nhân, bộ phận người bị “tha hóa” nhỏ hơn nhiều so với

thành phần lao động và các tầng lớp khác trong cộng đồng, xã hội, nhưng hành vi

tham nhũng luôn kìm hãm, gây hậu quả nghiêm trọng đối với mọi lĩnh vực của đời

sống xã hội. Vì, bản năng, sinh vật, nhu cầu tự nhiên của họ được “ý thức hóa” theo

hướng tiêu cực, luôn tìm mọi thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi, biến tài

sản chung của xã hội, tập thể hay của công dân thành tài sản riêng, làm thất thoát,

lãng phí kìm hãm sự phát triển; đảo lộn những giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức,…

và len lỏi vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

Bước vào công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên phạm vi cả

nước, nhất là từ khi đổi mới đến nay, tình trạng tham nhũng vẫn diễn ra với tính chất,

mức độ khác nhau, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của đất nước. Để đấu tranh

ngăn chặn, phòng, chống hiện tượng này, Đảng, Nhà nước ta ban hành nhiều chủ

trương, chính sách phù hợp với từng giai đoạn. Mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta đều ban hành

những nghị quyết chuyên đề, hoặc lồng ghép nội dung phòng, chống tham nhũng vào

nhiều nghị quyết Trung ương. Hệ thống luật, nghị định, hướng dẫn thực hiện do Nhà

nước ban hành liên quan đến lĩnh vực này ngày càng hoàn thiện. Hệ thống cơ quan

chỉ đạo, cơ quan chuyên trách được tổ chức từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm

tính đồng bộ, thống nhất, chuyên sâu. Những năm gần đây, cuộc chiến này được toàn

Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh với quyết tâm chính trị cao và đã thu được

nhiều kết quả quan trọng được nhân dân đồng tình ủng hộ.

Như vậy, tham nhũng xuất hiện từ cuối xã hội nguyên thủy; Tham nhũng luôn

là một “căn bệnh” nguy hiểm của xã hội, có ở tất cả các chế độ chính trị khác nhau, để

có thể phòng ngừa, đẩy lùi, chữa khỏi được nó phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp

xóa bỏ chế độ tư hữu, cùng đối kháng giai cấp; đồng thời, ngày càng hoàn thiện bản

chất “người” để lao động, cống hiến trở thành nhu cầu, mục đích cao nhất trong hoạt

động của mỗi người, đặc biệt là những cá nhân, bộ phận được giao cho nắm giữ

những trọng trách xã hội nhất định. Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể khẳng định


rằng: tham nhũng không phải lỗi của độc Đảng hay đa Đảng như các tổ chức phản

động thường rêu rao, ám chỉ Đảng cộng sản Việt Nam; mà đằng sau đó là âm mưu

chống phá Đảng và Nhà nước ta mà thôi./.

VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN TRÊN TRANG MẠNG XÃ HỘI

 Không gian mạng đang chiếm lĩnh không gian và thời gian thực của con người

ngày càng nhiều hơn, ảnh hưởng ngày càng lớn với tốc độ ngày càng nhanh. Do vậy,

nó ảnh hưởng sâu rộng và phức tạp đến lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay.

Cho dù trong mấy năm gần đây, chúng ta đã phần nào giành lại thế chủ động trong

việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng thông qua việc đấu

tranh phản bác lại những quan điểm, luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động,

song tính bất đối xứng của cuộc chiến tư tưởng vẫn là một hiện tượng thường thấy, là

một thách thức không nhỏ. Điều này không thể không ảnh hưởng xấu và làm suy

giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ, đối với mục tiêu và con

đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Để hoạt động tư

tưởng, lý luận trên không gian mạng đạt hiệu quả cao hơn nữa, cần thực hiện tốt một

số nội dung sau:

Một là, đầu tư mạnh công tác nghiên cứu lý luận, gắn lý luận với thực tiễn trên

không gian mạng; Trên mặt trận tư tưởng vũ khí quan trọng nhất là vũ khí lý luận,

song lý luận phải thật sự khoa học chứ không phải lý thuyết suông, lý luận phải xuất

phát từ thực tiễn và mang hơi thở của cuộc sống, phải bao quát được những vấn đề

nền tảng, có tính quy luật và đưa ra hướng giải quyết những vấn đề then chốt. Cho dù

sự phát triển của không gian mạng và các phương tiện truyền thông như thế nào, thì

suy nghĩ và quan điểm vẫn là thành tố quan trọng nhất của nội dung tư tưởng. Nếu

không có nội dung, không có chiều sâu thì lý luận dù hay đến đâu cũng chỉ là hô khẩu

hiệu, trống rỗng, không có bất kỳ ảnh hưởng tích cực nào. Chúng ta phải sử dụng lý

luận làm nền tảng vững chắc cho định hướng chính trị và dẫn dắt dư luận. Trận địa tư


tưởng trên không gian mạng, việc chúng ta có đứng vững và chiến thắng hay không

liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Trước tình hình trong nước và quốc tế

có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những biến động khó lường như hiện nay,

không gian mạng trở thành công cụ nền tảng mới để giáo dục chính trị, tư tưởng cho

cán bộ và nhân dân; đồng thời, đó cũng là một không gian mới để đẩy mạnh hơn nữa

công tác nghiên cứu lý luận, là một phương thức mới để định hướng dư luận xã hội về

mặt tư tưởng. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Do

đó, cần giữ vững và không ngừng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công

tác nghiên cứu lý luận, giáo dục chính trị, tư tưởng trên mặt trận trực tuyến này.

Để có thể định hướng tư tưởng trên không gian mạng, chúng ta phải tuân thủ

nguyên tắc tôn trọng sự thực khách quan, đối mặt với các vấn đề đang nảy sinh từ

thực tiễn của xã hội; dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức đúng và đưa ra các ý tưởng, phương án

giải quyết các vấn đề của đất nước một cách đúng đắn, hiệu quả; từ đó mới có thể

nâng cao tính thuyết phục, tính định hướng của hệ tư tưởng chính thống.

Hai là, Từ bài học “lấy dân làm gốc” kết hợp với xây dựng đội ngũ làm công

tác lý luận trên môi trường không gian mạng; Chúng ta cần phải luôn tôn trọng địa vị

cao nhất của nhân dân, tin tưởng và dựa vào quần chúng nhân dân trên không gian

mạng. Vấn đề cốt lõi của công tác tư tưởng trực tuyến là cách đối xử với quần chúng

trên không gian mạng. Chúng ta nói lên tiếng nói của người dân, bênh vực nhân dân,

đứng về phía quyền lợi của nhân dân thì nhân dân sẽ tin yêu chúng ta, bảo vệ chúng

ta. Không gian mạng có tính mở, vì vậy, nếu chúng ta không chiếm lĩnh mạng thì

những người khác cũng sẽ chiếm lĩnh; hơn nữa, điều hết sức nguy hiểm là môi trường

này bị bỏ trống, trong khi nó có những ưu thế rất lớn như đã nói ở trên. Trong tình

huống như vậy, tính hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận chắc chắn sẽ ảnh hưởng

đáng kể. Do đó, chúng ta cần phải chủ động chiếm lĩnh không gian mạng, tăng cường

sức ảnh hưởng của hệ tư tưởng chính thống bằng các hoạt động tuyên truyền, giáo dục

tư tưởng đối với cư dân mạng. Cư dân mạng có cả người dân lẫn cán bộ, đảng viên.

Đối với nhân dân, công tác giáo dục tư tưởng, chính trị cho nhân dân cần gắn

với giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, lịch sử, văn hóa, tình cảm, đạo

đức. Đối với cán bộ, đảng viên, cần tăng cường giáo dục lý tưởng, niềm tin và quan

trọng hơn là nâng cao nhận thức về các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng

và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên không những không được

có những biểu hiện trái với quan điểm của Đảng, mà còn phải có trách nhiệm và nghĩa

vụ tuyên truyền, bảo vệ quan điểm của Đảng trên không gian mạng.


Ba là, đổi mới phương pháp truyền thông tư tưởng trên không gian mạng cần

hay hơn và hấp dẫn hơn; Trên không gian mạng, mọi người không muốn xem, nghe

các bài viết một chiều. Trên không gian mạng, quyền lực của các tổ chức không tác

động được đến cơ chế tiếp cận thông tin. Đồng thời, quan niệm truyền thông truyền

thống lấy tin tức làm trung tâm đã dần thay đổi, chức năng giáo dục, chức năng tư

tưởng của truyền thông ngày càng giảm đi, đồng thời các chức năng giao tiếp, chức

năng giải trí ngày càng tăng nhanh.

Hiện nay, nội dung thể hiện luận điểm của những cá nhân tham gia không gian

mạng có xu hướng ngày càng ngắn lại, từ những cuộc tranh luận hàng trăm trang trên

các diễn đàn như trước kia, giờ đây được rút gọn, cá nhân hoá thành các bài dài trên

trang cá nhân (blog), rồi rút ngắn hơn nữa ở các tút trên Facebook, rồi các thông điệp

cực ngắn trên Twitter. Bản thân các video dài trên Youtube đã ngắn đi nhiều ở các

nền tảng video khác, đặc biệt là ở TikTok với độ dài chỉ khoảng 15 giây. Với không

gian mạng như vậy thì các bài nghiên cứu lý luận, các bài viết mang tính tư tưởng như

hiện nay dường như dài và khô khan với cư dân mạng, họ cũng bỏ qua và không quan

tâm nhiều. Chính vì vậy, truyền thông tư tưởng trên không gian mạng muốn đạt hiệu

quả thì thông tin cần phải thực sự hấp dẫn, thực sự thu hút và lấy được sự yêu thích

không chỉ đối với cán bộ, đảng viên mà cả với quần chúng nhân dân, đặc biệt là giới

trẻ hiện nay.

Có được những chiến dịch truyền thông tư tưởng trên không gian mạng được

người dân đón nhận hồ hởi và tham gia hay không phải là một tiêu chí cơ bản để đánh

giá mức độ thành công của công tác xây dựng Đảng về tư tưởng. Truyền thông tư

tưởng cần chủ động thích ứng với hoàn cảnh mới, tình hình mới, nhiệm vụ mới trên

không gian mạng, không ngừng đổi mới quan niệm, hình thức, phương pháp, phương

tiện, thậm chí thay đổi phương thức diễn ngôn truyền thống, sử dụng cách diễn ngôn

hiện đại, hấp dẫn, sinh động một cách lành mạnh và thẩm mỹ để lôi cuốn đông đảo

quần chúng nhân dân cùng tham gia vào các hoạt động tư tưởng, lý luận trên môi

trường không gian mạng./.

Việt Nam góp phần định hình những giá trị của nhân loại

    Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (VDPA) do Việt Nam đề xuất và soạn thảo đã được Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua. Điều này đã hiện thực hóa chính sách đối ngoại chủ động, tích cực, có trách nhiệm tham gia giải quyết các vấn đề cộng đồng quốc tế quan tâm của Việt Nam.

CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN THA HÓA KHÔNG DO MỘT ĐẢNG HAY ĐA ĐẢNG LÃNH ĐẠO

 Hiện nay các thế lực thù địch thường rêu rao cho rằng: “bỏ độc quyền lãnh đạo

mới có thể chấm dứt nạn đảng viên tha hóa”, với những luận điệu rất nguy hiểm này,


nếu chúng ta không tỉnh táo dễ bị mắc mưu những thế lực phản động, xuyên tạc; để từ

đó, tìm mọi cách xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà

nước và xã hội; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị của đất

nước. Vì vậy, cần nhận thức đúng đắn vấn đề này để đấu tranh với những luận điệu

sai trái, phản động đó.

Thực tiễn trên thế giới, bất kỳ chế độ xã hội nào cũng có người trong bộ máy

công quyền tha hóa quyền lực, vì nó là hiện tượng gắn liền với quyền lực chính trị.

Thực trạng ở các nước có chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập cũng có không

ít người trong bộ máy công quyền bị tha hóa. Bài viết chỉ nêu một vài vụ điển hình

như: Vụ bê bối quyền lực chính trị để trục lợi (Watergate) của Tổng thống Mỹ

Richard Nixon năm 1972 - 1974, buộc Ông này phải từ chức khi đang là Tổng thống

nhiệm kỳ hai; vụ ông Bernard Kerit, nguyên Chỉ huy trưởng Cảnh sát New York, năm

2004 đã được Tổng thống Mỹ Geore W.Bush đề cử làm Bộ trưởng Bộ An ninh nội

địa Mỹ, nhưng do phạm tội tham nhũng trốn thuế và nhận tiền hối lộ nên đã không

được bổ nhiệm. Hoặc là ở Hàn Quốc, vào tháng 12/2016, Tổng thống Hàn Quốc Park

Geun - Hye bị Quốc hội phế truất chức Tổng thống do bị buộc tội tham nhũng dính líu

đến vụ dùng quan hệ cá nhân để tăng ảnh hưởng và trục lợi tài chính. Trên thế giưới

còn rất nhiều chính khách của các nước có chế độ đa đảng bị tha hóa mà các phương

tiện thông tin đại chúng trong và ngoài nước đã đưa tin. Họ đều là những người đại

diện cho một đảng chính trị nhất định của các nước đó. Vậy mà mấy ông “dân chủ

cuội” chẳng thấy ho he một tiếng nào.

Đối với Việt Nam ta, ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ

mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Không phải ngày nào cũng kiểm

tra. Nhưng thường thường kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết

điểm, phát triển ưu điểm”. Người cho rằng, lãnh đạo đúng là cùng với việc “quyết

định mọi vấn đề cho đúng”, “phải tổ chức thi hành cho đúng”, còn “Phải tổ chức sự

kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được”.

Người yêu cầu: “Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán

bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải

nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”.

Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm

soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng


tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Đảng nhấn mạnh: Hoàn thiện và thực hiện

nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ

cương. Đặc biệt, xác định được kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ là gốc của

kiểm soát quyền lực trong Đảng. Vì vậy, ngày 23/9/2019, Bộ Chính trị (khóa XII) đã

ban hành Quy định số 205-QĐ/TW “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán

bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Trong đó nhấn mạnh: Sử dụng cơ chế, biện

pháp nhằm thực hiện nghiêm túc các quy định về công tác cán bộ; phòng ngừa, ngăn

chặn, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước, nhất là

các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực

hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những việc phải làm trên cương vị

được giao trong công tác cán bộ.

Với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, những năm qua, nước ta đã đạt

được những kết quả quan trọng trong kiểm soát quyền lực chính trị. Trong đó, công

tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng

bộ, quyết liệt; chất lượng lãnh đạo, hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở đảng và

đảng viên được nâng lên. Việc sắp xếp bộ máy hệ thống chính trị được thực hiện theo

hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đất nước.

Cho đến năm 2019, cả nước đã giảm được 6 đơn vị hành chính cấp huyện; 545

đơn vị hành chính cấp xã; 15.354 thôn, tổ dân phố; giảm 4 đầu mối trực thuộc Trung

ương, 6 tổng cục và 2 bộ tư lệnh; 83 cục, vụ và tương đương…; Công tác kiểm tra,

giám sát, kỷ luật Đảng được tăng cường, có trọng tâm, trọng điểm theo đúng tinh thần

của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “không có vùng cấm, không có ngoại

lệ”. Từ năm 2016 đến 2019, thông qua công tác kiểm tra, giám sát, cấp ủy và ủy ban

kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 1.111 tổ chức đảng, 18.265 cấp ủy viên các cấp

và 54.573 đảng viên. Trong đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư

thi hành kỷ luật 8 tổ chức đảng, 45 đảng viên, Ủy ban Kiểm tra Trung ương thi hành

kỷ luật 111 đảng viên (có 92 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý). Công tác phòng,

chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, kiên trì, có hiệu

quả…; Vai trò của pháp luật ngày càng được đề cao; cơ chế phân công, phối hợp và

kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập

pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng rành mạch. Hoạt động của Chính phủ và các


bộ, ngành đổi mới theo hướng kiến tạo, tập trung điều hành vĩ mô, tháo gỡ rào cản, hỗ

trợ phát triển cho các doanh nghiệp, để phát triển kinh tế đất nước.

Như vậy, kiểm soát quyền lực, phòng chống sự tha hóa của cán bộ, đảng viên là

việc làm thường xuyên của cấp ủy, chính quyền các cấp từ Trung ương đến các địa

phương. Vậy mà, các thế lực thù địch luôn rêu rao nói rằng; độc Đảng là buông lỏng

quản lý; là phe cánh, là lợi ích nhóm dẫn đến cán bộ đảng viên tha hóa biến chất,

tham ô lẵng phí. Đây cũng chỉ là những chiêu trò nhằm xuyên tạc, bôi nhọ làm mất uy

tín của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân mà thôi; chúng ta cần tỉnh táo trước những

luận điệu xuyên tác này./.

CẦN NẮM CHẮC LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC ĐỂ ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Thời gian gần đây, các bài đấu tranh trên không gian mạng ở các cơ quan, đơn

vị đã thường xuyên được đổi mới về nội dung, đa dạng hóa về hình thức, góp phần

nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về bản chất cách mạng,

khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối

của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế

nhất định như: Một số bài viết chưa thực sự quan tâm đúng mức chất lượng, hiệu quả

về; nội dung và hình thức, biện pháp đấu tranh chưa phong phú, đa dạng, hiệu quả còn

thấp; số lượng bài viết có tính chiến đấu, sâu sắc, thuyết phục chưa được nhiều... Để

nâng cao chất lượng, hiệu quả các bài đấu tranh của trên không gian mạng, cần phải

nắm chắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp

luật Nhà nước trong viết bài đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên

không gian mạng.

Các bài đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng,

thực chất là cuộc đấu tranh ý thức hệ nhằm bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và sự nghiệp cách mạng của

Đảng và nhân dân ta... Việc nắm chắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm, chủ


trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, các quy định của quân đội là cơ

sở củng cố và phát triển thế giới quan, phương pháp luận khoa học, cơ sở pháp lý

vững chắc nhất để chúng ta viết bài phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên

không gian mạng. Vì vậy, mỗi tác giả của bài viết cần quán triệt sâu sắc các nghị

quyết, chỉ thị, định hướng của Đảng, Nhà nước về chống “diễn biến hòa bình”, bạo

loạn lật đổ của các thế lực phản động; nhằm bảo vệ an ninh quốc gia; đặc biệt là Chỉ

thị số 03/CT- BQP ngày 23/1/2014 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về tăng cường

công tác bảo đảm an toàn thông tin và một số vấn đề về tổ chức hoạt động tác chiến

không gian mạng; Chỉ thị số 47/CT-CT ngày 8/1/2016 của Chủ nhiệm Tổng cục

Chính trị về tổ chức lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội

chính trị trên không gian mạng trong quân đội. Bên cạnh đó, cần vận dụng linh hoạt,

khéo léo các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước sát

với các tình huống và hoàn cảnh cụ thể, tránh rập khuôn máy móc, cứng nhắc, cảm

tính, làm mất tính chiến đấu trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái trên không

gian mạng, các bài viết cần thể hiện quan điểm cứng rắn của mình và phê phán thẳng

thắn không khoan nhượng các quan điểm sai trái, của các thế lực thù địch trên cơ sở

các luận chứng khoa học, không vòng vo để đọc giả dễ đọc, dễ nghe, dễ hiểu.

Chính vì vậy, lực lượng tham gia đấu tranh trên không gian mạng cần có sự vận

dụng linh hoạt trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, có biện pháp nhận định, đánh

giá tình hình, tổ chức viết bài đấu tranh hiệu quả nhất, đảm bảo sự kịp thời trong nhận

diện kẻ xấu và phản bác quan điểm, tư tưởng, thông tin sai trái, làm thất bại hoạt động

chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng

đạt hiệu quả cao nhất.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể tách rời Tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác - Lê Nin

 Đại hội XIII của Đảng là sự kiện trọng đại, có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bước phát

triển mới của đất nước và hoạch định những đường lối chiến lược trong tầm nhìn dài

hạn, nhìn lại 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm

1991, xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 ( kỷ niệm tròn 100 năm thành

lập Đảng) và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045 (kỷ niệm 100 thành lập

nước).

Với vị trí ý nghĩa đặc biệt quan trọng như vậy, các văn kiện đại hội XIII của Đảng

tiếp tục khẳng định phải kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác –

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, trong thời gian trước và sau Đại hội XIII

của Đảng các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chống phá Việt Nam trên lĩnh vực tư

tưởng với những thủ đoạn ngày càng xảo quyệt và nguy hiểm. Chúng tung ra những

luận điệu đều có chung mục đích chống phá Đảng ta, nhưng hình thức thể hiện ngày

càng thay đổi đa dạng.

Có quan điểm công khai trắng trợn, thể hiện rõ sự thù địch, hằn học với chủ nghĩa

Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; có quan điểm thừa nhận lịch sử nhưng lại phủ

nhận giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin... Đặc biệt, những luận điệu cố tình


tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác -

Lênin, từ đó “nâng tầm” một cách giả tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là quan điểm có tính

ngụy biện dễ làm cho một số người ngộ nhận, tin theo. Thực tế đã và đang khẳng định

bản chất cách mạng và khoa học, giá trị và sức sống bền vững của chủ nghĩa Mác -

Lênin. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính

xác, đầy đủ và sâu sắc về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình cách

mạng Việt Nam. Ngay từ năm 1927, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Chủ nghĩa chân

chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” (1). Theo Người, chủ

nghĩa Mác - Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là

“mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã

hội và chủ nghĩa cộng sản.

Nghiên cứu lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ con đường Hồ

Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Người đã nghiên cứu, học tập chủ nghĩa

Mác – Lênin và nêu rõ bản chất cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin  một cách cơ bản,

hệ thống. Theo Người: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa.

Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ

“tách mình” ra khỏi C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng,

mà như Người nói là “cố gắng vận dụng” tư tưởng của các nhà kinh điển đó, “nhưng

vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Nếu không có chủ

nghĩa Mác - Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ khi tiếp nhận được chủ

nghĩa Mác – Lênin thì tư tưởng Hồ Chí Minh mới thực sự được xác lập và phát triển.

Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và phát

triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung cấp cho Chủ

tịch Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản

của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt “hòn đá

tảng” những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về tinh thần xử lý

mọi việc. Những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh cũng nằm trong những phạm trù

cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và

phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những cống

hiến đó có được trước hết do Người đã nắm được bản chất cốt lõi, “linh hồn sống”

trong tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin là phép biện chứng duy vật.

Theo Hồ Chí Minh, mục đích học chủ nghĩa Mác - Lênin là để phụng sự lợi ích

chung, chứ không có gì cao xa, nếu không hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân, tự

kiêu, tự đại, tự tư, tự lợi là trái với chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh còn chỉ rõ:

“Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ

nghĩa Mác - Lênin được”(3). Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí

Minh là khoa học, cách mạng thống nhất biện chứng với nhau. Vì thế, không thể tách

rời mối quan hệ vốn có giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; không

thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại.

Cũng không thể đề cao hoặc tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như bằng cách

này hay cách khác lại phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin.


Để thực hiện động cơ chính trị đen tối, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tách rời chủ

nghĩa Mác – Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch cho rằng: “Ở Việt

Nam bây giờ học thuyết Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng

giá, chỉ cần nói tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, không cần nói chủ nghĩa Mác – Lênin”.

Đây là luận điệu không phải là sự ca ngợi, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh theo đúng

giá trị đích thực, vốn có trong tư tưởng của Người; mà trái lại thực chất các thế lực

phản động muốn cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc lý luận chủ

yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác – Lênin; đồng thời làm suy yếu và

tiến tới phủ nhận chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều này là hết sức nguy hiểm vì đích

cuối cùng luận điểm này hướng đến đó là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ nhận

tư tưởng Hồ Chí Minh; tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của

Đảng, làm suy yếu và đi đến xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ cương lĩnh đầu tiên năm 1930 cho

đến văn kiện Đại hội VI (năm 1986) luôn nhất quán khẳng định chủ nghĩa Mác -

Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt

Nam. Từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta có sự phát triển, bổ sung trên cơ sở sự vận

động của thực tiễn và khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình. Đây là biểu

hiện về nhận thức đúng, sâu sắc mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh của Đảng. Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư

tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ

nghĩa. Đại hội XIII của Đảng đã tổng kết thực tiễn 35 năm đổi mới và rút ra một số

bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học: “Trong quá trình đổi mới phải chủ động,

không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã

hội, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế

thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng

kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam” (4). Như vậy, Đảng ta xác định rất rõ:

công cuộc đổi mới hiện nay phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên

nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phải xa rời

mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành

động cách mạng. Những biểu hiện tư tưởng cố tình tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với

chủ nghĩa Mác - Lênin bằng cách “ra vẻ” đề cao hoặc “nâng tầm” tư tưởng Hồ Chí

Minh là hoàn toàn trái với quan điểm, đường lối của Đảng ta. Vì vậy, cần kiên quyết

đấu tranh chống các quan điểm sai trái để bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của

Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng một nước Việt

Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và rèn

luyện, hơn 75 năm qua, luôn là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của

Đảng, Nhà nước và nhân dân, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, thực

sự là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Đồng chí


Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng từng khen ngợi Quân đội nhân dân

Việt Nam luôn chủ động, nhạy bén tích cực đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của

Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, làm thất

bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa”

Quân đội của các thế lực thù địch. Tin tưởng rằng, với quyết tâm chính trị và bản lĩnh

“Bộ đội Cụ Hồ”, Quân đội ta sẽ tiếp tục xung kích đi đầu để bảo vệ vững chắc nền tảng

tư tưởng của Đảng trong quân đội; các cấp ủy đảng, các cơ quan, đơn vị… tiếp tục lãnh

đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh, phê phán các quan điểm

sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, luôn hoàn

thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

MỘT TRONG NHỮNG GIẢI PHÁP VÔ HIỆU HOÁ ÂM MƯU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC TÔN GIÁO CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

     Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa và tín đồ các tôn giáo. Triển khai thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo như: Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc; Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo; Chỉ thị số 28/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc; Luật tín ngưỡng tôn giáo…

    Khi xảy ra các sự việc phức tạp, cần phải xác định nội dung, phương pháp và thời điểm tuyên truyền cho hợp lý. Kịp thời phổ biến về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và phản bác những luận điệu xuyên tạc, vu cáo đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, tuyên truyền về bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; về lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, tinh thần trách nhiệm của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng.

    Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Tiếp tục thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau, chống kỳ thị, chia rẽ giữa các dân tộc, tôn giáo; chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, cực đoan, tự ti, mặc cảm; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các vùng dân tộc, tôn giáo, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia. Đồng thời, tăng cường phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội trong vận động, tập hợp quần chúng; tích cực triển khai có hiệu quả việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ở từng địa phương; đề phòng và ngăn ngừa những biểu hiện tư tưởng, hành động cực đoan trong giải quyết vấn đề dân tộc...

Xử lý nhiễu loạn thông tin

 Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ cấp bách,

thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, toàn dân nhằm bảo vệ tính cách

mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ chủ

trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thành quả cách

mạng mà nhân dân ta đã dày công xây dựng. Thời gian qua, bên cạnh kết quả đạt

được, công tác đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực

thù địch còn có những hạn chế, bất cập. Cấp ủy, người đứng đầu một số địa phương,

cơ quan, tổ chức nhận thức chưa đầy đủ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác

này nên chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đúng mức. Một bộ phận cán bộ,

đảng viên lơ là, mất cảnh giác trong nhận diện, đấu tranh ngăn chặn “tự diễn biến”,

“tự chuyển hóa”. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong đấu tranh, ngăn


chặn thông tin nhiễu loạn còn mang tính hình thức, thụ động. Công tác tuyên truyền

phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi chưa đa dạng, phong phú; nội

dung thiếu sắc bén, sức thuyết phục chưa cao. Việc thực hiện chủ trương, đường lối

của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có địa phương còn sơ hở, thiếu sót;

tình trạng cán bộ cấp cơ sở quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch với người

dân vẫn còn. Công tác giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm,

kéo dài, để khiếu nại vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân, v.v. Đây chính là “miếng

mồi ngon”, “mảnh đất màu mỡ” mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên

truyền, xuyên tạc gây nhiễu loạn thông tin.

Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu

tranh ngăn chặn hoạt động tuyên truyền gây nhiễu loạn thông tin, trước hết, phải đặt

nhiệm vụ này dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, Nhà nước, phát

huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan chuyên trách, chuyên sâu.

Triển khai đồng bộ các mặt công tác từ nắm tình hình, phát hiện, phòng ngừa đến các

biện pháp đấu tranh. Thường xuyên tranh thủ sự đồng lòng, ủng hộ của cán bộ, đảng

viên và các tầng lớp nhân dân, kể cả cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài một

cách thực chất, hiệu quả. Tăng cường công tác nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội,

chủ động xử lý kịp thời những vấn đề mới nảy sinh; những bức xúc, nổi cộm ngay tại

cơ sở, nhất là ở những địa phương phức tạp về an ninh chính trị; không để phát sinh

“điểm nóng”. Chủ động nghiên cứu, dự báo các phương thức hoạt động tuyên truyền

xuyên tạc gây nhiễu loạn thông tin của các thế lực thù địch, triển khai đồng bộ các

biện pháp đấu tranh, ngăn chặn kịp thời.

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu và

hiệu quả của công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; xây

dựng văn hóa, con người Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu

phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền

đối nội và đối ngoại làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng

những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng

của nhân dân, nhất là kết quả đạt được trong phòng, chống dịch Covid-19 hiện nay.

Gắn kết chặt chẽ cuộc đấu tranh bảo vệ hệ tư tưởng xã hội với xây dựng, chỉnh đốn

Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; nêu cao vai trò tiền phong,

gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Tiếp tục đổi mới

nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính chủ động, tính thuyết

phục, hiệu quả của công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận; gắn kết chặt chẽ giữa

“xây và chống”. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ,

đảng viên, nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, bản chất của hoạt động gây nhiễu loạn

thông tin; thấy rõ tác hại của các thông tin phản động, xuyên tạc. Từ đó, thúc đẩy mọi

người tự giác, tích cực tham gia phòng ngừa, đấu tranh, có khả năng nhận diện, tự

“miễn dịch” trước các thông tin xấu độc, nguy hại. Hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân tiếp

cận thông tin chính thống, kịp thời đấu tranh phê phán, phản bác những thông tin

nhiễu loạn, xuyên tạc.


Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an

sinh xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho nhân dân có

cuộc sống ấm no, hạnh phúc; không ngừng nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên

trường quốc tế. Đây là minh chứng sinh động nhất, thuyết phục nhất để bảo vệ nền

tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, quan tâm

giải quyết thỏa đáng quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân. Chú ý giải quyết kịp

thời, dứt điểm các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, các vụ đình công, lãn

công,… ngay từ cơ sở, không để kẻ địch lợi dụng chống phá.

Cùng với đó, chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, sử dụng các biện pháp

kỹ thuật để bóc gỡ kịp thời các trang mạng, blog phản động đăng tải các tin, bài,

video clip có nội dung xấu độc, xuyên tạc, trái với quan điểm, đường lối của Đảng,

chính sách, pháp luật của Nhà nước; lan tỏa thông tin tích cực để định hướng dư luận

xã hội. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thông tin,

truyền thông, quản lý internet, mạng xã hội. Nghiên cứu, rà soát xác định những quan

hệ xã hội nảy sinh trên không gian mạng chưa được pháp luật điều chỉnh để cơ quan

chức năng xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật phòng ngừa, đấu tranh, ngăn

chặn thông tin xuyên tạc, nhiễu loạn, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả

của công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

XUYÊN TẠC, BÔI NHỌ TRẮNG TRỢN TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM NHỮNG CHIÊU TRÒ NHÀM CHÁN CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN CỰC ĐOAN, THIẾU THIỆN CHÍ

 Nhằm xuyên tạc tình hình, bôi nhọ tự do báo chí Việt Nam là một chiêu trò

luôn được những tổ chức, cá nhân cực đoan, thiếu thiện chí, nhất là tổ chức Phóng

viên không biên giới (RSF) thường xuyên sử dụng. Gần đây các trang mạng phi pháp

hùa vào đăng tải, kèm theo “bình luận” của một số nhân vật “có uy tín” của RSF.

Trong Bảng xếp hạng này, RSF đã xuyên tạc, bôi nhọ trắng trợn tình hình tự do báo

chí ở Việt Nam, khi cho rằng Việt Nam là “một nhà tù lớn nhất trên thế giới dành cho

các nhà báo và blogger”. Thực tế cho thấy, bất cứ tổ chức, cá nhân nào tôn trọng sự


thật khách quan đều thấy rõ, ở Việt Nam tự do ngôn luận, tự do báo chí được Nhà

nước bảo đảm ngày càng tốt hơn. Điều đó được thể hiện trên cả hai phương diện.

Về phương diện pháp lý, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung pháp luật về

quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin của công dân đầy đủ, đồng bộ, hoàn

toàn phù hợp với luật quốc tế về quyền con người. Điều 25, Hiến pháp nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, khẳng định: “Công dân có quyền tự do

ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,…Việc thực hiện các quyền này do pháp

luật quy định”. Theo đó, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật Báo chí, Luật An ninh

mạng, Luật Tiếp cận thông tin và các luật, bộ luật có liên quan, quy định rõ về quyền

tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; tổ chức và hoạt động

báo chí; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan

đến hoạt động báo chí; quản lý nhà nước về báo chí.

Trên thực tế, với khung pháp luật khoa học, phù hợp thực tiễn, rõ ràng, được

Nhà nước ủng hộ, tạo điều kiện bảo đảm cho nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh

mẽ. Đến tháng 01/2021, ở Việt Nam có đầy đủ các loại hình báo chí, với 779 cơ quan

báo chí và hơn 21.000 người làm báo đã được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan báo chí

thực sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; cơ quan ngôn luận

của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp,

tổ chức xã hội, diễn đàn của nhân dân. Trong hành nghề, các cơ quan báo chí, nhà báo

luôn tuân thủ đúng pháp luật, thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới,

phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân.

Với tôn chỉ, mục đích của mình, các cơ quan báo chí không chỉ tuyên truyền,

phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,

pháp luật của Nhà nước, thành tựu trên mọi lĩnh vực của đất nước và thế giới, mà còn

góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu

cầu thông tin, văn hóa lành mạnh của nhân dân; bảo vệ và phát huy truyền thống tốt

đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại

đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng

thời, phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn

luận của nhân dân; phát hiện, nêu gương “người tốt, việc tốt”, nhân tố mới, điển hình

tiên tiến; phòng, chống những hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực


trong xã hội. Không những vậy, báo chí còn góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát

triển tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam; mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau

giữa các nước và các dân tộc; tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa

bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững.

Hiện nay, một số hệ thống thông tin nền tảng của Chính phủ điện tử đã được

đưa vào vận hành, hầu hết các bộ, cơ quan ngang bộ đã thực hiện kết nối, liên thông

gửi, nhận văn bản điện tử qua Trục liên thông văn bản quốc gia. Nhiều đơn vị đã áp

dụng chữ ký số cá nhân trong gửi, nhận văn bản điện tử và xử lý công việc trên môi

trường điện tử, như: Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Thông

tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Ủy ban Dân tộc,... tạo sự thay

đổi về lề lối làm việc trong các cơ quan nhà nước cũng như việc cung cấp dịch vụ

công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp.

Cùng với việc đảm bảo ngày càng tốt hơn về quyền tự do ngôn luận, tự do báo

chí, Nhà nước Việt Nam cũng kiên quyết trừng trị những tổ chức, cá nhân lợi dụng

vấn đề này để có những hành vi tung tin xấu độc, xuyên tạc, bôi nhọ, kéo bè, lập phái

chống đối nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cơ quan chức năng Nhà nước Việt Nam đã

điều tra, bắt giữ, truy tố một số đối tượng vi phạm pháp luật, tự xưng là “Nhà đấu

tranh cho dân chủ”, “nhà báo tự do”,… dưới dạng là bloger chuyên viết bài, làm video

clip,… với nội dung xuyên tạc sự thật, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ

nghĩa ở Việt Nam,… hay là những lời “kêu gọi” lập đảng, lập hội… chống đối chế độ

để tung lên mạng xã hội như (Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,…).

Những việc làm đó đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật, gây mất an ninh chính

trị, trật tự, an toàn xã hội, làm cho người dân vô cùng phẫn nộ. Vì thế, bắt giữ, điều

tra, xét xử, truy tố những đối tượng như trên là việc làm cần thiết, vừa đúng quy định

của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế, vừa nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính

đáng của mọi tổ chức và cá nhân. Việc một số tổ chức, cá nhân cố tình xuyên tạc bóp

méo sự thật và cho rằng Nhà nước Việt Nam điều tra, bắt giữ, truy tố những kẻ trên là

“vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí” và trở thành

“một nhà tù lớn nhất trên thế giới dành cho các nhà báo và blogger” là hết sức phi lý,

xuyên tạc trắng trợn tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, chà đạp, bôi nhọ pháp luật


Việt Nam, chuyên bảo kê cho tội phạm, không xứng với tôn chỉ mục đích, danh xưng

mỹ miều “Phóng viên không biên giới”.

Ở Việt Nam nếu còn các nhà báo “dởm, phản động” như Nguyễn Tường Thụy,

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh…thì pháp luật Việt Nam sẽ tiếp tục điều tra, bắt giữ, truy

tố và nhổ tận gốc rễ những kẻ xưng danh nhà báo, nhưng lại không có lương tâm làm

báo, chuyên soi mói, bóp méo sự thật để đạt được mục đích của cá nhân mà thôi./.

 TỈNH TÁO NHẬN DIỆN ĐÚNG CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM.

Hơn 36 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước phát triển mạnh mẽ, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt.
Thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn vẫn cố tình phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Họ ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…
Thủ đoạn tinh vi, khó lường
Về chính trị: Trước hết, họ tập trung phê phán, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo đất nước, họ cho rằng, đó là “chế độ đảng trị”, độc tài, mất dân chủ. Họ còn lợi dụng cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” để xuyên tạc rằng, đó là bằng chứng của vấn đề “Đảng đứng trên luật pháp”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”, “Đảng bao biện làm thay Nhà nước”… Vấn đề Nhà nước, họ xuyên tạc rằng: “Nói là Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng…”; “hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả”… Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, họ cho rằng: “Hoạt động chỉ là hình thức, kém hiệu quả”… Vấn đề xã hội, họ cho rằng: “Mất dân chủ, vi phạm nhân quyền…”.
Nhận diện những vấn đề trên là một hoạt động khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, các đối tượng thường sử dụng internet, mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo… và các phương tiện truyền thông khác như các đài phát thanh, truyền hình VOA, RFA, BBC, RFI… để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất mà họ thường sử dụng, đó là mượn các thông tin, sự kiện có thật đã xảy ra, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hay được phát tán thông qua mạng xã hội để lồng ghép, biên tập, sửa chữa và thêm thắt các tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi được tung ra như một dạng thông tin chính thống. Sau đó, thông qua các hình thức tán phát, như bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, hội luận, ý kiến chuyên gia, người trong cuộc, ngoài cuộc… để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bóp méo sự thật. Cuối cùng, thông qua sự tương tác, bình luận (comment), ý kiến người đọc, người xem để định hướng dư luận theo ý đồ của họ. Với những thủ đoạn tinh vi, dàn dựng khá bài bản, có thể họ đã lừa phỉnh được một số người còn thiếu thông tin, nhận thức hạn chế, phiến diện. Thậm chí, có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, dao động, đã cố tình hoặc vô ý cổ xúy, tiếp sức cho các luận điệu sai trái, phản động, biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Từ việc nhận rõ bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với công cuộc đổi mới đất nước nói chung, đổi mới trên lĩnh vực chính trị-xã hội nói riêng, chúng ta thấy rằng, vấn đề chính trị-xã hội ở Việt Nam luôn là mối quan tâm, chống phá hàng đầu của các đối tượng này. Bởi đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước. Mục tiêu sâu xa của chúng là gây mất ổn định chính trị, xã hội, mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước, tất yếu dẫn tới rối loạn chính trị-xã hội, khủng hoảng và sụp đổ, dẫn tới xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta.
Thực tế sinh động, minh chứng thuyết phục
Thành tựu sau hơn 36 năm đổi mới toàn diện đất nước đã khẳng định tính đúng đắn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mô hình phát triển đất nước do Đảng, nhân dân ta lựa chọn. Đó là, minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch. Nhìn lại lịch sử, những thành tựu đất nước đã đạt được trong công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới chính trị-xã hội với bước đi, hình thức phù hợp “toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(1). Cho đến nay, ở Việt Nam, không có tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về năng lực điều hành, quản lý đất nước có nhiều chuyển biến mang tính đột phá. Hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng với quyết tâm cao, hiệu quả thiết thực. Phát huy được mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; tháo gỡ nhanh, hiệu quả các điểm nghẽn, vướng mắc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu gắn với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương; thực hiện tốt sự phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển. Chính phủ và các bộ tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và đạt kết quả tích cực.
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, với phương châm “Hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”(2) đã phát huy tốt chức năng, vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân, là cầu nối quan trọng giữa Đảng và nhân dân. Củng cố được lòng tin, sự gắn bó của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Những kết quả tích cực đó tạo ra nhiều thay đổi lớn trong đời sống xã hội, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, mở rộng hơn, người dân được thông tin, giám sát hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị được phát huy tốt hơn. Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách ngày càng thích ứng với thông lệ quốc tế, tính nghiêm minh trong thực hiện cao hơn.
Những kết quả đó khẳng định rằng đổi mới chính trị ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trực tiếp là cơ sở để đất nước có được bước phát triển to lớn như hiện nay. Mặt khác, những hạn chế, yếu kém, sai lầm, khuyết điểm được Đảng, Nhà nước thẳng thắn chỉ rõ, như: Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ. Một số hạn chế, vướng mắc chậm được giải quyết, thậm chí kéo dài trong một số nhiệm kỳ, làm cho vận hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong một số trường hợp thiếu thống nhất, thông suốt; việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước; chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp. Từ đó, nhiều tiềm năng, thế mạnh của đất nước chưa được phát huy đầy đủ… những hạn chế đó không thể ngày một, ngày hai có thể khắc phục triệt để mà phải có một quá trình khắc phục kết hợp với đổi mới lâu dài, khó khăn, phức tạp. Vấn đề là Đảng, Nhà nước đã thẳng thắn nhìn nhận và khắc phục với quyết tâm cao nhất.
Từ thực tiễn thành tựu và những hạn chế về đổi mới chính trị-xã hội ở Việt Nam trong sự phát triển của đất nước cho thấy, những kết quả đạt được là cơ bản, to lớn và có ý nghĩa lịch sử, càng khẳng định con đường, mô hình phát triển đất nước là đúng hướng; những hạn chế, thiếu sót khuyết điểm không làm thay đổi bản chất, tính đúng đắn, ưu việt của chế độ chính trị, nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, là luận cứ đanh thép nhất phản bác những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị thời gian qua.

CẦN NĂNG CAO CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THÔNG TIN XẤU ĐỘC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng gây tác động tiêu cực đến dư

luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ;

ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa

dân tộc. Do vậy, cần vạch trần những thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và

phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không

gian mạng, qua đó chủ động phòng ngừa, đấu tranh, năng cao cảnh giác cho mỗi cán


bộ đảng viên và quần chúng nhân dân nhằm góp phần vào cuộc đấu tranh chống âm

mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các

thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.   

Trong tình hình hiện nay, khi lĩnh vực truyền thông được hưởng lợi ích từ

những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4., nhiều nước trên thế

giới, trong đó có Việt Nam, lại bị tác động không mong muốn, ngoài sự kiểm soát bởi

“lợi ích phi truyền thống” từ truyền thông đưa lại. Cụ thể, các thế lực thù địch, phản

động và phần tử xấu đã, đang tiếp tục triệt để lợi dụng, khai thác tính lan tỏa nhằm

đưa các thông tin xấu độc, giả mạo, kích động bạo lực, kêu gọi hình thành các hội

nhóm trái phép, lực lượng chính trị đối lập hoạt động đối trọng với Đảng, kích động

hận thù dân tộc; bôi nhọ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, mục tiêu

làm chuyển biến, thay đổi nhận thức chính trị, không phân biệt được thông tin thật và

giả, dần dần tin vào những thông tin giả mạo, xấu độc dẫn đến mất niềm tin vào cuộc

sống, xa rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, với nhiều thủ đoạn ngày càng

tinh vi sảo quyệt hơn.

Thường lợi dụng trang thông tin điện tử, mạng xã hội để đăng tải, đưa các

thông tin sai sự thật hoặc các thông tin có phần đúng nhưng sai lệch về bản chất thông

tin trên các trang mạng xã hội để đánh lừa người đọc, làm người đọc lầm tưởng là

thông tin chính thống để đăng nhập, chia sẻ trạng thái, bình luận gây hiệu ứng tâm lý

xã hội trước những vấn đề có tính thời sự của đất nước. Khi đã thu hút được sự quan

tâm, theo dõi của người đọc thì các thế lực thù địch và phần tử xấu sẽ đưa vào những

thông tin giả mạo, xấu độc, lồng ghép với các nội dung chống Đảng, Nhà nước, xuyên

tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối phát triển kinh tế của đất

nước, làm người đọc không phân biệt được những thông tin thật - giả, gây hoang

mang, tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Ngoài ra, chúng lợi dụng tiến bộ khoa học của cuộc Cách mạng công nghiệp

lần thứ tư (4.0), ứng dụng miễn phí trong các trang mạng xã hội để chia sẻ trạng thái,

kết bạn, quản lý nhóm bạn bè trên không gian mạng. Từ đó, đưa thông tin xấu độc,

thông tin thật, giả lẫn lộn nhằm tuyên truyền, gây hoài nghi trong xã hội, tác động đến

tư tưởng, tình cảm, đạo đức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, gây mơ hồ, mất cảnh

giác, dao động mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Nguy hiểm hơn nữa, chúng khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng

thông tin điện tử để sửa chữa, chèn thêm đường dẫn (link) đăng tải nội dung, thông tin


giả mạo, xấu độc, văn hóa đồi trụy, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, vi phạm thuần

phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết,

hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm

người đọc mơ hồ mất cảnh giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác

động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội; tạo

lập các blog, website, mạng xã hội kết hợp với các loại hình thông tin khác báo viết,

báo hình, báo nói... để thu hút lượng người truy cập, qua đó truyền bá các quan điểm,

tư tưởng sai trái, phản động.

Nhận thức đúng đắn vai trò, tầm quan trọng của không gian mạng; thực hiện

Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng

của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Kết luận số 53-KL/TW

ngày 04/6/2019 của Ban Bí thư về việc chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ, triệt

phá tin giả, thông tin sai sự thật, xấu, độc trên Internet, mạng xã hội. Các cơ quan, đơn

vị phải thường xuyên quán triệt cho cán bộ chiến sỹ nhận thức đúng đắn tình hình,

nâng cao tinh thần cảnh giác đối với những thủ đoạn mới của các thế lực phản động,

thù địch. Đặc biệt trong thời gian này, khi dịch Covid còn diễn biến hết sức phức tạp

ở nhiều địa phương... Các đơn vị cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện

công tác bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, phát huy tinh thần tự giác cho cán bộ, đảng

viên, công nhân viên chức, trong đơn vị mình về việc phòng, chống thông tin xấu, độc

trên không gian mạng đạt được hiệu quả cao nhất.

THÀNH TỰU TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM SỰ THỰC KHÔNG THẾ LỰC NÀO CÓ THỂ PHỦ NHẬN

 Thành tựu trong công cuộc đổi mới của Việt Nam gần 40 năm qua không

những được nhân dân ta hào hứng đón nhận, mà còn được cộng động quốc tế đánh giá

cao. Vậy mà, vẫn có một số phần tử xấu cho rằng, đổi mới đến nay đã hết động lực,

vậy nên từ sau Đại hội XIII không đổi mới nữa, hoặc nếu có đổi mới thì chính là thay

đổi về chế độ chính trị mà thôi. Luận điệu xuyên tạc này hết sức nguy hiểm, chống

phá trắng trợn của các thế lực thù địch, muốn chèo lái con thuyền Việt Nam đi theo

hướng khác. Nhưng chúng ta có đủ bằng chứng để bác bỏ luận điệu sai trái đó.

Rất tiếc chúng không biết rằng; Mục tiêu nhất quán của Đảng và nhân dân ta là

đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã

hội. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách

mạng Việt Nam kể từ khi có Đảng. Trong gần một thế kỷ đấu tranh, lao động, sáng

tạo, Đảng và nhân dân ta đã từng bước nhận thức đầy đủ hơn, định hình rõ ràng hơn

con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,

công bằng, văn minh”. Chúng ta thực hiện mục tiêu, lý tưởng đó trong bối cảnh gặp

nhiều khó khăn, thách thức. Song dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng đã

đưa đất nước ta vượt qua khó khăn, đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ

quá độ lên chủ nghĩa xã hội và khởi xướng đường lối đổi mới, mở cửa hội nhập với

thế giới mà thành quả to lớn đó thì mọi người dân đều thấy được.

Đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng, khoa học, thay cái cũ

bằng cái mới tốt hơn. Không phải bây giờ, mà trong suốt quá trình cách mạng, chúng

ta luôn thực hiện; song, công cuộc đổi mới lần này mang tính toàn diện, tổng thể, sâu


sắc, liên tục, được chuẩn bị bài bản, theo cách thức của ta và cân nhắc kỹ lưỡng từng

bước đi cụ thể. Đổi mới đồng bộ, hài hòa giữa kinh tế và chính trị, với mục tiêu giữ

vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt

Nam. Đổi mới để phát triển, đồng nghĩa với phát triển, nhưng là sự phát triển trong

thế ổn định, theo đúng định hướng và con đường chúng ta đã chọn.

Về động lực, nguồn lực của đổi mới. Nếu quan niệm động lực, nguồn lực là

những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển, thì động lực của đổi mới bao

gồm nhiều yếu tố mà chúng ta có thể nhận biết được.

Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng, phát

động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ

nghĩa. Đó là định hướng đúng vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, vừa có sự

chắc chắn và niềm tin tưởng vào đó.

Hai là, những thành quả của sự nghiệp đổi mới gần 40 năm qua tiếp thêm luồng

sinh khí mới, tăng thêm động lực, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới.

Thế mới, lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, là kết quả

của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp

tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức

khá cao, tạo đà cho giai đoạn tiếp theo. Cả ba vấn đề này mới tạo ra tầm vóc và khả

năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng

lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển mạnh mẽ hơn.

Ba là, động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp

các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn

là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng, là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng

hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và tinh thần gắn với

truyền thống văn hóa dân tộc. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá

phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền

thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.

Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài là yếu tố quan trọng; nếu biết cách tranh

thủ sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Bao gồm: vốn, kỹ thuật -

công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở

phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu

hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và


chính sách ưu đãi thích hợp, sẽ khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn

hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài

trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

Năm là, sự phù hợp giữa “ý Đảng” và “lòng dân” là động lực mang tính quyết

định đối với sự nghiệp đổi mới của đất nước. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng

tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng và nhân dân ta, thể hiện ở trình độ quyết đoán, nắm bắt

những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, có chiến lược,

sách lược rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua

thách thức đưa đất nước đi lên giành được nhiều thành tựu quan trọng.

Thành tựu của sự nghiệp trong công cuộc đổi mới đất nước của Việt Nam sáng

tỏ như ban ngày, không thế lực đen tối nào có thể phủ nhận được. Trong công cuộc

đổi mới này; Đảng và nhân dân ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn có ý

nghĩa lịch sử, mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú, hết

sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình của sự nghiệp

cách mạng và công cuộc đổi mới phù hợp “ý Đảng” và “lòng dân” đã và đang kết hợp

tất cả ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, yếu tố cơ bản

nhất tạo nên những thành tựu mới to lớn hơn nữa thực hiện mục tiêu, lý tưởng cao cả:

dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã

hội. Những kẻ dân chủ “cuội”, những tổ chức phản động “hèn hạ” đừng hòng xuyên

tạc, bịa đặt hoặc phủ nhận thành tựu to lớn đó của dân tộc Việt Nam. Bởi vì, hơn 90

triệu người dân Việt Nam không nghe những luận điệu xuyên tạc nhảm nhí đó./.

CẦN TỈNH TÁO, CẢNH GIÁC ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BÓP MÉO SỰ THẬT

 Thời gian qua, tổ chức theo dõi nhân quyền ở Mỹ cho rằng, Việt Nam lợi dụng

phòng, chống dịch Covid - 19 có những hành động vi phạm nhân quyền, quyền tự do

thân thể. Chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, bóp

méo sự thật này. Chúng ta đặt câu hỏi: Tổ chức theo dõi nhân quyền ở Mỹ họ có đại diện

cho tiếng nói của người Mỹ hay không? Câu trả lời rằng: Xét về bản chất, tổ chức theo

dõi nhân quyền là một tổ chức phi chính phủ, không chính thống, tổ chức hoạt động dựa

trên những quyền lợi về mặt chính trị và kinh tế. Tiếng nói của nhóm người này mang

quan điểm cá nhân, suy diễn một chiều, không đại diện cho nước Mỹ. Chính vì vậy, cách

hành xử thiếu thiện chí theo lối bôi bẩn bức tranh đẹp, vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết

của tổ chức này là một điều dễ hiểu, chỉ nhằm mục đích phục vụ cho những cá nhân,

những tổ chức phá hoại, phản động.

Như chúng ta đã biết, Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất bị tổ chức này

xuyên tạc, bóp méo. Do đó, chúng ta cần phải tỉnh táo, cảnh giác đấu tranh với những


luận điệu xuyên tạc này. Họ quy chụp Việt Nam lợi dụng Covid - 19 là một điều nực

cười và thể hiện tầm tư tưởng hẹp hòi, ích kỷ, họ cố tình không hiểu rằng đại dịch

Covid - 19 là một hiểm họa lớn trong lịch sử nhân loại, không quốc gia nào muốn,

không ai muốn Covid - 19 tới, không ai mong nó tồn tại và không ai có nhu cầu lợi

dụng nó làm bàn đạp cho sự ổn định của quốc gia, dân tộc mình.

Trong những đợt dịch bùng phát; Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Nhân dân Việt

Nam đã đoàn kết, đồng lòng, cùng chung một ý chí, quyết tâm đẩy lùi đại dịch Covid

- 19. Để chủ động phòng, chống dịch Covid - 19, Bộ Y tế đã ra thông điệp 5K “Khẩu

trang - Khử khuẩn - Khoảng cách - Không tập trung - Khai báo y tế”, kêu gọi mọi

người cùng nhau thực hiện việc chung sống an toàn với dịch bệnh. Chính vì thực hiện

tốt thông điệp này, ngay trong giai đoạn đầu của cuộc chiến chống dịch bệnh Covid -

19, Việt Nam đã nhanh chóng khống chế, dập tắt dịch bệnh, không để lây lan trong

cộng đồng, như Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu: “Có thể nói, chúng ta đã

thắng trong chiến dịch mở màn, giai đoạn đầu của cuộc chiến chống dịch, chúng ta

chưa chiến thắng cả cuộc chiến, nhưng nhất định chúng ta phải chiến thắng”.

Dưới tác động của dịch bệnh, rất nhiều người dân Việt Nam bị ảnh hưởng, bao

gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc hoặc nghỉ luân phiên, giảm giờ làm,

giảm thu nhập. Do đó, hàng triệu người dân Việt Nam đều lo lắng dõi theo bước chân

truy vết những ca lây nhiễm trong cộng đồng, nhất là vào các thời điểm bùng phát của

ổ dịch ở Đà Nẵng đầu tháng 7/2020 hay ở Hải Dương vào cuối tháng 01/2021. Đặc biệt

làn sóng dịch lần thứ tư, tại Bắc Ninh, Bắc Giang và Thành phố Hồ Chí Minh, tại thời

điểm đó, Đảng, Nhà nước cùng các cơ quan chức năng đã đưa ra những chỉ đạo quyết

liệt và nhanh chóng, làm hết sức mình với khẩu hiệu “Chống dịch như chống giặc”,

“Quyết tâm không để ai bị bỏ lại phía sau” nhằm mang lại cuộc sống bình yên cho nhân

dân. Các hành động đã mang hiệu quả tốt đẹp, là nhờ sự phối hợp của các cơ quan chức

năng, cùng ý thức tự giác chi phối hành vi của người dân Việt Nam trong nghiêm túc

thực hiện các quy định pháp luật đồng lòng chống dịch Covid - 19.

Một tờ báo Mỹ dành lời ca ngợi công tác chống dịch nhanh và mạnh mẽ của

Việt Nam, bài báo dẫn lời ông trưởng đại diện Liên hợp quốc tại Việt Nam, theo đó

ba yếu tố được coi là chìa khóa quyết định thành công của Việt Nam đó là truy vết,

xét nghiệm và truyền thông đến từng người dân... Cũng đề cập cuộc chiến chống

Covid - 19 ở Việt Nam tờ báo Nhân Đạo của Pháp nêu: Sự kết hợp phòng, chống


Covid - 19 ở Việt Nam và tăng trưởng kinh tế, bài báo có tiêu đề: Diệt vi rút là động

lực của tăng trưởng, tờ báo này cho rằng Việt Nam đang dựa vào chính thành tích

chống dịch để thúc đẩy kinh tế và phát triển con người.

Việt Nam đã cho thế giới thấy cách chống dịch rất hiệu quả, nhờ sự vào cuộc

sớm và mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị, cách chống dịch của Việt Nam rất bài bản

và chia cụ thể theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn Việt Nam chứng minh phương án

của mình hiệu quả bằng những con số ấn tượng. Điều đáng nói là Việt Nam bám rất

sát với thực tế diễn biến dịch và linh hoạt điều chỉnh phương án chống dịch để phù

hợp với hoàn cảnh biến đổi liên tục. Tổ chức y tế thế giới đồng tình với cách làm nới

lỏng từ từ của Chính phủ trên cơ sở đánh giá rủi ro, làm từ từ để lắng nghe kết quả và

hành động quyết liệt khi có biến động mới, và như thế Việt Nam mới không bị vỡ trận

và những người yếu thế sẽ không bị bỏ lại phía sau.

Vậy mà, tổ chức theo dõi nhân quyền ở Mỹ đã không có được thông tin đầy đủ

về Việt Nam hoặc họ cố tình không tiếp nhận những thông tin đúng về Việt Nam,

thay vào đó họ căn cứ vào các bài viết của các phần tử phản động để suy diễn, bóp

méo Việt Nam vi phạm quyền con người. Theo tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền

năm 1948 quy định rõ: Ai cũng có quyền được sống tự do và an toàn thân thể, đó là

quyền được sống, quyền bảo vệ môi trường sống một cách chính đáng, bất kể cá

nhân, tổ chức nào vi phạm đến quyền được sống, quyền bảo vệ môi trường sống của

số đông thì đều là hành vi vi phạm quyền con người.

Chính vì vậy, những người vi phạm lệnh giãn cách xã hội, trốn cách ly, tụ tập

không theo quy định của Nhà nước, gây nguy hiểm đến sự an toàn cũng như tính

mạng của các cá nhân khác trong cộng đồng mới là vi phạm nhân quyền. Việt Nam

đang tập trung mọi nguồn lực để chống dịch Covid - 19, nhưng một số đối tượng vì

thỏa mãn lợi ích cá nhân, lợi dụng tự do ngôn luận đã tung tin giả, sai sự thật, gây

hoang mang dư luận, bị xử lý theo pháp luật và là hồi chuông cảnh tỉnh cho những ai

coi thường luật pháp. Việc này không vi phạm tự do ngôn luận, vi phạm tự do cá

nhân. Đây chính là câu trả lời rõ nhất Vì sao Việt Nam đang rất thành công trong

công tác dập dịch, vì Chính phủ Việt Nam có sự đồng thuận và niềm tin của người

dân Việt Nam.

Chống dịch Covid - 19 và đảm bảo quyền con người là hai lĩnh vực không thể

tách rời nhau ở Việt Nam. Là một quốc gia còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng, Chính


phủ và Nhân dân Việt Nam đã đoàn kết, đồng lòng cùng ý chí xây dựng một đất nước

phồn vinh, một môi trường sống hòa bình và trong lành. Do đó, nói Việt Nam vi

phạm nhân quyền, quyền về tự do thân thể là xúc phạm tới quyết tâm chung của toàn

cầu để phòng, chống sự lây lan của dịch bệnh. Các tổ chức theo dõi nhân quyền ở hải

ngoại dù cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật như thế nào chăng nữa, thì hơn 90 triệu

người dân Việt Nam cũng không quan tâm đến những đánh giá, bình luận nhảm nhí

đó của họ; bởi chúng ta đang làm đúng với lương tâm và trách nhiệm của mình.

Sử dụng nhiều phương thức đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Việc đấu tranh phòng, chống các luận điệu thù địch, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí

Minh (cả ở khía cạnh cá nhân và tư tưởng của Người) là một công việc khó khăn,

phức tạp, đòi hỏi phải thực sự nỗ lực và có nhiều giải pháp đồng bộ. Bởi các thế lực

xấu luôn không từ bất kỳ thủ đoạn nào để công kích, bôi nhọ, hạ bệ Chủ tịch Hồ Chí

Minh bằng những cách thức rất khó dự đoán trước. Trong khi đó, với môi trường


không gian mạng đa chiều, có tính mở rất cao, những thông tin sai trái đó vẫn có thể

âm thầm tồn tại và len lỏi, thâm nhập dần vào một bộ phận người thiếu thông tin

nhưng cả tin, nhất là trong giới trẻ. Nếu không kịp thời và quyết liệt đấu tranh, có thể

sự thẩm thấu, tán phát ngày càng sâu hơn, rộng hơn và hậu quả cũng khó lường hơn.

Đương nhiên, các giải pháp mang tính chất phòng ngừa là rất quan trọng, bởi đó là

cách trang bị cho cán bộ, đảng viên, nhân dân những kiến thức, nhận thức phù hợp và

mang tính nền tảng, đồng thời làm lan tỏa những thông tin đúng đắn, chính xác để tự

nó có thể “đánh bạt” các thông tin sai trái, bịa đặt. Tuy nhiên, các thế lực xấu luôn có

trăm phương ngàn kế để thực hiện âm mưu thâm độc của mình, do đó, không chỉ

phòng mà còn phải chống, chống quyết liệt và thật sự hữu hiệu.

Hiện nay, trong việc đấu tranh các luận điệu sai trái, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ

Chí Minh phải gắn với việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW của Ban Bí thư

khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu,

vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình

mới" gắn với Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường

bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù

địch trong tình hình mới”. 

Do đó, cần thực hiện tốt việc quán triệt trong cán bộ, đảng viên về những vấn

đề mang tính nguyên tắc, những thông tin, kiến thức mang tính chính thức liên quan

đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng, tấm gương, đạo đức của Người. Tùy theo đối

tượng mà nên trang bị những nhóm kiến thức phù hợp, có thể bắt đầu từ trong nhà

trường phổ thông với những nội dung và hình thức phù hợp. Quá trình đó, cần khéo

léo dẫn lại những luận điệu sai trái, gợi ý các nội dung và cách thức bác bỏ. Trong

hoạt động thông tin và phản bác cần có cách thức để làm người tiếp nhận có thể hình

thành ý thức tự phản biện và tin tưởng bằng cách luận cứ khoa học, chứ không phải áp

đặt.

Các cơ quan chức năng cần nắm chắc những ý kiến sai trái về Chủ tịch Hồ Chí

Minh, cả về thân thế và sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, truy nguyên

nguồn gốc của thông tin sai trái đó, xác định rõ dụng ý hoặc âm mưu của việc lan

truyền các thông tin sai trái đó là gì, đánh giá mức độ lan tỏa và sự nguy hiểm của

nó… để có phương thức đấu tranh hợp lý. Dĩ nhiên, có những thông tin sai trái không


cần đấu tranh hoặc chưa cần đấu tranh thì không nhất thiết phải nhắc đến, tránh tạo sự

hiếu kỳ mà làm lan rộng thêm đến nhiều người khác.

Bên cạnh đó, với những luận điệu nguy hiểm, có chiều sâu về mặt âm mưu, thủ đoạn,

có sự phức tạp về các luận điểm, luận cứ… thì cần phải được nghiên cứu thấu đáo và

có những cách thức đấu tranh thường xuyên, bằng nhiều hình thức, trên nhiều phương

tiện, lan tỏa đến nhiều đối tượng. Chẳng hạn, việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh rồi

tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin hoặc tung hô Hồ Chí Minh

là nhà yêu nước, người theo chủ nghĩa dân tộc thuần túy… nên xem là những luận

điểm cực kỳ nguy hiểm, cần phải đấu tranh triệt để.

Điều quan trọng nữa là cần gắn chặt việc đấu tranh chống các luận điệu sai trái về Hồ

Chí Minh với hoạt động đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, thù địch về vai trò

lãnh đạo của Đảng, về các vị lãnh tụ và các đồng chí lãnh đạo của Đảng… Bởi với

các thế lực xấu, họ luôn có sự gắn kết các vấn đề này với nhau, với logic tư duy là chỉ

cần “bác bỏ” hoặc “bẻ gãy” một điểm thì tự khắc những điểm khác sẽ đổ. Quá trình

đó cần tích cực xử lý các “điểm nóng”, khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong nội

bộ để không còn cớ cho kẻ xấu lợi dụng công kích.

Việc đấu tranh với các quan điểm sai trái về Hồ Chí Minh là một việc quan trọng, cần

được thực hiện thường xuyên, lâu dài, bằng nhiều hình thức, nhiều phương tiện và

nhiều lực lượng. “Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, truyền thông,

kết hợp chặt chẽ với tuyên truyền miệng, các kênh thông tin khác, xây dựng chuyên

trang, chuyên mục tuyên truyền sát hợp thực tế để chủ động đấu tranh, phòng, chống

và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh; gắn với nhân rộng các gương điển hình tiên tiến

trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đa dạng hóa

các phương pháp, hình thức đấu tranh, phê phán những quan điểm sai trái, phản động

của các thế lực thù địch về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với

đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán

bộ, đảng viên và nhân dân”.

Trong nhiệm vụ này, mỗi đảng viên nên tự đặt cho mình trách nhiệm, cả trong ghi

nhận, nắm bắt các thông tin sai trái, phản ánh đến cơ quan, tổ chức có trách nhiệm

(trước hết là với chi bộ) và trong những điều kiện cụ thể có thể tham gia phản bác,

đấu tranh bằng những hình thức phù hợp. Từ các đảng viên, tinh thần chủ động và

tích cực đấu tranh nên tiếp tục được lan tỏa đến quần chúng nơi công tác, nơi cư trú,


người thân và những người xung quanh khác để mỗi khi một thông tin sai trái về Chủ

tịch Hồ Chí Minh nói riêng, về các vấn đề có tính nguyên tắc của Đảng nói chung thì

phải được phản ánh và đấu tranh chứ không có sự thờ ơ hoặc vô tình tiếp tay làm

thông tin đó lan truyền rộng rãi.

Một số vấn đề đặt ra trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc

độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân

tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh,

trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất

nước” (5) . Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch,

phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật để chống phá Việt Nam, đặc

biệt là gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên

không gian mạng, do đó, để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh

thần Đại hội XIII của Đảng, cần làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân,

nhất là các cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phá hoại

của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

Trên thực tế, không gian mạng đã, đang và sẽ là môi trường để các thế lực thù địch

tìm mọi cách lợi dụng vào các hoạt động chống Đảng, Nhà nước ta. Hoạt động

thường xuyên, phổ biến của chúng trên không gian mạng là tuyên truyền phá hoại nền

tảng tư tưởng của Đảng ta. Trong khi đó, số lượng người dân Việt Nam được tiếp cận,

sử dụng in-tơ-nét ngày càng nhiều, kiến thức, kỹ năng về tự bảo vệ bản thân trên

không gian mạng của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế, dẫn đến tình


trạng số lượng người dân tiếp cận với các thông tin tuyên truyền, phá hoại tư tưởng

của các thế lực thù địch ngày một lớn, dễ bị các đối tượng lôi kéo, tiêm nhiễm các

quan điểm sai trái, thù địch. Để mỗi người dân có thể “miễn dịch” với các luận điệu

tuyên truyền, xuyên tạc của kẻ địch và cao hơn có thể trở thành chiến sĩ kiên trung,

đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta cần tiếp tục tăng cường hơn nữa

công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác, để mỗi người dân có thể nhận thức

rõ âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng của các đối

tượng.  

Hai là, làm tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm

phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Thời gian qua, xuất hiện ngày càng nhiều các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia

trên không gian mạng, từ hoạt động của các đối tượng tình báo, gián điệp, phản động,

cho tới các loại đối tượng tội phạm khác, nhất là tội phạm công nghệ cao. Do đó, yêu

cầu làm tốt công tác phòng, ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm

an ninh quốc gia trên không gian mạng ngày càng trở nên cấp thiết. Cần làm tốt công

tác quản lý, giám sát không gian mạng để phòng ngừa và phát hiện sớm các hoạt động

xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Huy động sức mạnh tổng hợp của

toàn dân, của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm

phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Đầu tư xây dựng đội ngũ, lực lượng

nòng cốt chuyên trách, tinh nhuệ, tinh thông nghiệp vụ, đủ khả năng đấu tranh với các

loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.      

Ba là, phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra.

Mặc dù chưa xảy ra chiến tranh mạng, tuy nhiên, thời gian qua, chúng ta đã chứng

kiến nhiều hoạt động tấn công mạng nguy hiểm, gây ra những thiệt hại lớn cho Việt

Nam. Do đó, yêu cầu phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra là hết sức cần

thiết. Để đối phó với nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, chúng ta phải triển khai ngay

các giải pháp tổng thể, đồng bộ bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, khẩn

trương nghiên cứu và có giải pháp hiệu quả phòng, chống chiến tranh mạng, chiến

tranh điện tử, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh thông tin. Tăng

cường quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia

trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng, bảo vệ vững chắc các cơ sở hạ tầng quân sự,

mục tiêu trọng yếu; có chiến lược phát triển nhân lực chuyên ngành công nghệ thông

tin trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an

ninh mạng, tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên

không gian mạng, sẵn sàng ứng chiến khi có chiến tranh mạng xảy ra.   


Bốn là, tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian

mạng.

Để bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng, trước hết cần chú trọng

công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức

về bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ động

phòng ngừa những sơ hở, thiếu sót, không để các thế lực thù địch, phản động và các

loại đối tượng lợi dụng xâm phạm hệ thống thông tin, thu thập, chiếm đoạt bí mật nhà

nước, thông tin nội bộ gây phương hại đến an ninh quốc gia, lợi ích của các cơ quan,

tổ chức và cá nhân. Tuân thủ các quy định của Luật An toàn thông tin mạng năm

2015. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật nhà nước, quy chế phát ngôn, cung

cấp thông tin, tài liệu. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi làm

mất an ninh, an toàn thông tin; lộ, lọt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ hoặc lợi dụng

bí mật nhà nước, thông tin nội bộ để thực hiện các hành vi trái pháp luật.

Năm là, xây dựng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, đủ về số

lượng, đồng thời nghiên cứu, nắm bắt, tiến tới chủ động về công nghệ, trang thiết bị

và dịch vụ mạng.

Việt Nam có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng

làm việc trong các cơ quan nhà nước còn hạn chế, trong đó, không ít người giỏi, có

năng lực chuyên môn tốt đã chuyển ra ngoài khu vực Nhà nước làm việc. Đáng chú ý

là, số lượng người có chuyên môn sâu về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu,

đặc biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng. Do đó, trong thời gian tới, cần có chiến lược

đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ cả về số lượng và bảo đảm về chất lượng,

có thể đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ

tư đặt ra. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác nghiên cứu, hợp tác quốc tế, chuyển

giao công nghệ, tự chủ sản xuất các trang thiết bị, tiến tới có thể tự chủ trong sử dụng,

cao hơn là trong sản xuất các trang thiết bị và ứng dụng dịch vụ mạng./.