Thứ Năm, 8 tháng 6, 2023

Nhận diện, đấu tranh với quan điểm phủ nhận thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới đất nước

 

Thời gian vừa qua trên Internet và các trang mạng xã hội đã có nhiều bài viết chống phá, tuyên truyền nhiều luận điệu xuyên tạc về bản chất của Đảng, Nhà nước Việt Nam, phủ nhận những thành quả của đất nước ta đạt được trong thời kỳ đổi mới. Trước hết, chúng ta cần nhận diện âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, đó là: Chúng luôn coi nhẹ, phủ nhận những thành tựu to lớn, ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới; tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc, trái với quan điểm, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta. Chúng kết hợp chống phá đường lối chính trị với chống phá trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; tập trung công kích, xuyên tạc thành tựu của đổi mới là do Đảng, Nhà nước Việt Nam "tự vẽ lên", "tự mình khen mình", chứ thực chất, theo chúng là "không có thật"; đất nước vẫn trong cảnh nghèo nàn, tụt hậu, đời sống nhân dân còn rất khó khăn, người dân nghèo thì không được thụ hưởng…

Thứ nhất, phải khẳng định tính tất yếu khách quan của đổi mới và không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới.

Đổi mới ở Việt Nam do Đảng khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986). Đó là sự lựa chọn tất yếu nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, là bước ngoặt trong tiến trình phát triển của đất nước. Sau hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 (bổ sung phát triển năm 2011) và hơn 35 năm đổi mới đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, trở thành điểm sáng trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ; công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị được đặc biệt quan tâm, có nhiều chuyển biến tích cực; công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí chuyển biến mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả nổi bật; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh không ngừng được củng cố; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hiệu quả. Tất cả những điều đó cho thấy đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Hai là, đổi mới ở Việt Nam là toàn diện, đồng bộ, có nguyên tắc, có lộ trình và bước đi thích hợp.

Đổi mới toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... Đổi mới theo những nguyên tắc cơ bản như: Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi và biện pháp phù hợp; lấy chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước ta; đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị làm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động năng động và có hiệu quả hơn; sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi của cách mạng; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, kết hợp sức mạnh của nhân dân và sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.

Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang tiến hành đổi mới mạnh mẽ, toàn diện; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Những thành tựu đó là kết tinh trí tuệ, sức lực và bản lĩnh Việt Nam; phủ nhận thành quả cách mạng Việt Nam đồng nghĩa với phủ nhận một trong những trang sử hào hùng nhất của dân tộc; phủ nhận công lao, sự hy sinh xương máu của bao thế hệ cán bộ, chiến sỹ và nhân dân ta; phủ nhận vai trò lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước của Đảng ta; đó là việc làm hoàn toàn trái với sự thật, với công lý và lẽ phải, xúc phạm quá khứ thiêng liêng của dân tộc, cần phải vạch trần, đấu tranh phê phán và bác bỏ.

Nhận diện những phương thức, thủ đoạn chống phá chế độ

 Những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không ngừng củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác này được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu.

Đặc biệt, nhờ có sự lãnh đạo nhạy bén, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán liên tiếp xảy ra.

Đó là minh chứng hết sức sinh động, khẳng định tính ưu việt của chế độ ta, truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta; càng trong khó khăn, thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản nổi, để xây dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh, đất nước ta tiếp tục đi lên, dân tộc ta phát triển cường thịnh, trường tồn.

Tuy nhiên, đất nước ta càng đạt được những thành tựu phát triển to lớn, các thế lực thù địch, phản động lại càng hằn học tìm mọi cách để chống phá. Lợi dụng bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo, tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đi vào chiều sâu đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn rất mới, trước đây chưa từng có, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị tăng cường chống phá chúng ta.

Chúng thay đổi phương thức, thủ đoạn chống phá, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng một cách tinh vi và xảo quyệt hơn. Hoạt động của chúng có lúc âm thầm, lẩn khuất, có lúc công khai, trắng trợn; thường tập trung vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trong nước, sự kiện đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, hoặc thời điểm xảy ra các vụ, việc phức tạp, nhạy cảm.

Tính chất nguy hiểm của những phương thức, thủ đoạn này ở chỗ, chúng tạo dựng nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi, hoang mang, dao động, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm lung lay niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, tạo tâm lý bức xúc, chống đối trong xã hội.

Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ ý đồ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, luôn toan tính tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, lý luận trong đời sống chính trị - xã hội của nước ta, với âm mưu cơ bản, lâu dài và rất thâm độc là xoay chuyển quỹ đạo phát triển của đất nước ta đi chệch hướng XHCN.

Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội (Zalo, Facebook, TikTok…), các hình thức truyền thông mới để tuyên truyền chống phá; tán dương, cổ vũ lẫn nhau trong một “thế trận” có “kịch bản”, đánh vào nhận thức, tâm lý “đám đông” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”.

Chúng tận dụng tối đa hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở nước ngoài, các kênh facebook, youtube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Chúng dựng lên các video clip, phóng sự có giao diện giống như của Đài Truyền hình Việt Nam, Truyền hình Thông tấn và một số báo, đài chính thống để đưa tin. Mánh lới của chúng là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người.

Trong thời điểm tiến hành Đại hội đảng các cấp (năm 2020, 2021), các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị càng tăng cường, ra sức nhào nặn, bóp méo thông tin, xuyên tạc, chống phá các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng tập trung công kích dự thảo các văn kiện trình Đại hội, xuyên tạc rằng các văn kiện lần này vẫn là “bổn cũ viết lại”, “sao chép theo lối mòn”, không có gì mới, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại; các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đưa ra trong dự thảo văn kiện là “bất khả thi”, “không có cơ sở để thực hiện”...

Cùng với đó, chúng tấn công vào đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược; liên tục tung tin giả về thân thế, sự nghiệp, tài sản, “sai phạm” của lãnh đạo cấp cao; xuyên tạc công tác nhân sự của Trung ương, công tác phòng, chống tham nhũng,... hòng gây bất ổn chính trị - xã hội, gây ra những khó khăn, thách thức không nhỏ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Việc nắm bắt những âm mưu, thủ đoạn, phương thức, hình thức chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị là nhiệm vụ đầu tiên để nhận diện rõ các đối tượng này, nhất là khi chúng là những kẻ thù giấu mặt, cơ hội chính trị, lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí, để từ đó, chúng ta có đối sách, phương pháp đấu tranh phù hợp, đạt hiệu quả cao.

PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC VỀ VẤN ĐỀ TỰ DO, TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 

Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta luôn thực hiện nhất quán chính sách quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người cũng như các tôn giáo hoạt động và tham gia đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tinh thần “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp các tôn giáo, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật.

Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện tư duy lý luận về tôn giáo và quản lý đất nước trong lĩnh vực tôn giáo. Nghị quyết 24 (1990) của Bộ Chính trị khóa VI về công tác tôn giáo trong tình hình mới và Nghị quyết 25 (2003) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo đã có những bước đổi mới, đột phá, thừa nhận “tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” và “tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Đây là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, thể hiện đường lối, quan điểm một cách rõ ràng, minh bạch nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, không chỉ khẳng định sự “tồn tại lâu dài” của tôn giáo, mà còn phát triển mức cao hơn, làm rõ mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và CNXH ở nước ta.

Với quan điểm nhất quán đó, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng đã được minh định theo hướng “vừa giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo” và “công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị”. Cũng xuất phát từ quan điểm đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đều được luật hóa trong các bản Hiến pháp và các bộ luật liên quan trên các mặt công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm, “mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật... Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo... Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” (Điều 24, Hiến pháp 2013).

Ngày nay, các tôn giáo đều xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc như: “Hộ quốc an dân” của Phật giáo, “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Công giáo, “Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” của Tin Lành; hoặc “Nước vinh đạo sáng” của Cao Đài… Những đường hướng này phù hợp với giáo lý, với truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, phù hợp với lợi ích của đất nước và lợi ích của Giáo hội.

Tuy nhiên, thế lực thù địch và một số tổ chức phản động đội lốt tôn giáo chưa từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình” để chống phá Việt Nam. Chúng tìm mọi cách chống phá, tuyên truyền những luận điệu sai trái, cho rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo, “đàn áp tôn giáo”, xuyên tạc trắng trợn về tình hình tôn giáo ở nước ta, phá hoại khối đoàn kết tôn giáo. Họ sử dụng thông tin, do những tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cực đoan, chống đối trong tôn giáo ở trong và ngoài nước, bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng, Nhà nước làm căn cứ, cơ sở báo cáo đánh giá, nhận định thiếu khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam; qua đó, khuyến khích, cổ vũ cho các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ”, mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, đi ngược lại lợi ích của tôn giáo và xã hội, gây bức xúc trong nhân dân.

Với âm mưu muốn giáo dân chống đối chính quyền, chúng kích động với luận điệu như: “Quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do tôn giáo” của người dân bị xâm phạm; “chính quyền can thiệp vào nội bộ của tổ chức tôn giáo”; “các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận pháp nhân là tổ chức tôn giáo quốc doanh”; đồng thời lợi dụng mạng xã hội xuyên tạc Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn giáo”, “không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”…

Họ kiến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại “Danh sách nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo” (CPC) và “gây sức ép và hối thúc Việt Nam cho phép tất cả các nhóm, phái tôn giáo chưa được công nhận hoạt động một cách tự do không cần đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung theo quy định tại Điều 16, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không cần đăng ký để được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo theo quy định tại các Điều 17, 18, 19 và 20 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; giảm can thiệp của chính quyền vào các công việc nội bộ của các nhóm tôn giáo đã được công nhận”…Phải khẳng định ngay rằng, những thông tin, luận điệu sai lệch, xuyên tạc nêu trên là hết sức phi lý, với ý đồ, mục đích xấu xa nhằm tác động đến suy nghĩ, tình cảm của chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, nhằm tạo sự hoài nghi về chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Vậy tiêu chí, tiêu chuẩn của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là gì? Họ đại diện cho ai để phê phán, đánh giá về tự do tôn giáo của Việt Nam, khi mà các phê phán, đánh giá của họ chỉ là sự lạc lõng, thiếu khách quan không được chức sắc tôn giáo tiến bộ trong và ngoài nước ủng hộ.

Song dù các thế lực thù địch có cố tình, xuyên tạc chống phá thế nào chăng nữa cũng không thể chia rẽ chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo. Những năm qua, tuyệt đại đa số chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo trong nước luôn đồng hành gắn bó với dân tộc, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo.

Các thế lực thù địch, cơ hội cực đoan lợi dụng vấn đề dịch Covid-19 thời gian qua để xuyên tạc rằng, Việt Nam lợi dụng công tác phòng, chống dịch để thực hiện các vấn đề vi phạm dân chủ, nhân quyền. Vu cáo Đảng và Nhà nước ta không chăm lo cho đời sống của đồng bào dân tộc, tôn giáo, không cho họ tổ chức lễ hội truyền thống...

Để ngăn chặn, không để thế lực xấu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo, các cơ quan chức năng cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo Hiến pháp năm 2013; thể chế quan điểm Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo. Chính quyền các cấp quan tâm, giải quyết nhu cầu tôn giáo chính đáng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo của nhân dân. Chính các chức sắc tôn giáo phải vững vàng trước những luận điệu xấu độc để ra sức cùng Đảng và Nhà nước vận động đồng bào nhân dân nâng cao cảnh giác, không tin, không nghe luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch.

Cùng với đó, nâng cao đổi mới hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền; không để thế lực xấu lợi dụng xuyên tạc vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân trên các kênh thông tin đại chúng trong và ngoài nước. Lan tỏa những tấm gương “người tốt, việc tốt”, sống “tốt đời, đẹp đạo”; các hoạt động chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào theo đạo nổi bật của các cấp ủy, chính quyền địa phương, “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, góp phần hình thành tư tưởng tích cực trong cán bộ, đảng viên, định hướng dư luận củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với đời sống tôn giáo.

Tại các diễn đàn song phương, đa phương, các tổ chức tôn giáo Việt Nam cần thể hiện rõ tinh thần yêu chuộng hòa bình và lòng tự hào dân tộc, tích cực ủng hộ và đóng góp sáng kiến vào các tuyên bố chung, góp phần xây dựng thế giới hòa bình, giảm xung đột, bạo lực và chiến tranh vì lý do tôn giáo, sắc tộc. Vận động các tôn giáo đồng đạo trên thế giới ủng hộ Việt Nam xây dựng, phát triển đất nước, khẳng định truyền thống đoàn kết, yêu nước của đồng bào tôn giáo luôn được vun bồi, phát huy và tỏa sáng trong lòng dân tộc Việt Nam.

Phản bác luận điệu tuyên truyền, kêu gọi đòi “đa nguyên, đa đảng"

 

Cụm từ “Đa nguyên, đa đảng” là “khẩu hiệu” mà các thế lực thù địch, đối tượng phản động, chống đối luôn sử dụng, dưới danh nghĩa là “những lời trăn trở, tâm huyết về sự phát triển đất nước”, “dân chủ”, “nhân quyền” chúng luôn tìm mọi cách, bằng bất cứ thủ đoạn nào để phủ nhận vai trò lịch sử của Đảng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, chúng không ngừng gia tăng các hoạt động tuyên truyền, lợi dụng mạng Internet, mạng xã hội,… để tập hợp dân chủ đa nguyên, thổi phồng, xuyên tạc các hạn chế thiếu sót, đặc biệt là các vấn đề nhạy cảm của xã hội nhằm bôi nhọ, phủ nhận tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam và cho rằng phải là chế độ “đa nguyên, đa đảng” thì mới đem đến sự phát triển và dân chủ cho đất nước. Mục đích cuối cùng của bọn chúng là nhằm “hạ thấp vai trò, uy tín và năng lực lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam”, “xóa bỏ thể chế chính trị hiện nay tại Việt Nam”. Chúng luôn cho rằng “một đảng cầm quyền là độc tài, mất dân chủ” hay “phải đa đảng, phải dân chủ mới phát triển”. Qua thực tế lịch sử chúng ta có thể dễ dàng nhận ra:

Đối với luận điệu cho rằng “một đảng cầm quyền là độc tài, mất dân chủ”. Kết quả bầu cử Quốc hội khóa 15, chính là minh chứng phản bác đanh thép, trong số 499 người trúng cử, nữ đại biểu là 151 người, có đến 88 đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm gần 18% cao hơn chính tỷ lệ bà con dân tộc thiểu số trên cả nước, đại biểu là người ngoài Đảng 14 người, đại biểu có trình độ đại học trở lên là 498 người. Những con số không chỉ cho thấy một quốc hội đang ngày càng đại diện tốt hơn cho quyền, tiếng nói của đa dạng tầng lớp nhân dân mà còn là cơ sở để tin tưởng rằng Quốc hội sẽ làm tròn trọng trách cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Việt Nam.

Còn với ý kiến “phải đa đảng, phải dân chủ mới phát triển”, ta có thể thấy ở một số quốc gia có trình độ phát triển cao dưới chế độ đa đảng thì trong cả một quá trình lịch sử cũng chỉ có một đến hai đảng nắm quyền (ví dụ như Mỹ – một siêu cường về chính trị, kinh tế có hàng trăm đảng phái lớn, nhỏ, nhưng chỉ có 28 đảng đủ điều kiện được ghi tên trong phiếu bầu ở các bang và trên tực tế chỉ có hai đảng là Đảng dân chủ và Đảng Cộng hòa, thay nhau nắm quyền – Trích Tạp chí Cộng sản, thế giới: Vấn đề – Sự kiện, ngày 28/12/2016 của tác giả Nguyễn Kỳ Sơn), còn ở nhiều quốc gia khác, nhất là các quốc gia sau các cuộc cách mạng để chuyển thành chế độ đa nguyên, đa đảng (ví dụ như: Cách mạng Nhung ở Tiệp khắc năm 1989, cách mạng Đường phố ở Nam Tư năm 2000, cách mạng Nhung ở Grudia năm 2003, cách mạng Cam ở Ucraina năm 2004 và năm 2014, cách mạng xanh ở Iran năm 2009, cách mạng hoa Nhài ở tuynidi năm 2010,…) thì tình hình chính trị trở nên rối ren, đất nước khó phát triển. So sánh với Việt Nam, dưới chế độ “Nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền” dưới bối cảnh sau hai cuộc chiến tranh kháng chiến bảo vệ tổ quốc, có một nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển, phải lệ thuộc và phụ thuộc vào viện trợ, lại trong hoàn cảnh bị bao vây, cấm vận của nước ngoài, Đảng ta đã phải đưa kinh tế của đất nước phục hồi từ xuất phát điểm thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác, thế nhưng sau gần 40 năm đổi mới đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, chính trị ổn định, kinh tế phát triển, bộ mặt đất nước thay đổi, cuộc sống của nhân dân được nâng cao rõ rệt. Cũng chỉ hơn 30 năm đổi mới và phát triển, nền kinh tế nước ta có những bước tiến mạng mẽ, GDP những năm 1980 nước ta chỉ khoảng hơn 180 USD/người, đến nay GDP nước ta đã hơn 3500 USD/người. Vì vậy với nhận định một đảng là cản trở sự phát triển là luận điệu sai trái, thù địch.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có câu “Đảng ta không chỉ lo lãnh đạo để phát triển đất nước đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội mà Đảng còn phải lo tương cà, mắm muối cho dân nữa”. Đảng không chỉ đề ra chủ trương, vạch ra tầm nhìn, mục tiêu chiến lược mà còn có các nghị quyết rất cụ thể về an sinh xã hội, về phát triển văn hóa, đời sống, thậm chí chính sách của Đảng ta còn tỉ mỉ đối với từng dân tộc, từ đó ta có thể thấy Đảng Cộng Sản Việt Nam làm tất cả vì “Dân sinh hạnh phúc” gắn chặt với “Độc lập dân tộc”. Những ai tuyên truyền, lôi kéo đòi “đa nguyên, đa đảng” chính là luận điệu sai trái, thù địch nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, nhằm những mưu đồ đen tối, thâm độc bản thân, đó cũng là điều xúc phạm với lịch sử, với những điều thiêng liêng nhất của dân tộc Việt Nam.


Quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam luôn được bảo đảm - đó là sự thật không thể bác bỏ, xuyên tạc

 Tại buổi họp báo do Bộ Ngoại giao tổ chức ngày 15/12/2022, khi được hỏi phản ứng của Việt Nam về việc đầu tháng 12/2022 Hoa Kỳ thông báo đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng đã nói rõ: “Chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và đảm bảo quyền con người, cũng như quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân”. Chính thực tiễn sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam đã bác bỏ những đánh giá thiếu khách quan của các thế lực không thiện chí với Việt Nam.

Cần khẳng định rằng, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam và được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật. Đây là một trong những quyền cơ bản của mọi người, được Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây, cũng như Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay khẳng định trên nguyên tắc hiến định. Điều 24, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: “(1). Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; (2). Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; (3). Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cùng với Hiến pháp năm 2013, việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và hai Nghị định thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân.

Thế nhưng, do tư tưởng định kiến với Việt Nam, các thế lực phản động, thù địch ở trong nước và ngoài nước, trong đó có Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) vẫn bất chấp những thành tựu không thể phủ nhận của Việt Nam trong nỗ lực bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân để xuyên tạc trắng trợn về tình hình tôn giáo tại Việt Nam. USCIRF vẫn thường xuyên sử dụng thông tin, tài liệu cũ, không chính xác từ các nhóm, phái tôn giáo chưa được nhà nước công nhận cùng số chức sắc cực đoan bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng, Nhà nước để đưa vào các báo cáo thường niên về tự do tôn giáo toàn cầu, phê phán việc thực hiện quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam và khuyến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách các nước cần theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo. Họ tự cho mình quyền được khuyến khích, cổ vũ các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không cần xin phép, đăng ký chính quyền, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ” ở các vùng sâu, vùng xa, gia tăng hoạt động mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, gây bức xúc trong xã hội và nhân dân. Họ xuyên tạc rằng “cả Hiến pháp và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đều có những quy định nhằm hạn chế quyền tự do tôn giáo”(!). Họ cho rằng “Luật tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam bao gồm: các điều khoản mơ hồ cho phép tự do tôn giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn giáo” không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”(!). Họ lợi dụng triệt để quan điểm “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật” để cho rằng “tự do tôn giáo của Việt Nam chỉ là hình thức”(!). Họ dựa vào việc các tổ chức đội lốt tôn giáo, có những hoạt động vi phạm pháp luật, như: tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình (Tây Bắc), Hà Mòn (Tây Nguyên), tịnh thất Bồng Lai (Long An),… bị chính quyền xử lý để vu khống Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo, cấm đoán tôn giáo, đàn áp tôn giáo”, v.v.

Tuy nhiên, thực tiễn sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam hoàn toàn khác xa với những nhận định thiếu khách quan, mang tính định kiến, xuyên tạc trên. Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được pháp luật thừa nhận và thực thi trong thực tế; không có chuyện Nhà nước hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân và cũng không có chuyện “đàn áp tôn giáo”. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã mở rộng nội hàm khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của “mọi công dân” (Hiến pháp năm 1992), bằng của “mọi người” là một bước tiến rất nhân văn. Theo đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được mở rộng cho cả những “người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc” và “người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam”. Nhất quán với Hiến pháp 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 khẳng định: “(1). Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; (2). Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo; (3). Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo; người chưa thành niên,... phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý; (4). Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác”. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không đưa ra giới hạn nào về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà chỉ nghiêm cấm “xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cụ thể hóa nội dung này, Điều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm: “(1). Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; (2). Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; (3). Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; (4). Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo mà: (a). Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; (b). Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; (c). Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; (d). Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; (5). Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi”.

Cần nhấn mạnh rằng: những quy định trên hoàn toàn tương thích với các văn bản quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Trong luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của các quốc gia, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là tự do tuyệt đối, tự do vô chính phủ. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng và không ảnh hưởng đến quyền tự do của người khác và đặc biệt không được ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng, môi trường, đạo đức xã hội. Chính vì vậy, để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và ổn định, phát triển xã hội, Khoản 3, Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc (năm 1966) đã nhấn mạnh: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi những quy định pháp luật và các giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền và tự do cơ bản của người khác”1. Điều 9, Công ước châu Âu về bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản cũng khẳng định: “Quyền tự do thể hiện tôn giáo, tín ngưỡng của một người chỉ bị luật pháp giới hạn nếu điều đó là cần thiết trong một xã hội dân chủ, phục vụ an ninh công cộng, bảo vệ trật tự trị an, sức khỏe, chuẩn mực đạo đức chung hoặc các quyền và sự tự do của người khác”2. Luật Phân ly 1905 của nước Pháp cũng quy định: “Cộng hòa Pháp bảo đảm tự do tín ngưỡng. Nó bảo đảm quyền tự do hành đạo với những hạn chế vì quyền lợi duy trì trật tự công cộng”3. Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là phải có giới hạn, quyền ấy sẽ bị hạn chế vì an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức xã hội, môi trường, chứ không như những đòi hỏi vô lý của các thế lực phản động, thù địch, không thân thiện với chế độ chính trị ở Việt Nam. Hẳn chúng ta còn nhớ, năm 2012, cảnh sát Mỹ đã bắt giữ 07 thành viên nhóm Hutaree (Hu-ta-ri) tự xưng là “chiến binh Thiên chúa giáo” vì có âm mưu chống lại chính quyền; còn tháng 7/2018, Tòa án Tối cao Nhật Bản đã thi hành án tử hình đối với 06 thành viên giáo phái “Ngày tận thế” (Aum Shinrikyo) cùng thủ lĩnh là Giáo chủ Shoko Asahara do gây ra vụ tấn công bằng chất độc sarin năm 1995 nhằm vào hệ thống tàu điện ngầm Tokyo và các tội ác khác. Điều đó cho thấy, ở bất cứ quốc gia nào, ai lợi dụng quyền tự do tôn giáo để vi phạm pháp luật thì cũng đều bị trừng trị; ở Việt Nam không có “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân lương tâm” như các thế lực phản động, thù địch rêu rao, mà chỉ có những người lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành các hoạt động vi phạm pháp luật mới bị xử lý.

Những năm qua, ở Việt Nam, nhờ có chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo ngày càng được hoàn thiện và được thực hiện nhất quán trong thực tiễn, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng phong phú; số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng được đảm bảo tốt hơn. Nếu năm 2003, cả nước có 15 tổ chức thuộc 06 tôn giáo với 17 triệu tín đồ, khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc, thì năm 2022, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 26,7 triệu tín đồ, 55.000 chức sắc, 135.000 chức việc, trên 29.000 cơ sở thờ tự, v.v. Nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo đã thu hút hàng vạn tín đồ nhân dân tham dự, nổi bật như: tháng 12/2017, Giáo hội Tin lành tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành; tháng 7/2019, Giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Đa Minh thế giới tại Đồng Nai, với đại biểu của hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia; Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức thành công 03 Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc (năm 2008, 2014, 2019), riêng năm 2019 tổ chức tại chùa Tam Chúc (tỉnh Hà Nam) đã thu hút sự tham dự của trên 3.000 đại biểu chính thức (trong đó có 570 đoàn quốc tế với 1.650 đại biểu đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ). Với quy mô hoạt động tôn giáo hàng vạn người, chính quyền các cấp đã hỗ trợ các tôn giáo về các phương án đảm bảo an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, an toàn vệ sinh thực phẩm để nhân dân được tự do hành lễ, thoả mãn nhu cầu đời sống tâm linh, v.v.

Công tác đào tạo chức sắc được các tổ chức tôn giáo đẩy mạnh. Trước năm 1990, cả nước có 06 cơ sở đào tạo tôn giáo, đến năm 2021 đã tăng lên thành 63 cơ sở đào tạo, mỗi năm có hàng nghìn người tốt nghiệp; ngoài ra, còn có hàng trăm người đang du học tại nước ngoài. Nhờ vậy, số chức sắc, nhà tu hành tăng rất nhanh, cơ bản đáp ứng được nhu cầu hướng dẫn việc đạo cho tín đồ. Các hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc; các hoạt động thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi hiến chương, điều lệ; đăng ký chương trình hoạt động hằng năm,... của các tôn giáo cũng được thực hiện thuận lợi theo đúng quy định của pháp luật.

Việc in ấn, xuất bản, dịch thuật một khối lượng lớn kinh sách, đồ dùng việc đạo được các tôn giáo đẩy mạnh trong những năm qua. Theo báo cáo quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III (năm 2019), cả nước có hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in và hàng triệu đĩa CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ (trong đó có nhiều kinh sách được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, như Ba-na, Ê-đê, Gia-rai), 12 báo, tạp chí liên quan đến tôn giáo; phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng.

Công tác xây dựng, sửa chữa, chỉnh trang cơ sở thờ tự của các tôn giáo cũng được quan tâm đẩy mạnh trong những năm qua. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hoạt động của các tổ chức tôn giáo, chính quyền các địa phương đã quan tâm giải quyết, cấp đất cho các tổ chức tôn giáo. Theo Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng, trong 10 năm (2012 - 2022) thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp hàng trăm héc ta đất để xây dựng cơ sở thờ tự, như: Thành phố Hồ Chí Minh đã giao 7.500 m2 đất cho Tổng Liên hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) xây dựng Viện thành kinh thần học; tỉnh Đắk Lắk giao hơn 11.000 m2 đất cho Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột; Thành phố Đà Nẵng giao hơn 9.000 m2 đất cho Tòa Giám mục Đà Nẵng; tỉnh Quảng Trị giao thêm 15 héc ta cho Giáo xứ La Vang, v.v.

Có thể khẳng định rằng, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam những năm qua là rất đa dạng, sôi động và phong phú. Những thực tiễn kể trên là minh chứng sinh động, rõ nét nhất cho tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam ngày càng được đảm bảo tốt hơn. Những thành tựu đó không chỉ nhân dân trong nước, trong đó có tín đồ các tôn giáo ghi nhận, mà còn được cả cộng đồng quốc tế thừa nhận. Việc Việt Nam lần thứ hai trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 với số phiếu ủng hộ của 145/189 nước đã một lần nữa khẳng định quyền con người nói chung, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ở Việt Nam nói riêng được bảo đảm tốt, không thể phủ nhận. Do vậy, những nhận định thiếu khách quan, không đúng với thực tế tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam sẽ không bao giờ có giá trị, mà chỉ làm tổn hại cho quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam và Mỹ, cần phải được vạch trần, phê phán, bác bỏ.

USCIRF đang nhận định sai lệch về tôn giáo ở Việt Nam

 Đầu tháng 5/2023, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) đã đưa ra các nhận định thiếu khách quan, sai lệch về tình hình tôn giáo Việt Nam, tiếp tục khuyến nghị Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt - CPC”. Lợi dụng việc này, các trang mạng phản động đã đăng tải nhiều bài viết xuyên tạc về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Với cách nhìn phiến diện, thiếu thiện chí, USCIRF cho rằng chính quyền Việt Nam đã “tăng cường kiểm soát và đàn áp”, “đàn áp tôn giáo một cách nghiêm trọng”, “sách nhiễu, bức hại”, “ép buộc”, “tước đoạt tài sản”... Theo đó, những cái gọi là tổ chức/hội/nhóm “tôn giáo độc lập” đã được USCIRF “xướng tên” để “làm ví dụ” như “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất”, “Hội đồng Liên tôn Việt Nam”, “Cao Đài Chơn truyền”, “Phật giáo Hòa Hảo độc lập”, “Đạo Dương Văn Mình”, “Pháp Luân Công”, “Đạo Hà Mòn”, “Hội thánh Đức Chúa Trời”... Thực chất, đây là những tổ chức khoác áo tôn giáo, hoạt động trái pháp luật, không được Nhà nước công nhận và không được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo; trong đó có nhiều hội/nhóm tà đạo, giả danh, đội lốt tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam.

Đối với những cá nhân mà USCIRF cho là “tù nhân tôn giáo”. Họ là ai? Đây là một số người Thượng và người Mông theo đạo Tin Lành (Tin Lành Đềga) và một số chức sắc trong các tôn giáo có những hoạt động sai trái, vi phạm cả việc Đạo và Đời, bị xử lý theo pháp luật hiện hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những cá nhân này cũng đã bị các tổ chức tôn giáo kỷ luật, tín đồ lên án, tẩy chay... 

Theo giọng điệu của các trang mạng phản động, những “nhận định” của USCIRF được “Giới hoạt động cho tự do tôn giáo Việt Nam bày tỏ sự đồng tình”. Tuy nhiên, cái gọi là “Giới hoạt động cho tự do tôn giáo...” lại chỉ là những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. 

Chúng ta kiên quyết phản đối những nội dung thiếu khách quan, không chính xác về tình hình tôn giáo ở Việt Nam của USCIRF; đồng thời kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu phản động, chống phá, “a dua, a tòng”, thiếu thiện chí. Bởi những lý do sau:

Thứ nhất, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Hiến chương Liên hợp quốc, Khoản 7, Điều 2 đã nêu rõ: “Tổ chức Liên hợp quốc không có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất kỳ quốc gia nào”. Theo đó, không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác cũng là nghĩa vụ đặt ra cho tất cả các thành viên cộng đồng quốc tế.

Công việc thuộc thẩm quyền nội bộ của quốc gia” là các phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước dựa trên cơ sở chủ quyền quốc gia, bao gồm toàn bộ những hoạt động mang tính chất đối nội, đối ngoại và được tiến hành phù hợp với luật pháp của đất nước đó cũng như pháp luật quốc tếtrong đó có việc quản lý điều hành hoạt động của xã hội theo quy định của pháp luật quốc gia. Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nôi bộbao gồm nhiều nội dung, như: Cấm can thiệp vũ trang và các hình thức can thiệp hoặc đe doạ can thiệp khác nhằm chống lại chủ quyền, nền tảng chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của quốc gia; Cấm dùng các biện pháp kinh tế, chính trị và các biên pháp khác để bắt buộc quốc gia khác phụ thuộc vào mình; Cấm tổ chức, khuyến khích các phần tử phá hoại hoặc khủng bố nhằm lạt đổ chính quyền của quốc gia khác; Cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ ở quốc gia khác; Tôn trọng quyền của mỗi quốc gia tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá phù hợp với nguyện vọng của dân tộc.

Như vậy, việc pháp luật Việt Nam xử lý các đối tượng có hành vi chống phá Nhà nước, trong đó có các đối tượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá, là công việc nội bộ của Việt Nam. Việc các tổ chức/hội/nhóm hải ngoại lớn tiếng rêu rao, “vinh danh” những kẻ vi phạm pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam không chỉ là hành vi can thiệp một cách vô lý vào công việc nội bộ của một quốc gia độc lập, có chủ quyền, mà còn thể hiện một thái độ thiếu thiện chí, cố tình hướng lái dư luận theo những mục đích xấu. 

USCIRF là cơ quan tham vấn độc lập do Quốc hội Mỹ thành lập và là “cánh tay nối dài” của Bộ Ngoại giao Mỹ nhằm phục vụ cho việc “cải thiện nhân quyền” ở các nước mà Mỹ cho là “cần quan tâm đặc biệt”. Từ năm 2012 đến nay, Việt Nam liên tục bị USCIRF đề nghị đưa vào danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt - CPC” bất chấp những thành tựu về đảm bảo các các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Trong các báo cáo hàng năm về tự do tôn giáo tại Việt Nam, USCIRF thường đưa ra những nhận định sai lệch, rằng Việt Nam “đàn áp tôn giáo trong nước”. Cùng với việc lớn tiếng phê phán “chính quyền và công an Việt Nam vi phạm nhân quyền”, USCIRF còn thể hiện “sự quan tâm đặc biệt” đến những kẻ mà họ gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo” - thực chất đây chỉ là các đối tượng vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và khối đại đoàn kết của nhân dân Việt Nam.

Thứ hai, cách nhìn thiếu khách quan, không chính xác về tình hình tôn giáo ở Việt Nam.

Các thông tin USCIRF sử dụng trong báo cáo đều không có nguồn gốc, chủ yếu là những thông tin xuyên tạc, sai sự thật, được thu thập từ các tổ chức, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có tư tưởng thù hận, bất mạn, nuôi dã tâm chống phá Nhà nước Việt Nam.

Có nhiều cách tiếp cận về tôn giáo, dưới góc độ là một tổ chức xã hội, ở Việt Nam có thể phân chia làm hai loại: 1) các tôn giáo, tổ chức tôn giáo được và chưa được Nhà nước công nhận, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; 2) tổ chức giả danh tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trên cơ sở đó, Đảng, Nhà nước ta có quan điểm, chính sách, pháp luật cụ thể như sau:

Với các tôn giáo, tổ chức tôn giáo được công nhận, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cả việc Đạo và việc Đời. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 ghi rõ: “Tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được công nhận là tổ chức tôn giáo khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: 1. Hoạt động ổn định, liên tục từ đủ 5 năm trở lên kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; 2. Có hiến chương theo quy định tại Điều 23 của Luật này; 3. Người đại diện, người lãnh đạo tổ chức là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; không có án tích hoặc không phải là người đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; 4. Có cơ cấu tổ chức theo hiến chương; 5. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; 6. Nhân danh tổ chức tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Với các tôn giáo, tổ chức tôn giáo chưa được Nhà nước công nhận, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, hệ thống chính trị các cấp hướng dẫn họ hoạt động theo quy định của pháp luật, địa phương, hỗ trợ về mọi mặt, nhất là mặt pháp lý, xét, công nhận, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo. Đồng thời, chúng ta cũng có các quy định nhằm chấn chỉnh, xử lý khi họ có những sai phạm, vi phạm quy định của pháp luật. Đây cũng là điều mà các thế lực thù địch, phản động vu cáo Đảng, Nhà nước “kiểm soát”, “sách nhiễu”, cấm “bán công khai” về tôn giáo ở Việt Nam.

Với các tổ chức đội lốt, giả danh tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đảng ta đã xác định rõ trong Nghị quyết: “Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”, “Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị”. Điều 24 của Hiến pháp cũng ghi: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Bộ Luật Hình sự năm 2015 xác định: Người nào thực hiện hành vi: “Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị - xã hội” nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cũng xác định các hành vi bị nghiêm cấm1. Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. 2. Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo. 4. Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo: a) Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; b) Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; c) Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; d) Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. 5. Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi”.

Như vậy, những thành phần mà các thế lực phản động, thù địch, thiếu thiện chí gọi là “các tổ chức tôn giáo độc lập”, “bị Đảng, Nhà nước Việt Nam phân biệt, đối xử, đàn áp” thực chất là những cá nhân, hội/nhóm cóhoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta; họ câu kết với các tổ chức phản động ở nước ngoài để tán phát các tài liệu phản động; họ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp lực lượng chống đối, gây rối, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội nói chung, sinh hoạt - hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào có đạo nói riêng; họ góp phần phá hoại sự bình an, hạnh phúc của nhân dân và tác động xấu đến truyền thống văn hóa dân tộc, gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội...

Ở Việt Nam cũng như bất cứ quốc gia nào trên thế giới, công dân phải tuân thủ hiến pháp, pháp luật. Chức sắc, tín đồ các tôn giáo là công dân Việt Nam nếu có những hành động cản trở công cuộc đổi mới, không “ích nước, lợi dân” đều bị xử lý theo pháp luật. Theo đó, các cá nhân, tổ chức bị xử lý là vì vi phạm pháp luật, chứ không phải là vì theo hay không theo tôn giáo nào. Điều này vừa thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, vừa là cơ sở khẳng định thái độ rõ ràng, dứt khoát của chúng ta trong đấu tranh loại bỏ cái xấu, cái ác trong xã hội, tạo môi trường sinh hoạt tôn giáo bình thường, lành mạnh cho đồng bào theo tôn giáo.

Thứ ba, thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới bác bỏ mọi sự xuyên tạc.

Tính đến năm 2022, Nhà nước Việt Nam đã công nhận 36 tổ chức tôn giáo, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 4 tổ chức và 1 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo; có hàng nghìn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung (trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam); có trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm khoảng 27% dân số cả nước), hơn 54 nghìn chức sắc, 135 nghìn chức việc và 29.658 cơ sở thờ tựHàng năm, trên cả nước có trên 8.000 nghìn lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo được tạo điều kiện tham gia các hoạt động an sinh xã hội, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng; hiện các tổ chức tôn giáo có trên 500 cơ sở khám chữa bệnh, trên 800 cơ sở bảo trợ xã hội, 300 trường mầm non.... 

Từ năm 2018 - 2021, cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đã cấp phép xuất bản 2.027 ấn phẩm về tôn giáo, tín ngưỡng với 7.006.240 bản in, trong đó có nhiều xuất bản phẩm được dịch ra tiếng Anh, Pháp và tiếng dân tộc thiểu số; có 25 tờ báo, tạp chí của các tôn giáo đang hoạt động. 

Các hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc; thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi hiến chương, điều lệ; đăng ký chương trình hoạt động hàng năm... đều được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Quan hệ quốc tế của các tôn giáo ngày càng mở rộng, việc sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam được quan tâm, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo tăng cường giao lưu, học tập, trao đổi với các tổ chức tôn giáo trên thế giới. Từ năm 2011 đến nay, đã có khoảng gần 2.000 lượt cá nhân tôn giáo xuất cảnh tham gia khoá đào tạo ở nước ngoài, tham dự hội thảo, hội nghị quốc tế liên quan đến tôn giáo; gần 500 đoàn nước ngoài với hơn 3.000 lượt người vào Việt Nam để trao đổi, giao lưu hướng dẫn tại cơ sở thờ tự tại Việt Nam, tham dự các sự kiện tôn giáo do các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam tổ chức. Giáo hội Phật giáo Việt Nam 3 lần đăng cai Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc VESAK, với trên 1000 đại biểu quốc tế đến từ 120 quốc gia, vùng lãnh thổ và hàng vạn người tham dự. Các lễ hội của Công giáo, Tin lành như: Đại hội đồng Giám mục Á châu; Lễ 100 năm Tin Lành đến Việt Nam; phối hợp với Liên minh châu Âu (EU) tổ chức Hội thảo “Tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, những kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ”..

Bên cạnh đó, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp của Việt Nam đã đón và làm việc với nhiều tổ chức, chức sắc tôn giáo trong nước và quốc tế cùng các tổ chức nước ngoài như: Viện Can dự Toàn cầu Mỹ (IGE), Tập đoàn truyền thông Đức (WAZ), tổ chức nhân quyền tôn giáo quốc tế... đến trao đổi, tìm hiểu tình hình tôn giáo, chính sách và pháp luật tôn giáo của Việt Nam; trao đổi các vấn đề mà dư luận quốc tế quan tâm. Trong các hoạt động đó, các tổ chức tôn giáo lớn đều bày tỏ thiện chí, ủng hộ, đồng tình với những chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến đời sống tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam; mong muốn các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam phát huy tinh thần “tốt Đời đẹp Đạo” - đóng góp ngày càng nhiều hơn vào sự nghiệp phát triển đất nước.

Từ những lý do nêu trên để chúng ta tiếp tục khẳng địnhnhững “lý lẽ” và cái gọi là “khuyến nghị” của USCIRF đưa Việt Nam vào danh sách CPC” chỉ là cách nhìn phiến diện, chủ quan, thiếu thiện chí. Các bài viết “a dua” “ăn theo” đăng tải trên các trang mạng phản động thực chất chỉ là sự “thêm bớt”, “xuyên tạc”, cố tình “vẽ rắn thêm chân” của các thế lực phản động, thù địch cũng như những thành phần bất mãn nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của Việt NamChúng ta cần kiên quyết vạch trần và đấu tranh bác bỏ./.

Bác bỏ luận điệu Việt Nam không có tự do dân chủ, nhân quyền

 Đã từ lâu, vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” luôn được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Vì vậy, nhận rõ bản chất và kiên quyết đấu tranh bác bỏ các luận điệu vu cáo, xuyên tạc, làm thất bại mưu đồ nham hiểm, thâm độc của chúng là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược để bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, người dân Việt Nam thấu hiểu những giá trị to lớn của độc lập, tự do, hiểu rõ quyền con người và cũng nhận rõ ai là bạn, ai là thù, đâu là đối tác, đối tượng. Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực; vị thế, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng lên, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện. Bạn bè và du khách quốc tế đến Việt Nam đều nhận thấy sự đổi thay từng ngày và coi đây là điểm đến an toàn, thân thiện, mến khách, một đất nước có chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phát triển mạnh mẽ, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường, quyền tự do, dân chủ của người dân luôn được tôn trọng và phát huy. Đặc biệt, vấn đề dân chủ, nhân quyền được Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo với nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp đúng đắn, phù hợp và đạt được nhiều kết quả thiết thực, không thể phủ nhận. Thế nhưng, với bản chất phản động, thù nghịch cố hữu, các thế lực thù địch vẫn điên cuồng chống phá cách mạng Việt Nam, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa; trong đó, lĩnh vực dân chủ, nhân quyền là chiêu bài được chúng triệt để lợi dụng.

Vì vậy, nhận diện, đấu tranh, phòng, chống, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam là nhiệm vụ thường xuyên, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn, đòi hỏi cả hệ thống chính trị và toàn dân, nòng cốt là lực lượng chuyên trách phòng, chống “diễn biến hòa bình” và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phát huy trách nhiệm, đề cao cảnh giác cách mạng, có quyết tâm chính trị cao, nội dung toàn diện, đồng bộ, giải pháp khoa học, thiết thực.

Sau thành công của những xung đột chính trị nhằm lật đổ chế độ chính trị ở một số quốc gia Đông Âu, Trung Đông và Bắc Phi bằng các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng cam”, “cách mạng đường phố”,… các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” ở Việt Nam với những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn, trong đó có chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”. Họ cho rằng, học thuyết “dân chủ”, “nhân quyền” cần áp dụng với Việt Nam là: xóa bỏ nền tảng tư tưởng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản. Đây là một trong những mũi tấn công chủ yếu của các thế lực thù địch thông qua các luận điệu xuyên tạc, hòng bóp méo sự thật, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân chủ, nhân quyền.

Mục đích của các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tuyên truyền, xuyên tạc làm rối loạn tình hình chính trị ở Việt Nam, v.v. Những phương thức cụ thể mà họ vẫn thường sử dụng là: lợi dụng danh nghĩa “nhà dân chủ”, “đấu tranh vì nhân quyền” để xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng vấn đề chống tham nhũng, những hạn chế trong quản lý xã hội của chính quyền cơ sở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động những phần tử bất mãn với chế độ đẩy mạnh các hoạt động gây rối, biểu tình, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Mặt khác, họ chủ động tác động vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân thông qua những chiêu trò, như: “hỗ trợ kinh phí để thực hiện việc khiếu kiện”; hỗ trợ nhân đạo kèm theo những điều kiện bắt buộc như tham gia các hội, nhóm, diễn đàn, hội thảo; lợi dụng sai phạm của một số cán bộ, đảng viên để đánh đồng, quy chụp thành bản chất, bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp, từng bước hạ thấp làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ.

Cùng với đó, họ ra sức tuyên truyền, cổ xúy, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản phương Tây, tuyệt đối hóa tính toàn cầu, tính phổ cập của quyền con người với luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích quốc gia, dân tộc”; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, tự do tôn giáo, v.v. Đặc biệt, chúng đẩy mạnh các “chiến dịch” phá hoại tư tưởng, hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế khi chúng ta đăng cai tổ chức những sự kiện chính trị quan trọng hay tham gia các hội nghị, diễn đàn đa phương, song phương, nhất là của Liên hợp quốc.

Các thế lực thù địch còn lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” làm điều kiện để gây sức ép, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam. Một số tổ chức, cá nhân còn tìm cách gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với các điều kiện về dân chủ, nhân quyền trong quan hệ với Việt Nam, đòi Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cải cách chính trị, dân chủ và pháp luật theo kiểu phương Tây. Họ gây sức ép, buộc Việt Nam phải có những tiến bộ cụ thể về dân chủ, nhân quyền, phải đưa ra các lộ trình cụ thể trong thực hiện các điều ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền, v.v. Các đối tượng này còn gửi thư, bản kiến nghị tới một số quốc gia, tổ chức quốc tế để phản đối việc cơ quan chức năng Việt Nam bắt giữ, xét xử các phần tử lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” để vi phạm pháp luật, đòi trả tự do cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”; đồng thời, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp người bất đồng chính kiến, người yêu nước, từ đó kêu gọi sự can thiệp của cộng đồng quốc tế. Ngoài ra, họ còn sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để thúc đẩy, hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập, thúc đẩy sự ra đời của các khuynh hướng dân chủ cực đoan, phát triển “xã hội dân sự”,… để chống phá từ bên trong với lý lẽ cho rằng, chế độ độc đảng ở Việt Nam là trở ngại lớn nhất trong tiến trình dân chủ hóa, muốn có dân chủ thực sự thì Việt Nam phải xóa bỏ chế độ độc đảng.