Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2023

KHÔNG THỂ ĐÁNH ĐỒNG GIỮA NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI KẺ PHẢN BỘI

 


Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo các gia đình thương binh, liệt sĩ (TB-LS), người có công và đẩy mạnh Phong trào "Ðền ơn đáp nghĩa". Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động đã tìm mọi thủ đoạn để xuyên tạc chính sách này. Nguy hiểm hơn, chúng đã đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với người phản bội Tổ quốc.

Cách đây 76 năm, ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL đặt ra “chế độ hưu bổng, thương tật, tiền tuất cho thân nhân, tử sĩ”. Để chỉ đạo công tác thương binh, tử sĩ trong cả nước, ngày 26-2-1947, Phòng Thương binh thuộc Chính trị Cục, Quân đội quốc gia Việt Nam (nay là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) được thành lập. Tháng 7-1947, thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một hội nghị được tổ chức tại xã Hùng Sơn (nay là thị trấn Hùng Sơn), huyện Đại Từ (Thái Nguyên) về công tác TB-LS đã chọn ngày 27-7 làm Ngày Thương binh. Đến năm 1955, Ngày Thương binh đổi thành Ngày TB-LS.

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác TB-LS và người có công với cách mạng. Từ năm 1947 đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã được xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ và kịp thời, được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được chế định thành các văn bản quy phạm pháp luật cùng nhiều chính sách ưu đãi khác; đã thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân.

Ngày TB-LS (27-7) có ý nghĩa quan trọng với toàn dân Việt Nam, đó là ngày thể hiện truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những chiến sĩ đã hy sinh vì nền độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Ngày 27-7 cũng là ngày phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Vậy mà, thay vì đồng lòng ủng hộ các hoạt động thể hiện đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vào dịp kỷ niệm Ngày TB-LS hằng năm vẫn có tiếng nói xuyên tạc về chính sách với TB-LS và người có công. Thâm độc hơn, chúng còn đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với người chết trong chiến tranh mà không tham gia, cống hiến gì, thậm chí là kẻ cam tâm làm tay sai cho thực dân, đế quốc, phản bội Tổ quốc.

Từ đầu năm 2023 đến nay, lợi dụng những khó khăn do tình hình thế giới diễn biến phức tạp, một số địa phương tăng trưởng kinh tế chậm lại, người lao động thiếu việc làm, các thế lực thù địch đã viết bài, đưa thông tin, hình ảnh... lên mạng xã hội, trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ, đánh tráo giá trị, “đổi trắng thay đen” nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi về chính sách an sinh xã hội, ưu đãi đối với người có công. Chúng “phân tích” rằng kinh tế Việt Nam chậm phát triển là do gánh nặng của chính sách xã hội, trong đó có chi nhiều cho TB-LS, người có công. Mục đích là nhằm kích động, xuyên tạc chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước, hủy hoại truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số ý kiến của những người tự xưng là “người yêu nước chân chính” kêu gọi cần phải “đối xử công bằng” với những người được gọi là “Quân lực Việt Nam cộng hòa”. Họ cho rằng “Quân lực Việt Nam cộng hòa” cũng “có công bảo vệ Tổ quốc”, vì thế cần phải “tôn vinh những người đã hy sinh vì Tổ quốc”. Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết rằng chính thể “Việt Nam cộng hòa” năm 1955 mới ra đời một cách bất hợp pháp trên nửa lãnh thổ phía Nam của Việt Nam, đóng vai trò như một thực thể chính trị của người Mỹ nhằm theo đuổi các mục tiêu phục vụ lợi ích riêng của họ.  

Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập một cách chính danh trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1945, sau cuộc Cách mạng Tháng Tám. Ngay trong năm 1946, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu trên toàn quốc với sự tham gia của đông đảo đồng bào và đã có bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua. Hai sự kiện này đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước dân chủ mới khai sinh. Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ban hành những sắc lệnh, những văn bản pháp lý đầu tiên khẳng định nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc chí Nam.

Không những vậy, sau năm 1954, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa dù đang trên thế thắng về mặt quân sự (với trận Điện Biên Phủ lừng lẫy) vẫn chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử sòng phẳng trên tinh thần hòa hợp để thống nhất đất nước đang tạm thời bị chia cắt. Tuy nhiên, cả phía Mỹ và cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” đều kiên quyết từ chối thiện chí đó. Theo Hiệp định Geneva, Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt làm hai miền, giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời và không phải là biên giới quốc gia. Theo hiệp định này, hai bên sẽ tiến hành hiệp thương để thống nhất đất nước trong năm 1956. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm-do CIA (Mỹ) “tìm thấy” và đưa về Việt Nam làm “Thủ tướng” của chính phủ bù nhìn Bảo Đại-đã tuyên bố: “Không có tổng tuyển cử gì hết”, trắng trợn vi phạm Hiệp định Geneva và đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc.

Thực tế lúc đó, Mỹ và phe cánh của Ngô Đình Diệm lo sợ uy tín to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận và Đảng Lao động Việt Nam. Chúng tin rằng nếu tiến hành bầu cử tự do, chắc chắn Đảng Lao động Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ thắng lớn. Do vậy, Ngô Đình Diệm với sự giúp đỡ của người Mỹ đã phải sử dụng nhiều thủ đoạn để củng cố quyền lực của mình. Ngô Đình Diệm đã áp dụng nhiều chiêu thức man rợ để tàn sát những người kháng chiến và người yêu nước chân chính, khủng bố tinh thần nhân dân, củng cố chính quyền phản động của mình, công khai phá hoại Hiệp định Geneva, mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước.

Chính thể “Việt Nam cộng hòa” là phi pháp nên các công cụ bạo lực của nó cũng chỉ là lực lượng phản dân, hại nước, làm tay sai cho các thế lực ngoại bang. Quân đội của chính thể “Việt Nam cộng hòa” được gọi là “Quân lực Việt Nam cộng hòa” thường khoe là “chiến đấu cho tự do”, thế nhưng thực chất, họ đã tiếp tay cho “ông chủ” của mình là quân viễn chinh Mỹ để làm hại chính đồng bào mình. Với bản chất đánh thuê (và cả chết thuê nữa), “Quân lực Việt Nam cộng hòa” hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ, thiếu lý tưởng, không thể đại diện cho dân tộc Việt Nam và cũng không thể kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc. Đến khi Mỹ rút viện trợ và ngưng yểm trợ thì quân đội này (cùng với chính thể “Việt Nam cộng hòa”) đã suy sụp nhanh chóng...

Với quan điểm nhân đạo và hòa bình, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta đã có những chính sách tri ân đối với TB-LS và người có công, đối xử nhân đạo với tù hàng binh, thương xót những người lính Pháp, lính Mỹ tử vong trên lãnh thổ Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh. Tôi cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong. Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, H. 2011, tập 4, tr.510).

Trong nhiều năm qua, chúng ta đã giúp người Mỹ tìm kiếm và kiểm kê quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam. Mới đây, lễ hồi hương hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam (MIA) lần thứ 160 đã diễn ra tại sân bay quốc tế Đà Nẵng. Rất nhiều người đã từng phục vụ trong “Quân lực Việt Nam cộng hòa” trước kia nay trở thành những nhà khoa học, doanh nhân tiêu biểu của Việt Nam. Nếu những gia đình này gặp khó khăn, họ đều được hưởng chính sách an sinh xã hội, không hề có sự phân biệt đối xử. Thế nhưng không thể và không bao giờ được đánh đồng sự hy sinh, cống hiến vì cách mạng của đồng bào, chiến sĩ với những người làm tay sai cho ngoại bang.

Xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công là thủ đoạn thể hiện tính chất, bản chất vô ơn bạc nghĩa của những kẻ phản động, thù địch. Họ xuyên tạc nhằm phục vụ mục tiêu chống phá, hòng tạo ra nhận thức lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của một bộ phận quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là tội ác mới, cần phải bị vạch trần và lên án.

76 năm qua kể từ năm 1947, vào mỗi dịp 27-7, nhiều hoạt động tri ân và tôn vinh các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, những người có công với cách mạng đã diễn ra trên khắp mọi miền Tổ quốc. Việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công là vinh dự, đồng thời là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị-xã hội và của quần chúng nhân dân; của thế hệ hôm nay và cả mai sau. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn trân trọng những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sĩ đối với Tổ quốc. Không thể xuyên tạc được chính sách đối với người có công hợp lý, hợp tình, hợp pháp và hợp lòng dân của chúng ta.

NĂNG LỰC “NHẬN SAI”

 




Xưa nay, ông cha ta thường răn dạy, phải biết “mang ơn, ghi nhớ” khi được quan tâm, giúp đỡ và rằng phải dám “nhận sai, sửa đổi” khi phạm lỗi lầm, khuyết điểm. Nhiều vị vua anh minh trong lịch sử cũng tự hạ mình nhận lỗi khi có sai lầm, thiếu sót trong chính sự; Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn “nhận sai lầm”, “khuyết điểm” và quyết tâm sửa sai trước Quốc hội và nhân dân về một số thiếu sót trong cải cách ruộng đất, thể hiện sự khiêm tốn, “chí công vô tư”, bản lĩnh của người cộng sản chân chính. Biết nhận sai chính là “tự phê bình và phê bình”, đồng thời, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn sự trong sạch, niềm tin cho cơ quan, tổ chức, là nét ứng xử văn hóa tốt đẹp trong truyền thống dân tộc.

Tiếc rằng, hiện nay, nhiều người vì danh, lợi mà sẵn sàng “phủi sạch” trách nhiệm, dù sai sót, hậu quả đã rành rành. Khi thiếu liêm sỉ, danh dự, người ta dễ “thờ ơ, vô cảm” trước chính những lỗi lầm của bản thân. Một số cán bộ, đảng viên không những có thói quen giấu giếm, chối bỏ, phủ nhận sai phạm, khuyết điểm, mà khi bị “lộ”, lại còn thiếu thành khẩn, thậm chí sẵn sàng đổ lỗi cho người khác. Chưa hết, nhiều người còn cậy thế, thách thức tổ chức, dư luận, gây mất đoàn kết, bất ổn trong nội bộ, cơ quan, đơn vị.

Ấy vậy là, nét văn hóa “nhận sai” tốt đẹp đó dường như nay vẫn là “của hiếm”!

Nguyên nhân là từ đâu? Trong một số cơ quan, đơn vị, cấp dưới thường có thái độ e dè, ngại va chạm với cấp trên, nhiều khi thấy lãnh đạo làm sai cũng không dám can ngăn, sợ bị hiểu lầm là “chống đối”, nên “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”(1), sợ ảnh hưởng tới lợi ích bản thân. Một số người khi ở cương vị lãnh đạo, quản lý, mỗi khi ra quyết định thường có xu hướng cho rằng, ý kiến của mình là nhất, từ đó, áp đặt mọi người phải làm theo ý mình, không chịu lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác. Kể cả khi biết sai, họ cũng không dám nhận sai, vì lo sợ trách nhiệm hay sợ bị đánh giá yếu kém.

“Nhân vô thập toàn”, con người ta không ai hoàn hảo, không có khiếm khuyết, sai lầm. Điều quan trọng là thái độ ứng xử của bản thân trước những những khuyết điểm, sai lầm ấy, biết thực tâm nhận lỗi, sửa sai đúng hoàn cảnh, đúng thời điểm.

Để có được đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ, có lẽ trong mỗi người cán bộ, đảng viên không thể thiếu được một phẩm chất, đó là “dám nhận sai”. Nhận sai để mạnh mẽ đứng lên làm cho đúng! Khi đó dân mới tin và tổ chức đảng, chính quyền mới thêm mạnh, thêm vững./.

KHÔNG NGỪNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỂ ĐẢNG NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH


Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn cách mạng mới, dân tộc đang đứng trước những thời cơ, vận hội to lớn để phát triển. Để hiện thực hóa được “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, liên tục rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. 
Không thể có một hình thức, phương thức tối ưu, duy nhất để giáo dục đạo đức, cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đó phải là một quá trình, là sự kết hợp bởi nhiều yếu tố, nhưng quan trọng hơn hết là sự “tự nhận thức”, “thẩm thấu chủ động”, thường xuyên “tự răn, tự rèn” để đạo đức cách mạng trở thành “cốt cách”, là “lẽ sống” của mỗi cán bộ, đảng viên.
Thứ nhất, luôn xác định rõ công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, quan trọng hàng đầu; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên là trọng yếu.
Các cấp ủy đảng phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng mạnh trên tất cả các mặt: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, sát thực tiễn; chủ động đi sâu, đi sát cơ sở để nắm bắt tình hình địa phương, đơn vị, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ cơ sở; bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy đảng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. 
Nhiệm vụ hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng là việc tổ chức nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng. Nội dung này phải được tiến hành nghiêm túc, gắn với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện; chú trọng sơ kết, tổng kết thực tiễn, phải gắn việc học tập với hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.
Chú trọng việc thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Triển khai các giải pháp củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chú trọng xây dựng, giữ gìn mối đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong toàn xã hội; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình... Coi trọng công tác bồi dưỡng, kết nạp đảng viên cả về số lượng và chất lượng.
Cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để bố trí phù hợp. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh; không quan liêu, tham nhũng; có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng và nhân dân; có tư duy sáng tạo, kiến thức vững vàng; phong cách làm việc khoa học, nói đi đôi với làm. 
Trong công tác bố trí, sử dụng cán bộ, phải cân nhắc kỹ việc lựa chọn, sắp xếp bố trí; căn cứ vào năng lực, sở trường công tác của cán bộ để giao việc phù hợp; giao việc, bổ nhiệm những cán bộ trẻ, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực công tác, khả năng phát triển vào các chức danh lãnh đạo, quản lý; đảm bảo tính liên tục, kế thừa, dân chủ, khách quan trong công tác cán bộ. 
Công tâm, khách quan trong đánh giá cán bộ. Coi trọng đánh giá về đức và tài, trong đó đạo đức là nền tảng, là “cái gốc”; đánh giá đúng trình độ, năng lực, sở trường; lấy tiêu chuẩn hiệu quả, chất lượng công việc làm thước đo quan trọng để đánh giá cán bộ.
Thứ hai, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên “sửa đổi lối làm việc”, “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định muốn sửa đổi lối làm việc thì phải thực hiện tốt nhất việc “phê bình và sửa chữa”. “Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đứng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”; “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng” để mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm “đúng”, làm “khéo”, có như vậy “thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa”. Người lưu ý: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu.
Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân”; “...các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý “...trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư” cho nên mới mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”.
Theo Người, những căn bệnh nguy hại sinh ra từ “chủ nghĩa cá nhân” là: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, kéo bè kéo cánh, hẹp hòi... Để chữa trị những căn bệnh này cần phải: “Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”. 
Thứ ba, cán bộ, đảng viên phải luôn tự ý thức về vai trò tiên phong, gương mẫu.
Tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó không thể tự nhiên mà có, mà phải do chính người cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày, thông qua quá trình phấn đấu không ngừng mới có được. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Để làm tốt điều đó, Người yêu cầu, cán bộ, đảng viên “phải làm gương mẫu trong lao động sản xuất và trong học tập”; “phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân”.
Cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu bởi đây là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vì thế “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, dẫn dắt quần chúng trong mọi phong trào cách mạng. 
Không chỉ trong công việc, mà trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ, đảng viên không những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng, mà cũng phải là tấm gương để gia đình, người thân và quần chúng noi theo./.

Khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa



Gần đây, có nhiều dư luận trong nước và ở nước ngoài đưa ra quan điểm sai trái rằng: “Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm gần 50 năm rồi. Từ đó đến nay Việt Nam chưa gửi bất kỳ kháng nghị, đơn kiện nào lên tòa án công lý quốc tế hoặc tòa án quốc tế. Nếu Việt Nam không có bất kỳ kháng nghị hay đơn kiện nào thì theo luật quốc tế coi như Việt Nam chấp nhận mất Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa vĩnh viễn về tay Trung Quốc…”.Việt Nam có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và hai quần đảo ngoài khơi Biển Ðông là Hoàng Sa và Trường Sa. Ðây là hai quần đảo tiền tiêu của Tổ quốc; là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

Từ những tư liệu lịch sử trong nước và ở nước ngoài, chúng ta khẳng định rằng: Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý, lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhiều tư liệu lịch sử quý giá

Từ nửa đầu thế kỷ 17, Chúa Nguyễn đã tổ chức “đội Hoàng Sa” (lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi) ra quần đảo Hoàng Sa (với khoảng thời gian từ sáu đến tám tháng mỗi năm) để thu lượm hàng hóa trôi dạt trên biển, đánh bắt hải sản quý hiếm; đồng thời, đo vẽ sơ đồ, hải trình, trồng cây và dựng mốc trên quần đảo.

Cũng với nhiệm vụ này, cho đến thế kỷ 19, nhà Nguyễn đã tổ chức thêm “đội Bắc Hải” (lấy người thôn Tứ Chính và xã Cảnh Dương, phủ Bình Thuận) để tiến ra quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để thực hiện các hành động chủ quyền tại đây. Theo hiểu biết địa lý lúc bấy giờ, địa danh quần đảo Hoàng Sa liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa.

Ðiều đó chứng tỏ ngay từ thế kỷ 17, Việt Nam đã xác lập, thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi hai quần đảo này còn là lãnh thổ vô chủ và có thể nói là quốc gia duy nhất thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo này một cách hòa bình, liên tục và không gặp phải sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào.

Thực tế này được chứng minh trong nhiều tư liệu, sách cổ, văn bản pháp lý của Nhà nước, bản đồ thể hiện việc thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được lưu giữ tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới như: Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư của Ðỗ Bá, tự Công Ðạo sưu tập, biên soạn và hoàn thành năm 1686; Phủ biên tạp lục của Lê Quý Ðôn (1776); Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1821); Hoàng Việt địa dư chí (1833); Ðại Nam thực lục tiền biên (1844-1848); Ðại Nam thực lục chính biên (1844-1848), Việt sử cương giám khảo lược (1876), Ðại Nam nhất thống chí (1882); Dư địa chí Khâm định Ðại Nam Hội điển sự lệ (1910); Hải ngoại kỷ sự (năm 1696) của nhà sư Trung Quốc Thích Ðại Sán; Quốc triều chính biên toát yếu (1910), An Nam đại quốc họa đồ của giám mục người Pháp Louis Taberd (1838), Ðại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ chính thức của triều Minh Mạng) (1838)...

Ðặc biệt, bộ Atlas thế giới của Philipe Vandemaelen xuất bản năm 1827, tại Bỉ, trong đó, vẽ và miêu tả rõ quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ của Vương quốc An Nam.Năm 1988, khi Gạc Ma bị xâm chiếm bằng vũ lực, chính quyền Việt Nam đã liên tục ra các văn bản phản đối hành vi bất hợp pháp này. Chúng ta đã ban hành rất nhiều công hàm tại Liên hợp quốc cũng như các tuyên bố liên tục hằng năm để tiếp tục phản đối hành vi xâm phạm trái phép này.

Như vậy, chúng ta đã, đang và sẽ vẫn tiếp tục các hoạt động duy trì chủ quyền của mình với Hoàng Sa, Trường Sa thân yêu, dù một phần máu thịt ấy đang bị Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp. Các hoạt động khẳng định và thực thi chủ quyền ấy bao gồm đủ cả yếu tố vật chất, lẫn tinh thần, là hai yếu tố cần và đủ trong Công pháp quốc tế.

Và vì thế, không có chuyện là chủ quyền của chúng ta sẽ bị mất, mà ngược lại, hành động xâm chiếm bất hợp pháp bằng vũ lực thì sẽ mãi mãi không được công nhận chủ quyền cho dù bên xâm chiếm đang kiểm soát phần lãnh thổ đó.

Ðối với việc kiện đòi lại Hoàng Sa và một phần Trường Sa, theo quy định của luật pháp quốc tế, để giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, tòa án quốc tế bao gồm Tòa Trọng tài thường trực (PCA) và Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) chỉ có thẩm quyền xét xử nếu tất cả các bên đồng thuận trong việc đưa tranh chấp ra tòa án để giải quyết, mà Trung Quốc thì luôn luôn từ chối việc đưa ra tòa án xét xử. Chính vì vậy, việc khởi kiện về chủ quyền chưa thể thực hiện được.

Từ những phân tích trên cho thấy, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý, lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; đồng thời, Việt Nam là quốc gia duy nhất đã chiếm hữu thật sự và quản lý hai quần đảo này một cách liên tục, hòa bình, phù hợp các quy định của luật pháp quốc tế.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỀ ÁN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

 


Các cơ quan như Quốc hội, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Bộ Công an, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương, Bộ Tư pháp, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm xin ý kiến lãnh đạo các cơ quan, các chuyên gia về dự thảo các chuyên đề.

Nhiều thành viên Ban Chỉ đạo quyết liệt, sát sao, chủ động, dành thời gian cho ý kiến nhiều lần các chuyên đề nhánh để có được sản phẩm chất lượng tốt. Cũng trong 10 tháng qua, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Trưởng Ban Nội chính Trung ương Phan Đình Trạc đã có 4 cuộc làm việc với các chuyên gia, nhà khoa học.

Ban Nội chính Trung ương đã làm tốt vai trò đầu mối, tham mưu trực tiếp và tổ chức rất thành công 3 hội thảo quốc gia ở Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh với sự tham gia của hàng trăm lượt chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ làm công tác quản lý, cán bộ làm công tác thực tiễn, trong đó có các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư để Ban Chỉ đạo lắng nghe ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học. Đây là đầu vào rất quan trọng cho xây dựng Đề án.

Thay mặt Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao tinh thần trách nhiệm trước Trung ương, trước Bộ Chính trị, của các thành viên Ban Chỉ đạo trong chỉ đạo xây dựng và hoàn thành 27 chuyên đề.

Chủ tịch nước cũng biểu dương, đánh giá cao các cơ quan và cảm ơn các chuyên gia, nhà khoa học, cùng Tổ Biên tập. Đặc biệt, trong hơn 1 tháng qua, các thành viên Tổ Biên tập, nhất là các chuyên gia, nhà khoa học đã dành hết tâm trí, sức lực, với phương pháp làm việc rất khoa học, trao đổi, thảo luận dân chủ, cởi mở, huy động tối đa kiến thức, kinh nghiệm tích lũy được trong nhiều năm vào việc tổng hợp để xây dựng dự thảo Đề án lần thứ nhất trình Ban Chỉ đạo cho ý kiến.

Theo đề nghị của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, các thành viên Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án đánh giá cao Thường trực Ban Chỉ đạo đã chuẩn bị công phu, bài bản dự thảo Đề án lần nhất với sự tham gia ý kiến sâu của các nhà khoa học, dù đây là lần đầu tiên Đảng ta xây dựng Đề án rất quan trọng này.

Các thành viên Ban Chỉ đạo cũng cho ý kiến vào nội dung của Đề án như những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong những năm qua, cũng như các nguyên tắc, các đặc trưng cơ bản và những kiến nghị, đề xuất về mục tiêu, quan điểm, lộ trình theo 2 giai đoạn từ 2021- 2030 và từ 2030 - 2045, cũng như những phương hướng đột phá nhằm hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo.

Trong phát biểu kết luận phiên họp, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, Ban Chỉ đạo thống nhất cao về nhận thức, tầm quan trọng, tính chiến lược của Đề án, trong đó thống nhất về các quan điểm đổi mới, phát triển đất nước, đưa đất nước phát triển bền vững dưới sự lãnh đạo của Đảng; các vấn đề nêu ra đều có cơ sở pháp lý.

Dự thảo lần thứ nhất được xây dựng dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó bám sát Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp và Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

Từ ý kiến của các thành viên Ban Chỉ đạo, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Ban Nội chính Trung ương, Tổ Biên tập tiếp tục hoàn thiện dự thảo Đề án một cách chặt chẽ, có hệ thống, đồng thời làm rõ thêm các nội dung quan trọng là đánh giá thực trạng, các quan điểm, mục tiêu đột phá, các nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Do thời gian hoàn thiện Dự thảo Đề án đến khi trình Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng sắp tới không còn nhiều, Chủ tịch nước đề nghị các thành viên Ban Chỉ đạo, nhất là Ban Nội chính Trung ương rà soát việc triển khai Kế hoạch để đôn đốc, thực hiện kịp thời và đảm bảo chất lượng các nhiệm vụ, trong đó cần phối hợp với Văn phòng Trung ương, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức 3 hội nghị ở 3 vùng cả nước để lấy ý kiến của các địa phương và cơ sở.

Chủ tịch nước đề nghị Ban Nội chính Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương thực hiện tốt công tác truyền thông để mọi tầng lớp nhân dân đều hiểu và có thể tham gia góp ý vào các vấn đề của Đề án.

 

SỦ DỤNG CÔNG NGHỆ SỐ ĐẺ NGĂN CHẶN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, VU CÁO

 


Định hướng thứ tư trong phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XIII là “...xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đã bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội dung, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”. Trong phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta xác định:“...Hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa; phát triển những sản phẩm, loại hình văn hóa độc đáo, sáng tạo có sức lan tỏa để quảng bá, giới thiệu ra thế giới”.Theo đó, tuyên truyền văn hóa Việt Nam ra thế giới cần đưa ra các thông điệp vừa làm nổi bật được những nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam, trong đó có tính khác biệt với các quốc gia khác, vừa đảm bài sự hài hòa với xu thế chung của nhân loại, đồng thời phải tác động đến tình cảm,đáp ứng được nhu cầu và thuyết phục đối tượng tiếp nhận.

Do đó, hoạt động tuyên truyền hình ảnh Việt Nam ra thế giới không thể tách rời với việc đấu tranh phản bác, chống các luận điểm xuyên tạc, bôi nho hình ảnh Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những lĩnh vực quan trọng của công tác tư tưởng nói chung và công tác đối ngoại nói riêng.

“Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị” là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XIII. Việc tăng cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định của đất nước mà còn nhằm bảo vệ hình ảnh Việt Nam trước những thông tin không đúng sự thật.

Thông qua nền tảng số, bè bạn quốc tế đã biết đến Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh, lại bị bao vây cấm vận, nay trở thành một Việt Nam có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ; quan hệ kinh tế thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ; có vai trò, vị thế ngày càng nổi bật trong khu vực và trên thế giới; là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế như ASEAN, ASEM, APEC, WTO…

Như vậy, trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, việc sử dụng các nền tảng công nghệ số để phục vụ tuyên truyền một mặt góp phần thúc đẩy quảng bá về một Việt Nam thân thiện, mến khách, một đất nước được coi là “điểm hẹn của hòa bình”, điểm đến an toàn cho bè bạn quốc tế, mặt khác góp phần phản bác lại các thông tin tuyên truyền sai trái, thù địch đối với Việt Nam cũng như nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam với thế giới.

 

 

NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC

 


Bắt nguồn từ truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tri ân người có công với đất nước từ lâu đã trở thành nét đẹp văn hóa của dân tộc, góp phần làm nên sức mạnh nội sinh giúp dân tộc ta vượt qua bao khó khăn, thử thách trong tiến trình phát triển. Ngày nay, nét đẹp văn hóa ấy vẫn liên tục được bồi đắp, phát huy và tỏa sáng.

Tri ân các anh hùng liệt sĩ, thương binh, người có công với cách mạng luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đặc biệt quan tâm, thể hiện bằng những nghĩa cử cao đẹp. Đây đã trở thành nét đẹp văn hóa của người Việt Nam, được bắt nguồn từ lịch sử truyền thống biết ơn, "uống nước nhớ nguồn" của người Việt từ xa xưa. Đó là lòng biết ơn, tri ân của con cháu với ông bà tiên tổ trong gia đình, dòng họ, rộng hơn là ghi nhớ công lao của những người có công với làng xã, và hơn nữa, là những người có công với đất nước, dân tộc.

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã đối mặt với biết bao khó khăn trong quá trình lao động sản xuất, trước thiên tai và các cuộc chiến tranh chống xâm lược. Trong quá trình đó, có biết bao người đã dũng cảm đương đầu với khó khăn, thậm chí hy sinh xương máu, tính mạng vì lợi ích của cộng đồng, dân tộc. Các thế hệ sau luôn ghi nhớ, biết ơn công lao to lớn ấy. Cùng với tín ngưỡng của cộng đồng ở các cấp độ, phạm vi khác nhau, nhiều bậc có công đã được người dân suy tôn thánh và lập đền thờ để thờ phụng, tổ chức lễ hội hằng năm nhằm tôn vinh và nhắc nhớ con cháu không quên công ơn của các vị, như: Đền thờ các vua Hùng (Phú Thọ) và Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương ngày 10-3 âm lịch hằng năm; Đền Gióng thờ Thánh Gióng-Phù Đổng Thiên Vương và hội Gióng ở Sóc Sơn và Đông Anh (Hà Nội); Đền Hai Bà Trưng thờ hai vị nữ anh hùng dân tộc Trưng Trắc và Trưng Nhị ở nhiều nơi...

Ở thời kỳ phong kiến, các triều đại đã có những chế độ, chính sách đãi ngộ người có công với đất nước, dân tộc. Chẳng hạn, vua Lê Thần Tông, vào năm 1655, định lệ tặng và tuất cho quan và binh chết trận rằng: Phàm các chánh đội trưởng, đội trưởng ở các dinh cơ đội thuyền có dự cai quản cùng những binh lính được cử đi đánh giặc mà hết sức cố đánh, giản hoặc có người chết trận thì cai đội cai thuyền được tặng chức tả hiệu điểm và mỗi viên được cấp 20 mẫu quan điền; chánh đội trưởng và đội trưởng được gia tặng chức hữu hiệu điểm và mỗi viên được cấp 15 mẫu quan điền; binh lính thì được cấp 5 mẫu quan điền và cho con được miễn trừ việc quan, nếu chưa có con thì anh em hay cháu gọi bằng chú, bác ruột, một người được miễn việc quan...

Trải qua thời gian, biết ơn, tri ân người có công đã trở thành đạo lý, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc và ngày càng được bồi đắp, phát triển, trở thành cội nguồn của chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh, góp phần tạo nên sức mạnh cùng dân tộc vượt qua những khó khăn, thử thách để phát triển đến ngày hôm nay.

 

LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

 


 

Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN được xác định là nội dung trọng tâm của đổi mới chính trị tại Việt Nam. Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã tích cực thảo luận, lấy ý kiến đóng góp để hoàn thiện Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, nhiều đối tượng xấu đã xuyên tạc, công kích, đưa ra các bài viết làm sai lệch bản chất vấn đề. Một số bài viết cho rằng đã là nhà nước pháp quyền thì không thể đi đôi với XHCN, đưa ra “kiến nghị” đòi bỏ nội dung XHCN trong đề án xây dựng nhà nước pháp quyền.

Thậm chí, một số người nhân danh cấp tiến, đổi mới để vu cáo rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam hiện “đứng trên pháp luật” nên không thể có nhà nước pháp quyền; cho rằng việc đưa ra định hướng XHCN chỉ để mang lại lợi ích cho Đảng chứ không phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc; việc đặt đề án xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là nhằm che đậy cho bản chất độc tài của chế độ… Những luận điệu trên  thể hiện rõ ý đồ chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Những yếu tố cơ bản để xây dựng một nhà nước pháp quyền là xã hội có dân chủ, đất nước có một hệ thống pháp luật đầy đủ và mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật. Nhà nước pháp quyền vừa là một giá trị chung của nhân loại, vừa là một giá trị riêng của mỗi một dân tộc, quốc gia. Tuỳ thuộc vào đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển mà các quốc gia khác nhau sẽ xây dựng một mô hình nhà nước pháp quyền cụ thể một cách thích hợp.

Tại Việt Nam, mô hình mà chúng ta lựa chọn là nhà nước pháp quyền XHCN. Điều này đã được ghi nhận cụ thể tại khoản 1, Điều 2 Hiến pháp 2013: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là hoàn toàn phù hợp cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Như vậy, đây là bộ máy quyền lực của chính quần chúng nhân dân lao động, phục vụ lợi ích của đại đa số người dân trong xã hội.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Tại Việt Nam, Đảng, Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức có nghĩa vụ và trách nhiệm tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân. Mọi hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền đều kiên quyết bị xử lý.

Trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo không có nghĩa là “đứng trên pháp luật”, “không tuân thủ pháp luật” như những gì các đối tượng xấu cố tình bôi nhọ. Tất cả các tổ chức của Đảng và đảng viên đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Mọi hành vi vi phạm pháp luật tuỳ theo tính chất, mức độ, hậu quả sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Việc Việt Nam xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của nhân dân. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”.

 

LÁ BÀI NHÂN QUYỀN TRONG THỜI ĐẠI SỐ

 


Thời đại công nghệ số 4.0 sẽ ít nhiều làm thay đổi tư duy, nhận thức, tư tưởng, tình cảm của con người với thế giới chung quanh. Con người tiếp cận với tri thức nhanh chóng hơn, mở ra khả năng tương tác; phương thức tác động của chính quyền với người dân đa dạng hơn, nhất là thông qua mạng xã hội.

Từ những tiến bộ về khoa học và công nghệ, sẽ xuất hiện nhiều hơn một số xu thế mang tính phổ quát, bên cạnh những giá trị chung, truyền thống trong quan hệ xã hội ở các quốc gia nói chung với nhiều mức độ, đặc điểm khác nhau, như xu thế dân chủ hóa đi đôi với cá thể hóa; xu thế lớn trong đổi mới quản lý, quản trị quốc gia và trách nhiệm giải trình (chuyển đổi hệ thống hành chính mạnh mẽ sang chính phủ điện tử; phân cấp, phân quyền, minh bạch hóa thông tin; tăng cường nguồn lực tinh hoa cho bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả); tăng cường vai trò giám sát của người dân đối với hoạt động của bộ máy công quyền. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, khủng bố, biểu tình, bạo loạn đối với Việt Nam có thể được thực hiện tinh vi hơn. Những kiểu xuyên tạc, vu cáo trong thời đại số

Thông qua các nền tảng số, các thế lực thù địch sử dụng những tin, bài, hình ảnh của báo chí chính thống trong nước, sau đó tô vẽ thêm bớt, đưa ra những nội dung “thật giả lẫn lộn” và thông tin sai lệch để đưa lên mạng xã hội. Chúng lập ra những trang/tài khoản núp dưới danh xưng của các cơ quan Chính phủ, lãnh đạo cấp cao nhằm lôi kéo tâm lý hiếu kỳ của công chúng, đánh vào khoảng trống thông tin (mà báo chí chính thống trong nước chưa đăng tải hoặc cần thời gian kiểm duyệt thông tin); ngụy tạo các bài viết dưới những tiêu đề giật gân liên quan đến những vấn đề đang được dư luận quan tâm…  Những thủ đoạn lợi dụng nền tảng số nêu trên của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn ít nhiều đã dẫn dụ và lừa dối được một bộ phận người dân. Những cái “bẫy thông tin”mà các đối tượng thù địch, phản động, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam tung ra cũng đã khiến cho nhiều người nước ngoài không phân biệt được thông tin chính thống và thông tin giả mạo, dẫn đến có nhận thức không đúng, không tốt về Việt Nam.

CẢI CÁCH BỘ MÁY HÀNH CHÍNH TINH GỌN, HOẠT ĐỘNG HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ

 


Sáng 6-8, tại Nhà Quốc hội, Thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc hội tổ chức phiên họp mở rộng để thẩm tra Báo cáo của Chính phủ tổng hợp việc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề và chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV (Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24-11-2017 về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; lĩnh vực nội vụ quy định tại Nghị quyết số 33/2016/QH14 ngày 23-11-2016 về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV). 

Các đại biểu đánh giá cao Chính phủ đã nghiêm túc trong việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội. Nội dung các báo cáo đã phản ánh được khái quát tình hình các nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề và chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến hết Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV; đánh giá những mặt làm được, chỉ ra được những hạn chế, bất cập, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị trong thời gian tới.

Theo Báo cáo của Chính phủ, sau khi có Nghị quyết số 56/2017/QH14 của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 5 Nghị định, 6 Quyết định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của một số bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Tổng cục thuộc Bộ.

Qua rà soát 5 Nghị định trên, Thường trực Ủy ban Pháp luật nhận thấy, cơ bản các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ không chuyển các vụ thành cục, tổng cục; các cơ quan thuộc Chính phủ giảm số đơn vị được thành lập phòng, giảm số phòng.

Các văn bản nêu trên vẫn còn một số quy định chưa đáp ứng yêu cầu là: tăng tổng số phòng trong các đơn vị trực thuộc Bộ, số đầu mối không tăng nhưng cũng chưa được sắp xếp để bảo đảm tinh gọn theo yêu cầu của Nghị quyết. Các nghị định về cơ quan thuộc Chính phủ cũng không quy định số lượng tối đa cấp phó của đơn vị trực thuộc nên có thể dẫn đến tùy tiện khi áp dụng.

Một số đại biểu nêu quan điểm: Dư luận vẫn nóng lên với nhiều vấn đề bức xúc về tuyển dụng, đề bạt không đúng, bổ nhiệm “siêu tốc” xảy ra gần đây như việc Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa bổ nhiệm hàng loạt cán bộ lãnh đạo cấp phòng sai quy định trước khi nghỉ hưu; hay Tổng giám đốc Tổng Công ty Cảng hàng không bổ nhiệm 70 cán bộ trước khi nghỉ hưu…

Các đại biểu đề nghị cần tăng cường kỷ luật, kỷ cương, kịp thời phát hiện sai phạm trong tuyển dụng, quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, công chức bởi đây là một trong những yêu cầu quan trọng được đặt ra trong Nghị quyết số 56/2017/QH14.

Nhiều ý kiến đề nghị thời gian tới Bộ Nội vụ kiên quyết hơn trong việc giao biên chế cho từng địa phương, bộ, ngành. Chính phủ tiếp tục sắp xếp cơ cấu tổ chức các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn với các tiêu chí cụ thể.

Để việc thực hiện các Nghị quyết đi vào thực chất, hiệu quả, các đại biểu đề nghị Chính phủ tiếp tục tăng cường việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước theo yêu cầu của Nghị quyết số 56/2017/QH14.

Việc rà soát, thu gọn đầu mối các cơ quan, tổ chức là cần thiết nhưng cần phải nghiên cứu một cách thận trọng, kỹ lưỡng và có cơ sở thực tiễn để đảm bảo tính khoa học, hiệu quả, khả thi, tránh việc thu gọn một cách cơ học mà số lượng biên chế, tổ chức bên trong vẫn cồng kềnh, chồng chéo.

 

Đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác - Hiểm họa khôn lường

Bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào, quyền lực cũng luôn có hai mặt. Mặt tích cực, nó là công cụ hữu hiệu bậc nhất để tập hợp lực lượng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng một xã hội tốt đẹp, nếu như quyền lực ấy được trao cho những con người có đạo đức tốt.

Mặt tiêu cực của quyền lực là luôn làm tha hóa những con người và bộ máy sử dụng quyền lực nhưng lại yếu kém về nhân cách và không có cơ chế tốt để kiểm soát quyền lực. Quyền lực là “con dao” hai lưỡi, có thể phục vụ cho đời và cũng có thể làm hại đất nước nếu rơi vào tay những kẻ bất tài, tham lam. Sự tha hóa như vậy có từ trong bản chất tự nhiên của con người và quyền lực. Có những người lúc đầu (khi chưa có quyền lực) thì tốt, nhưng khi đã có quyền lực trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì lợi ích thấp hèn của cá nhân.

Quyền lực là của nhân dân, người được ủy quyền khi bị quyền lực làm tha hóa, sẽ sử dụng quyền lực không phải để bảo vệ và phục vụ nhân dân như mục đích ban đầu, mà vì lợi ích của cá nhân, gia đình, dòng họ, của một nhóm người, họ quay lại với nhân dân, nhưng biến nhân dân từ chủ nhân của quyền lực thành bị chèn ép, thậm chí bị tước đoạt. Họ sử dụng quyền để trục lợi cá nhân hay lợi ích nhóm hoặc sử dụng quyền vượt ra ngoài giới hạn được trao để thỏa mãn khát khao quyền lực. Trường hợp thứ nhất sinh ra tham nhũng, trường hợp thứ hai gọi là lạm quyền. Đó đều là quyền lực bị tha hóa. Trên thực tế, tham nhũng và lạm quyền luôn song hành.

Hiểm họa khôn lường của đam mê quyền lực, kén chọn vị trí của cán bộ xuất phát từ vai trò của cán bộ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (tháng 10/1947) khi Người khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”. Theo đó, mức độ nguy hại phụ thuộc vào việc những kẻ đam mê quyền lực đó đang giữ vị trí nào, ở lĩnh vực nào, cụ thể là:

Trước hết, đối với nội bộ, người đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác sẽ làm mất dân chủ, mất đoàn kết nội bộ, từ đó làm suy yếu thậm chí làm mất sức chiến đấu của các tổ chức, nhất là tổ chức Đảng, chính quyền và bộ máy quản lý. Điều này xuất phát từ vấn nạn chạy chức, chạy quyền. Bởi lẽ, những người có phẩm chất, năng lực nhưng không chịu chạy sẽ không được đề bạt, bổ nhiệm; từ đó nảy sinh tư tưởng, bất mãn, chán chường với công việc, sẵn sàng đề đạt nguyện vọng thuyên chuyển sang nơi khác, thậm chí nghỉ việc. Còn những kẻ kém tài, kém đức nhưng khéo chạy, biết cách chạy có thể sẽ dễ dàng leo lên các thang bậc của quyền lực. Việc chạy chức, chạy quyền không chỉ tạo ra bất công lớn mà còn đẻ ra tham nhũng. Bởi vì, khi đã có chức quyền, kẻ có tham vọng chức quyền trục lợi phi pháp, chúng sẽ dùng chính những đồng tiền trục lợi được để đi hối lộ nhằm tạo sự bao che một cách trắng trợn, để rồi được tiếp tục thăng tiến hoặc hạ cánh an toàn. Việc chạy chức, chạy quyền không chỉ tạo ra bất công, mà còn dẫn đến nghịch cảnh trớ trêu là: “Nước quá trong thì không có cá, người tốt quá thì không ai chơi” và bị coi là quan hệ kém… 

Nếu cán bộ đam mê quyền lực là cán bộ cấp chiến lược thì hiểm họa càng lớn. Bởi vì, khi họ ở vị trí có quyền quyết định đến sinh mệnh chính trị của người khác, thì họ ký thêm hàng chục, hàng trăm quyết định bổ nhiệm cán bộ thuộc quyền, cấp dưới cũng có hành vi “chạy” như mình; hệ quả là sẽ tạo ra “một dây” - hệ thống vướng vào tiêu cực trong nhiệm kỳ của anh ta, vì một lẽ thường tình: “thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Chính vì vậy, bất kì sai lầm nào trong công tác cán bộ, đặc biệt là với cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp chiến lược sẽ đều phải trả giá rất đắt, “làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.

Thứ hai, đối với nhân dân, những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác thực chất là những kẻ đã “tha hóa quyền lực”, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân bằng hình thức này hay hình thức khác. Quyền lực đó được nhân dân ủy quyền cho đội ngũ cán bộ để bảo đảm quyền làm chủ của mình theo luật định thì bị chính người được ủy quyền đó biến quyền lực nhân dân thành quyền lực cá nhân và sử dụng sai mục đích, làm biến dạng bản chất của chế độ dân chủ ở ta, là trở lực lớn để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ đó, gây bức xúc trong dư luận, làm giảm sút niềm tin vào kết quả thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ.

Thứ ba, đối với bạn bè và đối tác, làm suy giảm sự tin cậy của bạn bè và đối tác của Việt Nam về môi trường kinh doanh ở các địa phương và của cả nước vì những cán bộ vướng vào tham nhũng, tiêu cực thì hầu hết lại là những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác lại thường gây khó khăn cho các doanh nghiệp xúc tiến đầu tư và triển khai các dự án khi nhũng nhiễu doanh nghiệp để trục lợi bất chính. Nếu các hành vi tiêu cực đó của họ bị các thế lực thù địch và kẻ cơ hội chính trị lợi dụng để chống phá Đảng và Nhà nước ta thì mức độ nguy hại càng lớn. Trước hết, làm mất thiện cảm, mất niềm tin của bạn bè quốc tế và các đối tác đối với Việt Nam; nguy hiểm hơn và không loại trừ khả năng nước ta dễ rơi vào hoàn cảnh bị cô lập nếu những kẻ đam mê quyền lực đã “chui sâu, leo cao” vào các vị trí chủ chốt trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa của Việt Nam khi họ đưa ra hoặc tham mưu cho Đảng, Nhà nước ra những quyết định sai lầm.

Đằng sau cái gọi là "Hội thánh của Đức Chúa trời Mẹ"

 Thời gian gần đây, Hội thánh Đức Chúa trời mẹ (HTĐCTM) tiếp tục hoạt động trở lại tại một số địa phương như Vĩnh Phúc, Quảng Nam, Thanh Hóa và một số tỉnh Tây Bắc...

Về bản chất hoạt động của HTĐCTM vừa mang tính chất mê tín dị đoan, vừa tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự, làm ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc và cũng là điều kiện để các cá nhân, tổ chức thù địch lợi dụng xuyên tạc về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

HTĐCTM là một “phong trào tôn giáo” mới bắt nguồn tại Hàn Quốc do Ahn Sahng-hong, sinh năm 1918 sáng lập. Năm 1947, Ahn Sahng-hong theo Cơ Đốc Phục Lâm nhưng sau đó bị giáo hội này khai trừ vì đưa ra quan điểm “lấy thập tự giá làm biểu tượng trong Hội thánh là phạm tội thờ thần tượng". Đến năm 1964, ông lập ra nhóm "Hội thánh của Đức Chúa Trời Nhân chứng Jesus” tại TP Busan, Hàn Quốc và trở thành Giáo chủ.

Ông tự cho rằng mình là "Chúa tái lâm", "Thánh Linh đấng yên ủi", "Đức Chúa Trời đến thế gian qua việc mặc lấy xác thịt", nhấn mạnh rằng phải gia nhập vào nhóm của mình thì mới được "ghi tên vào sổ của sự sống". Năm 1985, sau khi Ahn Sahng-hong qua đời, bà Janggil - Ja (Zahng Gil Jah hoặc Chang Gil Jah) tách ra thành lập “Hội thánh của Đức Chúa Trời Nhân chứng Ahn Sahng-hong”.

Năm 1997, Hội thánh của Đức Chúa Trời Nhân chứng Ahn Sahng-Hong đổi tên gọi chính thức là “Hội Thánh của Đức Chúa Trời Hiệp hội Truyền giáo Tin lành Thế giới” (World mission society Church of God - WMSCOG) hay còn gọi là “Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ” (bởi vì tổ chức này tin có Đức Chúa trời mẹ).

Tổ chức này coi ông Ahn Sahng-hong là “Đức Chúa trời cha” và bà Janggil-Ja là “Đức Chúa trời mẹ”, không tổ chức lễ Giáng sinh, không thờ cây thánh giá, trong sinh hoạt nữ trùm khăn ren trắng… Vì vậy, các tổ chức chính thống ở Hàn Quốc tẩy chay và coi là tà giáo, gọi là HTĐCTM để phân biệt với các tổ chức Hội thánh Đức Chúa Trời khác thuộc đạo Tin Lành. Trụ sở chính của HTĐCTM đặt tại quận Bundang, TP Seongnam, tỉnh Kyunggi, Hàn Quốc.

HTĐCTM du nhập vào Việt Nam thông qua hoạt động nhập cảnh của người Hàn Quốc; tiếp đến là hoạt động hiến máu nhân đạo của “Quỹ chúng tôi yêu bạn”. HTĐCTM xuất hiện ở phía Nam vào năm 2001, hình thành điểm nhóm đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh vào khoảng năm 2005-2006 do Nguyễn Văn Hòa (truyền đạo sư) phụ trách từ Đà Nẵng trở vào. Năm 2013 xuất hiện ở phía Bắc và rộ lên năm 2016 do ông Nguyễn Đình Tám (chấp sự) phụ trách từ Thừa Thiên-Huế trở ra.

Theo quy định của tổ chức này, mỗi tín đồ được tổng hội ở Hàn Quốc trực tiếp cấp “mã số sự sống” và quản lý chặt chẽ về nhân thân, lai lịch, quan hệ xã hội… thông qua “Thẻ Thánh đồ” (tín đồ) và “Thẻ Thánh đồ điện tử” (đối với người có chức vụ cao hơn tín đồ), được lưu trữ trên website của giáo hội. Hiện nay, HTĐCTM có mặt ở nhiều tỉnh, thành phố với hàng nghìn người tin theo.

Cảnh giác với hoạt động Hội thánh Đức Chúa trời mẹ

Đối chiếu quy định hiện hành về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cho thấy, tổ chức HTĐCTM không có giáo lý, giáo luật, cơ cấu tổ chức riêng, có mục đích hoạt động chính là vụ lợi, trái pháp luật nên không đủ điều kiện để được cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo.

Hoạt động của HTĐCTM tại một số địa phương thời gian vừa qua như Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Quảng Nam và một số tỉnh miền núi phía Bắc trước đây cho thấy tổ chức này đã vi phạm nghiêm trọng các điều cấm quy định tại Ðiều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 với các nội dung như: ép buộc, mua chuộc người khác; xâm phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi…

Những gì HTĐCTM tuyên truyền là hoàn toàn trái ngược với thuần phong mỹ tục cũng như những giá trị chuẩn mực về đạo đức, văn hóa của người Việt; không được pháp luật Việt Nam cho phép; hoạt động với các biến thể dị thường núp dưới nhiều danh nghĩa (nhất là danh nghĩa từ thiện, mở các lớp hướng thiện); những kẻ cầm đầu hầu hết là những người không bình thường, có quá khứ bất hảo (cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút…); mục đích chính là vụ lợi.

Hoạt động của HTĐCTM hiện có nhiều vi phạm như: sinh hoạt tôn giáo tập trung khi chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận và cho phép; truyền đạo không đúng đối tượng (tập trung vào học sinh, sinh viên); tài liệu tuyên truyền là những văn hóa phẩm không rõ nguồn gốc; ảnh hưởng đến truyền thống, phong tục tập quán, đạo đức gia đình, xã hội (như xúi giục, kích động nguời theo ứng xử không hiếu thảo với cha mẹ, đập phá bàn thờ tổ tiên, tuyên truyền người thân trong gia đình là ma quỷ)...

Thậm chí, hoạt động của HTĐCTM trong thời gian vừa qua tại một số địa phương đã gây chia rẽ, kích động gây mâu thuẫn giữa những người theo và không theo tín ngưỡng, tôn giáo và có dấu hiệu trục lợi cá nhân, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân ở một số địa bàn, đặc biệt là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn.

Vậy nên, việc nhận thức rõ bản chất để kịp thời cảnh giác, ngăn chặn, xử lý hoạt động phi pháp, nguy hiểm của những đối tượng tự xưng là người của HTĐCTM là điều cần thiết, đem lại sự bình yên cho xã hội.

Một số giải pháp khắc phục biểu hiện đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác.


Thứ nhất, tiếp tục nhận diện những biểu hiện mới, biến tướng mới cũng như tác hại và nguyên của bệnh đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác trong đội ngũ cán bộ các cấp và không ngừng đấu tranh phê phán và có chế tài đủ mạnh để phòng, ngừa những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác chui vào nội bộ ta.

Thứ hai, thường xuyên quán triệt và triển khai sâu rộng Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương “Về những điều đảng viên không được làm”, đặc biệt là nội dung: Đảng viên không được quan liêu, thiếu trách nhiệm; đảng viên không được “biết mà không báo cáo, phản ảnh, xử lý các hành vi tham nhũng; không thực hiện các quy định về bảo vệ người chống tham nhũng”…, đảng viên không được lợi dụng chức vụ để bổ nhiệm, đề cử, ứng cử trái quy định; không được can thiệp, tác động đến tổ chức, cá nhân để bản thân hoặc người khác được “đề cử, ứng cử”…, “không được lợi dụng chức vụ để giúp người thân và để người thân ra nước ngoài khi chưa có phép của cơ quan có thẩm quyền”…

Thứ ba, đẩy mạnh tổ chức quán triệt và cụ thể hóa theo thẩm quyền để thực hiện nghiêm Quy định số 114-QĐ/TW, ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị “Về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ” (thay thế Quy định số 205-QĐ/TW). Quy định 114-QĐ/TW thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt của Đảng về vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, đã liệt kê cụ thể 8 hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn; 6 hành vi “chạy chức, chạy quyền” và 5 hành vi tiêu cực khác. Thực hiện tốt trách nhiệm kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo, “người được giao chức vụ, quyền hạn phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, thường xuyên tự soi, tự sửa; đồng thời, phải tăng cường giám sát, kiểm soát có hiệu quả việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn”. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tinh thần tự giác, tự nguyện, tự chỉ trích, lòng tự trọng và biết liêm sỉ, biết đặt quyền lợi của Đảng, của dân, của nước lên trên hết, trước hết.

Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn 2021 - 2030. Một trong 10 nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là: “Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý nghiêm minh, đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu”.

Thứ tư, tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước liêm chính, chuyên nghiệp, hiện đại gắn với chế độ công vụ. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng nền hành chính nhà nước của dân, do dân, vì dân. Kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Xây dựng Luật về đạo đức công vụ và thực hiện nghiêm Luật Cán bộ, công chức. Thực hiện “cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc; khuyến khích, bảo vệ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”; tạo động lực để cán bộ, đảng viên cống hiến, ngăn ngừa tiêu cực trong thi hành công vụ, xây dựng niềm tin vững chắc của Nhân dân đối với Đảng, với chế độ./.

Nhận diện những biểu hiện và tính nguy hại của đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác


Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ những biểu hiện của một số cán bộ có “tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh”.

Trong đó, đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác của cán bộ, đảng viên có những biểu hiện hết sức đa dạng, tinh vi, với nhiều hình thức khác nhau nhưng không có nghĩa là “bí ẩn” không nhận diện được. Có thể nêu một số biểu hiện chính như sau:

Một là, dùng mọi thủ đoạn mua chuộc để đoạt được quyền lực

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực”. Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng ta đang phải đối mặt với những lực cản, trong đó nổi bật là biểu hiện lạm dụng quyền lực nhân dân - thực chất là biến quyền lực tập thể thành quyền lực cá nhân; đây là quyền lực bị tha hóa, khi quyền lực của nhân dân rơi vào tay những kẻ đam mê quyền lực; biến sức mạnh của tập thể thành quyền lực cá nhân.

Người đam mê quyền lực thường có biểu hiện theo kiểu dân túy, thông qua những tuyên bố gây sốc với những hành vi đánh bóng tên tuổi để “mị dân” - lấy lòng đám đông trong giải quyết mối quan hệ và những vấn đề nóng, dễ gây bức xúc trong xã hội, chạm vào “trái tim” của một bộ phận người dân với những lợi ích trước mắt họ, lại có truyền thông hậu thuẫn và tung hô xuất hiện dày đặc trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thậm chí, họ tìm cách mua chuộc quần chúng, nhất là cấp dưới để tăng tín nhiệm, thuận lợi cho việc giới thiệu mình theo quy trình vào diện quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm chức vụ... Họ luôn tranh thủ mọi lúc, mọi nơi, lấy lòng mọi người, từ đồng nghiệp đến những người có tiếng nói, uy tín trong cơ quan, đơn vị, nhất là vào những thời điểm nhạy cảm. Họ sẵn sàng dùng tiền để lấy lòng mọi người nhằm tạo dựng mối quan hệ với lãnh đạo cấp trên…

Một số ít cán bộ chủ chốt khi được luân chuyển về bộ, ngành, địa phương khác, thay vì sâu sát cơ sở, bám nắm tình hình nội bộ, tình hình mọi mặt của bộ, ngành, địa phương để xây dựng tinh thần đoàn kết nội bộ, nhất là trong nội bộ cấp ủy lại tranh thủ “gặp gỡ” các doanh nghiệp, sốt sắng xây dựng cánh hẩu, sân sau; cũng có trường hợp đi cơ sở và tranh thủ phát biểu, “động viên” tinh thần cấp dưới, với giọng “dân túy” để đánh vào tâm lý vốn đang bức xúc của một bộ phận người dân, doanh nghiệp nhằm vận động hành lang tranh thủ sự ủng hộ…; mị dân, tạo uy tín giả và để khỏa lấp đi những hạn chế về phẩm chất, năng lực cũng như những sai phạm trước đó của bản thân…

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc ngành Tổ chức xây dựng Đảng ngày 26/3/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Cứ vào Đại hội, cứ chuẩn bị lấy phiếu tín nhiệm lại râm ran chuyện vận động, mời nhau ăn uống, cho tiền, tặng quà. Có cái gì luồn vào trong cái tình cảm ấy?”. Tổng Bí thư thẳng thắn chỉ rõ: Hiện nay, trong dư luận xã hội vẫn râm ran chuyện chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy luân chuyển... Từ đó, Tổng Bí thư cảnh báo, nếu có thì chúng ta phải sửa, phải rút kinh nghiệm; nếu không có thì chúng ta cũng phải trả lời rõ ràng, sòng phẳng, chỉ ra ai chạy, chạy ai?”.

Hai là, tìm mọi cách xây dựng “cánh hẩu” để củng cố quyền lực

Biểu hiện về cán bộ có đam mê quyền lực là luôn tìm mọi cách để củng cố quyền lực thông qua việc dùng ảnh hưởng và tác động để đưa người thân, người quen vào diện quy hoạch và sau đó là bổ nhiệm vào các chức vụ. Họ luôn tìm mọi cách, mọi cơ hội để đưa người thân, người quen, cánh hẩu được vào ê kíp để củng cố quyền lực của mình ngày thêm vững chắc. Khi có quyền lực, một mặt, họ sẽ tìm cách thao túng, phá “thủng” nguyên tắc tổ chức và quản lý để đặc quyền, đặc lợi. Mặt khác, tìm mọi cách để kiềm chế, triệt hạ những người thẳng thắn, những người “không theo dây” hay nhóm lợi ích tiêu cực do mình là chủ trò tiếp tục đưa những kẻ nịnh nọt, chạy chức, chạy quyền vào bộ máy nhà nước.

Theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước, người được bổ nhiệm nắm giữ chức vụ không phải là vô hạn về không gian, thời gian mà có thời hạn, nhiệm kỳ. Hết nhiệm kỳ, cán bộ lãnh đạo phải được cấp có thẩm quyền gia hạn, bổ nhiệm lại (nếu còn tuổi, năng lực, đủ phẩm chất, tiêu chuẩn), hoặc không làm quản lý, lãnh đạo, sẽ làm chuyên môn thuần túy, hoặc nghỉ hưu. Đó là nguyên tắc công tác tổ chức cán bộ. Nhìn chung, cán bộ có đam mê quyền lực đều ý thức rất rõ về nhiệm kỳ. “Tư duy nhiệm kỳ” như một căn bệnh, tệ nạn trong xã hội xuất hiện với mức độ, hình thức, biểu hiện trong đánh giá, nhận xét, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ….

Ê kíp, “cánh hẩu” là tình trạng ở một số cơ quan, địa phương, đơn vị khi lãnh đạo có người “say mê quyền lực” chủ động nâng đỡ “đàn em”, con cháu “không trong sáng” thông qua việc đề bạt quá nhanh, quá nhiều, bỏ qua các quy trình, tiêu chuẩn, điều kiện theo kiểu “9C” (con cháu các cụ cả, chiếu cố các cháu). Do vậy, nhân dân gọi những người được đề bạt, bổ nhiệm sai là tầng lớp “5C4Đ” (con cháu các cụ cả, đừng được động đến). Đây không chỉ là tư tưởng dễ dãi, xuê xoa trong công tác cán bộ mà là hiện tượng kéo bè, kéo cánh, xây dựng ê kíp mới sẽ tạo ra “chân rết” là một nhóm lợi ích tiêu cực nhằm kéo dài bòn rút, đục khoét tài sản nhà nước và nhân dân.

Ba là, tìm mọi cách mua chức, đoạn quyền

Điểm chung của những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí là luôn thực hiện cái gọi là phương châm “cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Vì vậy, họ luôn có nhiều mưu mô nhằm đoạt cho được quyền lực; sẵn sàng vung tiền, quà biếu, tặng bằng vật chất hối lộ cấp trên thoái hóa, biến chất và đi kèm với đó là những lời nịnh hót, xin xỏ, thậm chí mặc cả về chức vị của mình.

Những bài học chạy chức quyền, chạy luân chuyển cán bộ thời gian qua cho thấy rõ biểu hiện này khi mà nhiều cán bộ dù năng lực yếu kém, thiếu tiêu chuẩn, bằng cấp, nhưng nếu có tiền, vật chất hối lộ, và biết đưa hối lộ thì vẫn được sếp để mắt tới, được bố trí vào những vị trí có nhiều “màu mè”, lợi ích...

Bốn là, kén chọn vị trí công tác.

Những cán bộ có tham vọng chức quyền, đam mê quyền lực khi đã được quy hoạch, bổ nhiệm lại “kén cá chọn canh”, chọn vị trí công tác mà họ cho là “ngon”; chọn việc dễ, tránh việc khó; chọn nơi gần, tránh nơi xa; chọn nơi có nhiều lợi ích, bổng lộc. Những con người này chỉ thích được phân công tại những nơi có nhiều “màu mỡ”, thích công tác bên chính quyền, doanh nghiệp lớn ở thành phố lớn, vùng đô thị…, không thích công tác ở khối Đảng, Mặt trận, đoàn thể bởi ở những nơi này không có “màu mỡ”, khó kiếm chác.

Có những trường hợp mặc dù đã được tổ chức Đảng phân công vị trí công tác mới, nhưng với những mánh khóe, thủ đoạn sẵn có là hối lộ, kẻ có tham vọng chức quyền, đam mê quyền lực tư lợi, vun vén cá nhân vẫn “lội ngược dòng” vào “phút bù giờ” để về công tác tại những vị trí có nhiều màu mỡ, bổng lộc.

Vì tư tưởng cục bộ, bản vị, vì “lợi ích nhóm tiêu cực” một số cán bộ chủ chốt nhân danh sự tín nhiệm của nhân dân địa phương đối với mình, tìm mọi cách để “kéo dài” vị trí công tác ở địa phương nhằm mục đích đưa người nhà, người thân vào các vị trí chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp hay trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước. Không những vậy, họ tìm mọi cách để gây khó khăn hay cản trở cán bộ từ địa phương, ban, ngành và đơn vị khác được các cấp có thẩm quyền điều động đến. Có cán bộ chủ trì nhân danh tập thể hoặc là áp đặt ý kiến của cá nhân bắt tập thể phải thông qua các quyết định thiếu dân chủ về công tác cán bộ. Vì vậy, trong các kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đối với các vụ việc nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng vừa qua đều chỉ ra khuyết điểm chung là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ của cán bộ chủ chốt và cấp ủy.

Không để các thế lực lợi dụng tôn giáo để chống phá đất nước

 Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá với những thủ đoạn tinh vi và quyết liệt hơn. Do vậy, việc chủ động đấu tranh, ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược lâu dài và là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị; trong đó, cơ quan quản lý Nhà nước về tôn giáo đóng vai trò nòng cốt, cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo Hiến pháp năm 2013. Thực hiện tốt chức năng Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo tại các địa bàn trọng điểm, phức tạp; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý ngay tại cơ sở các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật gây bức xúc trong xã hội.

2. Nắm chắc tình hình, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng: “dân chủ”, “quyền con người”, “tôn giáo” chống phá Việt Nam để có đối sách giải quyết phù hợp, hiệu quả, đúng pháp luật. Kịp thời phát hiện và ngăn chặn việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các tôn giáo, gây rối trật tự, xâm phạm an ninh quốc gia. Chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, vạch trần “chân tướng” các đối tượng cơ hội, các việc làm vi phạm pháp luật, giáo luật của số đối tượng cực đoan lợi dụng tôn giáo; phản bác các luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”.

3. Những biện pháp đấu tranh ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Việt Nam cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành để có sự hỗ trợ đồng bộ, hạn chế sơ hở để thế lực xấu lợi dụng chống phá.

4. Thường xuyên tổng kết rút kinh nghiệm, có biện pháp khắc phục những thiếu sót, tồn tại để đảm bảo thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do, tín ngưỡng của nhân dân, làm cho nhân dân thực sự tin tưởng vào Đảng, Nhà nước; là chất keo kết dính giữa Nhân dân với Đảng, làm thất bại mọi âm mưu hoạt động của các thế lực thù địch.

5. Làm tốt công tác tuyên truyền đối ngoại để cộng đồng quốc tế có đầy đủ thông tin về kết quả, thành tựu nhân quyền trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam; đồng thời, thực hiện tốt hoạt động đối thoại tôn giáo, hướng dẫn các chức sắc, tín đồ hoạt động tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật.

 03.8

Không thể phủ nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

 Trước hết cần khẳng định: Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận nhân dân, đồng bào các tôn giáo là một bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được đảm bảo trên thực tiễn và cụ thể bằng văn bản pháp luật, như: Sắc lệnh số 234/SL, ngày 14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, xác định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện. Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”. Trong mỗi giai đoạn lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật, tạo hành lang pháp lý để các tôn giáo hoạt động hiệu quả, như: Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tôn giáo; Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH 11, ngày 18/6/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XI) về tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị số 1940/CT-TTg, ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; ngày 09/3/2023, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tôn giáo Chính phủ đã ra mắt Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, v.v. Cùng với đó, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tập trung đầu tư phát triển kinh tế ở vùng đồng bào có đạo, thể hiện sự quan tâm đặc biệt sâu sắc đến nhu cầu tín ngưỡng của tín đồ, chức sắc các tôn giáo, làm cho tín đồ và chức sắc tôn giáo yên tâm, phấn khởi tích cực thực hiện tốt cả “việc đạo, việc đời”.

Việt Nam luôn tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ các tôn giáo hoạt động theo pháp luật; chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện phát triển như hiện nay! Số lượng tín đồ ngày càng đông, được tự do hành lễ dù ở nhà riêng hay nơi thờ tự. Nếu năm 2003, cả nước có 15 tổ chức, 06 tôn giáo, 17 triệu tín đồ với khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc; thì đến năm 2021, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với trên 26 triệu tín đồ, 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng phong phú, đa dạng; nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo thu hút hàng vạn tín đồ tham dự, như: Giáo hội Tin lành đã tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành (tháng 12/2017); Giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Đa minh thế giới tại Đồng Nai (tháng 7/2019), với đại biểu của hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia; Giáo hội Phật giáo tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc năm 2019 tại chùa Tam Chúc, tỉnh Hà Nam (tháng 5/2019) với sự tham dự của trên 3.000 đại biểu chính thức (trong đó có 570 đoàn quốc tế với 1.650 đại biểu đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ), v.v. Với quy mô hoạt động tôn giáo hàng vạn người, chính quyền các cấp đã hỗ trợ các tôn giáo về các phương án đảm bảo an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng, chống cháy nổ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm,... để nhân dân được tự do hành lễ, thỏa mãn nhu cầu đời sống tâm linh. Điều đó đã khẳng định chính sách nhất quán của nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi, nếu không có chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo thì các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo không thể tổ chức đa dạng, phong phú như trên được.

03.8