Thứ Hai, 5 tháng 6, 2023

Kiên trì, kiên quyết thực hiện đường lối đối ngoại tiến bộ, nhân văn

 Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam

luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-

dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên

truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối

ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công

lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong

thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp,

phát huy, tỏa sáng.

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan

điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với

tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát

triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước

trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và

thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).


Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối

ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa

phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên

cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc

tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời

đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn,

là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc

tế”.

Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ

ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của

đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải

qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà

nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng

cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một

trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt

Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và

luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ

quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình,

ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ

mạnh mẽ.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của

Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4

không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn

Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn,

cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một

cách dân chủ, công khai.

Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là

các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ,

Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi


theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền

lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng

yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần

bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công

tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan

hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-

xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi

mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa

phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh

thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ

quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. 

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng

cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội

ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây

dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới

nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công

nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con

người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin

hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật

đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết

không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm

mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản,

phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter,

Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những

vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại...


Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập,

thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động,

xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước

ta.

Những ý kiến xuyên tạc lạc lõng, ác ý

 Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức

tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ

nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch

Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời

sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua.

Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác

động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái

Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh,

tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục

diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo

riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh

đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt

trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với

ngành ngoại giao Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời

mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của

cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”,


“người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn

cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc,

phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA,

VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước

Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường

quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4

không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang

mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại

của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về

Việt Nam.

Việt Nam - đất nước của sự thân thiện, mến khách và bình yên

 Hình ảnh nguyên thủ quốc gia hay chính khách các nước bình dị đi dạo,

ăn uống những món bình dân trên những con đường, tuyến phố ở Việt Nam


không còn xa lạ. Ngày 3/6/2023 Thủ tướng Australia Anthony Albanese cùng

các bạn trẻ thưởng thức bia hơi Hà Nội tại một quán ăn ở khu phố cổ Hà Nội.

Trước đó, chiều 22/10/2022, sau khi kết thúc các chương trình làm việc, Tổng

thư ký Liên Hiệp quốc António Guterres đã đi dạo, gặp gỡ người dân tại Hồ

Gươm và tham quan đền Ngọc Sơn.

Hay tối 13/11/2022, nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam, Thủ tướng

Đức Olaf Scholz và Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đến thăm đền Ngọc Sơn, đi

dạo trên phố đi bộ xung quanh Hồ Gươm, Hà Nội. Sáng 10/11/2017, trước khi

bắt đầu một ngày làm việc bận rộn với các cuộc họp của Tuần lễ các nhà lãnh

đạo Kinh tế APEC, Thủ tướng Úc - ngài Malcolm Turnbull đã cùng đầu bếp nổi

tiếng người Úc gốc Việt Luke Nguyen ăn sáng với món bánh mì tại một cửa

hàng vỉa hè Đà Nẵng.

Năm 2016, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama cũng có những trải

nghiệm thú vị nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam. Ông Obama đã đi ăn bún

chả cùng đầu bếp nổi tiếng Anthony Bourdain tại quán Hương Liên, một quán

ăn bình dân gia truyền trên phố Lê Văn Hưu (Hà Nội). Mọi người sẽ hơi ngạc

nhiên khi ông Obama đã chọn bún chả thay vì phở (món ẩm thực Việt được

quốc tế biết đến rộng rãi nhất). Và chắc hẳn món bún chả rất hợp khẩu vị của

người đứng đầu Nhà Trắng khi ông ăn liền 2 suất.

Việc Tổng thống Hoa Kỳ đi ăn món ăn bình dân ở Việt Nam không phải

là hiếm bởi vào năm 2000, cả gia đình Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã có chuyến

thăm Việt Nam và trải nghiệm ẩm thực tại TP Hồ Chí Minh. Quán mà gia đình

ông Clinton chọn không phải một nhà hàng sang chảnh hay đẳng cấp 5 sao mà

lại là quán phở bình dân nằm ngay sát chợ Bến Thành. Đó là tiệm Phở 2000. Sau

chuyến thăm lịch sử tới Việt Nam năm 2000, hình ảnh một Việt Nam hòa bình

và thân thiện tiếp đón Tổng thống Mỹ được cả thế giới biết tới, giúp quan hệ

Việt - Mỹ xích lại gần nhau hơn sau quá khứ đau buồn của chiến tranh. Hình ảnh

ông Bill Clinton dạo quanh Bờ Hồ, bắt tay, vẫy chào người dân Hà Nội trong


chuyến thăm Việt Nam năm 2006 với tư cách nhà quản lý của Tổ chức Sáng

kiến chống AIDS toàn cầu cũng để lại rất nhiều ấn tượng tốt đẹp…

Nếu một quốc gia mất tự do, dân chủ, nhân quyền, an ninh bất ổn thì

nguyên thủ, chính khách quốc tế có được tự do đi lại, tận hưởng sự thanh bình

bên cốc trà đá hay ly cà phê, bình dị với món phở hay bún chả trên phố? Một đất

nước mất nhân quyền thì nguyên thủ các quốc gia trên thế giới có thể tự do đi lại

tham quan danh lam, thắng cảnh, trải nghiệm ẩm thực trong sự mến khách của

người dân mà không phải lo về hành động mất an toàn có thể diễn ra?

Góc nhìn về một Việt Nam tự do, dân chủ, mến khách

 Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em mang những

đặc điểm văn hóa đa dạng bản sắc, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất,

cư trú phân tán và xen kẽ nhau. Bảo vệ và thúc đẩy phát triển bình đẳng dân tộc,

phát triển quyền con người là chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt

Nam. Việt Nam luôn xem con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi

mới và công cuộc phát triển đất nước, nỗ lực vì mục tiêu nâng cao đời sống,

quyền thụ hưởng của người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau. Các quyền cơ

bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam, được bảo vệ, thúc


đẩy bởi các văn bản pháp luật cụ thể và được triển khai trong thực tiễn. Tất cả

mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định

của pháp luật. Bất cứ ai vi phạm pháp luật đều phải bị chế tài tương ứng. Nhà

nước nỗ lực để bảo đảm sự thụ hưởng đầy đủ các quyền của mỗi người dân

trong một xã hội an toàn, trật tự và công bằng. Không ai bị bắt giữ, xét xử vì

thực hiện các quyền con người một cách chính đáng.

Vấn đề dân chủ, nhân quyền được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm

lãnh đạo, chỉ đạo với nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp đúng đắn, phù

hợp và đạt được nhiều kết quả thiết thực, không thể phủ nhận. Tôn trọng, thực

thi, bảo vệ nhân quyền là một chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt

Nam. Tuy Ngày Nhân quyền thế giới bắt đầu có từ 10/12/1948 nhưng quyền con

người, quyền công dân của người dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã

được hiến định tại Hiến pháp 1946 và tiếp tục được bổ sung rõ ràng hơn, đầy đủ

hơn tại các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và nhất là tại Hiến pháp 2013. Tính đến

năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp

quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao

động quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản liên quan đến các lĩnh vực

thương lượng tập thể, phòng, chống phân biệt đối xử, lao động trẻ em và lao

động cưỡng bức…

Việc Việt Nam trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ

thứ 2 (2023- 2025) và với những đóng góp trực tiếp vào công tác bảo vệ, thúc

đẩy quyền con người trên toàn thế giới là minh chứng về vị thế, uy tín của Việt

Nam, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Những đóng

góp cho nhân quyền thế giới của Việt Nam đã và đang được quốc tế có những

đánh giá cao, là những thành tựu không thể phủ nhận, góp phần khẳng định

tiếng nói về quyền con người của Việt Nam với thế giới. Những kết quả, thành

tựu to lớn trên lĩnh vực thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm quyền con người mà Việt

Nam đã đạt được là minh chứng sinh động cho thấy quan điểm, chủ trương,


đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam là đúng đắn,

là vì quyền con người.

Những thành tựu Việt Nam đạt được thể hiện rõ trên các lĩnh vực như

trong xây dựng hệ thống pháp luật, triển khai thực thi quyền con người; tham gia

ký các công ước quốc tế, điều ước quốc tế về quyền con người và cam kết thực

hiện, coi đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý của Nhà nước. Việt Nam hoàn

thành trước hầu hết các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và đang tích

cực triển khai thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDG), nhất là đóng

góp của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền (với chu kỳ III, Việt Nam đã thực

hiện nghiêm túc, trách nhiệm 82,6% các khuyến nghị đã chấp thuận). Cùng với

đó, việc khởi động tiến trình Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV là thêm

một minh chứng cho thấy không phải Việt Nam “sợ nhân quyền”, “không thực

thi nhân quyền” như các luận điệu xuyên tạc mà là luôn chú trọng đảm bảo nhân

quyền, quyền công dân cho người dân. Ngày 3/4/2023 (giờ địa phương), tại trụ

sở Văn phòng Liên Hiệp quốc tại Geneva (Thụy Sỹ), Hội đồng Nhân quyền Liên

Hiệp quốc đã đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn

quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố cùng Chương trình hành

động Viên (VDPA) do Việt Nam đề xuất và soạn thảo.

Chuyến thăm tốt đẹp của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Anthony Blinken đã một

lần nữa khẳng định về một Việt Nam yên bình, thân thiện và mến khách. Những

giá trị và truyền thống tốt đẹp, sự hiếu khách cùng những trải nghiệm thanh

bình, ấm cúng đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong cảm nhận của Ngoại trưởng Hoa

Kỳ cũng như các chính khách từng đến Việt Nam. Điều đó đã và đang giúp Việt

Nam trở thành điểm đến thân thiện trong mắt bạn bè quốc tế, đồng thời bác bỏ

những luận điệu của các thế lực xấu vu cáo Việt Nam không có tự do, dân chủ,

nhân quyền…

Thực tiễn sinh động phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về “Báo chí” của Việt Nam

 Tại Việt Nam, báo chí là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống

xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính

trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội

- nghề nghiệp; là diễn đàn của nhân dân. Đảng, Nhà nước ta luôn tạo mọi điều

kiện thuận lợi để quyền tự do báo chí được thực hiện theo đúng quy định của

pháp luật. Tuy nhiên, các đối tượng xấu lại luôn lợi dụng chống phá, đưa ra

những thông tin sai trái, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí, tự do ngôn

luận.

Quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là tôn

trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25,

Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,

tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do

pháp luật quy định”.

Để thúc đẩy sự phát triển của báo chí và bảo đảm quyền tự do ngôn luận

của người dân, Đại hội XIII của Đảng đề ra chủ trương “xây dựng nền báo chí,

truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại”. Hiện nay, các cơ quan chức

năng đang tích cực thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Quy

hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 và Chiến lược

chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Việc đào tạo,

bồi dưỡng nhân lực cho lĩnh vực báo chí được quan tâm đầu tư.

Đồng thời, Nhà nước đã có chính sách đặt hàng báo chí phục vụ nhiệm vụ

chính trị, an ninh, quốc phòng, thông tin đối ngoại, phục vụ thiếu niên, nhi đồng,

người khiếm thính, khiếm thị, đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện

kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải

đảo và các nhiệm vụ trọng yếu khác.

Số liệu thống kê đến cuối năm 2022 cho thấy, nước ta có 127 cơ quan

báo, 670 cơ quan tạp chí (trong đó có 327 tạp chí lý luận chính trị, khoa học và

72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Số người


đang làm việc trong lĩnh vực báo chí là 41.000 người, với 19.356 cán bộ đã

được cấp thẻ nhà báo.

Cùng với các cơ quan báo chí trong nước, nhiều hãng truyền thông, thông

tấn quốc tế đã có mặt tại Việt Nam như CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng

thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Rossiya

Segodnya (Nga)... Với lực lượng làm báo hùng hậu như trên, đời sống báo chí ở

Việt Nam đã diễn ra hết sức nhộn nhịp, phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội.

Đây là nền tảng quan trọng để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí cho

mỗi người dân.

Theo quy định của pháp luật nước ta, công dân có quyền sáng tạo tác

phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí;

tiếp cận thông tin báo chí; liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo

chí; phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng

và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà

nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các

tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị

xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ

chức, cá nhân khác…

Với những quy định này, mọi người dân đều dễ dàng tham gia vào hoạt

động báo chí, trở thành một nhà báo tự do tìm kiếm, phát hiện đề tài và đưa ra

sản phẩm báo chí, đảm bảo quyền tự do hoạt động theo quy định của Luật Báo

chí và các luật liên quan. Trong thời gian qua, báo chí đã có những đóng góp vô

cùng quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong công tác

phòng chống tham nhũng, nhiều vụ việc tiêu cực, vi phạm đã được báo chí phản

ánh và đưa ra ánh sáng, góp phần làm trong sạch bộ máy.

Tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính chỉ có thể tồn tại trong một

quốc gia có chủ quyền, không bị lệ thuộc vào bất kỳ thế lực nào. Bởi vậy, đi liền

với việc thực hiện các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, mỗi người dân cũng


phải chấp hành nghiêm các quy định về nghĩa vụ của công dân để bảo đảm lợi

ích của quốc gia, dân tộc.

Mọi hành vi lạm dụng, lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn để xâm

phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân

đều bị nghiêm cấm và có chế tài nghiêm khắc. Không chỉ riêng tại Việt Nam, ở

tất cả các quốc gia khác trên thế giới đều quy định tương tự.

Đơn cử, Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền Pháp năm 1789 ghi

nhận: “Bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ

sẽ phải chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp

luật”. Hay như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) cũng

quy định mọi người có quyền tự do ngôn luận nhưng việc thực hiện quyền này

phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt để tôn trọng các quyền

hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức

khoẻ hoặc đạo đức của xã hội.

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng và

bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Việc đưa ra bảng xếp hạng từ những

con số, dữ liệu sai lệch rồi cho rằng Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do

báo chí là những luận điệu xuyên tạc, đi ngược lại lợi ích của Việt Nam và cách

làm sai trái đó khiến bức tranh tự do báo chí trên thế giới nói chung bị bóp méo,

biến dạng.

Một trong những mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch hiện nay

 Khi bàn về đấu tranh tư tưởng, nguyên Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã

tuyên bố: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất”, “toàn bộ vũ khí của

Mỹ, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu

chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”.


Một số nhà tư tưởng của các nước phương Tây cũng nhận định: “Một đài

phát thanh cũng có thể bình định xong một đất nước”, “một đô la chi cho tuyên

truyền có tác dụng ngang với 5 đô la chi cho quốc phòng”… Chính bởi vậy, các

thế lực thù địch đã tìm cách lợi dụng vỏ bọc “dân chủ”, “nhân quyền” để tạo cớ

tấn công, chống phá mặt trận tư tưởng của ta. Hiện nay, ngoài các cơ quan báo,

đài đang duy trì hoạt động, các tổ chức, cá nhân thù địch còn lập ra hàng ngàn

trang web để lan truyền những thông tin sai trái, độc hại.

Thông qua vỏ bọc tự do ngôn luận, tự do báo chí, các thế lực xấu đang

triệt để sử dụng chiêu trò “nội công, ngoại kích”. Một mặt, chúng tuyển lựa, đào

tạo, hỗ trợ các “con buôn dân chủ” trong nước tiến hành những hoạt động công

kích Đảng, Nhà nước, các cơ quan chính quyền dưới vỏ bọc “nhà báo tự do”,

“phóng viên tự do”.

Mặt khác, các thế lực bên ngoài thường xuyên rêu rao về tính tuyệt đối

của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, kích động các giá trị dân chủ quá đà

“nhân quyền cao hơn chủ quyền” và đồng thời gây sức ép, đưa ra các bản báo

cáo, phúc trình, xếp hạng có nội dung sai sự thật về tình hình tự do báo chí tại

Việt Nam; vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam “đàn áp” báo chí, cho rằng Việt

Nam không có tự do báo chí, không có tự do ngôn luận!

Việc xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền của Việt Nam nói chung và

việc thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận nói riêng không phải là mới.

Đây là kịch bản cũ thường xuyên được các cá nhân, tổ chức chống đối thực hiện.

Thông qua việc vu cáo Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, các

thế lực thù địch đã tìm cách hòng thò tay can thiệp vào công việc nội bộ của

Việt Nam. Thực chất, đây là một thủ đoạn trong cuộc chiến trên mặt trận tư

tưởng mà các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, nhất là trong bối cảnh bùng nổ

thông tin như hiện nay.

Nhận diện hoạt động các tà đạo, tạp đạo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự

 Hiện nay, những loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có yếu tố mê tín dị đoan

đang có diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, quản lý khi vẫn còn một bộ phận

quần chúng nhân dân tin theo và gây ra nhiều hệ lụy đến đời sống xã hội. 

Dưới góc độ tư tưởng, mê tín dị đoan khiến cho họ xa rời với khoa học

hiện đại, phủ nhận những tiến bộ xã hội, mất niềm tin với đời sống xã hội khi

dành niềm tin tuyệt đối, mù quáng vào một thế giới siêu nhiên, vào sự quyết

định và chi phối của thần linh, ma quỷ. Trong đời sống sinh hoạt xã hội hàng

ngày, mê tín dị đoan gây nên những lãng phí, bất ổn, đau thương, mất mát, tiêu

hao của cải, vật chất của con người. Ở mức độ nguy hiểm hơn, đã có không ít

trường hợp từng có nhiều người bị mắc bệnh nhưng lại tin vào sự mê tín rằng


chỉ làm lễ để cúng bái thì có thể “đuổi con ma”, chữa khỏi bệnh, từ đó dẫn đến

mất mạng hoặc mang thương tật, tàn phế. 

Những hệ lụy của mê tín dị đoan rõ ràng đang ảnh hưởng không nhỏ đến

nhận thức, đời sống của người dân. Đặc biệt, có một thực tế nguy hại khi trong

số những người tin theo thần linh, đi theo tà đạo, tạp đạo ngoài bộ phận quần

chúng có đời sống khó khăn, nhận thức hạn chế thì có cả người có học thức, có

hiểu biết nhưng vẫn tin và làm theo những chỉ dẫn hoang đường, tin theo lời nói

của những người tự nhận mình có “khả năng tâm linh”! Thực tế đó không thể

phù hợp trong một xã hội mà chúng ta đang xây dựng - xã hội công bằng, dân

chủ, văn minh. 

Trong khi những loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có yếu tố mê tín dị đoan

đã và đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, xã hội thì những hiện

tượng tín ngưỡng tôn giáo có yếu tố tà đạo, tạp đạo do một số tổ chức, cá nhân

có ý đồ xấu về chính trị thành lập, nuôi dưỡng đang có những hoạt động gây ảnh

hưởng đến an ninh, trật tự. Có đối tượng còn trở thành tay sai, quân cờ của các

thế lực thù địch để tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình tự do tôn

giáo ở Việt Nam; kích động, lôi kéo tín đồ cực đoan, quá khích chống lại chủ

trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lợi dụng vấn đề tôn giáo,

tín ngưỡng để gây rối, phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc, gây bất ổn trong

nội bộ nhân dân. Một số đối tượng cầm đầu trong các tổ chức như “Tin Lành

Chrish”, “tà đạo Hà Mòn”, “Tin Lành Đề Ga”, “đạo Bà Cô Dợ”, “tà đạo Dương

Văn Mình”… còn lợi dụng vấn đề tôn giáo để lừa bịp, kích động bà con đồng

bào dân tộc thiểu số tham gia các hoạt động ly khai tự trị, chống đối chính

quyền. Hành động này không chỉ xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương mà

còn  gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ…

Ngoài ra, các cá nhân này còn lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo,

lợi dụng niềm tin của tín đồ để kích động và tiến hành các hoạt động chống

chính quyền, chống chế độ dưới chiêu bài đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ,

nhân quyền… Số này biến mình thành những quân cờ dưới sự hà hơi tiếp sức


của các tổ chức chống phá ở nước ngoài, điển hình là Human Rights Watch, Ủy

ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF)… Đổi lại, các tổ chức thiếu thiện

chí với Việt Nam nêu trên sẽ có thông tin sai lệch từ các đối tượng chống đối

trong nước cung cấp. Đây là cơ sở để họ cho “ra lò” các báo cáo thường niên về

nhân quyền, về tự do tôn giáo toàn cầu với nội dung chứa đựng những luận điệu

phiến diện, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt

Nam, vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo”! Đây chính là cái cớ để họ gây sức ép

về mặt chính trị, ngoại giao,  tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt

Nam.

Chính vì vậy, việc nhận diện đúng đắn những loại hình tín ngưỡng, tôn

giáo có yếu tố mê tín dị đoan, các tà đạo, tạp đạo nêu trên sẽ góp phần nâng cao

nhận thức của mỗi người dân. Qua đó giúp chúng ta hiểu rõ đâu là chính đạo,

đâu là tà đạo, nắm được tác hại của các tà đạo, tạp đạo đối với đời sống vật chất,

tinh thần của người dân và những ảnh hưởng xấu đến an ninh, an toàn xã hội. Từ

đó hình thành tính tự giác trong công tác phòng ngừa, tham gia đấu tranh ngăn

ngừa hoạt động của các tà đạo. Đây cũng là cơ sở quan trọng để các cơ quan

chức năng nhận được sự đồng tình, ủng hộ từ nhân dân, tạo thế trận lòng dân

trong việc tẩy chay các hiện tượng tà đạo, tạp đạo; xử lý nghiêm số đối tượng

cầm đầu, cốt cán lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng vi phạm pháp luật,

xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Tranh thủ sự đồng tình, ủng

hộ của quần chúng nhân dân ngay tại cơ sở, tuyên truyền vận động người dân

tuân thủ theo pháp luật, đảm bảo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn, lành

mạnh.

NHÂN THỨC RÕ BẢN CHẤT CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY

 Trước những luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực

thù địch đã và đang hiện hữu, rất nhiều câu hỏi đặt ra cho chúng ta và cho cả bạn

bè quốc tế là: Bản chất, vai trò của hoạt động tuyên giáo - tuyên truyền là gì?

Phải chăng chỉ có Cộng sản, chỉ có Việt Nam mới có công tác tuyên truyền?

Công tác tuyên truyền của Đảng và Nhà nước ta, liệu có giống như lời rêu rao

của các thế lực thù địch...?

Thứ nhất, về bản chất của hoạt động tuyên truyền.

Theo Từ điển Tiếng Việt thì tuyên truyền là “Giải thích rộng rãi để thuyết

phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo”. Như vậy, tuyên truyền (propagate)

là hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh

thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những kiến thức, giá trị tinh thần đó thành

nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng; thôi thúc đối tượng hành động theo

những định hướng, những mục tiêu do chủ thể tuyên truyền đặt ra. Mục tiêu

quan trọng nhất của hoạt động tuyên truyền không dừng lại ở thay đổi suy nghĩ

hay thái độ của quần chúng, mà cần phải tạo hành động trong quần chúng.

Rõ ràng, bản chất, vai trò của công tác tuyên truyền là một hoạt động thiết

yếu của bất cứ tổ chức, quốc gia nào. Nếu không có hoạt động này thì tất yếu tổ

chức, chính quyền, quốc gia đó sẽ tự cô lập chính mình với nhân dân trong

nước, cô lập mình với các tổ chức, chính quyền, quốc gia khác. Và khi đã không

có sự kết nối, nguy cơ đe dọa về tính chính danh, về sự an toàn… sớm muộn

cũng sẽ hiện hữu.

Thứ hai, phải chăng chỉ có Việt Nam mới có công tác tuyên giáo, tuyên

truyền?


Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, với tư cách là chủ thể về lãnh

thổ, chính quyền, dân cư, về khả năng tham gia vào quan hệ với các quốc gia

khác, về quyền dân tộc tự quyết… đương nhiên trong hoạt động đối nội và đối

ngoại, phải tiến hành các hoạt động tuyên truyền để đảm bảo về quyền và lợi ích

của mình.

Ví dụ như, ở Trung Quốc, công tác tuyên truyền luôn được nước này xem

là một bộ phận quan trọng trong công tác Đảng; luôn coi tuyên truyền và quản lý

thông tin là ưu tiên hàng đầu, dành nguồn lực vật chất và bộ máy nhân lực đáng

kể cho công tác tuyên truyền; chú trọng việc kết hợp ngoại giao nhà nước với

ngoại giao văn hóa để định hướng và quản lý dư luận. 

Tại Nga, hoạt động tuyên truyền được hiểu là sự lan truyền thông tin đại

chúng nhằm thúc đẩy quan điểm, nhận thức hoặc chương trình nghị sự của chính

phủ. Theo đó, Chính phủ nước này tăng cường đầu tư cho các kênh tuyên truyền

như Rossiya Segodnya (tổ hợp truyền thông chính thống của Nga, trong đó có

đài Sputnik và hãng thông tấn RIA), mạng lưới truyền hình RT (Russia Today)

và nhiều các kênh báo chí, truyền hình khác.

Ở Anh, hoạt động truyền bá hình ảnh của vương quốc được tiến hành ở

hầu hết các lĩnh vực. Riêng lĩnh vực truyền thông thì hãng BBC (thông tấn xã

quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland) đóng vai trò chủ đạo.

Cùng với ngôn ngữ tiếng Anh, tất cả các hoạt động tuyên truyền của vương quốc

này đã mang đến cho họ một hình ảnh “siêu cường văn hóa, và London được mô

tả như một thủ đô văn hóa thế giới”.

Tại Áo, nhắc đến đất nước này, hầu như cả thế giới đều cho rằng đây

chính là kinh đô thế giới về âm nhạc cổ điển. Sở dĩ như vậy là vì quốc gia này

cũng đã sử dụng các cơ quan, tập đoàn báo chí - truyền thông (đặc biệt là 3 tập

đoàn: Đài Truyền hình quốc gia Áo - ORF, Báo Wiener Zeitung, Hãng thông tấn

xã Áo - APA) thường xuyên tiến hành tổ chức các chương trình văn hoá, nghệ

thuật nhằm tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, đất nước con người và âm nhạc cổ

điển Áo ra thế giới…


Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công tác tuyên

truyền còn diễn ra rất mạnh mẽ và sôi động trên không gian mạng Internet. Hầu

hết các quốc gia, tôn giáo, tổ chức xã hội… đã khai thác triệt để ưu thế của công

nghệ số để xây dựng các website, cổng thông tin điện tử, các trang mạng xã

hội… để tuyên truyền, hướng người dân và công chúng theo mục đích, con

đường phát triển của mình. Dù khác nhau về hình thức, cách  thức tương tác

(thực, ảo)... nhưng bản chất vẫn là hoạt động tuyên truyền, quảng bá. Như vậy,

với bất cứ quốc gia nào, để người dân tin tưởng và làm theo chính quyền, để

khẳng định được vị thế quốc gia trên trường quốc tế thì tất yếu phải có công tác

tuyên truyền.

Thứ ba, công tác tuyên truyền của Đảng và Nhà nước ta liệu có như

những lời rêu rao của các thế lực chống đối, thù địch?

Có thể thấy rằng, đối với công tác tư tưởng của Đảng ta, tuyên truyền là

một trong ba bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng (lý luận, tuyên truyền, cổ

động), có nhiệm vụ phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối của

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân. Công tác

tuyên truyền góp phần nâng cao nhận thức, hình thành và củng cố niềm tin cho

mọi tầng lớp nhân dân; cổ vũ, động viên, thúc đẩy và biến nhận thức, niềm tin,

nhiệt huyết của quảng đại quần chúng thành hành động cách mạng, góp phần

xây dựng con người mới, cuộc sống mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác

tuyên truyền đã cổ vũ, động viên phong trào thi đua yêu nước giúp bảo vệ an

ninh chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại; giúp uốn nắn những nhận thức lệch

lạc, đấu tranh với những quan điểm, hành động sai trái, bảo vệ nền tảng tư

tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Kể từ khi ngành tuyên giáo ra đời (1/8/1930) đến nay, công tác tuyên

truyền đã khẳng định vai trò và sức mạnh của mình trên mặt trận tư tưởng - văn

hóa của Đảng. Thực tiễn đã chứng minh, công tác tuyên truyền của chúng ta

không phải tự nhiên sinh ra, mà trải qua một chặng đường lịch sử, trong đó “có

sự cống hiến, đóng góp công sức của các thế hệ cán bộ tuyên huấn, nhà văn, nhà


báo, nhà giáo, nghệ sĩ, nhà khoa học... đã vượt qua biết bao gian khổ, hy sinh,

làm nên những thành tích vẻ vang, đóng góp vào công cuộc bảo vệ độc lập dân

tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới, phát triển đất nước”(1). Đặc biệt,

trong đối nội và đối ngoại, công tác tuyên truyền của Đảng ta được tiến hành bài

bản, khoa học, đem lại những hiệu quả, lợi ích to lớn, quan trọng cho quốc gia -

dân tộc.

Công tác tuyên truyền - thông tin đối ngoại đã góp phần tạo sự lan tỏa

hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế, giúp bạn bè quốc tế biết đến một Việt

Nam Khát vọng hòa bình và Phát triển bền vững; biết đến một Việt Nam có

hàng nghìn năm lịch sử, có nền văn hóa mang bản sắc riêng và độc đáo, có

truyền thống tốt đẹp; là quốc gia có đóng góp tích cực góp phần nâng cao vai trò

của Liên hợp quốc trong thời kỳ mới; là nơi an toàn lý tưởng để các nhà đầu tư

quốc tế lựa chọn, là nơi mà du khách có thể cảm thấy an toàn, thân thiện và hạnh

phúc khi đặt chân đến… và là “Điểm đến của thiên niên kỷ mới”!

Cũng từ các hoạt động định hướng, tuyên truyền thiết thực, khoa học mà

chất lượng tuyên truyền biển, đảo và biên giới trên đất liền ở nước ta được nâng

cao, nhận được sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài

nước, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Nội dung công tác tuyên truyền biển,

đảo và biên giới trên đất liền luôn được thực hiện đúng đắn, phù hợp với tình

hình thực tiễn; được bạn bè, cộng đồng quốc tế ủng hộ, thừa nhận tính chính

danh và chính nghĩa của Việt Nam.

Công tác tuyên truyền - thông tin đối nội cũng đã đạt được nhiều thành

tựu vẻ vang đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, “góp phần giáo

dục, tuyên truyền và bảo vệ đường lối Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã

hội của cách mạng nước ta”(2) đồng thời bảo vệ, gìn giữ sức sống của chủ nghĩa

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực tư tưởng - lý luận, tuyên

truyền, khoa giáo, văn hóa - văn nghệ; là vũ khí đấu tranh, phản bác có hiệu quả

trước các quan điểm sai trái, thù địch.


Có thể thấy, nhờ có hoạt động tuyên truyền mà chủ trương, đường lối của

Đảng, pháp luật của Nhà nước đã đến với nhân dân một cách kịp thời, hiệu quả

và thiết thực. Các vấn đề quan trọng của đất nước, từ kinh tế - xã hội, quốc

phòng - an ninh, văn hóa… cho đến đời sống tư tưởng tình cảm, thực hành tôn

giáo tín ngưỡng… của nhân dân được phản ánh kịp thời, sinh động. Đây chính

là vai trò “cầu nối” giữa “Ý Đảng” với “Lòng Dân” của ngành tuyên giáo; góp

phần tăng cường bồi đắp, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước;

góp phần nâng cao vị thế quốc gia, lòng tự hào dân tộc, khát vọng Việt Nam.

Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ không ngừng xuyên tạc, chống

phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội của chúng ta. Trong bối cảnh

đó, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng được xác định là nhiệm vụ và

nội dung tất yếu, cơ bản, hệ trọng, quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn

quân, toàn dân ta. Trong đó công tác tuyên truyền phải luôn được xác định là

nòng cốt, tự giác, thường xuyên và thiết thực như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí

Minh: “Tuyên truyền là đem một phần việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân

theo, dân làm, nếu không đạt được mục tiêu đó thì tuyên truyền thất bại”(3)./.

NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 Trong những năm gần đây, các tổ chức phản động người Việt Nam ở

nước ngoài; các lực lượng cạnh tranh về tư tưởng, chính trị (những người nghiên

cứu lý luận, hoạt động chính trị đảng phái tại một số nước phương Tây và cả

những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam…);

các cá nhân người Việt ở trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua

chuộc, lợi dụng, núp bóng dưới ngọn cờ “dân chủ, nhân quyền”… ngày càng

tăng cường xuyên tạc, phủ nhận và tiến hành chống phá nền tảng tư tưởng và


chế độ chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt, khi công tác

tuyên truyền của chúng ta ngày càng khẳng định được vai trò nòng cốt trong quá

trình bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì các thế lực này lại càng ráo riết

chống phá bằng nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, trong đó việc sử dụng triệt để

tiện ích của Internet qua các website, mạng xã hội, các kênh thông tin truyền

thông… là hình thức phổ biến nhất.

Có thể nhận diện điều này qua các nhóm vấn đề sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng, hoạt động tuyên giáo - tuyên

truyền của Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ là “kỹ năng lừa gạt”, “ru ngủ nhân

dân”(!?)

Để “minh họa” cho luận điệu này, họ đã tạo dựng lên cái gọi là ý kiến của

“một số nhà quan sát và phân tích thời sự, chính trị Việt Nam” để chia sẻ với

báo chí chống cộng ở hải ngoại những “quan điểm” về công tác tuyên giáo -

tuyên truyền của Đảng ta. Qua đó bóp méo, xuyên tạc về thành tựu sau hơn 35

năm đổi mới của ngành Tuyên giáo. Từ những nhận định hết sức hồ đồ của một

số người bất đồng chính kiến như Nguyễn Quang A, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn

Nguyên Bình… rồi cho rằng, Tuyên giáo “đã thành công trong việc định khung

(framing) tư duy cho nhiều người Việt Nam để tin vào đường lối của Đảng Cộng

sản Việt Nam, nhưng đó là nghệ thuật tuyên truyền chứ không hề khoa học gì

cả”; “Vai trò của tuyên giáo... chỉ là “trò tuyên truyền” chứ không phải lý luận

khoa học gì cả, càng không “đi trước-mở đường””…(!).

Nhân sự kiện ngày 1/8/2020, khi Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức kỷ

niệm 90 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo, các thế lực chống đối, thù

địch đã tìm mọi cách xuyên tạc. Điển hình như, trước ý kiến của TS. Vũ Ngọc

Hoàng (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng khóa X, XI, nguyên Phó trưởng ban

Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương) khẳng định rằng: “mục đích đầu tiên

và quan trọng nhất của công tác tuyên giáo là nhằm tham gia khai hóa văn minh

cho cộng đồng dân tộc và thực hiện nhiệm vụ chính trị”, thì trên một số trang

mạng và báo điện tử ở hải ngoại đã dùng chiêu trò giật tite câu view bằng một số


bài viết kiểu như “Lời lừa dối hoành tráng” rồi lu loa rằng “tuyên truyền của

tuyên giáo lừa dối dân”, rằng “từ trước đến giờ cộng sản luôn có một lối ru ngủ

nhân dân duy nhất, làm cho người dân dù bất mãn cỡ nào cũng không phản

kháng hoặc phản kháng yếu ớt…” (!?).

Thứ hai, các thế lực thù địch cho rằng công tác tuyên truyền của Việt

Nam hiện nay chỉ là một sự “tụt hậu” và bản chất là “làm người dân mụ

mẫm”(!?)

Đài BBC News Tiếng Việt, Đài Châu Á Tự do thường xuyên đăng phát

những nội dung xuyên tạc, phủ nhận vai trò của ngành Tuyên giáo đối với sự

nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta. Họ tập hợp "những ý kiến độc lập” để

đưa tin sai lệch, bôi xấu về tình hình trong nước nhằm tung hê cho luận điệu:

Tuyên giáo “làm người dân mụ mẫm(!?). "tẩy não người dân, thuyết phục người

dân, lừa bịp để làm người dân mụ mẫm”.

Gần đây nhất, liên quan đến việc chúng ta đặt tên đường phố, công trình

công cộng, trong đó có sự cân nhắc về một số nhân vật lịch sử còn có những ý

kiến trái chiều, thì ngay lập tức, thế lực thù địch đã lấy đó làm cơ hội để thực

hiện ý đồ xuyên tạc, chống phá. Một mặt, họ cố tình lờ đi nội dung quan trọng là

“một số nhân vật lịch sử còn có những ý kiến trái chiều”, mặt khác, nhân danh

“giới nghiên cứu” rồi ấu trĩ viện dẫn lịch sử “thời pháp thuộc” thời “Việt Nam

Cộng hòa”… và tiến hành trích dẫn ý kiến của những kẻ hời hợt, bảo thủ, kém

hiểu biết để rêu rao rằng: “văn bản này của Ban Tuyên giáo Trung ương đi

ngược lại sự thật của lịch sử và gây hoang mang trong nhân dân”(!?).

Thứ ba, xuyên tạc về công tác nhân sự của ngành tuyên giáo.

Đây là một trong những chiêu bài mà các thế lực chống đối, thù địch

thường xuyên sử dụng, nhất là đối với những nhân sự chủ chốt của ngành tuyên

giáo. Chúng bôi nhọ thông tin, dẫn dắt sai lệch bản chất để đưa ra những nhận

định xuyên tạc về việc sắp xếp cán bộ lãnh đạo của ngành.

Tất cả những luận điệu mà các thế lực phản động, thù địch đưa ra đều thể

hiện cái nhìn định kiến, hằn học với mục đích sâu xa là xuyên tạc, phủ nhận,


chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước

ta, từ đó hòng thực hiện âm mưu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, tiến

tới phá hoại, lật đổ chính quyền, lật đổ chế độ XHCN, xóa bỏ những thành quả

cách mạng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã dày công xây dựng.

Nhận diện đúng và thực hiện quyết liệt, thường xuyên các giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình”

 Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm kể trên, đòi hỏi chúng

ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn

biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ

nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa

mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:

Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ

đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị

dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên

và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt

chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng

viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin,

quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công

tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất

là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô

hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ

nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do

Nhân dân, vì Nhân dân.

Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan,

đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập

trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ,

đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị;

đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của

cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng

nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định

hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là


yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến

hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các

nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân

phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức

đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo

các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi

dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện

nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ

chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ

động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của

địch.

Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các

thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập

trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó,  phải nâng

cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là

tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo

vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng

sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là

mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”,

“bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp

chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả

nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi

chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng,

phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị,

mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu

của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và

công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ


công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ

Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.

Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh

phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn

biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí

lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học,

nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả

mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng,

đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên

sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang

được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu

hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ

chức, quan điểm chính trị đối lập.

Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh

đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công

tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục

lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán

bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội

đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.

Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với

công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư

tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát

huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần

tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên

quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu

hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc.

Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội

chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và

nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế,


chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa

thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình

công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo

dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.

Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới

cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên

tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào

việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội

trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế

hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu,

công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc

phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị

không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông

tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự

nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng

sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh

đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa

những thông tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo

niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không

còn "đất" để xuyên tạc, chống phá…/.

Âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch không mới nhưng được đẩy mạnh và điều chỉnh

 Khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi

người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của thế kỷ XX, khi chủ

nghĩa đế quốc sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch,


nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời

từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại.

Và hiện nay, “Diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau, đó là

“chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”, “vượt trên

hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến

tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”… Có thể khẳng định

“Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể

chế chính trị. Chiến lược “diễn biến hòa bình” liên tục được điều chỉnh, bổ sung

trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu

nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta thấy ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do chủ nghĩa

đế quốc phát kiến, nhưng hiện là “sản phẩm” của họ và trên cơ sở tiếp thu tư

tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của

từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc

chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch.

Mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình” là nhằm xóa bỏ chủ nghĩa

xã hội trên phạm vi toàn cầu. Để đạt được mục đích đó, các thế lực thù địch đặt

ra những mục tiêu cụ thể như: (1) Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin,

thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản; (2) Âm mưu thực hiện “đa nguyên chính trị”,

“đa đảng đối lập” trong các nước xã hội chủ nghĩa; (3) Gây mâu thuẫn nội bộ,

phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ thì lôi kéo, tiến hành bạo loạn

chính trị; (4) Làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi

phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế trong các nước xã hội chủ nghĩa; (5) Chuyển

hoá văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo “giá trị Mỹ”, phương Tây;

(6) Thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” để “vô hiệu hoá” quân đội trong các

nước xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, có thể hiểu “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật

đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa


từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và

các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ tiến hành.

Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch

đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn

nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội

chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm

phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh

đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực

hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an…

Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch tích cực đẩy mạnh

thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình

“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn

lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản

chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc

và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm

cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội

khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc

công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây

mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta

“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt

về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng

để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi

phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang

mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh,

trật tự...

Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với

từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng

việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo


khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin

với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn

định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân

tộc.

Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính

trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng

liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô

nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt,

công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang

mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người

dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp.

Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới

trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản

đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt

và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Hiện nay,

các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi các chiến lược. Vì vậy, chúng ta phải

luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản

chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất

cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng

đầy cam go, quyết liệt này.

Cuộc đấu tranh này được Đảng và nhà nước ta xác định là vẫn còn tiếp

tục. Vì thế, chúng ta cần đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, đổi mới tư duy, có

phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời,

chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng, phản bác một cách mạnh

mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn chặn sự chống phá về tư tưởng, lý luận của các

thế lực thù địch dưới bất cứ hình thức nào.

Điều quan trọng là làm cho tư tưởng, lý luận của Đảng thấm sâu trong

mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với thế hệ trẻ để chính


họ là những chủ thể mạnh mẽ, vững chắc làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn,

phương thức chống phá của các thế lực thù địch.

Nhận diện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù trong thời kỳ mới

 Chống phá cách mạng Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập

quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch có sự điều chỉnh về thủ đoạn

“diễn biến hòa bình” rất nguy hiểm. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận

diện đúng, xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng,

chống hiệu quả. Tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn tới bị

động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết

liệt này.

Trong tình hình mới, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" luôn nhiệm vụ

cấp bách, cần làm ngay và thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta

để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong đó, năm 1994

Đảng xác định âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là “4 nguy

cơ trước mắt” của Đảng. Tới nay, cùng với các nguy cơ đã được Đảng chỉ ra,

nguy cơ âm mưu “diễn biến hòa bình” vẫn đang tồn tại, thậm chí có phần gay

gắt, phức tạp hơn.

Đáng chú ý, thời gian gần đây các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược

“diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết liệt, hòng làm gây hỗn

loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư

tưởng xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch tập trung lợi dụng triệt để sử dụng

Internet, các trang mạng xã hội, để truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin

xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa

đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhằm chia rẽ khối đại đoàn

kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của  Nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Lời Bác dạy năm xưa

 

“Mọi người phải ra sức trau dồi đạo đức xã hội chủ nghĩa. Cải tạo xã hội cũ xấu xa trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp là một sự nghiệp rất nặng nề, nhưng rất vẻ vang”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói tại Hội nghị toàn Đảng bộ khu Việt Bắc tháng 6-1959. Thời kỳ này, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng, song cũng đặt ra những khó khăn, thử thách mới trong cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.

Lời nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, chỉ rõ tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài của nhiệm vụ cải tạo xã hội cũ thành xã hội chủ nghĩa tốt đẹp là một sự nghiệp lâu dài, vất vả, nhưng rất vẻ vang. Do đó, đòi hỏi cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần phải có ý thức giác ngộ cách mạng cao, một lòng một dạ phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng cách mạng; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, thực hành tự phê bình một cách nghiêm túc, từ trong cấp ủy ra ngoài đảng bộ, từ trên xuống dưới để loại bỏ tư tưởng cũng như chủ nghĩa cá nhân ra khỏi mỗi con người.

Thực hiện lời Bác dạy, các thế hệ cán bộ, đảng viên, đoàn viên đã ra sức học tập, trau dồi phẩm chất đạo đức, mục tiêu lý tưởng cách mạng; tích cực lao động sản xuất, xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc, cung cấp sức người, sức của cho chiến trường miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc, mở ra một kỷ nguyên mới: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, trước sự tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhân dân sa vào chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, ích kỷ, thờ ơ, vô cảm, sùng bái quyền lực và đồng tiền; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tha hóa về phẩm chất, đạo đức, lối sống… làm cản trở sự phát triển bền vững của đất nước, cần phải đấu tranh, lên án.

Do vậy, học tập và làm theo lời Bác dạy về đạo đức cách mạng càng có giá trị thực tiễn sâu sắc, là cơ sở để cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, một lòng, một dạ thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

HAIVAN

Chủ Nhật, 4 tháng 6, 2023

Một số giải pháp khắc phục biểu hiện lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên

 

ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay chủ yếu do người học chưa xác định được mục tiêu, động cơ học tập lý luận chính trị; chưa nhận thức được tầm quan trọng của lý luận chính trị và học tập lý luận chính trị. Bên cạnh đó, một số nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chậm được đổi mới, bổ sung, cập nhật, còn trùng lặp, thiếu hấp dẫn, không thiết thực. Hình thức giáo dục, học tập lý luận chính trị một số nơi chưa phong phú, chưa đa dạng; tổ chức học tập chưa phù hợp. Phương pháp giảng dạy của giáo viên còn hạn chế, nặng về truyền đạt tri thức, chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học viên. Do đó, khắc phục tình trạng lười học, ngại học tập lý luận chính trị ở một bộ phận cán bộ, đảng viên cần triển khai thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và cán bộ, đảng viên.

Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa cao là nguyên nhân của tình trạng lười học tập lý luận chính trị. Do đó, cần chú trọng hơn nữa công tác giáo dục, tuyên truyền để các cấp ủy, tổ chức đảng và nhất là người đứng đầu, cán bộ, đảng viên nhận thức rõ việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận là quyền lợi và trách nhiệm của mình; coi đó là nhu cầu tự thân, việc làm thường xuyên, liên tục, bền bỉ suốt cuộc đời, không bao giờ là đủ. Phải làm cho mọi cán bộ, đảng viên ở các cơ quan, đơn vị nhận thức rõ vai trò quan trọng của lý luận trong nâng cao năng lực, trình độ và phương pháp tư duy, năng lực lãnh đạo, để từ đó xây dựng động cơ, ý thức, trách nhiệm trong học tập lý luận chính trị. Cần lựa chọn nội dung, thời gian, hình thức bồi dưỡng phù hợp cho từng cấp, từng đối tượng. Kiên quyết đấu tranh, khắc phục triệt để cách nhìn nhận học lý luận chính trị vì lý do thăng tiến, để được đề bạt, bổ nhiệm.

Hai là, coi trọng hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp.

Đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên là người trực tiếp tương tác, truyền thụ thông tin, kiến thức, truyền cảm hứng và gợi mở cho cán bộ, đảng viên, học viên. Thực tiễn cho thấy, đội ngũ cán bộ làm công tác này có phẩm chất đạo đức và tài năng, thực sự là tấm gương “tự học và sáng tạo”, am tường lý luận sâu sắc, dày dạn kinh nghiệm thực tiễn, có năng lực sư phạm tốt, phương pháp truyền đạt hấp dẫn, cuốn hút người học sẽ góp phần khắc phục bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên.

Ba là, cấp ủy các cấp duy trì thực hiện nghiêm quy định, chế độ học tập lý luận chính trị hằng năm cho cán bộ, đảng viên.    

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng yêu cầu: “Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương”. Theo đó, cấp ủy các cấp phải duy trì và thực hiện đúng các quy định, chế độ về học tập lý luận chính trị trong Đảng, phải coi đó là nghĩa vụ đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được quy định thành chế độ để mọi người tự giác thực hiện nghiêm túc. Đưa chế độ tự học tập, nghiên cứu lý luận chính trị thành tiêu chí bắt buộc trong hoạt động của cán bộ, đảng viên; phòng, chống triệt để tình trạng lười học, ngại học tập lý luận chính trị. Phát huy vai trò nêu gương học tập lý luận chính trị của người đứng đầu, của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động của mỗi cán bộ, đảng viên trong tự học tập, tự nghiên cứu lý luận chính trị.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời... Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần lời dạy đó của Người, thường xuyên học tập, trau đồi phẩm chất đạo đức chính trị, gắn việc học lý luận với thực tiễn công việc hằng ngày. Mỗi cán bộ, đảng viên cần dành thời gian nghiên cứu, thu hoạch các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Gắn những tri thức thu được vào thực tiễn cuộc sống, vào nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị, tránh lý luận suông. Mỗi cán bộ, đảng viên cần khiêm tốn học hỏi, chống tự cao, tự đại, thỏa mãn với những kiến thức đã có. Trong học tập, nghiên cứu lý luận chính trị cần tránh giáo điều, tiếp thu lý luận một cách máy móc “kinh viện”, không biết vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể. Đồng thời, phải tránh chủ nghĩa kinh nghiệm, tuyệt đối hóa vai trò của kinh nghiệm, coi nhẹ, phủ nhận vai trò của lý luận. Gắn việc tự học, tự nghiên cứu với tích cực, chủ động đấu tranh, phê phán với các quan điểm sai trái, thù địch để làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hiện nay.

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá; lấy kết quả học tập lý luận chính trị làm thước đo để đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên.

Các cấp ủy, tổ chức đảng ở các cơ quan, đơn vị cần tăng cường kiểm tra và quản lý chặt chẽ chất lượng học tập lý luận chính trị, quán triệt triển khai các nghị quyết của Đảng bảo đảm nền nếp, thực chất, hiệu quả thiết thực. Thông qua công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời biểu dương những tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên gương mẫu thực hiện nghiêm, chấp hành tốt việc học tập lý luận chính trị. Đồng thời, phê bình, nhắc nhở nghiêm khắc đối với các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên có biểu hiện lơ là, chưa nghiêm túc, vi phạm quy chế, kỷ luật, kỷ cương trong học tập lý luận chính trị. Căn cứ vào ý thức, thái độ, trách nhiệm và kết quả học tập lý luận chính trị để đánh giá, xếp loại, phân loại cán bộ, đảng viên và bình xét thi đua khen thưởng hằng năm thực chất, hiệu quả, không hình thức.

HAIVAN

Biểu hiện lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay

 

Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy được những biểu hiện của bệnh ngại học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên, đó là: “Chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập;… phàn nàn trước những khó khăn của việc đọc tài liệu, khó khăn đào sâu suy nghĩ”. Nhận thấy những nguy hại của căn bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 1996, Đảng ta đã chỉ rõ, lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới cũng là biểu hiện của sự suy thoái. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ ra một trong chín biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh, cần “khắc phục tình trạng lười học, ngại học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”. Việc nhận diện đúng các biểu hiện của căn bệnh này là cơ sở quan trọng để đưa ra những biện pháp khắc phục kịp thời. Có thể thấy, bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay tập trung ở những biểu hiện sau:

Thứ nhất, không ít cán bộ, đảng viên không nhận thức đầy đủ về sự cần thiết, tầm quan trọng của việc học tập lý luận chính trị mà thường tập trung cho học tập chuyên môn, nghiệp vụ; thậm chí có người còn cho rằng đó là việc làm “vô ích” gây lãng phí thời gian, công sức. Đã có không ít người thiếu tự giác, không chủ động tham gia học tập lý luận chính trị, thậm chí tìm mọi lý do để trốn tránh không tham gia học tập.

Thứ hai, một bộ phận cán bộ, đảng viên học tập lý luận chính trị chưa thực sự nghiêm túc, còn thực hiện qua loa, đại khái, hình thức. Vẫn còn tư tưởng học để có đủ bằng cấp, đủ điều kiện để được đề bạt, bổ nhiệm, nên chưa thật sự toàn tâm, toàn ý cho việc nghiên cứu, học tập. Một số người chấp hành kỷ luật học tập không nghiêm, đi học thì “đánh trống ghi tên”, gượng ép, đối phó; vi phạm quy chế học tập, như nhờ đi học, nhờ thi hộ, bỏ học, bỏ thi, sử dụng điện thoại, làm việc riêng trong lớp học; thiếu tích cực, thiếu chủ động nghiên cứu tài liệu trong học tập; ngại trao đổi, thảo luận, quay cóp khi thi, sao chép khi làm bài thu hoạch.

Thứ ba, một bộ phận cán bộ, đảng viên không vận dụng tri thức đã học để xem xét giải quyết các vấn đề của địa phương, cơ quan, đơn vị mình; không sử dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn công việc theo chức trách, nhiệm vụ; học không đi đôi với hành; lý luận chưa gắn với thực tiễn.

HAIVAN

Khắc phục biểu hiện lười học, ngại học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên hiện nay

 

“Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Học tập lý luận chính trị là nghĩa vụ đối với mọi cán bộ, đảng viên, tuy nhiên, vẫn có hiện tượng một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện ngại học lý luận chính trị. Vì thế, nhận diện rõ biểu hiện này và có những giải pháp khắc phục kịp thời là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng

Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân thế giới đã chứng minh rằng, bất kỳ chính đảng nào muốn lãnh đạo phong trào cách mạng thành công đều phải có một lý luận cách mạng soi đường. Nói cách khác, một chính đảng mạnh bao giờ cũng phải có chủ nghĩa “làm cốt” và nền tảng lý luận khoa học dẫn đường. Nếu không, chính đảng ấy sẽ mất phương hướng, “lúng túng như nhắm mắt mà đi” và tất yếu, cách mạng sẽ khó thành công, thậm chí thất bại. Lý luận cách mạng là điều kiện tiên quyết để hình thành và thúc đẩy phong trào cách mạng. Khẳng định điều này, V.I. Lê-nin cho rằng: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và “chỉ có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiền phong”. V.I. Lê-nin còn chỉ rõ sự cần thiết phải học tập lý luận chính trị: “Xem kinh nghiệm của các đảng anh em, thì chúng ta càng thấy sự bức thiết, sự quan trọng của việc tổ chức học tập lý luận cho Đảng, trước hết là cho các cán bộ cốt cán của Đảng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Đảng ta còn có nhiều nhược điểm mà một trong những nhược điểm lớn là trình độ lý luận còn thấp kém... vì trình độ lý luận thấp kém cho nên đứng trước nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới và phức tạp, trong việc lãnh đạo, Đảng ta không khỏi lúng túng, không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm”. Người còn chỉ rõ: “Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”. Do đó, “Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình”.

Như vậy, có thể khẳng định, việc học tập lý luận chính trị có vai trò rất quan trọng; là công việc cấp bách, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài. Lý luận chính trị là hệ thống tri thức về lĩnh vực chính trị; mang tính đảng, tính giai cấp, đồng thời có tính khái quát hóa, trừu tượng hóa và tính dự báo khoa học cao. Lý luận chính trị giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư duy khoa học, có phương pháp làm việc biện chứng; có phương thức lãnh đạo và tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,... phù hợp với quy luật khách quan. Không có lý luận chính trị thì tinh thần và ý chí kém cương quyết, không nhìn xa trông rộng, dễ lạc phương hướng và “mù chính trị”, thậm chí xa rời cách mạng. Với ý nghĩa đó, việc học tập lý luận chính trị không chỉ góp phần để cán bộ, đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị, nắm bắt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận dụng hiệu quả những tri thức lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra, mà còn là cẩm nang để giúp mỗi cán bộ, đảng viên thâm nhập, đi sâu vào quần chúng, gần dân, hiểu dân và trọng dân, xứng đáng là người lãnh đạo gương mẫu, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Học tập lý luận chính trị, bao gồm nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Đây là yêu cầu thường xuyên, hằng ngày, cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Học tập lý luận chính trị là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức, do đó, nếu nhận thức lơ là hoặc sai lệch về tầm quan trọng của lý luận và việc học tập lý luận chính trị, tất yếu dẫn đến lười học, ngại học, học đối phó. Bởi vậy, cán bộ, đảng viên chẳng những không nắm vững và vận dụng được các nguyên lý khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mà còn không thể hình thành và phát triển tư duy khoa học khách quan. Thực tế cho thấy, học tập lý luận chính trị là vấn đề hệ trọng, có ảnh hưởng lớn; nếu không học tập lý luận có thể kéo theo hàng loạt những vấn đề phức tạp khác, như suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... và từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

HAIVAN

Nâng cao hiệu quả việc cụ thể hóa nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách

 

Để khắc phục những hạn chế, khuyết điểm và bất cập nêu trên, trong những năm gần đây, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi và ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, quy trình, hướng dẫn... nhằm cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; xác định rõ chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền của tập thể và cá nhân; quy định cụ thể những việc, những vấn đề phải đưa ra tập thể thảo luận, quyết định và chịu trách nhiệm; những việc cá nhân, trong đó có người đứng đầu, được đề xuất hoặc quyết định và chịu trách nhiệm về đề xuất, quyết định của mình, làm cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực của tập thể và cá nhân từ Trung ương đến địa phương, cơ sở. Cụ thể là:

Thứ nhất, sau mỗi kỳ Đại hội Đảng, tại hội nghị trung ương lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương đều bổ sung, sửa đổi và ban hành Quy chế làm việc của Trung ương; trong đó, quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và thẩm quyền, trách nhiệm của Tổng Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương... Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng bổ sung, sửa đổi và ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ của Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính phủ, các đảng đoàn, ban cán sự đảng ở Trung ương và ban hành quy chế làm việc mẫu của đảng đoàn, ban cán sự đảng trực thuộc Trung ương để thực hiện.

Thứ hai, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19-12-2017, “Về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”, nhằm xác định rõ nguyên tắc, đối tượng, nội dung công tác cán bộ và quy trình thực hiện việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử theo quy trình 5 bước và quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp; chỉ rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và của mỗi thành viên trong tập thể lãnh đạo đó, nhất là thẩm quyền của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và trách nhiệm của tập thể, cá nhân khi để xảy ra sai phạm. Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23-9-2018, của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”, quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi thành viên trong tập thể đó; thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và các cá nhân trong việc tham mưu, đề xuất về công tác cán bộ; quy định rõ những việc tập thể và cá nhân có thẩm quyền trong công tác cán bộ phải làm và những việc không được làm; việc xử lý đối với tập thể và cá nhân khi để xảy ra sai phạm, kể cả khi cán bộ đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác. Quy định số 10-QĐi/TW, ngày 12-12-2018, của Bộ Chính trị, về “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác của cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp tỉnh và của mỗi thành viên trong tập thể đó. Đồng thời, chỉ rõ những nhiệm vụ cụ thể thuộc thẩm quyền quyết định của cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp tỉnh trên các lĩnh vực: Phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, công tác đối ngoại, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; những việc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi thành viên và của người đứng đầu cấp ủy; các mối quan hệ công tác của cấp ủy và việc xử lý trách nhiệm đối với tập thể và cá nhân cấp ủy viên khi để xảy ra sai phạm...

Thứ ba, Ban Bí thư khóa XII đã ban hành Quy định số 202-QĐ/TW, ngày 2-8-2019, về “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp huyện”, nhằm quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp huyện và của mỗi thành viên trong tập thể đó; chỉ rõ những nhiệm vụ thuộc thẩm quyền quyết định của cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp huyện trên các lĩnh vực: Phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, công tác đối ngoại, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở địa phương; những việc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi thành viên và của người đứng đầu cấp ủy cấp huyện; các mối quan hệ công tác của cấp ủy và việc xử lý trách nhiệm đối với tập thể và cá nhân cấp ủy viên khi để xảy ra sai phạm... Đối với cấp cơ sở, Ban Bí thư các khóa gần đây đã ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các loại hình tổ chức cơ sở đảng để thực hiện, trong đó có 2 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn; 3 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng cơ quan; 3 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng đơn vị sự nghiệp; 10 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị quân đội; 6 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị công an; 7 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng trong các loại hình doanh nghiệp.

Thứ tư, ngoài các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các cấp ủy, tổ chức đảng nêu trên, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XI, khóa XII đã ban hành các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ chủ chốt và người đứng đầu các cấp, với phương châm “cán bộ có chức vụ càng cao, thì càng phải gương mẫu” để thực hiện và đem lại những kết quả tích cực.

Qua thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế... của Trung ương nêu trên, các cấp ủy, tổ chức đảng đã có chuyển biến tích cực trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; từng bước xác định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể và cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, bảo đảm sự lãnh đạo của tập thể và đề cao trách nhiệm cá nhân, hạn chế các sai phạm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong thực hiện nhiệm vụ chính trị vẫn còn một số hạn chế, bất cập và chưa được như mong muốn; vì thế, cần tiếp tục cụ thể hóa để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.

HAIVAN

Thực trạng việc thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách

 

Thực tiễn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong những năm qua cho thấy, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở đã có nhiều cố gắng trong việc thể chế hóa, cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; xác định chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của cấp ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và của mỗi cá nhân, nhất là đối với người đứng đầu cấp ủy, chính quyền để thực hiện. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm và kết quả bước đầu đạt được, việc cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nhất là việc xác định trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với tập thể cấp ủy, ban lãnh đạo cơ quan, đơn vị vẫn chưa thật rõ ràng và còn những hạn chế, bất cập. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; có vai trò “là thủ lĩnh”, là “đầu tàu” để dẫn dắt, truyền cảm hứng và lôi cuốn đối với tập thể cấp ủy, lãnh đạo và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhưng người đứng đầu cũng chỉ là một thành viên dự họp và khi biểu quyết cũng chỉ có một phiếu như các thành viên khác.

Trong thực tế, cũng có không ít cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đơn vị hành chính chưa thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Một mặt, một số cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu thiếu gương mẫu, uy tín thấp, phẩm chất, năng lực chưa ngang tầm nhiệm vụ, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm, quan liêu, xa dân, độc đoán, chuyên quyền, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, nhưng không được tập thể theo dõi, giám sát, giúp đỡ kịp thời, dẫn đến vi phạm nguyên tắc tổ chức và các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Mặt khác, cũng do chưa cụ thể hóa và phân định thật rõ thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu nên còn có sự lúng túng giữa thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở nhiều nơi. Cũng có nơi đã xảy ra sai phạm do nhầm lẫn giữa thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy (thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể quyết định theo đa số) với người đứng đầu cơ quan, đơn vị (thực hiện nguyên tắc thủ trưởng quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó), nhất là đối với những đồng chí bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Vì thế, nhiều nơi có biểu hiện là, khi địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị có ưu điểm, thành tích thì ai cũng thấy có công lao, thành tích của mình đóng góp ở trong đó; nhưng khi có sai lầm, khuyết điểm, thậm chí để xảy ra sai phạm, thì không xác định được trách nhiệm của tập thể và cá nhân đến đâu, nhất là của người đứng đầu; và cuối cùng là đổ cho nguyên nhân khách quan và lỗi chung của tập thể, mà không có cá nhân nào chịu trách nhiệm.

Cũng không ít nơi còn biểu hiện dân chủ xuôi chiều, dân chủ hình thức, ý kiến phát biểu của các thành viên lãnh đạo chủ yếu dựa theo ý kiến của người đứng đầu, theo kiểu “gió chiều nào che chiều ấy”. Đây thực chất là thông qua cơ chế dân chủ của tập thể để hợp thức hóa ý chí áp đặt và sự chỉ đạo của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cơ quan, đơn vị. Vì vậy, trong công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, đã xảy ra không ít trường hợp là, mặc dù thực hiện “đúng quy trình” nhưng vẫn không lựa chọn được đúng người, đúng việc, trong khi đó có một số trường hợp được bổ nhiệm “thần tốc” lại là con, em, người thân của cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu, nên đã gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thực trạng trên có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó có nguyên nhân chủ quan là việc cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và việc phân định chưa thật rõ ràng trách nhiệm của người đứng đầu trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị; chưa phát huy đúng mức vai trò của cá nhân trong tập thể.

HAIVAN