Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2023

TÁC CHIẾN PHÒNG KHÔNG ĐÁNH THẮNG TRẬN ĐẦU


Chiến công đánh thắng trận đầu đối với không quân Mỹ ngày 5-8-1964 của quân và dân miền Bắc đã đi vào lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước như một sự kiện quân sự tiêu biểu cho ý chí quyết chiến, quyết thắng, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam; đồng thời để lại những kinh nghiệm quý, trong đó nổi bật là nghệ thuật tác chiến phòng không với những nội dung cơ bản sau.
Một là, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của địch, chuẩn bị tốt thế trận phòng không.
Để chuẩn bị chiến tranh phá hoại miền Bắc, từ ngày 17-2-1964, Mỹ đã tăng cường các hoạt động thu thập tin tức, phát hiện hệ thống phòng không, radar, căn cứ quân sự của ta; đồng thời hỗ trợ ngụy quân Sài Gòn đẩy mạnh chống phá miền Bắc. Ngày 7-4-1964, Bộ Tham mưu Liên quân Mỹ thông qua kế hoạch chọn 94 mục tiêu cần đánh phá ở miền Bắc và dự kiến hoàn thành việc đánh phá trong 12 ngày. Tiếp đó, tàu biệt kích ngụy Sài Gòn bắn pháo vào đảo Hòn Ngư (Nghệ An), Hòn Mê (Thanh Hóa) vào đêm 30, rạng sáng 31-7; tàu Maddox thuộc Biên đội xung kích 77 (Hạm đội 7 Mỹ) xâm phạm vùng biển miền Bắc (1-8)... Đặc biệt, đêm 4-8, Mỹ dựng lên sự kiện vịnh Bắc Bộ, tạo cớ chính thức mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta.
Trước âm mưu, thủ đoạn chuẩn bị chiến tranh của Mỹ, tháng 6-1964, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị “Tăng cường sẵn sàng chiến đấu, đập tan âm mưu khiêu khích, đánh phá miền Bắc của không quân Mỹ”; đồng thời chỉ thị cho cấp ủy, chính quyền các địa phương tăng cường công tác phòng không nhân dân. Trước mắt chấn chỉnh và tăng cường hệ thống phòng không bảo vệ những khu vực, mục tiêu quan trọng, lấy lực lượng phòng không và hải quân làm nòng cốt, phát động phong trào dân quân, tự vệ dùng súng bộ binh bắn rơi máy bay địch. Đến giữa năm 1964, công tác chuẩn bị về thế trận tác chiến phòng không của Quân chủng Phòng không-Không quân và Quân chủng Hải quân cơ bản hoàn thành. Quân và dân miền Bắc đã có bước chuẩn bị tốt cả về tinh thần, lực lượng và thế trận, sẵn sàng đánh địch trên thế chủ động, không bị bất ngờ trong mọi tình huống.
Hai là, xác định khu vực, mục tiêu địch đánh phá; tổ chức quan sát, phát hiện, thông báo kịp thời cho các lực lượng phòng không đánh trả máy bay địch.
Trong tác chiến phòng không, xác định những khu vực, mục tiêu để bảo vệ là vấn đề rất quan trọng. Trước tình hình địch dùng máy bay trinh sát, tung các toán biệt kích ra phá hoại, gây rối ở cầu Hang (Thanh Hóa), tập kích Nhà máy nước Đồng Hới (Quảng Bình), đảo Hòn Mê (Thanh Hóa), Hòn Ngư (Nghệ An), cuối tháng 7-1964, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Quân chủng Phòng không-Không quân và Quân chủng Hải quân sẵn sàng chiến đấu; đồng thời dự kiến các căn cứ hải quân, trận địa phòng không và các cơ sở hậu cần, kỹ thuật của ta ở ven biển từ Quảng Bình trở ra địch sẽ tập trung đánh phá, như: Cảng sông Gianh (Quảng Bình); Bến Thủy-Vinh (Nghệ An); Lạch Trường (Thanh Hóa) và Bãi Cháy (Quảng Ninh).
Trước những hành động phá hoại trắng trợn của địch, Đảng ta nhận định: Từ các hoạt động phá hoại, chúng sẽ chuyển thành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc (theo cuốn "Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ", tập II, NXB QĐND, năm 1983). Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo Quân chủng Phòng không-Không quân và Quân chủng Hải quân tăng cường bảo vệ các khu vực, mục tiêu quan trọng, trong đó chú trọng tổ chức mạng lưới quan sát, thông báo, báo động phòng không ở các cấp. Nhờ chuẩn bị chu đáo, các vọng quan sát phòng không, đài radar cảnh giới của ta đã phát hiện máy bay địch ngay từ đầu và thông báo cho các đơn vị phòng không, hải quân và dân quân, tự vệ kịp thời đánh trả.
Ba là, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng phòng không ba thứ quân.
Trong tác chiến phòng không, tổ chức hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng phòng không ba thứ quân là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, quyết định hiệu quả của trận đánh. Mở đầu trận chiến đấu ngày 5-8-1964 diễn ra ở Cửa Hội-Vinh (Nghệ An) lúc 12 giờ 30 phút, Trung đoàn Phòng không 280 tổ chức hiệp đồng chặt chẽ với tàu của các phân đội thuộc Đoàn 135 Hải quân, lực lượng phòng không trên đảo Hòn Ngư và dân quân, tự vệ các địa phương kiên cường đánh máy bay địch. Sau đó 10 phút, tại cảng sông Gianh, tàu của các phân đội hải quân hiệp đồng chặt chẽ với các trận địa phòng không trên hai bờ sông Gianh, gồm tự vệ ngư trường sông Gianh, đồn công an nhân dân vũ trang, lực lượng dân quân một số xã thuộc huyện Quảng Trạch (nay thuộc thị xã Ba Đồn) và huyện Bố Trạch (Quảng Bình) kịp thời đánh chặn các đợt ném bom, bắn phá của địch.
Tiếp đó, các đơn vị hải quân, phòng không phối hợp với dân quân, tự vệ kiên cường chiến đấu tiêu diệt máy bay Mỹ ở Lạch Trường (Thanh Hóa), Bãi Cháy (Quảng Ninh). Nhờ tổ chức hiệp đồng chặt chẽ, trận chiến đấu của bộ đội phòng không phối hợp với bộ đội hải quân, lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Ninh (từ 12 giờ 30 phút đến 17 giờ ngày 5-8-1964) đã kết thúc thắng lợi. Kết quả, ta bắn rơi 8 máy bay, bắn bị thương nhiều chiếc, bắt sống và tiêu diệt nhiều phi công Mỹ. Chiến công đánh thắng trận đầu đã ghi dấu ấn mở đầu thắng lợi của cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta của đế quốc Mỹ.
Thắng lợi trận đầu ngày 5-8-1964 của Bộ đội Hải quân và quân, dân miền Bắc đối với không quân Mỹ thể hiện bước phát triển của nghệ thuật tác chiến phòng không, trong đó nổi bật là nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của địch, xác định những khu vực, mục tiêu bảo vệ; tổ chức quan sát, phát hiện, thông báo kịp thời và hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng phòng không ba thứ quân. Kinh nghiệm tác chiến phòng không đánh thắng trận đầu vẫn nguyên giá trị, cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển sáng tạo, phù hợp với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
DƯƠNG ĐÌNH LẬP - Báo QĐND
Bộ đội pháo cao xạ Tiểu đoàn 217 (Trung đoàn 240, Quân chủng Phòng không - Không quân) bắn máy bay Mỹ bảo vệ vùng mỏ Quảng Ninh, ngày 5-8-1964. Ảnh tư liệu
Không có mô tả ảnh.

Những luận điệu xảo trá sau vụ khủng bố ở Đắk Lắk: Thêu dệt, bóp méo sự thật

 

Sau khi vụ án xảy ra, trên nhiều kênh thông tin báo chí nước ngoài, các trang mạng hải ngoại, trang mạng cá nhân của các đối tượng chống đối đã tung ra thông tin sai sự thật, các hình ảnh được dàn dựng, cắt ghép… Một số bài viết cố tình đánh tráo bản chất, hướng vụ án sang nguyên do khác nhằm kích động tâm lý kỳ thị dân tộc, gây chia rẽ giữa đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên.

Liên quan vụ khủng bố do nhóm đối tượng trang bị vũ khí, tấn công trụ sở UBND xã Ea Ktur và Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk ngày 11/6 làm 4 cán bộ Công an xã hy sinh, 2 cán bộ xã và 3 người dân thiệt mạng, 2 cán bộ Công an xã bị trọng thương, CQĐT đã khởi tố vụ án, bắt giữ các đối tượng liên quan để điều tra, xử lý trước pháp luật; đồng thời triển khai các công tác ổn định tình hình tại địa phương. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử chống đối đã và đang lợi dụng vụ án để xuyên tạc sự thật, đưa các thông tin sai trái nhằm kích động chống phá, gây bất ổn từ bên trong, đồng thời tạo cớ để kêu gọi các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Với tính chất đặc biệt nghiêm trọng của vụ án, Người Phát ngôn Bộ Công an cũng như các cơ quan chức năng đã có các thông tin chính thức với báo chí và tại một số hội nghị, diễn đàn có liên quan. Việc thông tin đảm bảo tính chính xác, kịp thời, giúp người dân trong nước và dư luận quốc tế nắm được thông tin, bản chất vụ án, ủng hộ cơ quan chức năng tích cực điều tra, làm rõ để xử lý trước pháp luật; đồng thời lên án các cá nhân, tổ chức đứng sau vụ án, các đối tượng chủ mưu, cầm đầu gây bất ổn tại khu vực Tây Nguyên. Tuy nhiên, sau khi vụ án xảy ra, trên nhiều kênh thông tin báo chí nước ngoài, các trang mạng hải ngoại, trang mạng cá nhân của các đối tượng chống đối đã tung ra thông tin sai sự thật, các hình ảnh được dàn dựng, cắt ghép… Một số bài viết cố tình đánh tráo bản chất, hướng vụ án sang nguyên do khác nhằm kích động tâm lý kỳ thị dân tộc, gây chia rẽ giữa đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên. Báo điện tử BBC Tiếng Việt ngày 23/6 đăng bài “Câu chuyện Tây Nguyên và người dân sắc tộc của núi rừng trong lòng tôi” đã đưa nhiều thông tin sai sự thật, có các bình luận mang tính chụp mũ, suy diễn. Bài viết cố tình hướng lái sai mục đích, ý nghĩa của vấn đề di dân, phát triển kinh tế ở Tây Nguyên, từ đó quy chụp “không gian của các sắc tộc bị tan vỡ”! Người viết đưa ra những câu từ vừa trái bản chất, vừa mang tính kích động như “Sau biến cố 30/4/1975, Tây Nguyên bước vào kỷ nguyên bị phá vỡ”. Ngay như khái niệm “đồng bào” vốn là câu chữ thân thuộc, thiêng liêng với cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam thì bài viết cũng cố tình bẻ lệch ý nghĩa, cho rằng “việc gọi các sắc tộc Tây Nguyên bằng từ “đồng bào” không che giấu được toan tính chính trị”, đả kích thành “đây là cách áp đặt văn hoá và mị dân”! Bằng thủ đoạn vờ “đặt vào miệng” của một người không rõ thực hư ở đâu, bài viết này vu cáo “Người Kinh đang đối xử với các sắc tộc Tây Nguyên hơn cả thực dân, bởi thực dân không muốn chiếm đoạt và đồng hoá như thế”; “có quá nhiều người sắc tộc ở Tây Nguyên nói họ không được phép thực hành niềm tin tôn giáo họ chọn”.

Bằng những thủ đoạn đánh tráo bản chất dưới dạng hồi ức, kể lại, nhớ lại, tự bịa ra lời nói của những cá nhân không có thật, bài viết cố tình vẽ ra bức tranh với gam màu xám xịt ở Tây Nguyên rồi quy kết rằng “việc tấn công vào trụ sở Công an tại hai xã vừa qua rất có thể là phản ứng của sự phẫn nộ, phản kháng khi người sắc tộc bị dồn vào đường cùng”! Đây là thủ đoạn vu cáo hết sức nguy hiểm nhằm kích động chống phá từ bên trong và gây sự hiểu lầm, tạo sức ép từ bên ngoài. Đài Á châu tự do (RFA) đưa bài mang rõ tính kích động, xuyên tạc chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta khi nói rằng, giải pháp cho các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo ở Tây Nguyên đều lặp lại điệp khúc cách đây hàng chục năm. Từ đó bôi nhọ: “Không chỉ nguội mà còn cuội. Cuội là vì trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đi ngược lại chính sách đại đoàn kết dân tộc và giờ đây lại còn đổ vấy trách nhiệm về biến cố xả súng ở huyện Cư Kuin”!

Trong một bài viết khác, đài này dùng những ngôn từ xảo trá để bóp méo bản chất vụ án khủng bố ở Đắk Lắk, “đánh lái” thành vấn đề xung đột, mâu thuẫn trong các dân tộc ở Tây Nguyên, vu cáo người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên “không chịu được sự áp đảo hiện nay bởi sự thống trị của người Việt đến từ đồng bằng”. Với cách dẫn dắt sai trái này, bài viết nhắm vào chỉ trích Đảng, Nhà nước: “Chính quyền của Đảng Cộng sản bị cáo buộc đàn áp các nhóm sắc dân này, những người đã từng chiến đấu với họ trong các cuộc chiến tranh chống Pháp, Mỹ…”; “đồng bào thiểu số ở Tây Nguyên đã bị truất sở hữu đất đai của tổ tiên, nơi mà nhà nước áp dụng chính sách thuộc địa”! Đài này cũng đưa nhiều phỏng vấn những đối tượng tự xưng là người dân tộc HMong, người Thượng tự nhận là “nạn nhân bị đàn áp tôn giáo” phải bỏ chạy lưu vong hoặc dẫn lời những trường hợp không rõ địa chỉ cụ thể để bôi nhọ tình hình thực tế tại Đắk Lắk. Những đối tượng này cho rằng vụ việc ở Đắk Lắk là “hành động phản kháng của người Tây Nguyên theo đạo Tin lành bị áp bức về đức tin”, là “mâu thuẫn sắc tộc” âm ỉ từ lâu; xuyên tạc bản chất vấn đề bằng chiêu bài “người Kinh áp bức người Thượng”, “người Kinh chiếm đất của người Thượng”. Cũng với giọng điệu bịa đặt, đả kích, Đài VOA đưa nhiều bài viết đánh lừa người đọc dưới dạng người Thượng ở Tây Nguyên kể chuyện. Trong bài viết “Người Thượng tấn công chính quyền vì tức nước vỡ bờ”, bằng việc dẫn lời của hai trường hợp ở Hoa Kỳ có tên là Y Phíc và Aga – thành viên của tổ chức phản động “Người Thượng vì công lý”, bài viết trích dẫn những nội dung sai trái nhắm vào miệt thị chính quyền, quy cho nguyên nhân vụ khủng bố là “họ đã bị đẩy đuổi đến bước đường cùng”! Từ việc bịa chuyện mâu thuẫn trong làm ăn, lao động sản xuất giữa người Kinh với người Thượng, bài viết vu cáo “chính quyền không bao giờ cho người dân tự do bày tỏ niềm tin tôn giáo mà họ lựa chọn”; “người Thượng cũng đem những bức xúc của mình đi khiếu nại với chính quyền nhưng không những không được giải quyết mà còn bị bắt bớ, đánh đập”. Từ đó, bài viết đánh tráo bản chất, bôi nhọ thành “chính quyền cộng sản Việt Nam gần như không quan tâm gì đến đồng bào Tây Nguyên”; biện hộ cho hành vi của những kẻ khủng bố rằng “khi bị đẩy vào bước đường cùng thì người dân không còn cách nào khác là sẵn sàng đối diện với cái chết để làm liều”; “khi họ không còn con đường để sống thì họ phải chấp nhận cái chết”. Nội dung trong các bài viết, lời nói dù bằng cách này hay cách khác thì số này đều nhắm vào xuyên tạc, bôi nhọ chính sách của Đảng, Nhà nước với đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, cho rằng đồng bào bị bỏ rơi, bị chèn ép, đẩy vào khốn cùng. Cùng với đó là xuyên tạc tình cảm, đời sống của đồng bào Tây Nguyên, đưa ra những nội dung sai trái để gây chia rẽ giữa người Kinh với người Thượng, giữa các đồng bào dân tộc thiểu số. Một số bài viết còn xuyên tạc việc chính quyền “lợi dụng vụ việc để đàn áp, truy bức người Thượng”, từ đó đưa ra cái nhìn sai lệch, nhất là gây hiểu lầm đối với dư luận ở nước ngoài, cố tình tạo ra những mâu thuẫn, bất ổn từ bên trong để kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế vào công việc nội bộ của Việt Nam…

 

Phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng Tội ác của những kẻ chống phá và cái giá của sai lầm

 


Trong khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức phấn đấu, khắc phục khó khăn, đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, quyết tâm hoàn thành các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định, thì các thế lực thù địch lại ra sức chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Họ vào hùa với nhau, tiếp tục “đổ dầu vào lửa” với tham vọng cản trở công cuộc đổi mới, ngăn cản việc thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của Nhân dân ta. Tiêu điểm chống phá của các thế lực thù địch là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, tập trung vào sự phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Âm mưu và thủ đoạn này không mới nhưng sự nguy hiểm của nó thì rất lớn: Triệt phá từ “gốc” những nội dung “cốt lõi” trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta với thái độ hết sức thâm thù, xảo trá nhằm hạ thấp uy tín, vị thế của Đảng, tước bỏ niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng ta; gây rối loạn đời sống tinh thần xã hội Việt Nam; khiến chúng ta không thể an tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Từ đây, các thế lực thù địch mở rộng quy mô, hình thức chống phá sang các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, xã hội, đến quốc phòng, an ninh và đối ngoại; làm mất uy tin, vị thế của Đảng, Nhà nước Việt Nam trên trường quốc tế. Sự thâm thù và tội ác này cần nhận diện đúng và có biện pháp khắc chế hiệu quả, không thể xem thường.

Âm mưu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta nhằm tạo ra “khoảng trống chính trị” trong nhận thức, tư tưởng, lý luận để đưa ý thức hệ tư sản xâm nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống tinh thần của Nhân dân ta, lái nước ta đi theo quỹ đạo TBCN. Vì vậy, trong tình hình mới, dù phải đối mặt với bộn bề công việc nhưng chúng ta phải để tâm, nhận diện đúng nguồn gốc, bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, bởi nó liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, lợi ích quốc gia – dân tộc, cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của Nhân dân. Chúng ta không hề ngạc nhiên khi các thế lực thù địch tái lập “điệp khúc cũ”, tấn công trực diện vào các nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin, xoáy vào nguồn gốc ra đời, những cống hiến, giá trị khoa học, cách mạng của học thuyết này. Vì sao như vậy? Phải chăng các thế lực thù địch nhàn rỗi, gây chuyện mua vui? Ở đây ẩn chứa một âm mưu vô cùng thâm độc: Muốn phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phải bắt đầu từ sự xuyên tạc nền “gốc”, đó là sự ra đời, phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là những vấn đề căn cốt, đặc biệt quan trọng nhưng ở Việt Nam còn nhiều người hiểu biết chưa tường tận, chuyên sâu về vấn đề này nên rất dễ lừa gạt. Vì lẽ đó, các thế lực thù địch ra rả tuyên truyền về sự lỗi thời, lạc hậu của chủ nghĩa Mác – Lênin với nhiều luận cứ, thoạt nghe có vẻ thuyết phục, đó là chủ nghĩa Mác – Lênin xuất hiện đã cách chúng ta gần 2 thế kỷ nên đã cũ kỹ, lỗi thời, không còn phù hợp với thế kỷ XXI –  thời đại cách mạng công nghệ 4.0. Lý lẽ của họ là chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời ở châu Âu, dựa vào những tiền đề kinh tế, chính trị – xã hội; khoa học – công nghệ, lý luận và tư tưởng – văn hóa của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX của châu Âu nên đã là quá khứ. Với luận điểm này, họ lấy xuất phát điểm với tư cách là sự giáo đầu về mặt lý luận để thực hiện mưu đổ chính trị nhằm chuyển hóa Việt Nam con đường TBCN nhằm thu hút đông đảo sự ủng hộ của người dân. Nhìn vào chiều sâu của thủ đoạn này là hết sức nguy hiểm, không thể xem thường. Nó đã đi từ vấn đề “nền gốc” để lung lạc ý chí của người dân khi mà thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam và trên thế giới còn gặp nhiều khó khăn, trong khí đó CNTB đang “thay đổi” để thích nghi, phát triển và đạt được một số thành quả nhất định có sức hấp dẫn lớn, không thể phủ nhận.

 Vì lẽ đó, các thế lực thù địch cố tình chỉ ra sự bất cập của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam bằng cách nêu ra sự khác biệt căn bản của Việt Nam với châu Âu, luôn rùm beng la ó rằng, “chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết ngoại lai”, “ngoại đạo” do C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin sáng lập dựa trên nền tảng kinh tế – xã hội châu Âu, mà châu Âu khác Việt Nam, nên nó không cần cho Việt Nam. Từ đó, họ nêu ra lý lẽ, rằng C. Mác, Ph. Ăngghen là những người Đức, còn V.I. Lênin là người Nga; cả hai nơi ấyL nước Đức và nước Nga – chủ nghĩa Mác – Lênin và của CNXH khoa học không còn tồn tại, nó đã được đưa vào “bảo tàng lịch sử”, “chỉ còn lại là cái tên gọi, cái bóng của quá khứ”. Khuếch đại tính đặc thù của Việt Nam, các thế lực thù địch đã quy kết, vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam là “lực lượng bảo thủ, trì trệ”, rằng lý luận mà C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin “nặn ra hoàn toàn không phù hợp với điều kiện của Việt Nam, cho nên Đảng Cộng sản Việt Nam cần chấm dứt sự “hoài cổ”, dừng lại việc “khư khư bám giữ chủ nghĩa Mác – Lênin”, bởi lấy nó làm nền tảng tư tưởng là một sai lầm. Không thể thực hiện được mục đích, họ điên cuồng phản kháng, quy kết, buộc tội Đảng ta đã “kìm hãm sự phát triển của Việt Nam”, “kéo lùi lịch sử dân tộc” Trên cơ sở đó, đẩy mạnh đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch cho rằng, Hồ Chí Minh lựa chọn con đường đi lên CNXH của Người cho cách mạng Việt Nam là sai lầm, ảo tưởng; Việt Nam cần có lý luận khác mà thực chất là phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để dọn đường đón rước hệ tư tưởng tư sản vào Việt Nam, lái nước ta đi theo quỹ đạo của CNTB. Mặt khác, chỉ ra sự phát triển biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người trong điều kiện lịch sử mới, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chiếm vị trí thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam. Đó là lời kêu gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống; niềm vui, hạnh phúc của chúng ta đối với sứ mệnh bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới./.

 

Tái diễn luận điệu xuyên tạc nền báo chí cách mạng Việt Nam


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ về tính cách mạng của báo chí Việt Nam: “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ”. 98 năm qua, nền báo chí cách mạng Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, có những đóng góp lớn vào sự phát triển của đất nước.

 Lợi dụng dịp kỷ niệm 98 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, các đối tượng chống đối, cơ hội chính trị đã tung ra nhiều luận điệu sai trái, xuyên tạc đời sống báo chí tại Việt Nam. Vẫn những luận điệu cũ được rêu rao từ năm này qua năm khác, chúng “nhắm mắt nói liều” rằng “tự do báo chí tại Việt Nam bị chính quyền cấm cản”, “báo chí Việt Nam bị kiểm soát chặt”, “Việt Nam không có tự do báo chí”… Từ những thông tin sai lệch này, các đối tượng tự xưng “nhà dân chủ” đòi chính quyền phải thay đổi quy định về quản lý báo chí, “trả tự do cho báo chí” (?!).Lâu nay, các tổ chức như Phóng viên không biên giới (RSF); các đài BBC, RFA, RFI, VOA tiếng Việt và một số tổ chức, cá nhân phản động luôn tìm cách xuyên tạc, bịa đặt về tình hình tự do báo chí tại Việt Nam. Mới đây, RSF đã công bố cái gọi là báo cáo về “Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2023”. Trong bảng xếp hạng, RSF xếp ba nước đứng cuối bảng đều ở châu Á, trong đó xếp Việt Nam hạng 178. Về bảng đánh giá tự do báo chí World Press Freedom Index hằng năm được RSF đưa ra, không khó để thấy căn cứ đánh giá, xếp hạng của RSF không thuyết phục. Riêng đối với Việt Nam, RSF không có một nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể nào về tình hình báo chí. Đồng thời, tổ chức này cũng không sử dụng bất kì báo cáo nào của Chính phủ Việt Nam để đưa ra đánh giá. Trái lại việc RSF xếp loại tự do báo chí ở Việt Nam lại thường dựa vào những thông tin do số tổ chức, cá nhân phản động, thù địch, cơ hội chính trị, có các hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam cung cấp, do đó thông tin không khách quan, sai thực tế về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Năm nay, RSF vẫn xếp Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia đứng gần cuối trong “Bảng xếp hạng chỉ số tự do báo chí thường niên năm 2023”, tạo cớ để các tổ chức, cá nhân phản động triệt để sử dụng nhằm quy kết, chống phá Việt Nam. Tại Quyết định số 362/QĐ-TTg ngày 3/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 nêu rõ quan điểm: “Báo chí là phương tiện thông tin, công cụ tuyên truyền, vũ khí tư tưởng quan trọng của Đảng và Nhà nước, diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Những năm qua, cùng với sự bùng nổ của công nghệ truyền thông, nền báo chí nước ta cũng có sự phát triển nhanh chóng, góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, phát triển văn hóa và con người Việt Nam. Tự do báo chí, tự do ngôn luận là quyền cơ bản của mỗi công dân. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 của nước ta ghi nhận rõ: “công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Đồng thời, Luật Báo chí cũng nghiêm cấm các hành vi cản trở việc in, phát hành, truyền dẫn, phát sóng sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí hợp pháp tới công chúng; đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phóng viên; phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo, phóng viên hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật. Với hành lang pháp lý như trên, hoạt động báo chí ở nước ta đã có sự phát triển toàn diện. Xét trên phương diện số lượng, đến cuối năm 2022, nước ta có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí (bao gồm 327 tạp chí lý luận chính trị và khoa học và 72 tạp chí văn học nghệ thuật), 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Trong đó, có 6 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực là Báo Nhân dân, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân và Báo Công an nhân dân. Số lượng nhân sự đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí là gần 41.000 người, với 19.356 nhà báo đã được cấp thẻ. Nhiều vấn đề bất cập, gây bức xúc trong dư luận đã được báo chí phản ánh và các cơ quan có thẩm quyền đã kịp thời tiếp thu, giải quyết. Đặc biệt, trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, báo chí đã có những đóng góp vô cùng quan trọng, vừa góp phần phát hiện các vụ việc vi phạm, vừa đóng góp những ý kiến, giải pháp để hoàn thiện thể chế phòng, chống tham nhũng. Cùng các cơ quan báo chí trong nước, trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều cơ quan báo chí nước ngoài đã đặt văn phòng đại diện hoặc cử phóng viên thường trú tại Việt Nam. Ngoài ra, hiện có khoảng 57 kênh truyền hình nước ngoài được cung cấp trên dịch vụ truyền hình của Việt Nam. Rõ ràng, đời sống báo chí ở Việt Nam đang diễn ra hết sức sôi nổi. Các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được Đảng, Nhà nước tôn trọng vào bảo đảm. Đồng thời, việc thực hiện các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phải tuân thủ nghiêm theo đúng quy định của pháp luật. Mọi trường hợp lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để tiến hành các hoạt động chống phá chính quyền, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, xuyên tạc lịch sử, xúc phạm dân tộc, đe doạ đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; lợi dụng tự do báo chí để xúc phạm quyền, lợi ích  hợp pháp của cá nhân, tổ chức là vi phạm pháp luật và tùy mức độ, tính chất vi phạm mà bị xử lý chế tài tương ứng. Mọi hoạt động lợi dụng vỏ bọc báo chí để “bán nước cầu vinh”, chống phá nền hoà bình, ổn định của dân tộc đều phải bị lên án và xử lý nghiêm khắc. Những thông tin sai trái về tình hình báo chí của Việt Nam được các đối tượng xấu đưa ra đang đi ngược lại thực tế, nằm trong mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam.

 

Tin giả, tin sai sự thật núp bóng những câu chuyện cảm động, nhân văn

 


Công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ đã và đang là cơ hội để truyền thông lan tỏa, đó là một trong những điều kiện để mở rộng dân chủ. Thế nhưng, không ít tổ chức, cá nhân đã lợi dụng vấn đề này để tung tin thất thiệt, bịa đặt những tình tiết về các vụ việc hòng “câu view”, “câu like”, hướng lái dư luận và mục đích cuối cùng chính là nhằm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản; kiếm tiền từ mạng xã hội, thậm chí là chống phá Đảng, Nhà nước.

 

Còn nhớ trong đại dịch COVID-19, câu chuyện của vị bác sĩ tên Trần Khoa sau khi đăng tải trên mạng xã hội với nội dung về hình ảnh vị bác sĩ này đã rút máy thở của mẹ mình để nhường máy thở, sự sống cho sản phụ giường bên cạnh. Sau khi được đăng tải đã thu hút hàng triệu lượt “like”, chia sẻ, bình luận. Tuy nhiên, xác minh sự việc, cơ quan an ninh đã kết luận đây là những thông tin giả mạo và không có thật ở Việt Nam. Nhưng nhiều bình luận lại có quan điểm cho rằng đây là câu chuyện nhân văn, cần lan tỏa cũng không sao. Tuy vậy, bản chất của người đăng tải câu chuyện này lại không nhằm mục đích nhân văn mà chính là lợi dụng câu chuyện để thu hút cộng đồng, lòng tốt của mọi người để thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản và ai có lòng thương thì lại bị đặt sai chỗ, tiếp tay cho kẻ xấu. Nguy hiểm hơn việc đăng tải câu chuyện này gây ảnh hưởng xấu đến xã hội, gây hoang mang trong Nhân dân và có cái nhìn bi quan về tình hình dịch bệnh tại TP Hồ Chí Minh. Hay như tại Hà Nội xuất hiện câu chuyện được lan truyền chóng mặt trên mạng xã hội facebook. Người viết tự nhận là người trong cuộc và chia sẻ rằng buổi chiều vừa ăn cơm xong thì thấy một nam thanh niên ăn mặc rách rưới, dáng người yếu ớt, xiêu vẹo trước cửa. Nam thanh niên thều thào hỏi chủ nhà: “Cô còn chút cơm thừa canh cặn nào cho cháu ăn, cháu chết đói mất”. Chủ nhà hỏi chuyện thì cháu kể năm nay 18 tuổi, quê Thanh Hóa, đi làm phụ hồ cùng anh trai 21 tuổi, cả hai thuê trọ và từ hôm Hà Nội giãn cách đến nay đã tuần lễ nhưng không có miếng gì lót bụng. Cô chủ nhà thấy vậy liền pha mì tôm cho hai thanh niên và không quên tặng kèm ít gói nữa để đi đường. Ngay khi câu chuyện đăng tải kèm hình ảnh hai thanh niên ăn mì tôm (bức ảnh bị che mặt), hàng nghìn lượt chia sẻ và bình luận bày tỏ thương cảm.

Trong đại dịch, thực tế có rất nhiều câu chuyện thương cảm xảy ra và cũng đầy ắp tình người. Hình ảnh những người đi xin ăn vốn dĩ không hiếm nhưng đưa ra hoàn cảnh hai thanh niên thất thểu vào nhà xin “cơm thừa, canh cặn” lại là câu chuyện khác. Và sự thật đã hé lộ khi phần cuối người kể chuyện kết luận rằng: “Thủ tướng nói “Không để ai bị bỏ lại phía sau”, vậy mà ngay giữa Thủ đô lại để người dân cả tuần không có gì lót bụng”. Từ đó đưa ra lời lẽ phê phán, chỉ trích Chính phủ, cho rằng người dân đừng tin gì Chính phủ, chính quyền!. Thủ đoạn của các đối tượng xấu là tung những hình ảnh, những câu chuyện mà nghe qua tưởng như “tình người trong hoạn nạn”, từ đó đánh vào lòng trắc ẩn, sự thương xót, bi ai của con người trong đại dịch. Tuy vậy, đây chỉ là thủ đoạn “che mắt” bởi khi các đối tượng bịa đặt càng bi thương, càng xót xa thì càng lấy nước mắt nhân sinh để gieo thù hận lên chính quyền. Từ đó, các thế lực xấu sẽ lợi dụng những câu chuyện, hình ảnh bi đát này để bôi nhọ sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Theo các chuyên gia tại Trung tâm Xử lý tin giả Việt Nam (VAFC), tin giả được tung ra dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể nhằm vụ lợi nhưng cũng có thể chỉ để được lan truyền rộng khắp nhằm “câu view”, “câu like” trên mạng xã hội. Qua theo dõi và sàng lọc, VAFC phân loại các loại tin giả xuất hiện theo các nhóm thông tin gồm: Tin giả về y tế, sản phẩm y tế liên quan đến sức khỏe con người; tin giả về chính sách, pháp luật; kinh tế, tài chính; thiên tai, dịch bệnh; an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; tài khoản giả mạo; đường link lừa đảo và các lĩnh vực khác. Tùy theo mức độ, VAFC phân chia tin giả thành hai mức độ, gồm những thông tin không có thật, tin bịa đặt, vu khống và những thông tin có một phần sự thật nhưng không hoàn toàn chính xác, tin xuyên tạc, bóp méo sự thật; tin không có cơ sở được lan truyền trong xã hội và trên không gian mạng. Theo đó, không như quan niệm của một số người cho rằng tin giả chỉ mang nội dung tiêu cực thì hiện đang có xu hướng tin giả mang cả nội dung tích cực, nhân đạo và cũng đang được phát tán, lan truyền sâu rộng. Theo các cơ quan chức năng, không nằm ngoài xu thế chung của thế giới, mạng xã hội tại Việt Nam đang là “mảnh đất màu mỡ” giúp tin giả phát triển. Và nhiều ý kiến cảm thấy lo ngại khi nhiều tin giả ở Việt Nam khá đơn giản mà vẫn lừa được khá nhiều người, nhất là hiện nay trên các trang mạng xã hội vẫn liên tục xuất hiện những thông tin rất vô lý nhưng nhiều người vẫn xuýt xoa, phẫn nộ, mừng vui thật dễ dàng rồi còn kêu gọi bạn bè cùng trao đổi. Thực tế, trong bối cảnh thế giới ngày càng “phẳng”, không thể phủ nhận những tiện ích của mạng xã hội, nhưng cũng không loại trừ rất nhiều những rủi ro đã, đang và sẽ còn tiềm ẩn trên mạng xã hội. Bản chất của mạng xã hội không xấu, xấu hay không là ở chỗ, cách thức chúng ta đang sử dụng mạng xã hội như thế nào. Từ những thông tin đã nêu, cho thấy, giải pháp tuyên truyền, giáo dục nhận thức và kỹ năng để mỗi công dân trở thành một người dùng mạng xã hội thông thái, có “sức đề kháng” và khả năng phân biệt thông tin chính thống với thông tin giả mạo, bịa đặt là giải pháp cơ bản, quan trọng. Do vậy, đừng vội vàng chia sẻ, bình luận, lan truyền hình ảnh, thông tin chưa được kiểm chứng, nhất là dạng thông tin, hình ảnh chạm vào nỗi đau thương, mất mát, bi ai, trắc ẩn của con người bởi “khuất trong bóng tối” vẫn luôn có những kẻ xấu đang dùng chiêu bài tung tin giả đánh vào nhân tâm, vào nước mắt người dân nhằm gieo rắc tâm lý bất an và kích động chống phá đất nước.

 

Trí thức… mê muội!

 


Là người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội, trong mọi thời đại, đội ngũ trí thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, lực lượng nòng cốt, sáng tạo và truyền bá trí thức. Kể từ khi ra đời, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến nay, Đảng ta luôn coi trí thức là một bộ phận của lực lượng cách mạng, là một trong những nhân tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Tiếc thay, bên cạnh tuyệt đại đa số những trí thức có tâm, có tài, luôn nỗ lực đóng góp công sức, trí tuệ để xây dựng và phát triển đất nước vẫn nảy nòi ra những kẻ có ăn có học, mang danh học hàm học vị này nọ mà đầu óc mê muội, tâm địa đen tối, trở mặt theo đòi bè lũ phản động, chống phá Đảng, Nhà nước, phản quốc, hại dân…

 

Quốc gia hiếu học, luôn coi trọng tri thức, nhân tài, từ xa xưa ông cha ta đã quan niệm “phi trí bất hưng”. Năm 1484, Thân Nhân Trung đã khẳng định trên bia Tiến sĩ ở Quốc Tử Giám “Hiền tài là nguyên khí quốc gia,…”. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng trí thức. Người đã viết “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần có nhân tài”. Kế tục, phát triển truyền thống tốt đẹp này lên tầm cao mới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7, khóa X khẳng định, trong thời đại ngày nay, “cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển”. Từ chủ trương đúng đắn, nhân văn, mang tầm chiến lược này, thời gian qua đội ngũ trí thức ở nước ta tăng lên nhanh chóng cả về chất lượng và số lượng. Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm, chú trọng việc quy tụ tập hợp đội ngũ trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, chăm lo đào tạo đội ngũ trí thức là cán bộ khoa học, công nghệ, lãnh đạo, quản lý. Đội ngũ trí thức nước ta đã có vai trò quan trọng và tích cực trong việc cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần làm sáng tỏ con đường phát triển của đất nước và giải đáp những vấn đề mới phát sinh trong sự nghiệp đổi mới; sáng tạo những công trình có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, nhiều sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh; từng bước nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của đất nước, vươn lên tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới, làm động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực tiễn gần một thế kỷ qua đã khẳng định: Đảng ta luôn coi trí thức là một bộ phận của lực lượng cách mạng, là một trong những nhân tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Tuy nhiên, thật đáng buồn khi thời gian gần đây, một số đối tượng mang danh trí thức, từng làm việc trong các cơ quan nhà nước nhưng vị kỷ, bị kẻ xấu, các tổ chức phản động lôi kéo dẫn đến bất chấp đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bất chấp pháp luật, sử dụng không gian mạng phát tán nhiều thông tin sai lệch, công khai công kích, chống phá Việt Nam, cho rằng Đảng, Nhà nước “đàn áp trí thức”, kêu gọi “trở cờ”, đứng lên chống đối…

Mới đây, trang Fanpage Chân Trời Mới Media chuyên nghề phản động, xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam đã đăng tải bài viết của Mạc Văn Trang với tiêu đề “An ninh tư tưởng triệt phá giới trí thức”. Trong bài viết, người mang danh là PGS.TS đã “trở cờ” tuyên bố bỏ Đảng đã viện dẫn thông tin “50.000 nhà khoa học Nga đã bỏ nước ra đi” để quy chụp: “Thì ra ở đâu cũng vậy, khi chế độc độ tài dung túng cho lực lượng “AN NINH TƯ TƯỞNG” (Khoa giáo, an ninh mạng, An ninh nội địa, cho đến CA phường/xã) thấy ai viết cái gì họ cho là “nhạy cảm” là có quyền “mời làm việc” hoặc “đến gặp nói chuyện” để răn đe; ai viết gì đụng chạm đến “chế độ” là có thể quy tội “Tuyên truyền chống phá nhà nước”, bị tù đày.” Viện dẫn những vụ việc diễn ra trong lịch sử với góc nhìn lệch lạc của người “ăn phải bả dân chủ” chống đối, cơ hội, Mạc Văn Trang cho rằng: Thì ra chả có LUẬT PHÁP gì, an ninh thấy “nhạy cảm” là “xử lý”. Nhưng có ông to “bảo kê” thì thoát nạn. Quả là “vô pháp”!…” rồi đi đến kết luận: “Tóm lại, một khi chế độ độc tài toàn trị để cho “an ninh tư tưởng” lộng hành thì giới trí thức chỉ có lụn bại, văn hoá, khoa học xuống dốc. Đảng CSVN có bao nhiêu nghị quyết về “thu hút nhân tài”, kêu gọi trí thức Việt kiều về xây dựng đất nước, nhưng từ Ngô Bảo Châu đến bao nhiêu trí thức trẻ “lớn lên dưới mái trường XHCN” còn chả chịu ở lại trong nước, thì Việt kiều nào dám về?”. Thật khó có thể tưởng tượng một người ít nhiều có ăn học khi mang học hàm học vị này nọ, từng công tác trong ngành giáo dục, đã sống già đời người lại có suy nghĩ u mê, hàm hồ, loạn ngôn xúc phạm danh dự, uy tín của các cơ quan Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang đến như thế. Những vụ việc liên quan Lộc Vàng, Trần Mạnh Hảo, Trần Văn Thuỷ, Vũ Thư Hiên, Nguyên Ngọc, Nguyễn Duy, Nguyễn Đình Cống và mới đây là Đặng Tiến… mà Mạc Văn Trang cố ý đưa ra làm ví dụ, trên thực tế, đều có vấn đề về tư tưởng và việc xử lý, ít nhất là ở mức độ không đưa những tác phẩm của các cá nhân nêu trên vào sách giáo khoa hay báo chí là đúng đắn và cần thiết. Môi trường giáo dục cần lành mạnh, nhân văn, không thể để học sinh phải học sản phẩm của một tên phản động, trở cờ hay những phần tử chống đối, lưu vong, phản quốc, hại dân. Luật An ninh mạng ra đời là tất yếu khách quan xuất phát từ bối cảnh tình hình an ninh mạng trong nước và yêu cầu bảo vệ an ninh Quốc gia, bí mật Nhà nước, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, phù hợp với thông lệ quốc tế và quy định của Hiến pháp. Luật An ninh mạng không cấm hoặc ngăn cản quyền tự do ngôn luận, quyền bày tỏ quan điểm của công dân mà chỉ nghiêm cấm thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Đảng ta luôn nhấn mạnh quan điểm nhất quán là lấy “Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nòng cốt” trong lực lượng cách mạng toàn dân. Tuy nhiên, để bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng Đảng vững mạnh, đất nước phát triển, dân tộc trường tồn thì cần dứt khoát đấu tranh, xử lý nghiêm minh những phần tử mang danh trí thức mà đầu óc mê muội, tâm địa đen tối.

 

VOA lại nói càn

 

Nhiều năm qua, Đài Tiếng nói Hoa Kỳ – VOA giống như một cái loa rách chuyên nói càn. Xét về ngữ nghĩa và căn cứ theo từ điển tiếng Việt, hành động nói càn tức là nói bừa, nói ẩu, nói bậy mà không kể đến phải hay trái, nên hay không nên. Và để khuyên những người nói năng thiếu suy nghĩ, ông bà xưa đã dạy: Ăn có thể bậy, nhưng nói thì không được bậy, kẻo gây họa cho chính mình. Thế nhưng, với bản chất phản động, hận thù của những kẻ gian manh, dối trá, VOA đã giẫm đạp lên sự thật bằng việc dùng lời nói để lấp liếm, che đậy sự thiếu trung thực của mình.

Bằng chứng là mới đây, trên trang facebook của đài này đã phát tán bài viết với tựa đề: Nhà hoạt động môi trường Đặng Đình Bách tuyệt thực phản đối bản án – 80 tổ chức quốc tế kêu gọi trả tự do cho ông. Nội dung bài viết nêu trên có đoạn: Hơn 80 tổ chức quốc tế tranh đấu vì nhân quyền và công bằng khí hậu từ khắp nơi trên thế giới vừa ký một thỉnh nguyện thư kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do ngay lập tức cho luật sư môi trường Đặng Đình Bách, người được cho là sẽ tuyệt thực từ ngày 24-6-2023. Bức thư cho biết, ông Đặng Đình Bách đang thụ án 5 năm tù tại Việt Nam về tội trốn thuế ngụy tạo sau khi vận động cho phong trào chống điện than của đất nước mình. Đồng thời, nhóm này cũng vận động chiến dịch tuyệt thực kéo dài 1 tháng để tiếp sức với ông. Khôi hài và lố bịch hơn, VOA còn “tát nước theo mưa”, vào hùa với trò hề mang tên “thỉnh nguyện thư” của những kẻ chuyên sống bằng nghề “thương vay, khóc mướn”. Và để đạt được mục đích đen tối của mình, VOA đã bất chấp mọi thủ đoạn từ thâm độc đến bỉ ổi nhất. Cụ thể là trong bài viết nêu trên, VOA đã đưa ra khẳng định hết sức nhố nhăng: Chính phủ Việt Nam tự cam kết đạt mức thải ròng bằng không vào năm 2050 và chấp nhận tiêu tốn 15,5 tỷ đôla Mỹ để chuyển đổi sang năng lượng sạch. Nhưng điều này sẽ không thực hiện được nếu những người lãnh đạo về khí hậu như ông Bách bị cho vào tù… Ông Bách là 1 trong 4 thành viên của Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam đã bị bỏ tù, điều này cho thấy một khuynh hướng đang diễn ra và rất đáng quan ngại. Chưa hết, VOA còn lớn tiếng kêu gọi “các luật sư nhân quyền và những người bảo vệ môi trường trên toàn thế giới là đứng lên bảo vệ đồng nghiệp của chúng ta ở Việt Nam. Việc bày tỏ sự đoàn kết này cực kỳ quan trọng đối với tương lai của khu vực và hành tinh… Một quá trình chuyển đổi năng lượng công bằng sẽ không thể thành công với những người như Bách đang ngồi tù. Vì thế, các tổ chức quốc tế hãy đồng thanh đứng lên bày tỏ sự đoàn kết với ông Bách thông qua phản đối ôn hòa và kêu gọi trả tự do cho ông, cũng như chấm dứt hành động trả đũa của chính phủ khi các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam và trên thế giới đang thúc đẩy nhân quyền và công bằng môi trường”. Cũng với kiểu tư duy không có não, VOA còn kêu gào tất cả chính phủ, cùng các tổ chức đa phương và các tổ chức khác đầu tư vào quá trình chuyển đổi năng lượng ở Việt Nam rằng, hãy kiên quyết yêu cầu trả tự do cho ông Bách. Mặc dù chỉ là cơ quan làm dịch vụ truyền thông đối ngoại của Chính phủ Hoa Kỳ, vậy VOA lấy tư cách gì mà can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền là Việt Nam? Và từ lâu nay dư luận cũng như cộng đồng mạng xã hội ở Việt Nam luôn đặt ra câu hỏi rằng: Đặng Đình Bách là người Việt Nam đã vi phạm pháp luật và bị xử lý đúng người, đúng tội nhưng lại được VOA quan tâm, ưu ái một cách quá lố đến vậy?  Câu trả lời thật quá đơn giản, đã là “ngưu thì ắt phải tầm ngưu”, là “mã thì ắt sẽ phải tầm mã”. Và thâm độc hơn, tinh vi và xảo quyệt hơn là VOA đã đồng lõa với các tổ chức phản động, khủng bố rồi núp dưới chiêu bài đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền để chống phá Nhà nước Việt Nam. Trong khi đó, ngày 11-8-2022, Đặng Đình Bách, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu pháp luật và chính sách phát triển bền vững (LPSD), đã bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội tuyên án 5 năm tù giam về tội trốn thuế. Theo cáo trạng công khai tại tòa, LPSD là tổ chức khoa học – công nghệ do Bách thành lập và hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, triển khai các đề tài, dự án thuộc lĩnh vực pháp luật và chính sách phát triển bền vững, thực hiện các dịch vụ khoa học và công nghệ về pháp luật và chính sách phát triển bền vững. Trong quá trình hoạt động, Bách đã liên hệ với các tổ chức nước ngoài, đàm phán nhận khoản tiền tài trợ để triển khai thực hiện các chương trình, dự án. Tuy nhiên, khi nhận tài trợ, LPSD không làm thủ tục xin phê duyệt, không được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định. Từ năm 2016-2020, trung tâm này đã nhận số tiền hơn 10 tỷ đồng từ các tổ chức trong nước và nước ngoài thanh toán hợp đồng dịch vụ, tài trợ cho trung tâm. Cơ quan tố tụng xác định, Đặng Đình Bách có hành vi trốn thuế hơn 1,38 tỷ đồng. Thế nhưng tại phiên phúc thẩm, Bách tiếp tục quanh co chối tội, phủ nhận việc trốn thuế bằng cách đổ lỗi cho cấp dưới là nhân viên kế toán đã tự ý thực hiện các hành vi nêu trên. Là người am hiểu pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của trung tâm, nhưng bị cáo Bách đã tự “bào chữa” hết sức ngây ngô và vô cùng phi lý.  Kết thúc phiên tòa, bị cáo Bách không những phải nhận bản án 5 năm tù mà y còn phải nộp hơn 1,38 tỷ đồng tiền trốn thuế. Đó là cái giá của hiểu luật nhưng lại cố tình vi phạm pháp luật. Vậy nên dư luận và cộng đồng mạng ở Việt Nam đã có lời khuyên rất chân tình đối với VOA rằng, đừng mở lời bênh vực hay lên án bất cứ ai nếu không hiểu về họ. Đừng phán xét bất cứ chuyện gì nếu không hiểu rõ căn nguyên của vấn đề. Vì ở đời, phàm những kẻ “ăn gian, nói dối”, nói năng gàn dở hoặc nói càn, nói bậy đều chẳng những không được người đời yêu thích, tin tưởng mà còn bị coi thường.

 

Yêu cầu phi lý, ảo tưởng viển vông

 


Quốc gia độc lập có chủ quyền, có hệ thống luật pháp phù hợp với hệ thống pháp luật quốc tế, tại Việt Nam, mọi công dân, tổ chức đều bình đẳng trước pháp luật. Bất kể công dân nào, đã có hành vi vi phạm pháp luật đều bị xét xử theo quy định hiện hành, không ai có thể đứng trên hay đứng ngoài pháp luật. Mọi sự can thiệp của các tổ chức ngoại bang đều vô nghĩa, vô tác dụng. Ai cũng biết, cũng hiểu điều này, thế nhưng mỗi khi có đối tượng bị xét xử do có hành vi “tuyên truyền chống phá Nhà nước” là sẽ lại có những cá nhân, tổ chức dù không liên quan nhưng vẫn mượn danh “dân chủ, nhân quyền” lớn giọng la lối đòi “thả tự do”, “phóng thích” cho những “tù nhân lương tâm”.

 

Sáng 25/5, Tòa án Nhân dân thành phố Đà Nẵng đã đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và tuyên phạt 5 năm 6 tháng tù đối với bị cáo Bùi Tuấn Lâm (tên khác là Peter Lam Bui), sinh ngày 6/5/1984, trú tại phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Trước đó, Bùi Tuấn Lâm bị Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo điểm a, b Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Hình sự. Theo cáo trạng, trong thời gian từ ngày 20/4/2019 đến ngày 7/9/2022, Bùi Tuấn Lâm đã có hành vi soạn thảo, đăng tải 19 bài viết lên tài khoản mạng xã hội Facebook cá nhân “Peter Lam Bui” và 25 video, bài viết lên tài khoản mạng xã hội Youtube (do Lâm tạo ra, quản lý, sử dụng) với nội dung không đúng sự thật, bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ, phỉ báng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phiên tòa diễn ra theo đúng quy trình tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Tuấn Lâm đã thừa nhận các hành vi trên. Qua tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ quy định pháp luận hiện hành, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt bị cáo Bùi Tuấn Lâm 5 năm 6 tháng tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và phạt quản chế 4 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Trước khi Bùi Tuấn Lâm bị bắt, kết án, công an thành phố Đà Nẵng cùng chính quyền địa phương đã nhiều lần nhắc nhở, giáo dục, cảnh báo nhưng y luôn bày tỏ thái độ bất hợp tác và ngày càng quyết liệt chống phá. Bản án là kết cục tất yếu, cái giá phải trả cho chuỗi quá trình hoạt động vi phạm pháp luật và chống phá Nhà nước với ảo tưởng lật đổ, thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Vi phạm pháp luật thì sẽ phải bị xử lý theo quy định, đây là điều hiển nhiên ở các quốc gia thượng tôn pháp luật như Việt Nam cũng như các nước văn minh, tiến bộ trên thế giới. Vậy mà không hiểu sao từ khi Bùi Tuấn Lâm bị khởi tố, bắt tạm giam đến lúc đưa ra xét xử, vẫn có những tổ chức, cá nhân lu loa kêu gọi “thả tự do”, “phóng thích” cho kẻ vi phạm pháp luật, chống phá Nhà nước. Hai ngày trước khi diễn ra phiên toà xét xử, tổ chức Ân Xá Quốc tế (Amnesty International-AI) ra “kêu gọi yêu cầu Việt Nam bãi bỏ cáo buộc “Tuyên truyền chống Nhà nước” đối với nhà hoạt động Bùi Tuấn Lâm”. Theo chúng, “hồi tháng 11/2021, ông Lâm bị Công an Thành phố Đà Nẵng triệu tập để làm việc về video mà ông này nhại theo hành động rắc muối của đầu bếp Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng Nurset GoKce, có biệt danh, “Salt Bae”…”. Cũng với luận điệu xuyên tạc, chĩa mũi dùi công kích với chính quyền Việt Nam, tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) hôm 24/5 “kêu gọi thả tự do cho ông Bùi Tuấn Lâm và bỏ hết mọi bản án nhắm vào ông Lâm”. Tất nhiên, chúng chẳng quan tâm gì đến quyền lợi, sức khoẻ, tự do của Bùi Tuấn Lâm hay các đối tượng “đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “tù nhân lương tâm” nào khác, mục đích ẩn sau những mỹ từ cao đẹp kia là âm mưu kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết, chống phá Đảng, chính quyền Việt Nam. Hoàn toàn vô nghĩa, vô giá trị, những “kêu gọi, yêu cầu” phi lý đến nực cười này chỉ phơi bày rõ hơn bản chất, âm mưu thâm độc để cộng đồng nhận diện, đấu tranh lên án.

 

VIỆT NAM NỖ LỰC BẢO ĐẢM AN NINH LƯƠNG THỰC TOÀN CẦU


Ngày 3-8, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã tổ chức Phiên thảo luận mở về “Nạn đói và mất an ninh lương thực do ảnh hưởng của xung đột” dưới sự chủ trì của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken (Chủ tịch Hội đồng Bảo an tháng 8-2023) với sự tham dự và phát biểu của đại diện hơn 80 nước thành viên Liên hợp quốc.
Phát biểu tại cuộc họp, diễn giả từ một số tổ chức quốc tế và đại diện các nước đánh giá thế giới đang đối mặt với nguy cơ mất an ninh lương thực do tác động đan xen của các yếu tố an ninh truyền thống và phi truyền thống, như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, xung đột vũ trang...
Về giải pháp, các ý kiến cho rằng cần tăng cường vai trò của Liên hợp quốc, nhất là Hội đồng Bảo an, trong việc ngăn ngừa xung đột, tăng cường hệ thống cảnh báo sớm về nguy cơ mất an ninh lương thực, củng cố hệ thống lương thực toàn cầu theo hướng bền vững hơn, bảo đảm khả năng tiếp cận lương thực của dân thường trong xung đột.
Phát biểu tại Phiên thảo luận, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc nhấn mạnh, các báo cáo gần đây và thảo luận tại Hội nghị Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) lần thứ 43 diễn ra tại Rome (Italy) tháng 7 vừa qua cho thấy thế giới đang phải đối mặt với thách thức ngày càng lớn về an ninh lương thực.
Trong khi hầu hết các lĩnh vực đã phục hồi ở mức độ khác nhau sau đại dịch, tình trạng mất an ninh lương thực tiếp tục là vấn đề nan giải ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là các khu vực có xung đột. Do đó cần có cam kết và nỗ lực chung mạnh mẽ hơn của cộng đồng quốc tế để chấm dứt vòng luẩn quẩn giữa xung đột và đói nghèo.
Nhấn mạnh cách hiệu quả nhất để ngăn ngừa nạn đói tại các vùng xung đột là ngăn chặn bạo lực và xây dựng hòa bình, Đại sứ Đặng Hoàng Giang cho rằng Hội đồng Bảo an cần đóng vai trò hiệu quả hơn trong giải quyết nguyên nhân gốc rễ của xung đột, qua đó giảm thiểu rủi ro mất an ninh lương thực do xung đột.
Đại diện Việt Nam kêu gọi các bên trong xung đột tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, đặc biệt là luật nhân đạo quốc tế, không phá hủy cơ sở hạ tầng thiết yếu đối với sự sống của dân thường, nhất là phụ nữ và trẻ em, như quy định tại Nghị quyết 2573 do Việt Nam đề xuất khi làm Chủ tịch Hội đồng Bảo an tháng 4-2021. Đồng thời, Hội đồng Bảo an cần phối hợp chặt chẽ hơn với các cơ quan chuyên môn như FAO, Chương trình Lương thực thế giới (WFP) và các đối tác quốc tế để giải quyết nạn đói ở các khu vực xung đột, hợp tác với các tổ chức khu vực để tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống lương thực và bảo đảm chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đại sứ Đặng Hoàng Giang khẳng định an ninh lương thực vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, trong đó ưu tiên phát triển nông nghiệp ít phát thải và có khả năng chống chịu tác động của biến đổi khí hậu, mong muốn đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo về lương thực trong khu vực.
Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh Việt Nam cam kết tiếp tục đóng góp tích cực cho an ninh lương thực toàn cầu, thông qua duy trì xuất khẩu gạo và các nông sản khác một cách ổn định; sẵn sàng cùng cộng đồng quốc tế giải quyết tình trạng mất an ninh lương thực do tác động của xung đột.

MỘT SỐ NHẬN THỨC VỀ HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA

 

Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang đổi mới theo hướng hiện đại và hội nhập sâu rộng, khi con đường phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao đã được xác định rõ, các vấn đề về giá trị, hệ giá trị văn hoá được đặt ra và nói tới hằng ngày trong các diễn ngôn chính trị, văn hoá, xã hội, đặc biệt là xuất hiện thường xuyên và liên tục trong các văn kiện, nghị quyết quan trọng của Đảng trong hơn hai thập kỷ qua.
1. Giá trị, hệ giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra trong quá trình tương tác với tự nhiên, xã hội, sự sáng tạo này là liên tục và đến lượt mình - hệ giá trị văn hoá - lại trở thành yếu tố cơ sở, nền tảng, chuẩn mực chi phối phương châm, triết lý sống cũng như từng hành vi của con người. Như vậy, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của hệ giá trị văn hoá.
Giá trị, hệ giá trị văn hoá được hình thành trên cơ sở học (văn hoá hoá), con người được dạy bằng nhiều con đường khác nhau và thông qua trải nghiệm trực tiếp của các cá nhân. Các cá nhân nhập tâm hoá hệ giá trị thông qua việc học/trải nghiệm này và các giá trị khi được nhập tâm trở thành tập tính (hành động, lựa chọn…) mà không phản tư tại sao lại hành động/lựa chọn như vậy, ví dụ như thắp hương ngày rằm, mùng một; mời nhau trước khi ăn cơm, dùng đũa khi ăn...
Với cách hiểu như vậy, giá trị, hệ giá trị văn hoá có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hiện thực hoá mục tiêu “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; “Xây dựng hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” mà Đảng ta đã đề ra.
2. Hệ giá trị được xem là cốt lõi, là nền tảng tạo nên diện mạo một nền văn hoá, bản sắc văn hoá. Chính vì vậy, hiểu về các đặc điểm, tính chất của hệ giá trị văn hoá là cần thiết và giúp nhìn nhận rõ hơn về bản chất cùng những chiều tương tác của hệ giá trị trong các bối cảnh, môi trường cụ thể.
Một là, hệ giá trị văn hoá luôn tồn tại là một hệ thống hay tạo nên hệ thống với nhiều yếu tố cấu thành. Bản thân hệ giá trị đã là sự kết nối, tổng hoà của nhiều giá trị, ví dụ hệ giá trị nhân ái bao gồm một chuỗi các yếu tố/giá trị cấu thành như đoàn kết, tương trợ, yêu thương, cảm thông, chia sẻ,… hay hệ giá trị vạn vật hữu linh là sự kết hợp của nhiều yếu tố/giá trị như niềm tin, đa thần, linh hồn, thiêng, hồn, vía, thờ cúng,… Trong hệ thống này, các yếu tố/giá trị không tồn tại riêng rẽ nhau mà luôn gắn kết với nhau, bổ trợ nhau tạo nên những mối quan hệ, những chiều tương tác trong một tổng thể hệ giá trị.
Tính hệ thống khiến cho hệ giá trị vừa có những liên kết nội tại song cũng vừa có những sự kết hợp với những hệ giá trị khác để cấu thành nên những tổng thể lớn hơn. Ví dụ, hệ giá trị nhân ái kết hợp với hệ giá trị anh hùng, dũng cảm, yêu nước tạo nên hệ giá trị ở quy mô lớn hơn, của cả một cộng đồng tộc người hay quốc gia...
Hai là, hệ giá trị mang tính tương đối khi chúng ta trải nghiệm một thực tế là mỗi một nền văn hoá đều có hệ giá trị riêng. Theo đó, mỗi cộng đồng, tộc người, mỗi nhóm xã hội đều có hệ giá trị riêng mà những hệ giá trị ấy được hình thành và duy trì, phát triển trong điều kiện cụ thể và đặc thù của chính cộng đồng tộc người hay nhóm xã hội đó. Vì vậy, khi nhìn nhận, đánh giá về bất cứ một giá trị, hệ giá trị nào cũng cần đặt nó trong bối cảnh sinh thái, lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của nó.
Mỗi cá nhân có thể lựa chọn giá trị hay chính là lựa chọn phương châm sống, triết lý sống cho mình hoàn toàn khác với cá nhân khác hoặc khác với số đông. Do điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử cũng như điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội khác nhau nên quá trình sáng tạo văn hoá ở mỗi cộng đồng, quốc gia là khác nhau và hệ giá trị được hình thành và vận hành trong các cộng đồng, quốc gia đó cũng theo các quá trình và phương thức khác nhau. Kết quả là những giá trị hệ giá trị được biểu hiện ra không giống nhau. Ví dụ, giá trị làng Việt truyền thống Bắc bộ là khép kín kiểu “trong họ ngoài làng”, cố kết, co cụm trong khi làng Việt Nam bộ lại mở, phóng khoáng, năng động; giá trị canh tác nông nghiệp truyền thống Bắc bộ là thâm canh, trong khi ở Nam bộ là quảng canh. Giá trị ứng xử của người Việt vùng châu thổ Bắc Bộ là coi trọng mồ mả, ngày giỗ trong khi nhiều dân tộc thiểu số bỏ mồ mả, không làm giỗ...
Chính vì hệ giá trị văn hoá mang tính tương đối, nên khó có thể có một hệ giá trị văn hoá nào có thể thống trị và trở thành hệ giá trị mang tính định hướng cho toàn bộ xã hội. Sự khác nhau, sự mở rộng, bổ sung, thay thế hay mâu thuẫn, trái ngược nhau trong sự tồn tại của hệ giá trị văn hoá đều là bình thường và hợp quy luật.
Ba là, mỗi vùng sinh thái, vùng văn hoá, mỗi địa phương, tộc người, nhóm người sáng tạo và duy trì các hệ giá trị văn hoá khác nhau tạo nên tính đa dạng của hệ giá trị văn hoá ở Việt Nam. Sự đa dạng luôn thể hiện ở đủ các góc cạnh, phương diện của hệ giá trị văn hoá, cả trong điều kiện hình thành và trong quá trình sáng tạo, duy trì, phát triển, bổ sung, bồi đắp, làm mới các hệ giá trị, trong các mối quan hệ tương tác, tiếp nối, kế thừa của các hệ giá trị và trong cả sự giao lưu, tiếp biến văn hoá giữa các hệ giá trị qua các thời kỳ.
Hệ giá trị văn hoá được hình thành và bồi đắp từ nhiều nguồn khác nhau (từ truyền thống văn hoá, từ truyền thông đại chúng, từ những cá nhân trong vai trò là những biểu tượng,…) và bằng nhiều con đường khác nhau (qua môi trường gia đình, xã hội, qua giáo dục trong nhà trường và qua các trải nghiệm cá nhân...). Vì vậy, hệ giá trị văn hóa luôn đa dạng, đa chiều và đa ý nghĩa.
Hệ giá trị luôn tồn tại trong sự đa dạng khi một nhóm, một cộng đồng, một tộc người, một quốc gia có thể tồn tại nhiều hệ giá trị khác nhau tạo ra nhiều chuẩn mực, triết lý sống khác nhau mà mỗi chuẩn mực, triết lý lại có cách vận hành riêng để tồn tại và chi phối cuộc sống con người...
Có thể khẳng định rằng, đa dạng giá trị, đa dạng nguồn hình thành giá trị, đa dạng cách vận hành giá trị, đa dạng ý nghĩa, đa dạng hình thức thể hiện giá trị là những đặc điểm nổi bật khi nhìn vào hệ giá trị văn hoá.
Bốn là, do hệ giá trị là tương đối và đa dạng nên không có một hệ giá trị nào tồn tại mãi mãi mà luôn có sự thay đổi, thay thế, bổ sung hay sáng tạo mới; cũng không có sự đồng nhất trong hệ giá trị mà các hệ giá trị luôn tồn tại đa dạng, đan cài nhau trong các mối quan hệ tương tác, tương liên, với những sự kết nối chặt chẽ và đa chiều.
Vì hệ giá trị văn hoá luôn thay đổi theo sự thay đổi của lịch sử, của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị xã hội nên các hệ giá trị đã từng tồn tại trong truyền thống có thể không còn tồn tại trong hiện tại hoặc vẫn tồn tại nhưng đã có sự thay đổi về nội hàm hay sự mở rộng về trường nghĩa, sự thay thế về cách biểu đạt. Ví dụ, giá trị chuẩn mực của người phụ nữ truyền thống là “công, dung, ngôn, hạnh”, trong xã hội đương đại đã có sự thay đổi theo những giá trị chuẩn mực mới như: trí tuệ, năng động, sáng tạo, khéo léo, linh hoạt,… Giá trị chuẩn mực của mối quan hệ con cái với cha mẹ trong gia đình truyền thống là: quyền của cha mẹ, bổn phận của con cái, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, trong xã hội đương đại chuẩn mực này đã thay đổi theo hướng quyền của con cái, bổn phận của cha mẹ, cha mẹ không áp đặt mà tôn trọng lựa chọn của con cái,… Giá trị yêu nước, theo thời gian và đặc thù lịch sử, đã luôn được tích hợp, thay đổi, bổ sung những trường nghĩa mới, khi đất nước bị xâm lược, yêu nước là tham gia chiến đấu đánh đuổi giặc ngoại xâm, thời kỳ tái thiết đất nước, yêu nước là dốc sức xây dựng đất nước, đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, thời kỳ đổi mới yêu nước là làm giàu cho đất nước và hiện nay giá trị yêu nước được bổ sung nhiều trường nghĩa mới như: “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là yêu nước, hay trong cuộc chiến chống dịch bệnh COVID-19 “ở nhà là yêu nước”...
Hệ giá trị không bất biến mà luôn thay đổi, song sự thay đổi này không triệt để theo hướng là thay thế, xoá bỏ mà các hệ giá trị có thể song song tồn tại, vừa duy trì các giá trị truyền thống, vừa sáng tạo các giá trị mới, các giá trị mới có thể kế thừa, hội nhập, tích hợp các giá trị truyền thống. Chính vì thế, các hệ giá trị không đồng nhất mà mỗi hệ giá trị có “toạ độ” riêng trong đời sống xã hội, chuyển tải những trường nghĩa của cộng đồng, nhóm, tộc người, quốc gia sản sinh ra và nuôi dưỡng nó. Hiện nay, nhiều hệ giá trị truyền thống đã thay đổi theo hướng thích ứng với bối cảnh mới, nhiều hệ giá trị mới đang được hình thành và vận hành trong xã hội như dân chủ, bình đẳng, hội nhập, khoan dung, cạnh tranh...
Năm là, vì hệ giá trị văn hoá rất đa dạng, mang tính tương đối, không bất biến, không đồng nhất nên hệ giá trị văn hoá tồn tại ở nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau, có hệ giá trị mang tính chung, tính phổ quát, có hệ giá trị mang tính riêng, tính đặc thù của từng nhóm, từng cộng đồng, từng tộc người, từng quốc gia, có hệ giá trị tồn tại trong một không gian rộng, một thời gian dài với số đông người lựa chọn nhưng cũng có hệ giá trị lại chỉ tồn tại trong một không gian hẹp, một thời gian ngắn với chỉ một nhóm người lựa chọn.
Các hệ giá trị mang tính phổ quát thường được nhắc tới là chân, thiện, mỹ, là yêu nước, nhân ái, đoàn kết, khoan dung, sáng tạo... Những hệ giá trị này thường được đông đảo các nhóm, cộng đồng, tộc người, quốc gia chia sẻ, điều đó có nghĩa những hệ giá trị này có ở nhiều nền văn hoá song nội hàm, trường nghĩa cùng sự sắp đặt theo tầm quan trọng của các hệ giá trị này lại có sự khác nhau giữa các nhóm, cộng đồng, tộc người, quốc gia và đây chính là tính đặc thù của hệ giá trị văn hoá.
Tính phổ quát của hệ giá trị khiến cho văn hoá Việt Nam có thể chia sẻ, hội nhập, đối thoại dễ dàng với nền văn hoá thế giới, trong khi đó tính đặc thù của hệ giá trị lại khiến cho văn hoá Việt Nam “hội nhập mà không hoà tan”, giữ được hồn cốt dân tộc, làm giàu bản sắc văn hoá. Tính phổ quát và tính đặc thù của hệ giá trị không tạo ra mâu thuẫn mà cùng tồn tại như hai mặt của một vấn đề, một giá trị riêng lẻ cũng có thể vừa có tính phổ quát, vừa có tính đặc thù và chính thuộc tính này lại thúc đẩy mạnh mẽ hơn tính đa dạng và tương đối của hệ giá trị văn hoá.
3. Hệ giá trị văn hoá hình thành trong tư duy của con người, thể hiện ra bằng triết lý, chuẩn mực, phương châm sống và có chức năng cơ bản là định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vi cũng như những quan hệ xã hội, theo đó hệ giá trị là một hệ thống phức tạp của những chiều tương tác, quan hệ, tác động, ảnh hưởng, du nhập, giao lưu...
Trong bối cảnh xã hội đương đại với sự gia tăng của toàn cầu hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, hệ giá trị văn hoá ở Việt Nam ngày càng trở nên phức tạp với sự cùng tồn tại của hệ giá trị truyền thống, hệ giá trị mới, hệ giá trị phổ quát, hệ giá trị đặc thù, hệ giá trị cốt lõi, hệ giá trị phái sinh... Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, xung đột giá trị, thậm chí khủng hoảng giá trị, “sốc” giá trị cũng đã xảy ra càng làm gia tăng thêm tính phức tạp nhưng cũng làm lộ rõ sự cần thiết nhìn nhận lại việc xây dựng hệ giá trị văn hoá hiện nay.
Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII với Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (1998) đã ghi dấu mốc quan trọng khi đề cập đến giá trị văn hoá, khẳng định sự cần thiết phải “sáng tạo nên những giá trị văn hoá mới”. Từ đây, vấn đề giá trị, hệ giá trị văn hoá luôn được đề cập trong các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng - từ Đại hội IX đến Đại hội XIII.
Qua văn kiện của các kỳ Đại hội và Cương lĩnh xây dựng đất nước qua các thời kỳ, Đảng ta đã từng bước định hình rõ nhiệm vụ sáng tạo, hoàn thiện, đúc kết, nghiên cứu, triển khai xây dựng hệ giá trị văn hoá. Theo đó, hệ giá trị văn hoá mang tính khái quát được đề cập là: Dân tộc, Nhân văn, Dân chủ, Pháp quyền và Khoa học và 7 đặc tính cơ bản được xác định là những chuẩn mực giá trị của con người Việt Nam: Yêu nước, Nhân ái, Nghĩa tình, Trung thực, Đoàn kết, Cần cù, Sáng tạo.
Hệ giá trị văn hoá là một phương diện quan trọng của một nền văn hoá và thể hiện rõ nhất bản sắc văn hoá. Hệ giá trị văn hoá đã và đang được thực hành đa dạng, sống động trong đời sống xã hội, việc gọi tên, đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hoá là vô cùng quan trọng, giúp cho chúng ta có những nhìn nhận bao quát hơn, đầy đủ hơn và phát huy được hiệu quả hơn chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh của hệ giá trị văn hoá. Hơn nữa, việc xây dựng hệ giá trị văn hoá còn thể hiện mong muốn, khát vọng của chúng ta về những hệ giá trị tốt đẹp sẽ được thực hành phổ biến tạo nên sự phát triển phồn vinh và bền vững cho xã hội.
Từ góc độ nghiên cứu về văn hoá và con người Việt Nam, đã có nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam. Các giá trị, hệ giá trị được các nhà nghiên cứu xem là những giá trị, hệ giá trị truyền thống, đã có sẵn trong văn hoá, con người Việt Nam mà họ chỉ tổng kết lại, chỉ rõ ra và phân tích những biểu hiện của chúng.
Trong bối cảnh hiện nay, khi Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những hệ giá trị cần xây dựng để phù hợp với bối cảnh xã hội đương đại. Chẳng hạn như, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm nhấn mạnh hệ giá trị định hướng cốt lõi hiện nay gồm: Dân chủ và Pháp quyền; Nhân ái và Yêu nước; Trung thực và Bản lĩnh; Trách nhiệm và Hợp tác. Trong công trình xuất bản gần đây, tác giả Nguyễn Ngọc Thiện và Từ Thị Loan đề xuất hai phương án xác định hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam, phương án thứ nhất gồm 5 giá trị (Yêu nước, Trách nhiệm, Kỷ luật, Sáng tạo, Trung thực); phương án thứ hai gồm 7 giá trị (Yêu nước, Trách nhiệm, Kỷ luật, Sáng tạo, Trung thực, Đoàn kết, Nhân ái)...
Có thể nhận thấy, cả tên gọi các hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam được xem là đã có sẵn và các hệ giá trị được xác định là cần xây dựng đều là các mỹ từ, nghe rất hay, rất quen thuộc, tạo cảm giác như chúng ta đã có hết rồi song thực tế lại không hẳn như vậy. Dường như những khái quát này vẫn chưa ghi nhận/phản ánh được những hệ giá trị văn hoá đa dạng mà các nhóm địa phương, tộc người trên cả nước đang thực hành trong thực tế cuộc sống thường ngày của họ. Điều này khiến cho các hệ giá trị văn hoá được xác định vẫn chưa thực sự gắn với thực tiễn, chưa đi vào cuộc sống mà chủ yếu tồn tại trên sách vở, trong các văn bản chính sách, trên các diễn đàn và các diễn ngôn truyền thông, tuyên truyền.
Hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực giá trị con người Việt Nam mà Đảng ta xác định chính là xác định việc xây dựng để có được những hệ giá trị đó, là khát vọng, là mục tiêu muốn đạt được mà không phải là những hệ giá trị có sẵn hay đang được thực hành phổ biến trong cả xã hội.
Nếu hiểu rõ hệ giá trị văn hoá mang tính hệ thống với nhiều yếu tố cấu thành và các yếu tố cấu thành này luôn gắn kết với nhau theo những trật tự nhất định và những tương tác đa chiều thì chúng ta sẽ hiểu không thể “nhặt” riêng một hệ giá trị nào ra khỏi tổng thể để đưa nó lên thành hệ giá trị phổ quát hay cốt lõi mà bỏ qua các giá trị có tính tương liên với nó. Ví dụ, muốn xây dựng hệ giá trị nhân ái, hài hoà với tự nhiên nhưng lại muốn xoá bỏ cúng rừng, chống mê tín dị đoan, bê tông hoá đồng loạt hệ thống tưới tiêu, xây dựng các công trình chặn dòng chảy của các con sông hoặc xả thải thẳng ra sông...
Nếu hiểu rõ hệ giá trị văn hoá mang tính tương đối, tính đa dạng thì việc xây dựng hệ giá trị văn hoá sẽ luôn phải tôn trọng tối đa bối cảnh đặc thù và sự lựa chọn giá trị của các chủ thể văn hoá ở các nền văn hoá khác nhau và không có hệ giá trị nào được xem là thống trị, lấn át hoàn toàn các hệ giá trị khác.
Nếu xem hệ giá trị văn hoá là không bất biến, không đồng nhất thì chúng ta xác định được việc xây dựng hệ giá trị cho một giai đoạn lịch sử nhất định và các hệ giá trị chúng ta đang xây dựng không phủ nhận hay xoá bỏ các hệ giá trị đã và đang có. Ngay cả khi hệ giá trị chúng ta đang xây dựng đã định hình và duy trì trong đời sống đương đại thì cũng không nên tuyệt đối hoá hệ giá trị ấy, cũng không áp đặt một mô hình hệ giá trị ấy cho tất cả và luôn cần tôn trọng sự đa dạng các hình thức và phương thức thực hành hệ giá trị ấy của các nhóm, cộng đồng, tộc người.
Nếu quan tâm đúng mức hơn đến tính thực tiễn của hệ giá trị văn hoá thì chúng ta sẽ khắc phục được sự chung chung, hô hào, hình thức trong xây dựng hệ giá trị văn hoá. Tính thực tiễn ở đây là hệ giá trị văn hoá phải được xây dựng từ thực tiễn và rồi phải được thực hành sâu rộng trong thực tiễn, trở thành lối sống, thói quen, tập tính hàng ngày của con người. Chỉ như vậy, việc xây dựng hệ giá trị văn hoá mới được xem là đạt hiệu quả.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐÁNG BUỒN CHO MỘT DÂN TỘC DŨNG MÃNH!

         Nhật Bản là một dân tộc xưa kia có truyền thống dũng mãnh, cứng cỏi có số má ở châu Á, với những samurai, ninja trung thành, võ thuật cao siêu! NHƯNG kể từ sau thế chiến II, với thất bại nặng nề, họ phải đầu hàng vô điều kiện và đặc biệt là phải chịu sự thống trị, đô hộ trá hình dưới vỏ bọc "đồng minh" của đế quốc Mỹ!

Cả thế giới đều biết, người dân Nhật Bản càng thấu tận xương tủy kẻ ném bom nguyên tử hủy diệt, gây tội ác với người dân vô tội Nhật Bản CHÍNH LÀ ĐẾ QUỐC MỸ! Có thế nói trong lịch sử của Nhân loại, của dân tộc Nhật, chưa từng có vụ thảm sát nào lại khủng khiếp, man rợ như vụ ném bom này, với 2 quả "dân chủ" bự, mấy chục vạn sinh mạng bị tan nát trong vòng tích tắc, sau đó là hậu quả đau đớn, dai dẳng của phóng xạ, chết chóc, đổ nát...

Trên thế giới, duy nhất chỉ có dân tộc Nhật Bản trực tiếp bị vũ khí nguyên tử tấn công. Và cũng duy nhất chỉ có đế quốc Mỹ là nước duy nhất từng sử dụng vũ khí hủy diệt man rợ này. Vậy ai mới là kẻ thù, là thủ phạm gây ra thảm sát hạt nhân tại Nhật Bản? Ai mới là mối đe dọa của hòa bình thế giới? Kẻ nào đang thực sự đè đầu, cưỡi cổ dân tộc Nhật Bản? Tôi nghĩ một người Nhật bình thường, đủ hiểu biết cũng sẽ dễ dàng trả lời được những câu hỏi này!

Nhưng, than ôi! Thật đáng buồn cho một dân tộc dũng mãnh của châu Á! Khi hiện nay, các quan chức chóp bu của họ lại không dám hé răng chỉ mặt kẻ đã ném bom hủy diệt, tàn hại tổ tiên mình! Cam chịu thân phận chư hầu đầy tủi nhục, làm gì, nói gì, yêu ai, ghét ai cũng phải theo ý ông chủ, không dám trái!

Nhìn về Nhật Bản hiện nay chúng ta thấy gì? Giàu đấy, xa hoa đấy nhưng chả có độc lập, tự chủ! Giàu đấy, xa hoa đấy nhưng sự kiêu hùng, truyền thống văn hóa dân tộc có còn không? Nhật nổi tiếng với các hãng xe, khoa học, công nghệ, nhưng Nhật cũng khét tiếng bởi JAV cho cả thế giới xem...! Cái giá phải trả cho việc làm "đồng minh" của Mỹ là quá đắt. Tên đế quốc sừng sỏ luôn tìm mọi cách để thống trị thế giới, nô dịch các dân tộc. Chúng ta phải luôn cảnh giác, đừng mải mê hội nhập, phát triển kinh tế mà bị ru ngủ, bị bọn đế quốc và tay sai đầu độc, dùng "diễn biến hòa bình" để biến dân tộc ta trở thành nô lệ, thành con chó cho chúng bóc lột, sai khiến!

Yêu nước ST.

BẠN CẦN BIẾT: KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY MỸ NÉM 02 QUẢ BOM NGUYÊN TỬ XUỐNG NHẶT BẢN!

NGÀY NÀY NĂM XƯA, THẾ GIỚI CÓ QUÊN
(06 VÀ 09/8/1945)!
         Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima của Nhật với sức công phá 13 kiloton, khiến 90.000 người thiệt mạng sau đó, 90% nhà cửa ở thành phố bị phá hủy.

3 ngày sau, Mỹ ném thêm một quả xuống Nagasaki (21 kiloton, 140.000 người thiệt mạng năm 1950).

Cộng với việc Liên Xô tiêu diệt đạo quân Quan Đông, Nhật Bản chính thức đầu hàng Đồng Minh. Chớp thời cơ, ở Việt Nam, Cụ Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân giành chính quyền trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Nhưng có những nhận định rằng Mỹ ném bom nguyên tử là không cần thiết về mặt chiến thuật, người Nhật chắc chắn đầu hàng và ném bom như vậy gây thương vong lớn cho dân thường là trái đạo đức.

- Lãnh tụ Liên Xô Stalin:

"Chiến tranh là một điều man rợ, nhưng việc sử dụng bom nguyên tử - nó là sự điên cuồng! Hơn nữa, nó là không cần thiết. Nhật Bản đã cam chịu thất bại rồi".

- Szilárd, người tham gia tích cực trong Dự án Manhattan, lý luận:

"Hãy để tôi đề cập chủ yếu về vấn đề đạo đức: Giả sử nước Đức phát triển thành công hai quả bom nguyên tử trước chúng ta. Và giả sử nước Đức thả hai quả bom đó, ví dụ, xuống Rochester và Buffalo (hai quận nhỏ ở tiểu bang New York), rồi sau đó họ bại trận. Liệu có ai băn khoăn không khi chúng ta cho đó là tội ác chiến tranh và sẽ kết tội người Đức về hành vi đó trước tòa án Nürnberg rồi treo cổ họ?"

- Tổng thống Dwight D. Eisenhower viết trong hồi ký The White House Years:

"Năm 1945, Bộ trưởng Chiến tranh Stimpson, khi đó đến thăm tổng hành dinh của tôi ở Đức, thông báo cho tôi rằng chính phủ chúng ta đang chuẩn bị thả bom nguyên tử xuống Nhật. Tôi là một trong những người cảm thấy rằng có những lý do vững vàng để nghi vấn sự sáng suốt của hành động đó.

Trong khi ông ta kể về những sự việc liên quan, tôi cảm thấy buồn chán và đã nói với ông ta về những sự hoài nghi của tôi, thứ nhất, tôi tin rằng Nhật Bản thực sự đã bị đánh bại và việc ném bom là không hoàn toàn cần thiết, và thứ hai, tôi cho rằng việc sử dụng vũ khí đó là không bắt buộc nhằm hạn chế thương vong cho lính Mỹ bởi đất nước chúng ta nên tránh một ý tưởng làm thế giới rung chuyển bằng cách sử dụng vũ khí đó."

- Năm 1946, trong bản báo cáo của Tổ chức nhà thờ liên bang với tên Chiến tranh nguyên tử và niềm tin Thiên Chúa có đoạn như sau:

"Là những người Thiên chúa Hoa Kỳ, chúng ta hối tiếc về sự lạm dụng thiếu trách nhiệm vũ khí nguyên tử. Chúng ta đều đồng cảm rằng, trên nguyên tắc, dù là sự nhìn nhận của bất kỳ người nào đối với chiến tranh, việc ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki là không thể biện hộ được về mặt đạo đức."

Nhận định mọi người như nào ạ? Mình nghĩ Mỹ không cần thiết phải ném bom, Đế quốc Nhật cũng đầu hàng./.


Môi trường ST.