Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2023
KHÔNG THỂ ĐÁNH ĐỒNG GIỮA NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI KẺ PHẢN BỘI
NĂNG LỰC “NHẬN SAI”
KHÔNG NGỪNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỂ ĐẢNG NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH
Khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỀ ÁN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM
Các cơ quan như Quốc hội, Tòa án Nhân
dân tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Bộ Công an, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương, Bộ Tư pháp, Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm xin ý kiến
lãnh đạo các cơ quan, các chuyên gia về dự thảo các chuyên đề.
Nhiều thành viên Ban Chỉ đạo quyết liệt,
sát sao, chủ động, dành thời gian cho ý kiến nhiều lần các chuyên đề nhánh để
có được sản phẩm chất lượng tốt. Cũng trong 10 tháng qua, Chủ tịch nước Nguyễn
Xuân Phúc và Trưởng Ban Nội chính Trung ương Phan Đình Trạc đã có 4 cuộc làm
việc với các chuyên gia, nhà khoa học.
Ban Nội chính Trung ương đã làm tốt vai
trò đầu mối, tham mưu trực tiếp và tổ chức rất thành công 3 hội thảo quốc gia ở
Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh với sự tham gia của hàng trăm lượt chuyên
gia, nhà khoa học, cán bộ làm công tác quản lý, cán bộ làm công tác thực tiễn,
trong đó có các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư để Ban Chỉ đạo lắng
nghe ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học. Đây là đầu vào rất quan trọng cho xây
dựng Đề án.
Thay mặt Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án, Chủ
tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao tinh thần trách nhiệm trước Trung ương,
trước Bộ Chính trị, của các thành viên Ban Chỉ đạo trong chỉ đạo xây dựng và
hoàn thành 27 chuyên đề.
Chủ tịch nước cũng biểu dương, đánh giá
cao các cơ quan và cảm ơn các chuyên gia, nhà khoa học, cùng Tổ Biên tập. Đặc
biệt, trong hơn 1 tháng qua, các thành viên Tổ Biên tập, nhất là các chuyên
gia, nhà khoa học đã dành hết tâm trí, sức lực, với phương pháp làm việc rất
khoa học, trao đổi, thảo luận dân chủ, cởi mở, huy động tối đa kiến thức, kinh
nghiệm tích lũy được trong nhiều năm vào việc tổng hợp để xây dựng dự thảo Đề
án lần thứ nhất trình Ban Chỉ đạo cho ý kiến.
Theo đề nghị của Chủ tịch nước Nguyễn
Xuân Phúc, các thành viên Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án đánh giá cao Thường trực
Ban Chỉ đạo đã chuẩn bị công phu, bài bản dự thảo Đề án lần nhất với sự tham
gia ý kiến sâu của các nhà khoa học, dù đây là lần đầu tiên Đảng ta xây dựng Đề
án rất quan trọng này.
Các thành viên Ban Chỉ đạo cũng cho ý
kiến vào nội dung của Đề án như những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập
trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong những năm
qua, cũng như các nguyên tắc, các đặc trưng cơ bản và những kiến nghị, đề xuất
về mục tiêu, quan điểm, lộ trình theo 2 giai đoạn từ 2021- 2030 và từ 2030 -
2045, cũng như những phương hướng đột phá nhằm hướng tới xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo.
Trong phát biểu kết luận phiên họp, Chủ
tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, Ban Chỉ đạo thống nhất cao về nhận thức,
tầm quan trọng, tính chiến lược của Đề án, trong đó thống nhất về các quan điểm
đổi mới, phát triển đất nước, đưa đất nước phát triển bền vững dưới sự lãnh đạo
của Đảng; các vấn đề nêu ra đều có cơ sở pháp lý.
Dự thảo lần thứ nhất được xây dựng dựa
trên nền tảng Chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát quan điểm của
Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó bám
sát Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp và Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.
Từ ý kiến của các thành viên Ban Chỉ
đạo, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Ban Nội chính Trung ương, Tổ Biên
tập tiếp tục hoàn thiện dự thảo Đề án một cách chặt chẽ, có hệ thống, đồng thời
làm rõ thêm các nội dung quan trọng là đánh giá thực trạng, các quan điểm, mục
tiêu đột phá, các nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa.
Do thời gian hoàn thiện Dự thảo Đề án
đến khi trình Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng sắp tới không còn
nhiều, Chủ tịch nước đề nghị các thành viên Ban Chỉ đạo, nhất là Ban Nội chính
Trung ương rà soát việc triển khai Kế hoạch để đôn đốc, thực hiện kịp thời và
đảm bảo chất lượng các nhiệm vụ, trong đó cần phối hợp với Văn phòng Trung
ương, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức 3 hội nghị ở 3 vùng cả nước để lấy ý kiến
của các địa phương và cơ sở.
Chủ tịch nước đề nghị Ban Nội chính
Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương thực hiện
tốt công tác truyền thông để mọi tầng lớp nhân dân đều hiểu và có thể tham gia
góp ý vào các vấn đề của Đề án.
SỦ DỤNG CÔNG NGHỆ SỐ ĐẺ NGĂN CHẶN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, VU CÁO
Định hướng thứ tư trong phát triển đất
nước giai đoạn 2021-2030 được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XIII là “...xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đã bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự
trở thành sức mạnh nội dung, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”.
Trong phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta
xác định:“...Hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa;
phát triển những sản phẩm, loại hình văn hóa độc đáo, sáng tạo có sức lan tỏa
để quảng bá, giới thiệu ra thế giới”.Theo đó, tuyên truyền văn hóa Việt Nam ra
thế giới cần đưa ra các thông điệp vừa làm nổi bật được những nét đặc sắc của
văn hóa Việt Nam, trong đó có tính khác biệt với các quốc gia khác, vừa đảm bài
sự hài hòa với xu thế chung của nhân loại, đồng thời phải tác động đến tình
cảm,đáp ứng được nhu cầu và thuyết phục đối tượng tiếp nhận.
Do đó, hoạt động tuyên truyền hình ảnh
Việt Nam ra thế giới không thể tách rời với việc đấu tranh phản bác, chống các
luận điểm xuyên tạc, bôi nho hình ảnh Việt Nam. Đây cũng chính là một trong
những lĩnh vực quan trọng của công tác tư tưởng nói chung và công tác đối ngoại
nói riêng.
“Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm
mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính
trị” là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai
đoạn 2021-2030 được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XIII. Việc tăng
cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ
không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định
của đất nước mà còn nhằm bảo vệ hình ảnh Việt Nam trước những thông tin không
đúng sự thật.
Thông qua nền tảng số, bè bạn quốc tế đã
biết đến Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của
nhiều năm chiến tranh, lại bị bao vây cấm vận, nay trở thành một Việt Nam có
quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ; quan hệ kinh tế
thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ; có vai trò, vị thế ngày càng nổi
bật trong khu vực và trên thế giới; là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn
quốc tế như ASEAN, ASEM, APEC, WTO…
Như vậy, trong thời đại khoa học công
nghệ phát triển như vũ bão, việc sử dụng các nền tảng công nghệ số để phục vụ
tuyên truyền một mặt góp phần thúc đẩy quảng bá về một Việt Nam thân thiện, mến
khách, một đất nước được coi là “điểm hẹn của hòa bình”, điểm đến an toàn cho
bè bạn quốc tế, mặt khác góp phần phản bác lại các thông tin tuyên truyền sai
trái, thù địch đối với Việt Nam cũng như nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam
với thế giới.
NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC
Bắt nguồn từ truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ
nguồn”, tri ân người có công với đất nước từ lâu đã trở thành nét đẹp văn hóa
của dân tộc, góp phần làm nên sức mạnh nội sinh giúp dân tộc ta vượt qua bao
khó khăn, thử thách trong tiến trình phát triển. Ngày nay, nét đẹp văn hóa ấy
vẫn liên tục được bồi đắp, phát huy và tỏa sáng.
Tri ân các anh hùng liệt sĩ, thương binh, người có công
với cách mạng luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đặc biệt quan tâm, thể
hiện bằng những nghĩa cử cao đẹp. Đây đã trở thành nét đẹp văn hóa của người
Việt Nam, được bắt nguồn từ lịch sử truyền thống biết ơn, "uống nước nhớ
nguồn" của người Việt từ xa xưa. Đó là lòng biết ơn, tri ân của con cháu
với ông bà tiên tổ trong gia đình, dòng họ, rộng hơn là ghi nhớ công lao của
những người có công với làng xã, và hơn nữa, là những người có công với đất
nước, dân tộc.
Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta
đã đối mặt với biết bao khó khăn trong quá trình lao động sản xuất, trước thiên
tai và các cuộc chiến tranh chống xâm lược. Trong quá trình đó, có biết bao
người đã dũng cảm đương đầu với khó khăn, thậm chí hy sinh xương máu, tính mạng
vì lợi ích của cộng đồng, dân tộc. Các thế hệ sau luôn ghi nhớ, biết ơn công
lao to lớn ấy. Cùng với tín ngưỡng của cộng đồng ở các cấp độ, phạm vi khác
nhau, nhiều bậc có công đã được người dân suy tôn thánh và lập đền thờ để thờ
phụng, tổ chức lễ hội hằng năm nhằm tôn vinh và nhắc nhớ con cháu không quên
công ơn của các vị, như: Đền thờ các vua Hùng (Phú Thọ) và Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương
ngày 10-3 âm lịch hằng năm; Đền Gióng thờ Thánh Gióng-Phù Đổng Thiên Vương và
hội Gióng ở Sóc Sơn và Đông Anh (Hà Nội); Đền Hai Bà Trưng thờ hai vị nữ anh
hùng dân tộc Trưng Trắc và Trưng Nhị ở nhiều nơi...
Ở thời kỳ phong kiến, các triều đại đã có những chế độ,
chính sách đãi ngộ người có công với đất nước, dân tộc. Chẳng hạn, vua Lê Thần
Tông, vào năm 1655, định lệ tặng và tuất cho quan và binh chết trận rằng: Phàm
các chánh đội trưởng, đội trưởng ở các dinh cơ đội thuyền có dự cai quản cùng
những binh lính được cử đi đánh giặc mà hết sức cố đánh, giản hoặc có người
chết trận thì cai đội cai thuyền được tặng chức tả hiệu điểm và mỗi viên được
cấp 20 mẫu quan điền; chánh đội trưởng và đội trưởng được gia tặng chức hữu
hiệu điểm và mỗi viên được cấp 15 mẫu quan điền; binh lính thì được cấp 5 mẫu
quan điền và cho con được miễn trừ việc quan, nếu chưa có con thì anh em hay
cháu gọi bằng chú, bác ruột, một người được miễn việc quan...
Trải qua thời gian, biết ơn, tri ân người có công đã trở
thành đạo lý, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc và ngày càng được
bồi đắp, phát triển, trở thành cội nguồn của chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh, góp phần tạo nên sức mạnh cùng dân tộc
vượt qua những khó khăn, thử thách để phát triển đến ngày hôm nay.
LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM
Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN được xác định là nội dung trọng tâm của
đổi mới chính trị tại Việt Nam. Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã tích
cực thảo luận, lấy ý kiến đóng góp để hoàn thiện Đề án “Chiến lược xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm
2045”. Tuy
nhiên, với mưu đồ chống phá, nhiều đối tượng xấu đã xuyên tạc, công kích, đưa
ra các bài viết làm sai lệch bản chất vấn đề. Một số bài viết cho rằng đã là
nhà nước pháp quyền thì không thể đi đôi với XHCN, đưa ra “kiến nghị” đòi bỏ
nội dung XHCN trong đề án xây dựng nhà nước pháp quyền.
Thậm chí, một số người nhân danh cấp
tiến, đổi mới để vu cáo rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam hiện “đứng trên pháp luật”
nên không thể có nhà nước pháp quyền; cho rằng việc đưa ra định hướng XHCN chỉ
để mang lại lợi ích cho Đảng chứ không phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc; việc
đặt đề án xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là nhằm che đậy cho bản chất độc tài
của chế độ… Những luận điệu trên thể hiện rõ ý đồ chống phá chế độ, chống
phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Những yếu tố cơ bản để xây dựng một nhà
nước pháp quyền là xã hội có dân chủ, đất nước có một hệ thống pháp luật đầy đủ
và mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy
định của pháp luật. Nhà nước pháp quyền vừa là một giá trị chung của nhân loại,
vừa là một giá trị riêng của mỗi một dân tộc, quốc gia. Tuỳ thuộc vào đặc điểm
lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển mà các quốc gia
khác nhau sẽ xây dựng một mô hình nhà nước pháp quyền cụ thể một cách thích
hợp.
Tại Việt Nam, mô hình mà chúng ta lựa
chọn là nhà nước pháp quyền XHCN. Điều này đã được ghi nhận cụ thể tại khoản 1,
Điều 2 Hiến pháp 2013: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền
XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam là hoàn toàn phù hợp cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà
nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất,
có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức. Như vậy, đây là bộ máy quyền lực của chính quần chúng nhân
dân lao động, phục vụ lợi ích của đại đa số người dân trong xã hội.
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được
tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập
trung dân chủ. Tại Việt Nam, Đảng, Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ
của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền
công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,
mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn
diện. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức có nghĩa vụ và trách
nhiệm tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân
dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân. Mọi hành vi tham nhũng,
lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền đều kiên quyết bị xử lý.
Trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam,
Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo không có
nghĩa là “đứng trên pháp luật”, “không tuân thủ pháp luật” như những gì các đối
tượng xấu cố tình bôi nhọ. Tất cả các tổ chức của Đảng và đảng viên đều phải
hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Mọi hành vi vi phạm pháp luật
tuỳ theo tính chất, mức độ, hậu quả sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp
luật.
Việc Việt Nam xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN là phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của nhân dân. Như Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển
là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên
phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và
công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình
đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau,
hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công,
"cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe
nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm
môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải
để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại
môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc
về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ
cho một thiểu số giàu có”.
LÁ BÀI NHÂN QUYỀN TRONG THỜI ĐẠI SỐ
Thời
đại công nghệ số 4.0 sẽ ít nhiều làm thay đổi tư duy, nhận thức, tư tưởng, tình
cảm của con người với thế giới chung quanh. Con người tiếp cận với tri thức
nhanh chóng hơn, mở ra khả năng tương tác; phương thức tác động của chính quyền
với người dân đa dạng hơn, nhất là thông qua mạng xã hội.
Từ những tiến bộ về khoa học và công nghệ, sẽ xuất hiện nhiều
hơn một số xu thế mang tính phổ quát, bên cạnh những giá trị chung, truyền
thống trong quan hệ xã hội ở các quốc gia nói chung với nhiều mức độ, đặc điểm
khác nhau, như xu thế dân chủ hóa đi đôi với cá thể hóa; xu thế lớn trong đổi
mới quản lý, quản trị quốc gia và trách nhiệm giải trình (chuyển đổi hệ thống
hành chính mạnh mẽ sang chính phủ điện tử; phân cấp, phân quyền, minh bạch hóa
thông tin; tăng cường nguồn lực tinh hoa cho bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt
động hiệu lực, hiệu quả); tăng cường vai trò giám sát của người dân đối với
hoạt động của bộ máy công quyền. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, các hoạt
động tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, khủng bố, biểu tình, bạo loạn đối với Việt
Nam có thể được thực hiện tinh vi hơn. Những kiểu xuyên tạc, vu cáo trong thời đại số
Thông qua các nền tảng số, các thế lực
thù địch sử dụng những tin, bài, hình ảnh của báo chí chính thống trong nước,
sau đó tô vẽ thêm bớt, đưa ra những nội dung “thật giả lẫn lộn” và thông tin
sai lệch để đưa lên mạng xã hội. Chúng lập ra những trang/tài khoản núp dưới
danh xưng của các cơ quan Chính phủ, lãnh đạo cấp cao nhằm lôi kéo tâm lý hiếu
kỳ của công chúng, đánh vào khoảng trống thông tin (mà báo chí chính thống
trong nước chưa đăng tải hoặc cần thời gian kiểm duyệt thông tin); ngụy tạo các
bài viết dưới những tiêu đề giật gân liên quan đến những vấn đề đang được dư
luận quan tâm… Những thủ đoạn lợi dụng nền tảng số nêu trên của các thế
lực thù địch, phản động, bất mãn ít nhiều đã dẫn dụ và lừa dối được một bộ phận
người dân. Những cái “bẫy thông tin”mà các đối tượng thù địch, phản động, tổ
chức thiếu thiện chí với Việt Nam tung ra cũng đã khiến cho nhiều người nước
ngoài không phân biệt được thông tin chính thống và thông tin giả mạo, dẫn đến
có nhận thức không đúng, không tốt về Việt Nam.
CẢI CÁCH BỘ MÁY HÀNH CHÍNH TINH GỌN, HOẠT ĐỘNG HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ
Sáng 6-8, tại Nhà Quốc hội, Thường trực
Ủy ban Pháp luật của Quốc hội tổ chức phiên họp mở rộng để thẩm tra Báo cáo của
Chính phủ tổng hợp việc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về giám sát
chuyên đề và chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV (Nghị
quyết số 56/2017/QH14 ngày 24-11-2017 về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy
hành chính Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; lĩnh vực nội vụ quy
định tại Nghị quyết số 33/2016/QH14 ngày 23-11-2016 về chất vấn và trả lời chất
vấn tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV).
Các đại biểu đánh giá cao Chính phủ đã
nghiêm túc trong việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội. Nội dung các báo
cáo đã phản ánh được khái quát tình hình các nghị quyết của Quốc hội về giám
sát chuyên đề và chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến hết Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa
XIV; đánh giá những mặt làm được, chỉ ra được những hạn chế, bất cập, đề xuất
một số giải pháp, kiến nghị trong thời gian tới.
Theo Báo cáo của Chính phủ, sau khi có
Nghị quyết số 56/2017/QH14 của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành 5 Nghị định, 6 Quyết định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ
chức của một số bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Tổng cục thuộc Bộ.
Qua rà soát 5 Nghị định trên, Thường
trực Ủy ban Pháp luật nhận thấy, cơ bản các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ không
chuyển các vụ thành cục, tổng cục; các cơ quan thuộc Chính phủ giảm số đơn vị
được thành lập phòng, giảm số phòng.
Các văn bản nêu trên vẫn còn một số quy
định chưa đáp ứng yêu cầu là: tăng tổng số phòng trong các đơn vị trực thuộc
Bộ, số đầu mối không tăng nhưng cũng chưa được sắp xếp để bảo đảm tinh gọn theo
yêu cầu của Nghị quyết. Các nghị định về cơ quan thuộc Chính phủ cũng không quy
định số lượng tối đa cấp phó của đơn vị trực thuộc nên có thể dẫn đến tùy tiện
khi áp dụng.
Một số đại biểu nêu quan điểm: Dư luận
vẫn nóng lên với nhiều vấn đề bức xúc về tuyển dụng, đề bạt không đúng, bổ
nhiệm “siêu tốc” xảy ra gần đây như việc Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Thanh Hóa bổ nhiệm hàng loạt cán bộ lãnh đạo cấp phòng sai quy định
trước khi nghỉ hưu; hay Tổng giám đốc Tổng Công ty Cảng hàng không bổ nhiệm 70
cán bộ trước khi nghỉ hưu…
Các đại biểu đề nghị cần tăng cường kỷ
luật, kỷ cương, kịp thời phát hiện sai phạm trong tuyển dụng, quy hoạch, đề
bạt, bổ nhiệm cán bộ, công chức bởi đây là một trong những yêu cầu quan trọng
được đặt ra trong Nghị quyết số 56/2017/QH14.
Nhiều ý kiến đề nghị thời gian tới Bộ
Nội vụ kiên quyết hơn trong việc giao biên chế cho từng địa phương, bộ, ngành.
Chính phủ tiếp tục sắp xếp cơ cấu tổ chức các cơ quan trong bộ máy hành chính
nhà nước tinh gọn với các tiêu chí cụ thể.
Để việc thực hiện các Nghị quyết đi vào
thực chất, hiệu quả, các đại biểu đề nghị Chính phủ tiếp tục tăng cường việc
xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính
Nhà nước theo yêu cầu của Nghị quyết số 56/2017/QH14.
Việc rà soát, thu gọn đầu mối các cơ
quan, tổ chức là cần thiết nhưng cần phải nghiên cứu một cách thận trọng, kỹ
lưỡng và có cơ sở thực tiễn để đảm bảo tính khoa học, hiệu quả, khả thi, tránh
việc thu gọn một cách cơ học mà số lượng biên chế, tổ chức bên trong vẫn cồng
kềnh, chồng chéo.
Đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác - Hiểm họa khôn lường
Bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào, quyền lực cũng luôn có hai mặt.
Mặt tích cực, nó là công cụ hữu hiệu bậc nhất để tập hợp lực lượng xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, xây dựng một xã hội tốt đẹp, nếu như quyền lực ấy được trao cho
những con người có đạo đức tốt.
Mặt tiêu cực của quyền lực là luôn làm tha hóa những con người
và bộ máy sử dụng quyền lực nhưng lại yếu kém về nhân cách và không có cơ chế
tốt để kiểm soát quyền lực. Quyền lực là “con dao” hai lưỡi, có thể phục vụ cho
đời và cũng có thể làm hại đất nước nếu rơi vào tay những kẻ bất tài, tham lam.
Sự tha hóa như vậy có từ trong bản chất tự nhiên của con người và quyền lực. Có
những người lúc đầu (khi chưa có quyền lực) thì tốt, nhưng khi đã có quyền lực
trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể
phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì lợi ích thấp hèn của cá nhân.
Quyền lực là của nhân dân, người được ủy quyền khi bị quyền lực
làm tha hóa, sẽ sử dụng quyền lực không phải để bảo vệ và phục vụ nhân dân như
mục đích ban đầu, mà vì lợi ích của cá nhân, gia đình, dòng họ, của một nhóm
người, họ quay lại với nhân dân, nhưng biến nhân dân từ chủ nhân của quyền lực
thành bị chèn ép, thậm chí bị tước đoạt. Họ sử dụng quyền để trục lợi cá nhân
hay lợi ích nhóm hoặc sử dụng quyền vượt ra ngoài giới hạn được trao để thỏa
mãn khát khao quyền lực. Trường hợp thứ nhất sinh ra tham nhũng, trường hợp thứ
hai gọi là lạm quyền. Đó đều là quyền lực bị tha hóa. Trên thực tế, tham nhũng
và lạm quyền luôn song hành.
Hiểm họa khôn lường của đam mê quyền lực, kén chọn vị trí của
cán bộ xuất phát từ vai trò của cán bộ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút
trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (tháng 10/1947) khi Người khẳng định: “Muôn
việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý
nhất định”. Theo đó, mức độ nguy hại phụ thuộc vào việc những kẻ đam mê quyền
lực đó đang giữ vị trí nào, ở lĩnh vực nào, cụ thể là:
Trước hết, đối với nội bộ, người đam mê quyền lực, kén chọn vị trí
công tác sẽ làm mất dân chủ, mất đoàn kết nội bộ, từ đó làm suy yếu thậm chí
làm mất sức chiến đấu của các tổ chức, nhất là tổ chức Đảng, chính quyền và bộ
máy quản lý. Điều này xuất phát từ vấn nạn chạy chức, chạy quyền. Bởi lẽ, những
người có phẩm chất, năng lực nhưng không chịu chạy sẽ không được đề bạt, bổ
nhiệm; từ đó nảy sinh tư tưởng, bất mãn, chán chường với công việc, sẵn sàng đề
đạt nguyện vọng thuyên chuyển sang nơi khác, thậm chí nghỉ việc. Còn những kẻ
kém tài, kém đức nhưng khéo chạy, biết cách chạy có thể sẽ dễ dàng leo lên các
thang bậc của quyền lực. Việc chạy chức, chạy quyền không chỉ tạo ra bất công
lớn mà còn đẻ ra tham nhũng. Bởi vì, khi đã có chức quyền, kẻ có tham vọng chức
quyền trục lợi phi pháp, chúng sẽ dùng chính những đồng tiền trục lợi được để
đi hối lộ nhằm tạo sự bao che một cách trắng trợn, để rồi được tiếp tục thăng
tiến hoặc hạ cánh an toàn. Việc chạy chức, chạy quyền không chỉ tạo ra bất
công, mà còn dẫn đến nghịch cảnh trớ trêu là: “Nước quá trong thì không có cá,
người tốt quá thì không ai chơi” và bị coi là quan hệ kém…
Nếu cán bộ đam mê quyền lực là cán bộ cấp chiến lược thì hiểm
họa càng lớn. Bởi vì, khi họ ở vị trí có quyền quyết định đến sinh mệnh chính
trị của người khác, thì họ ký thêm hàng chục, hàng trăm quyết định bổ nhiệm cán
bộ thuộc quyền, cấp dưới cũng có hành vi “chạy” như mình; hệ quả là sẽ tạo ra
“một dây” - hệ thống vướng vào tiêu cực trong nhiệm kỳ của anh ta, vì một lẽ
thường tình: “thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Chính vì vậy, bất kì sai lầm nào
trong công tác cán bộ, đặc biệt là với cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp chiến lược
sẽ đều phải trả giá rất đắt, “làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của
nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và
chế độ”.
Thứ hai, đối với nhân dân, những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác thực
chất là những kẻ đã “tha hóa quyền lực”, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân
bằng hình thức này hay hình thức khác. Quyền lực đó được nhân dân ủy quyền cho
đội ngũ cán bộ để bảo đảm quyền làm chủ của mình theo luật định thì bị chính
người được ủy quyền đó biến quyền lực nhân dân thành quyền lực cá nhân và sử
dụng sai mục đích, làm biến dạng bản chất của chế độ dân chủ ở ta, là trở lực
lớn để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ đó,
gây bức xúc trong dư luận, làm giảm sút niềm tin vào kết quả thực hiện chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán
bộ.
Thứ ba, đối với bạn bè và đối tác, làm suy giảm sự tin cậy của bạn bè và
đối tác của Việt Nam về môi trường kinh doanh ở các địa phương và của cả nước
vì những cán bộ vướng vào tham nhũng, tiêu cực thì hầu hết lại là những kẻ đam
mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác lại thường gây khó khăn cho các doanh
nghiệp xúc tiến đầu tư và triển khai các dự án khi nhũng nhiễu doanh nghiệp để
trục lợi bất chính. Nếu các hành vi tiêu cực đó của họ bị các thế lực thù địch
và kẻ cơ hội chính trị lợi dụng để chống phá Đảng và Nhà nước ta thì mức độ
nguy hại càng lớn. Trước hết, làm mất thiện cảm, mất niềm tin của bạn bè quốc
tế và các đối tác đối với Việt Nam; nguy hiểm hơn và không loại trừ khả năng
nước ta dễ rơi vào hoàn cảnh bị cô lập nếu những kẻ đam mê quyền lực đã “chui
sâu, leo cao” vào các vị trí chủ chốt trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
của Việt Nam khi họ đưa ra hoặc tham mưu cho Đảng, Nhà nước ra những quyết định
sai lầm.
Đằng sau cái gọi là "Hội thánh của Đức Chúa trời Mẹ"
Thời gian gần đây, Hội thánh Đức Chúa trời mẹ (HTĐCTM) tiếp tục hoạt động trở lại tại một số địa phương như Vĩnh Phúc, Quảng Nam, Thanh Hóa và một số tỉnh Tây Bắc...
Về bản chất hoạt động của HTĐCTM vừa mang tính chất mê tín dị đoan, vừa tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự, làm ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc và cũng là điều kiện để các cá nhân, tổ chức thù địch lợi dụng xuyên tạc về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
HTĐCTM là một
“phong trào tôn giáo” mới bắt nguồn tại Hàn Quốc do Ahn Sahng-hong, sinh năm
1918 sáng lập. Năm 1947, Ahn Sahng-hong theo Cơ Đốc Phục Lâm nhưng sau đó bị
giáo hội này khai trừ vì đưa ra quan điểm “lấy thập tự giá làm biểu tượng trong
Hội thánh là phạm tội thờ thần tượng". Đến năm 1964, ông lập ra nhóm
"Hội thánh của Đức Chúa Trời Nhân chứng Jesus” tại TP Busan, Hàn Quốc và
trở thành Giáo chủ.
Ông tự cho rằng
mình là "Chúa tái lâm", "Thánh Linh đấng yên ủi", "Đức
Chúa Trời đến thế gian qua việc mặc lấy xác thịt", nhấn mạnh rằng phải gia
nhập vào nhóm của mình thì mới được "ghi tên vào sổ của sự sống". Năm
1985, sau khi Ahn Sahng-hong qua đời, bà Janggil - Ja (Zahng Gil Jah hoặc Chang
Gil Jah) tách ra thành lập “Hội thánh của Đức Chúa Trời Nhân chứng Ahn
Sahng-hong”.
Năm 1997, Hội
thánh của Đức Chúa Trời Nhân chứng Ahn Sahng-Hong đổi tên gọi chính thức là
“Hội Thánh của Đức Chúa Trời Hiệp hội Truyền giáo Tin lành Thế giới” (World
mission society Church of God - WMSCOG) hay còn gọi là “Hội thánh của Đức Chúa
trời mẹ” (bởi vì tổ chức này tin có Đức Chúa trời mẹ).
Tổ chức này coi
ông Ahn Sahng-hong là “Đức Chúa trời cha” và bà Janggil-Ja là “Đức Chúa trời
mẹ”, không tổ chức lễ Giáng sinh, không thờ cây thánh giá, trong sinh hoạt nữ
trùm khăn ren trắng… Vì vậy, các tổ chức chính thống ở Hàn Quốc tẩy chay và coi
là tà giáo, gọi là HTĐCTM để phân biệt với các tổ chức Hội thánh Đức Chúa Trời
khác thuộc đạo Tin Lành. Trụ sở chính của HTĐCTM đặt tại quận Bundang, TP
Seongnam, tỉnh Kyunggi, Hàn Quốc.
HTĐCTM du nhập
vào Việt Nam thông qua hoạt động nhập cảnh của người Hàn Quốc; tiếp đến là hoạt
động hiến máu nhân đạo của “Quỹ chúng tôi yêu bạn”. HTĐCTM xuất hiện ở phía Nam
vào năm 2001, hình thành điểm nhóm đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh vào khoảng năm
2005-2006 do Nguyễn Văn Hòa (truyền đạo sư) phụ trách từ Đà Nẵng trở vào. Năm
2013 xuất hiện ở phía Bắc và rộ lên năm 2016 do ông Nguyễn Đình Tám (chấp sự)
phụ trách từ Thừa Thiên-Huế trở ra.
Theo quy định
của tổ chức này, mỗi tín đồ được tổng hội ở Hàn Quốc trực tiếp cấp “mã số sự
sống” và quản lý chặt chẽ về nhân thân, lai lịch, quan hệ xã hội… thông qua
“Thẻ Thánh đồ” (tín đồ) và “Thẻ Thánh đồ điện tử” (đối với người có chức vụ cao
hơn tín đồ), được lưu trữ trên website của giáo hội. Hiện nay, HTĐCTM có mặt ở
nhiều tỉnh, thành phố với hàng nghìn người tin theo.
Cảnh giác với hoạt động Hội thánh Đức
Chúa trời mẹ
Đối chiếu quy
định hiện hành về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cho thấy, tổ chức HTĐCTM
không có giáo lý, giáo luật, cơ cấu tổ chức riêng, có mục đích hoạt động chính
là vụ lợi, trái pháp luật nên không đủ điều kiện để được cấp đăng ký sinh hoạt
tôn giáo tập trung, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo.
Hoạt động của
HTĐCTM tại một số địa phương thời gian vừa qua như Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Quảng
Nam và một số tỉnh miền núi phía Bắc trước đây cho thấy tổ chức này đã vi phạm
nghiêm trọng các điều cấm quy định tại Ðiều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016
với các nội dung như: ép buộc, mua chuộc người khác; xâm phạm an ninh, trật tự,
an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức
khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở
việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt
động tôn giáo để trục lợi…
Những gì HTĐCTM
tuyên truyền là hoàn toàn trái ngược với thuần phong mỹ tục cũng như những giá
trị chuẩn mực về đạo đức, văn hóa của người Việt; không được pháp luật Việt Nam
cho phép; hoạt động với các biến thể dị thường núp dưới nhiều danh nghĩa (nhất
là danh nghĩa từ thiện, mở các lớp hướng thiện); những kẻ cầm đầu hầu hết là
những người không bình thường, có quá khứ bất hảo (cờ bạc, trộm cắp, nghiện
hút…); mục đích chính là vụ lợi.
Hoạt động của
HTĐCTM hiện có nhiều vi phạm như: sinh hoạt tôn giáo tập trung khi chưa được cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận và cho phép; truyền đạo không đúng đối
tượng (tập trung vào học sinh, sinh viên); tài liệu tuyên truyền là những văn
hóa phẩm không rõ nguồn gốc; ảnh hưởng đến truyền thống, phong tục tập quán,
đạo đức gia đình, xã hội (như xúi giục, kích động nguời theo ứng xử không hiếu
thảo với cha mẹ, đập phá bàn thờ tổ tiên, tuyên truyền người thân trong gia
đình là ma quỷ)...
Thậm chí, hoạt
động của HTĐCTM trong thời gian vừa qua tại một số địa phương đã gây chia rẽ,
kích động gây mâu thuẫn giữa những người theo và không theo tín ngưỡng, tôn
giáo và có dấu hiệu trục lợi cá nhân, gây hoang mang trong dư luận quần chúng
nhân dân ở một số địa bàn, đặc biệt là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng dân
tộc thiểu số, kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn.
Vậy nên, việc
nhận thức rõ bản chất để kịp thời cảnh giác, ngăn chặn, xử lý hoạt động phi
pháp, nguy hiểm của những đối tượng tự xưng là người của HTĐCTM là điều cần
thiết, đem lại sự bình yên cho xã hội.
Một số giải pháp khắc phục biểu hiện đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác.
Thứ nhất, tiếp
tục nhận diện những biểu hiện mới, biến tướng mới cũng như tác hại và nguyên
của bệnh đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác trong đội ngũ cán bộ các
cấp và không ngừng đấu tranh phê phán và có chế tài đủ mạnh để phòng, ngừa
những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác chui vào nội bộ ta.
Thứ hai, thường
xuyên quán triệt và triển khai sâu rộng Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021
của Ban Chấp hành Trung ương “Về những điều đảng viên không được làm”, đặc biệt
là nội dung: Đảng viên không được quan liêu, thiếu trách nhiệm; đảng
viên không được “biết mà không báo cáo, phản ảnh, xử lý các hành vi tham nhũng;
không thực hiện các quy định về bảo vệ người chống tham nhũng”…, đảng viên
không được lợi dụng chức vụ để bổ nhiệm, đề cử, ứng cử trái quy
định; không được can thiệp, tác động đến tổ chức, cá nhân để bản thân
hoặc người khác được “đề cử, ứng cử”…, “không được lợi dụng chức vụ
để giúp người thân và để người thân ra nước ngoài khi chưa có phép của cơ quan
có thẩm quyền”…
Thứ ba, đẩy
mạnh tổ chức quán triệt và cụ thể hóa theo thẩm quyền để thực hiện nghiêm Quy
định số 114-QĐ/TW, ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị “Về kiểm soát quyền lực và
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ” (thay thế Quy định số
205-QĐ/TW). Quy định 114-QĐ/TW thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy, nhận thức
và hành động quyết liệt của Đảng về vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác
cán bộ, đã liệt kê cụ thể 8 hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn; 6
hành vi “chạy chức, chạy quyền” và 5 hành vi tiêu cực khác. Thực hiện tốt trách
nhiệm kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác
cán bộ. Trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo,
“người được giao chức vụ, quyền hạn phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện,
thường xuyên tự soi, tự sửa; đồng thời, phải tăng cường giám sát, kiểm soát có
hiệu quả việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn”. Mỗi cán bộ,
đảng viên cần phát huy tinh thần tự giác, tự nguyện, tự chỉ trích, lòng tự
trọng và biết liêm sỉ, biết đặt quyền lợi của Đảng, của dân, của nước lên trên
hết, trước hết.
Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm
soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước
và của cán bộ, công chức, viên chức là một trong những nhiệm vụ quan trọng của
giai đoạn 2021 - 2030. Một trong 10 nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong
sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là: “Xây dựng
quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và
quản lý cán bộ; thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác
cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý nghiêm minh, đồng bộ kỷ luật đảng,
kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, kể cả khi
đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu”.
Thứ tư, tập
trung xây dựng nền hành chính nhà nước liêm chính, chuyên nghiệp, hiện đại gắn
với chế độ công vụ. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây
dựng nền hành chính nhà nước của dân, do dân, vì dân. Kiện
toàn bộ máy hành chính nhà nước tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, theo hướng
chuyên nghiệp, hiện đại. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ
của nhân dân. Xây dựng Luật về đạo đức công vụ và thực hiện nghiêm Luật Cán bộ,
công chức. Thực hiện “cải cách tiền lương, chế độ, chính sách
đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc; khuyến khích, bảo vệ cán bộ, đảng
viên, người đứng đầu dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi
mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách và quyết liệt trong hành
động vì lợi ích chung”; tạo động lực để cán bộ, đảng viên cống hiến, ngăn ngừa
tiêu cực trong thi hành công vụ, xây dựng niềm tin vững chắc của Nhân dân đối
với Đảng, với chế độ./.
Nhận diện những biểu hiện và tính nguy hại của đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác
Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ những biểu hiện của một
số cán bộ có “tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức;
kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ,
bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí
còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm
cho cá nhân một cách không lành mạnh”.
Trong đó, đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác của cán bộ,
đảng viên có những biểu hiện hết sức đa dạng, tinh vi, với nhiều hình thức khác
nhau nhưng không có nghĩa là “bí ẩn” không nhận diện được. Có thể nêu một số
biểu hiện chính như sau:
Một là, dùng mọi thủ đoạn mua chuộc để đoạt được quyền lực
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là
bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất
nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm
dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh
vực”. Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam, Đảng ta đang phải đối mặt với những lực cản, trong đó nổi bật là biểu
hiện lạm dụng quyền lực nhân dân - thực chất là biến quyền lực tập thể thành
quyền lực cá nhân; đây là quyền lực bị tha hóa, khi quyền lực của nhân dân rơi
vào tay những kẻ đam mê quyền lực; biến sức mạnh của tập thể thành quyền lực cá
nhân.
Người đam mê quyền lực thường có biểu hiện theo kiểu dân túy,
thông qua những tuyên bố gây sốc với những hành vi đánh bóng tên tuổi để “mị
dân” - lấy lòng đám đông trong giải quyết mối quan hệ và những vấn đề nóng, dễ
gây bức xúc trong xã hội, chạm vào “trái tim” của một bộ phận người dân với
những lợi ích trước mắt họ, lại có truyền thông hậu thuẫn và tung hô xuất hiện
dày đặc trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thậm chí, họ tìm cách mua
chuộc quần chúng, nhất là cấp dưới để tăng tín nhiệm, thuận lợi cho việc giới
thiệu mình theo quy trình vào diện quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm chức vụ...
Họ luôn tranh thủ mọi lúc, mọi nơi, lấy lòng mọi người, từ đồng nghiệp đến
những người có tiếng nói, uy tín trong cơ quan, đơn vị, nhất là vào những thời
điểm nhạy cảm. Họ sẵn sàng dùng tiền để lấy lòng mọi người nhằm tạo dựng mối
quan hệ với lãnh đạo cấp trên…
Một số ít cán bộ chủ chốt khi được luân chuyển về bộ, ngành, địa
phương khác, thay vì sâu sát cơ sở, bám nắm tình hình nội bộ, tình hình mọi mặt
của bộ, ngành, địa phương để xây dựng tinh thần đoàn kết nội bộ, nhất là trong
nội bộ cấp ủy lại tranh thủ “gặp gỡ” các doanh nghiệp, sốt sắng xây dựng cánh
hẩu, sân sau; cũng có trường hợp đi cơ sở và tranh thủ phát biểu, “động viên”
tinh thần cấp dưới, với giọng “dân túy” để đánh vào tâm lý vốn đang bức xúc của
một bộ phận người dân, doanh nghiệp nhằm vận động hành lang tranh thủ sự ủng
hộ…; mị dân, tạo uy tín giả và để khỏa lấp đi những hạn chế về phẩm chất, năng
lực cũng như những sai phạm trước đó của bản thân…
Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc ngành Tổ chức xây dựng Đảng
ngày 26/3/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Cứ vào Đại hội, cứ
chuẩn bị lấy phiếu tín nhiệm lại râm ran chuyện vận động, mời nhau ăn uống, cho
tiền, tặng quà. Có cái gì luồn vào trong cái tình cảm ấy?”. Tổng Bí thư thẳng
thắn chỉ rõ: Hiện nay, trong dư luận xã hội vẫn râm ran chuyện chạy chức, chạy
quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy luân chuyển... Từ đó, Tổng Bí thư cảnh
báo, nếu có thì chúng ta phải sửa, phải rút kinh nghiệm; nếu không có thì chúng
ta cũng phải trả lời rõ ràng, sòng phẳng, chỉ ra ai chạy, chạy ai?”.
Hai là, tìm mọi cách xây dựng “cánh hẩu” để củng cố quyền lực
Biểu hiện về cán bộ có đam mê quyền lực là luôn tìm mọi cách để
củng cố quyền lực thông qua việc dùng ảnh hưởng và tác động để đưa người thân,
người quen vào diện quy hoạch và sau đó là bổ nhiệm vào các chức vụ. Họ luôn
tìm mọi cách, mọi cơ hội để đưa người thân, người quen, cánh hẩu được vào ê kíp
để củng cố quyền lực của mình ngày thêm vững chắc. Khi có quyền lực, một mặt,
họ sẽ tìm cách thao túng, phá “thủng” nguyên tắc tổ chức và quản lý để đặc
quyền, đặc lợi. Mặt khác, tìm mọi cách để kiềm chế, triệt hạ những người thẳng
thắn, những người “không theo dây” hay nhóm lợi ích tiêu cực do mình là chủ trò
tiếp tục đưa những kẻ nịnh nọt, chạy chức, chạy quyền vào bộ máy nhà nước.
Theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước, người được bổ
nhiệm nắm giữ chức vụ không phải là vô hạn về không gian, thời gian mà có thời
hạn, nhiệm kỳ. Hết nhiệm kỳ, cán bộ lãnh đạo phải được cấp có thẩm quyền gia
hạn, bổ nhiệm lại (nếu còn tuổi, năng lực, đủ phẩm chất, tiêu chuẩn), hoặc
không làm quản lý, lãnh đạo, sẽ làm chuyên môn thuần túy, hoặc nghỉ hưu. Đó là
nguyên tắc công tác tổ chức cán bộ. Nhìn chung, cán bộ có đam mê quyền lực đều
ý thức rất rõ về nhiệm kỳ. “Tư duy nhiệm kỳ” như một căn bệnh, tệ nạn trong xã
hội xuất hiện với mức độ, hình thức, biểu hiện trong đánh giá, nhận xét, quy
hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ….
Ê kíp, “cánh hẩu” là tình trạng ở một số cơ quan, địa phương,
đơn vị khi lãnh đạo có người “say mê quyền lực” chủ động nâng đỡ “đàn em”, con
cháu “không trong sáng” thông qua việc đề bạt quá nhanh, quá nhiều, bỏ qua các
quy trình, tiêu chuẩn, điều kiện theo kiểu “9C” (con cháu các cụ cả, chiếu cố
các cháu). Do vậy, nhân dân gọi những người được đề bạt, bổ nhiệm sai là tầng
lớp “5C4Đ” (con cháu các cụ cả, đừng được động đến). Đây không chỉ là tư tưởng
dễ dãi, xuê xoa trong công tác cán bộ mà là hiện tượng kéo bè, kéo cánh, xây
dựng ê kíp mới sẽ tạo ra “chân rết” là một nhóm lợi ích tiêu cực nhằm kéo dài
bòn rút, đục khoét tài sản nhà nước và nhân dân.
Ba là, tìm mọi cách mua chức, đoạn quyền
Điểm chung của những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí là
luôn thực hiện cái gọi là phương châm “cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ
mua được bằng rất nhiều tiền”. Vì vậy, họ luôn có nhiều mưu mô nhằm đoạt cho
được quyền lực; sẵn sàng vung tiền, quà biếu, tặng bằng vật chất hối lộ cấp
trên thoái hóa, biến chất và đi kèm với đó là những lời nịnh hót, xin xỏ, thậm
chí mặc cả về chức vị của mình.
Những bài học chạy chức quyền, chạy luân chuyển cán bộ thời gian
qua cho thấy rõ biểu hiện này khi mà nhiều cán bộ dù năng lực yếu kém, thiếu
tiêu chuẩn, bằng cấp, nhưng nếu có tiền, vật chất hối lộ, và biết đưa hối lộ
thì vẫn được sếp để mắt tới, được bố trí vào những vị trí có nhiều “màu mè”,
lợi ích...
Bốn là, kén chọn vị trí công tác.
Những cán bộ có tham vọng chức quyền, đam mê quyền lực khi đã
được quy hoạch, bổ nhiệm lại “kén cá chọn canh”, chọn vị trí công tác mà họ cho
là “ngon”; chọn việc dễ, tránh việc khó; chọn nơi gần, tránh nơi xa; chọn nơi
có nhiều lợi ích, bổng lộc. Những con người này chỉ thích được phân công tại
những nơi có nhiều “màu mỡ”, thích công tác bên chính quyền, doanh nghiệp lớn ở
thành phố lớn, vùng đô thị…, không thích công tác ở khối Đảng, Mặt trận, đoàn
thể bởi ở những nơi này không có “màu mỡ”, khó kiếm chác.
Có những trường hợp mặc dù đã được tổ chức Đảng phân công vị trí
công tác mới, nhưng với những mánh khóe, thủ đoạn sẵn có là hối lộ, kẻ có tham
vọng chức quyền, đam mê quyền lực tư lợi, vun vén cá nhân vẫn “lội ngược dòng”
vào “phút bù giờ” để về công tác tại những vị trí có nhiều màu mỡ, bổng lộc.
Vì tư tưởng cục bộ, bản vị, vì “lợi ích nhóm tiêu cực” một số
cán bộ chủ chốt nhân danh sự tín nhiệm của nhân dân địa phương đối với mình,
tìm mọi cách để “kéo dài” vị trí công tác ở địa phương nhằm mục đích đưa người
nhà, người thân vào các vị trí chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp hay
trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước. Không những vậy, họ tìm mọi cách để gây
khó khăn hay cản trở cán bộ từ địa phương, ban, ngành và đơn vị khác được các
cấp có thẩm quyền điều động đến. Có cán bộ chủ trì nhân danh tập thể hoặc là áp
đặt ý kiến của cá nhân bắt tập thể phải thông qua các quyết định thiếu dân chủ
về công tác cán bộ. Vì vậy, trong các kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương
đối với các vụ việc nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng vừa qua đều chỉ ra
khuyết điểm chung là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ của cán bộ chủ chốt
và cấp ủy.
Không để các thế lực lợi dụng tôn giáo để chống phá đất nước
Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá với những thủ đoạn tinh vi và quyết liệt hơn. Do vậy, việc chủ động đấu tranh, ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược lâu dài và là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị; trong đó, cơ quan quản lý Nhà nước về tôn giáo đóng vai trò nòng cốt, cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:
1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về
tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo Hiến pháp năm 2013.
Thực hiện tốt chức năng Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Tăng cường
thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn
giáo tại các địa bàn trọng điểm, phức tạp; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử
lý ngay tại cơ sở các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật gây bức xúc trong xã
hội.
2. Nắm chắc tình hình, thủ đoạn của các thế
lực thù địch lợi dụng: “dân chủ”, “quyền con người”, “tôn giáo” chống phá Việt
Nam để có đối sách giải quyết phù hợp, hiệu quả, đúng pháp luật. Kịp thời phát
hiện và ngăn chặn việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị
đoan, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các tôn giáo, gây rối trật tự, xâm
phạm an ninh quốc gia. Chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, vạch trần “chân
tướng” các đối tượng cơ hội, các việc làm vi phạm pháp luật, giáo luật của số
đối tượng cực đoan lợi dụng tôn giáo; phản bác các luận điệu vu cáo Việt Nam vi
phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”.
3. Những biện pháp đấu tranh ngăn chặn các
hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Việt Nam cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các
bộ, ngành để có sự hỗ trợ đồng bộ, hạn chế sơ hở để thế lực xấu lợi dụng chống
phá.
4. Thường xuyên tổng kết rút kinh nghiệm, có
biện pháp khắc phục những thiếu sót, tồn tại để đảm bảo thực hiện ngày càng tốt
hơn quyền tự do, tín ngưỡng của nhân dân, làm cho nhân dân thực sự tin tưởng
vào Đảng, Nhà nước; là chất keo kết dính giữa Nhân dân với Đảng, làm thất bại
mọi âm mưu hoạt động của các thế lực thù địch.
5. Làm tốt công tác tuyên truyền đối ngoại để
cộng đồng quốc tế có đầy đủ thông tin về kết quả, thành tựu nhân quyền trong
lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam; đồng thời, thực hiện tốt hoạt động đối thoại tôn
giáo, hướng dẫn các chức sắc, tín đồ hoạt động tôn giáo theo đúng quy định của
pháp luật.
03.8
Không thể phủ nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Trước hết cần khẳng định: Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận nhân dân, đồng bào các tôn giáo là một bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được đảm bảo trên thực tiễn và cụ thể bằng văn bản pháp luật, như: Sắc lệnh số 234/SL, ngày 14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, xác định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện. Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”. Trong mỗi giai đoạn lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật, tạo hành lang pháp lý để các tôn giáo hoạt động hiệu quả, như: Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tôn giáo; Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH 11, ngày 18/6/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XI) về tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị số 1940/CT-TTg, ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; ngày 09/3/2023, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tôn giáo Chính phủ đã ra mắt Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, v.v. Cùng với đó, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tập trung đầu tư phát triển kinh tế ở vùng đồng bào có đạo, thể hiện sự quan tâm đặc biệt sâu sắc đến nhu cầu tín ngưỡng của tín đồ, chức sắc các tôn giáo, làm cho tín đồ và chức sắc tôn giáo yên tâm, phấn khởi tích cực thực hiện tốt cả “việc đạo, việc đời”.
Việt Nam luôn tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ
các tôn giáo hoạt động theo pháp luật; chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện
phát triển như hiện nay! Số lượng tín đồ ngày càng đông, được tự do hành lễ dù
ở nhà riêng hay nơi thờ tự. Nếu năm 2003, cả nước có 15 tổ chức, 06 tôn giáo,
17 triệu tín đồ với khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức
việc; thì đến năm 2021, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác
nhau, với trên 26 triệu tín đồ, 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc, 29.000 cơ
sở thờ tự. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng phong phú, đa dạng; nhiều lễ
hội lớn trong các tôn giáo thu hút hàng vạn tín đồ tham dự, như: Giáo hội Tin
lành đã tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành (tháng
12/2017); Giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Đa minh thế giới tại Đồng
Nai (tháng 7/2019), với đại biểu của hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia;
Giáo hội Phật giáo tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc năm
2019 tại chùa Tam Chúc, tỉnh Hà Nam (tháng 5/2019) với sự tham dự của trên
3.000 đại biểu chính thức (trong đó có 570 đoàn quốc tế với 1.650 đại biểu đến
từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ), v.v. Với quy mô hoạt động tôn giáo hàng vạn
người, chính quyền các cấp đã hỗ trợ các tôn giáo về các phương án đảm bảo an
toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng, chống cháy nổ, đảm bảo an toàn vệ sinh
thực phẩm,... để nhân dân được tự do hành lễ, thỏa mãn nhu cầu đời sống tâm
linh. Điều đó đã khẳng định chính sách nhất quán của nhà nước Việt Nam luôn tôn
trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi, nếu không có chính
sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo thì các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
không thể tổ chức đa dạng, phong phú như trên được.
03.8