Thứ Hai, 7 tháng 8, 2023

BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU TUYÊN TRUYỀN XUYÊN TẠC TRONG LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG - AN NINH HIỆN NAY

 

Quán triệt quan điểm của Đảng: “…kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...”1; đồng thời, để hiện thực hóa phương châm: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái…”, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức, nêu cao tinh thần cảnh giác của nhân dân trước những thông tin và luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch liên quan đến lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Điều này có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Có nhận thức đúng tính chất nguy hại của sự việc mới có ý thức cảnh giác, đề phòng. Do đó, công tác giáo dục, tuyên truyền cho nhân dân về lĩnh vực quốc phòng - an ninh phải coi trọng điểm này, phải làm cho nhân dân thấy rõ đâu là thông tin chính thống, đâu là thông tin bịa đặt, nhằm dụng ý xấu để cảnh giác. Việc làm này phải được tiến hành một cách kiên trì, bền bỉ, thường xuyên, liên tục, chú trọng những vùng có lịch sử chính trị - xã hội phức tạp, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo sinh sống; địa bàn có vị trí chiến lược về quốc phòng - an ninh. Cần tập trung tuyên truyền làm rõ vị trí, vai trò của công tác quốc phòng - an ninh, mối quan hệ giữa an ninh và quốc phòng, giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh; an ninh biên giới, an ninh biển; chủ quyền biển đảo,... hướng tới thống nhất nhận thức, tư tưởng, ý chí và hành động, đúng với quan điểm: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc…”. Phương thức tuyên truyền cần đa dạng, phong phú, như thông qua hệ thống thông tin đại chúng, báo chí, các trang mạng xã hội, qua giáo dục, phổ biến, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng trong xã hội.

Hai là, cung cấp thông tin chính thống về lĩnh vực quốc phòng - an ninh đến quần chúng nhân dân một cách kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực. Quốc phòng - an ninh là lĩnh vực đặc thù, có liên quan trực tiếp đến sự an nguy của quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, trong thời đại của in-tơ-nét, một sự kiện xảy ra chỉ trong thời gian rất ngắn đã lan khắp toàn cầu. Vì vậy, càng chủ động giữ vững trận địa thông tin, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời và minh bạch, càng ngăn chặn được các luồng thông tin thất thiệt, thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc sự việc, hoặc suy diễn tiêu cực, gây hoang mang, lo lắng, bán tín bán nghi trong xã hội. Tất nhiên, trừ các thông tin bí mật quân sự, bí mật quốc gia, các thông tin khác, nhất là về các sự kiện lớn, đột xuất, phức tạp, nhạy cảm, có thể gây bất ổn xã hội, thì luôn cần có thông tin chính thống, kịp thời từ cơ quan chức năng, từ người có thẩm quyền phát ngôn cho báo chí, đó chính là sự định hướng dư luận hiệu quả nhất.

Hiện nay, mạng in-tơ-nét là phương tiện được các thế lực thù địch sử dụng nhiều nhất, là trận địa thông tin nóng bỏng nhất, nếu không chủ động thông tin minh bạch, chính xác, kịp thời đáp ứng nhu cầu của công chúng thì trận địa sẽ bị bỏ trống và đương nhiên kẻ thù sẽ ào lên chiếm lĩnh. Vì vậy, trong khi việc kiểm soát, chế tài các thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống còn gặp nhiều rào cản, khó khăn, thì cách tốt nhất để đẩy lùi thông tin bịa đặt, sai lệch là phải chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và minh bạch cho nhân dân. Để thông tin minh bạch, chính xác, kịp thời, đáp ứng nhu cầu của công chúng, phải bảo đảm chế độ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí theo đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra tình trạng báo chí “đói” nguồn thông tin chính thống và chính xác.

Ba là, xây dựng lực lượng đấu tranh phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về quốc phòng - an ninh. Trong đó, tập trung vào đội ngũ nhà báo, nhà nghiên cứu, thông tin viên, tuyên truyền viên trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Đây là lực lượng đưa đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách về quốc phòng - an ninh của Đảng, Nhà nước đến với quần chúng nhanh và hiệu quả nhất, là những người trực tiếp góp phần đập tan thông tin và luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Do vậy, cần xây dựng lực lượng này có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ; chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm cho họ, bảo đảm để lực lượng này là nòng cốt, xung kích trong đấu tranh, phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng.

Nhận diện, đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh là cuộc chiến lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng. Trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có vai trò rất quan trọng. Sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của lực lượng này làm nòng cốt cho toàn dân là nhân tố trực tiếp trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

                                                                           

 

Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2023

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 07 THÁNG 8 NĂM 1965!

     “Quản lý bộ đội tốt, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần tốt trong mọi hoàn cảnh”!
     Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Đại hội Thi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của các lực lượng vũ trang nhân dân” tổ chức ngày 07 tháng 8 năm 1965 tại Thủ đô Hà Nội. Đây là Đại hội đầu tiên của các đơn vị anh hùng, chống Mỹ, cứu nước. Tại Đại hội này có 367 đơn vị quân đội, công an vũ trang và dân quân tự vệ toàn miền Bắc được tặng danh hiệu đơn vị Quyết thắng.
     Là người sáng lập và rèn luyện Quân đội ta trưởng thành, lớn mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến sự nghiệp xây dựng, phát triển quân đội một cách toàn diện, chính qui, hiện đại; Người đã dành cả tấm lòng thương yêu vô bờ như tình cảm cha con, bác cháu, đồng chí cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam với sự quan tâm ân cần đặc biệt về mọi mặt.
     Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy “Quản lý bộ đội tốt, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần tốt trong mọi hoàn cảnh”, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, làm tốt công tác giáo dục, quản lý, rèn luyện và chăm lo bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội. Các đơn vị đã làm tốt công tác quản lý bộ đội từ khâu tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ và trong suốt quá trình tại ngũ của người quân nhân với quy trình chặt chẽ, thống nhất; các đơn vị đóng quân và làm nhiệm vụ ở vùng biên giới, hải đảo, nhà giàn DK1… cấp ủy, chỉ huy đơn vị đã có nhiều chủ trương, giải pháp, mô hình, cách làm sáng tạo để bảo đảm tốt nhất đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội bảo đảm cho mọi cán bộ, chiến sĩ yên tâm công tác, gắn bó với đơn vị, nhiều phong trào, mô hình đã được triển khai đạt hiệu quả thiết thực trên thực tế, tiêu biểu: “Đơn vị là nhà, đồng đội là người thân”, “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, bà con các dân tộc là anh em ruột thịt”, “Đảo là nhà, tàu là nhà, biển cả là quê hương”…; cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn tin tưởng và chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội; có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, có ý chí, nghị lực phấn đấu đúng đắn, thường xuyên, liên tục, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.
Yêu nước ST.

“Căn bệnh” sợ trách nhiệm của cán bộ - Mối nguy hại cần chữa trị ngay

Trải qua các thời kỳ cách mạng, đội ngũ cán bộ của Đảng ta cơ bản luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, dám xả thân vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, hầu hết đội ngũ cán bộ đều phát huy tốt vai trò tiền phong, gương mẫu trong chiến đấu và công tác, luôn giành phần khó khăn, gian khổ nhất về mình, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, thời gian gần đây, câu chuyện “cán bộ sợ trách nhiệm” được bàn thảo nhiều trên các diễn đàn; được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước phê bình, nhắc nhở, chấn chỉnh nhiều lần trong các cuộc họp, các văn bản chỉ đạo. Phát biểu bế mạc Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII), đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhắc đến tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm, né tránh trách nhiệm: cái gì có lợi thì kéo về cho cơ quan, đơn vị và cá nhân mình; cái gì khó khăn thì đùn đẩy ra xã hội, cho cơ quan khác, người khác. Đồng chí chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, thậm chí sợ trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn là vấn đề rất đáng lo ngại, diễn biến phức tạp, không thể chủ quan, lơ là”. Đây là thực trạng rất đáng lo ngại, tác động tiêu cực đến sự vận hành của hệ thống cơ quan, tổ chức và trong thực thi công vụ. Nó làm cho công việc bị chậm chễ, ách tắc; nhiều cơ hội đầu tư bị bỏ lỡ; nhiều công trình bị triển khai chậm tiến độ; nhiều nguồn vốn đầu tư công không được giải ngân đúng kế hoạch; nhiều vấn đề bức xúc trong xã hội không được giải quyết kịp thời, v.v. Đặc biệt, người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị sợ trách nhiệm sẽ làm cho cán bộ, nhân viên thuộc quyền thiếu niềm tin, thiếu năng nổ, thiếu nhiệt huyết, làm việc cầm chừng, không muốn cống hiến; bởi họ có tham mưu, đề xuất, hiến kế những ý tưởng, cách làm mới, sáng tạo, đột phá cũng không được người lãnh đạo, quản lý của mình ghi nhận, ra quyết định triển khai trên thực tế. Rộng hơn, cán bộ sợ trách nhiệm sẽ làm giảm sút năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; làm cản trở sự phát triển của đất nước; làm sa sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, v.v. Đây là nguyên cớ để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Vì vậy, sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu trách nhiệm của cán bộ ở những cấp độ khác nhau đều hết sức nguy hại, tác động tiêu cực đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu trách nhiệm là vấn đề bức xúc hiện nay, gây nên những hệ lụy nghiêm trọng trong triển khai thực hiện nhiệm vụ của tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương. Việc cán bộ sợ trách nhiệm có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng do chủ quan là chính, thuộc về trách nhiệm của cả cá nhân và tổ chức. Để khắc phục, cần có cơ chế, chính sách đúng đắn và tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ, phù hợp: kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục và biện pháp hành chính, kỷ luật, kỷ cương; giữa quản lý, giáo dục, rèn luyện của tổ chức và ý thức tự học, tự rèn, tự tu dưỡng của bản thân cán bộ.

Cần phải phát huy sức mạnh của ý Đảng và lòng dân trong mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, những thắng lợi vĩ đại và huy hoàng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhân dân Việt Nam là mối quan hệ gắn bó trong một chỉnh thể thống nhất. Quá trình cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định sức mạnh “Dời non, lấp biển” của sự thống nhất của “Ý Đảng và lòng dân là một”; chứng minh sức mạnh của sự thống nhất giữa lý tưởng của Đảng với khát vọng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Nhân dân Việt Nam; sức mạnh của sự thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân trong mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Lý do ra đời, tồn tại và mục tiêu hoạt động của Đảng là vì Nhân dân, vì độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc của Nhân dân; nguồn sức mạnh bất tận và vô địch của Đảng là từ Nhân dân, ở trong Nhân dân; Đảng là của dân, vì dân, dân một lòng một dạ theo Đảng, Đảng quan tâm chăm lo đến dân. Sự nghiệp cách mạng của Đảng cũng chính là sự nghiệp cách Đảng cũng chính là sự nghiệp cách mạng của nhân dân. Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và trao cho Đảng Cộng sản Việt Nam quyền duy nhất lãnh đạo, duy nhất cầm quyền ở nước ta; và theo Đảng đoàn kết chiến đấu dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng. Mối quan hệ mật thiết đó là khách quan, do chính lịch sử dân tộc Việt Nam và khát vọng của nhân dân ta quy định; và do chính bản chất cách mạng, tính tiền phong của Đảng mới có được. Tất cả điều đó được biểu hiện cụ thể sinh động trong thực tiễn cách mạng Việt Nam suốt hơn tám thập kỷ qua, là nhân tố cơ bản, sức mạnh chủ yếu và động lực quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Sức mạnh của mối quan hệ đó ngày càng được tăng cường và khẳng định trong thực tiễn lịch sử Việt Nam không chỉ trên phương diện giữ nước mà còn cả trên phương diện dựng nước, không ai có thể tranh giành, bác bỏ và phủ nhận. Từ trước đến nay các thế lực thù địch, phản động bên trong và bên ngoài luôn tìm mọi cách phá hoại, công kích vào mối quan hệ mật thiết đó. Hiện nay, các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu và hoạt động “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tăng cường hoạt động chống phá, chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng ra sức lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta trong quá trình đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những khuyết điểm của một số tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, công khai kích động nhân dân chống đối lại Đảng. Không thể vì sự hạn chế, khuyết điểm nào đó, vì những khó khăn của đất nước trên con đường đi lên, mà nói bừa rằng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và dân không còn nữa; rằng Nhân dân không cần phải tin và theo Đảng, rồi kích động, hô hào nhân dân chống đối lại Đảng và chế độ! Thực tiễn cho thấy, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, mọi người dân Việt Nam đều cảm nhận được rất rõ ràng, được thụ hưởng cụ thể thực sự trong cuộc sống hàng ngày, được cả thế giới ngưỡng mộ và lạc quan tin tưởng vào sự phát triển của Việt Nam. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân, có sự tham gia ý kiến của Nhân dân. Nhân dân là chủ thể mọi quyền lực, quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ gắn bó chặt chẽ với nhau; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Đảng thực sự gắn bó mật thiết với Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình đúng như Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam đã hiến định. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm huyện Vĩnh Bào, thành phố Hải Phòng Những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta trong quá trình xây dựng đất nước là có thực, nhưng đó là những hạn chế và khuyết điểm trên con đường đi lên. Lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm của các cấp ủy đảng và chính quyền, của một số cán bộ, đảng viên trong thực hiện chủ trương, chính sách để nói xấu, công kích, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân không phải là hành động “vì dân”, “vì nước”, mà đó là hành động của các thế lực thù địch, của những kẻ “đục nước béo cò”. Hành động đó chỉ có thể làm hại đến sự ổn định chính trị - xã hội và nguyện vọng, lợi ích của Nhân dân. Tình hình mới vừa đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa mối quan hệ Đảng - dân vừa đặt ra những yêu cầu, nội dung mới đối với việc tăng cường mối quan hệ đó. Chúng ta cần phải dành công sức nhiều hơn nữa, tạo sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng, phát huy truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Phải tập trung sức chăm lo bảo vệ, nâng cao vai trò và năng lực cầm quyền của Đảng để Đảng thực sự xứng đáng là “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc”, là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đồng thời, phải thực hiện chủ trương, chính sách hợp lòng dân, thực sự vì dân, như lời Bác Hồ đã dạy “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt hiện nay là phải kiên quyết khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Uy tín của Đảng ra sao, mối quan hệ Đảng - dân bền chặt như thế nào phụ thuộc quyết định vào sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, vào phẩm chất, năng lực của mỗi cán bộ, đảng viên, vào việc chúng ta khắc phục như thế nào tình trạng tham nhũng, suy thoái. Theo đó, cần nâng cao hiệu quả đấu tranh khắc phục tham nhũng, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII, XIII) của Đảng.

Cán bộ, chiến sĩ cần đặt trách nhiệm trong xây dựng thế trận lòng dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội

Trong những năm qua, các thế lực thù địch, phản động luôn xem các địa bàn trọng điểm chống phá với các âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, quyết liệt, công khai, trực diện. Dưới vỏ bọc "tự do tôn giáo", những đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lợi dụng những hạn chế, sơ hở trong quản lý, điều hành xã hội của chính quyền các cấp, vấn đề đất đai, đầu tư làm ăn với nước ngoài, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, đền bù giải phóng mặt bằng... để kích động người dân tụ tập phản đối chính quyền, tạo “điểm nóng”, gây rối trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Đây là những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị. Các thế lực thù địch, phản động lợi dụng các trang mạng xã hội, lập các tài khoản Facebook, Zalo, Youtube, Twitter, tài khoản cá nhân để đăng tải các bài viết phản ánh không đúng sự thật, kích động, bịa đặt, nói xấu đơn vị, nói xấu đội ngũ cán bộ; tuyên truyền, xuyên tạc về công tác quản lý, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân đội. Những hành động của các linh mục nói trên đã vi phạm nguyên tắc “lạm quyền”, tự do tôn giáo một cách quá trớn, muốn biến các Giáo xứ thành “vương quốc” riêng. Với bản chất ngoan cố, phản động, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng tôn giáo và đức tin của quần chúng vào tôn giáo để lôi kéo bà con giáo dân chống phá chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước. Mục đích của họ là kích động gây mâu thuẫn trong Nhân dân, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, chia rẽ Quân đội với Nhân dân. Những chiêu thức thủ đoạn ngày càng tinh vi và tác động xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Do vậy, mỗi người dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, bất kỳ ai theo tín ngưỡng, tôn giáo nào cũng cần đặt trách nhiệm và nghĩa vụ công dân lên hàng đầu. Chúng ta cần hết sức tỉnh táo, nhận rõ âm mưu thủ đoạn của những “bàn tay đen” muốn biến các giáo xứ thành thiết chế chính trị riêng, lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin của giáo dân nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết Lương Giáo gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng tới lợi ích chung của dân tộc, đất nước mà trước hết là cuộc sống yên bình của Nhân dân. Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng đoàn kết dân tộc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang phải đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương tăng cường các hoạt động dân vận, kết nghĩa với vùng đồng bào có đạo xây dựng thế trận lòng dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân, tô thắm thêm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng Nhân dân.

 

Đội lốt phản biện xã hội để phá bĩnh

Phản biện xã hội là một biện pháp để mở rộng dân chủ, tranh thủ trí tuệ xã hội, từ đó hoàn thiện chính sách, tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội. Thế nhưng hiện nay đang có một số cá nhân, tổ chức đội lốt phản biện xã hội để phá bĩnh, càn quấy. Do đó cần phân biệt rõ thế nào là phản biện xã hội mang tính xây dựng và thế nào là đội lốt phản biện xã hội để phá bĩnh, từ đó ngăn chặn hiện tượng nguy hiểm này.

Phản biện xã hội khác với phá bĩnh xã hội. Phản biện xã hội để tìm ra và góp ý tìm cách sửa chữa cái sai, góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng chính sách, quyết định, giải pháp cho vấn đề cần giải quyết, vì lợi ích chung, sự tiến bộ. Ngược lại, phá bĩnh xã hội về bản chất là hành vi và lời nói mang tính phá hoại vì lợi ích riêng, lợi ích nhóm, song giả danh phản biện, giả danh cái tốt, cái tiến bộ để cố ý gây rối, phá phách trực tiếp cốt làm hỏng công việc hoặc mất trật tự xã hội chung, vùi dập con người, phủ nhận chính sách, phủ nhận sự phát triển của tập thể và đất nước... 

Phá bĩnh xã hội là công cụ sở trường của nhiều trang mạng, các cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, cơ hội chính trị, luôn tìm mọi cách tán phát những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vu khống và chụp mũ, đả kích, nói xấu mang tính chống đối, lật đổ, xuyên tạc sự thật nhằm gây nghi ngờ, chia rẽ đoàn kết, phá hoại lòng tin, sự đồng thuận xã hội trong nước, trong Đảng và bôi nhọ, hạ uy tín của Đảng, Nhà nước hoặc của doanh nghiệp Việt Nam cả trong nước và trên trường quốc tế.

Đặc điểm chung nổi bật của việc phá bĩnh xã hội là nhân danh phản biện xã hội để bình luận tùy tiện, suy diễn, xỏ xiên, quy kết với quan điểm cá nhân, tựu trung lại là nói xấu Đảng, phản đối chế độ và chính sách hiện hành, phủ nhận thành tựu và sự phát triển của đất nước; thậm chí, nhiều kẻ còn cài cắm ngụ ý, qua đó khoe khoang và khéo thể hiện mình là người thông minh, cấp tiến, vì dân, vì nước...

Tiêu biểu cho các lực lượng chuyên hoạt động theo cách thức này là những tổ chức, cá nhân ở nước ngoài như: “Liên minh dân tộc Việt Nam” do Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu; “Đảng Vì dân” do Nguyễn Công Bằng và Trịnh Thị Ngọc Anh cầm đầu, v.v...

Có thể thấy, việc nhận diện và ngăn chặn sự lợi dụng phản biện xã hội để phá bĩnh xã hội, chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội, phản động, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ... là cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng Đảng cũng như giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Để làm việc đó, cần quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc và hiệu quả Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 26-10-2022 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về phát huy vai trò, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội.

Cần chủ động công khai, minh bạch thông tin và giải trình nhanh, đúng đắn, chính xác về những chủ trương, chính sách, bảo đảm thông tin chính thống giữ vai trò chủ đạo, làm căn cứ thẩm định và định hướng dư luận, phản bác kịp thời thông tin từ những kẻ phá bĩnh, càn quấy. Khi nhận thấy trường hợp đội lốt phản biện có dụng ý xấu, cần phải làm rõ động cơ, mục đích để có biện pháp xử lý phù hợp; có chế tài xử lý việc lợi dụng góp ý, phản biện nhằm gây rối xã hội.

Đồng thời cần tăng cường công tác quản lý nội bộ, đấu tranh và xử lý đối với biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, phẩm chất, năng lực, uy tín giảm sút, thiếu gương mẫu, gây mất đoàn kết, cục bộ, bè phái, cơ hội...

Mỗi người dân cần tỉnh táo, thận trọng, trang bị cho mình “bộ lọc” và thông tin cần thiết giúp nhận diện âm mưu, thủ đoạn lợi dụng phản biện xã hội để gây nhiễu thông tin, chống phá đất nước của các thế lực thù địch, phản động. Đặc biệt, cần chú ý trước những thông tin không rõ nguồn, được viện dẫn rất vu vơ, mơ hồ, xuất phát từ các ý kiến của những người mượn danh phản biện, các “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến” vốn có thành kiến, có âm mưu, hành động chống phá Đảng, Nhà nước./.

TMT 03.8

 

CÓ VỐN MỚI LÀM RA LÃI


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể. Có vốn mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”.
Liên hệ với sự nghiệp cách mạng hiện nay, như lời Bác dạy, muốn không “lỗ vốn” thì người cán bộ phải đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm. Chỉ khi nào người cán bộ mạnh mẽ loại cái cũ, dám đứng mũi chịu sào, dám làm những việc chưa có tiền lệ, việc mới, việc khó thì mới tạo ra sự chuyển biến tích cực.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã nêu rõ chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ, trong đó nhấn mạnh người đứng đầu dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung…
Mới đây, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW, cụ thể hóa chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ “6 dám” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Kết luận số 14-KL/TW cũng chỉ rõ những nguyên tắc bất biến trong vận hành, hiện thực hóa ý tưởng, đột phá mới, táo bạo của cán bộ. Sẽ không có bất kỳ ý tưởng mới nào được ghi nhận, nếu nó nằm ngoài tổ chức và sẽ không có bất kỳ cán bộ nào được tổ chức bảo vệ nếu ý tưởng phi thực tế, nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, mang nặng chủ nghĩa cá nhân hoặc làm liều, làm ẩu.
Điều ấy cho thấy, tinh thần bảo vệ cán bộ là rất quyết liệt, mạnh mẽ, nhưng cán bộ phải thật sự vì lợi ích chung.
Việc xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm sẽ tạo bứt phá, thay đổi về chất đối với đội ngũ cán bộ của Đảng, khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới; trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của các ngành, địa phương.
Đó cũng chính là điểm tựa quan trọng để cán bộ tự tin hơn nữa trong việc đột phá thực thi công vụ. Để từ đó cái vốn là cán bộ sẽ làm ra cái lãi là sự thành công của sự nghiệp chung và hạnh phúc của Nhân Dân.

HIỂU ĐÚNG BẢN CHẤT QUYỀN LỰC TỐI THƯỢNG Ở VIỆT NAM LÀ PHỤC VỤ NHÂN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC

 

Gần 80 năm qua, kể từ ngày lập quốc theo chế độ mới đến nay, việc thực thi quyền lực nhà nước của chúng ta ngày càng đúng đắn, tốt đẹp hơn, vì sự tối thượng là phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Do đó, nếu “nhà dân chủ” nào không hiểu bản chất vấn đề, cố ý đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, đánh tráo khái niệm giữa sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ với mục tiêu, bản chất thực thi quyền lực tối cao thuộc về nhân dân của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, là điều đáng phải phê phán.
1. Lâu nay, chúng ta đã cởi mở hơn, tin cậy hơn trong những thảo luận nhiều vấn đề về đời sống xã hội. Xã hội chúng ta ngày càng công bằng, dân chủ, văn minh hơn, trước hết do chúng ta đã biết tự cân bằng các khu vực quyền lực, ứng xử đúng mực với mọi giai tầng xã hội. Điều này không phải bây giờ mới diễn ra mà đã có từ thượng cổ. Đó chính là nền tảng văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng phong phú, sâu sắc, toàn diện và luôn được các thế hệ người Việt Nam vun trồng, bồi đắp.
Đại đức Thích Đồng Đạo, trụ trì chùa Phương Lan, xã Nam Phương Tiến (huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội) có nói đại ý rằng, để có những trang văn hay và chính xác hơn nữa đối với văn học sử của Việt Nam thì các nhà văn nên nghiên cứu thêm về lịch sử Phật giáo Việt Nam. Vì sử nước nhà có những giai đoạn song hành với sử Phật giáo. Nhiều vị quân vương nước ta lên ngôi dùng quyền lực trị vì thiên hạ đều có mối liên hệ mật thiết với Phật giáo qua các thiền sư. Khi vương triều nào đó mất đi thì các thiền sư vừa đảm nhiệm vai trò giữ đạo, vừa giữ nguồn tri thức cho dân tộc nên phần lớn các vị quân vương đều nhờ sự giáo dưỡng rất lớn của các thiền sư, mà điển hình nhất là Lý Bí, Lý Công Uẩn... Khi chúng ta nghiên cứu thêm về lịch sử Phật giáo sẽ giúp nhà văn dùng từ ngữ và các di tích liên quan đến Phật giáo và lịch sử dân tộc đúng đắn, hay hơn nhiều.
Tư duy trên của vị Đại đức phần nào nói lên rằng, nền Phật giáo Việt Nam chính là một bộ phận cấu thành nền văn hóa Việt Nam, góp phần vào sự trưởng thành đi tới văn minh của con người Việt Nam hiện đại. Đây cũng là một trong những nền tảng căn bản hình thành nên cốt cách dân tộc Việt Nam.
2. Quay lại vấn đề quyền lực. Thực ra, trong bất kỳ thể chế chính trị nào đều là câu chuyện hành xử quyền lực như thế nào để ích nước, lợi dân. Quyền lực của thể chế chính trị triều Lý, triều Trần, triều Lê đều tập trung nơi các vị vua, nơi triều đình. Thế thì tại sao, cũng là quyền lực đó ở các vị vua khai quốc, các vị minh quân, các đại thần tài đức thì nhân dân và Tổ quốc được ấm no, hạnh phúc, đất nước được bình yên, cường thịnh; nhưng với khung khổ quyền lực ấy rơi vào tay các hôn quân, gian thần đều khiến chính thể rối ren, nhân dân đói khổ, mất tự do, thậm chí mất nước, mất vương triều?
Như thế, quyền lực và thực thi quyền lực của một chế độ chính trị phải trở thành thái độ văn hóa sâu rễ bền gốc chứ không phải sự thỏa thích thực thi tất cả quyền hành để thỏa mãn chế độ chính trị đó. Nền tảng của quyền lực không thể bất định, cứng nhắc, chỉ khư khư dựa vào nguyên tắc giáo điều, mà quyền lực thời nay thể hiện tốt nhất vai trò của mình là thực thi quyền lực dựa trên nền tảng thượng tôn hiến pháp, pháp luật gắn với giá trị truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc.
3. Thời gian gần đây, một số “nhà dân chủ” trong nước và ngoài nước cho rằng, bộ máy chính trị ở Việt Nam đã lộng quyền, tham nhũng tràn lan, từ đó làm mất vai trò quyền làm chủ của nhân dân. Thực tế đó chỉ sự đánh tráo khái niệm, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
Với chế độ của chúng ta, từ khi đặt nền móng độc lập (1945) đến nay, Hiến pháp và luật pháp của Việt Nam luôn hướng tới những điều tốt đẹp, quyền lực tối thượng luôn để phục vụ nhân dân và Tổ quốc. Điều này là bất di bất dịch. Gần 80 năm qua, chúng ta đã hết sức kiên định, đem tất cả của cải và vật chất, trí tuệ và niềm tin, nhất quán với con đường đã chọn, nhưng cũng biết cách linh hoạt để bảo vệ quyền lợi cao nhất của nhân dân, của quốc gia, dân tộc.
Để giữ gìn sự liêm chính của chính thể, sự trong sạch của bộ máy công quyền, những năm qua, chúng ta đã đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kiên quyết "nhốt" quyền lực trong lồng cơ chế. Về vấn đề này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trong Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020, đã nhận định: "Thể chế nói chung, thể chế về phòng, chống tham nhũng nói riêng cùng với chuẩn mực đạo đức trên các lĩnh vực và cơ chế kiểm soát quyền lực là yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng. Phải xây dựng các quy chế nội bộ của Đảng, các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng... Khẩn trương hoàn thiện các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch".
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng cho rằng, tham nhũng là "khuyết tật bẩm sinh" của quyền lực, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ ta. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn. Do vậy, trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng không được chủ quan, nóng vội, thỏa mãn; không được né tránh, cầm chừng, không "ngừng" , không "nghỉ"; vừa phải kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa không để xảy ra tham nhũng; đồng thời phải luôn cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
4. Trong xu thế thời cuộc và thời đại hôm nay, thế giới chuyển động không ngừng với nhiều điểm nóng phức tạp, việc thực hành và kiểm soát quyền lực một cách bền vững để phục vụ lợi ích của nhân dân và Tổ quốc phải được đặt ra một cách có hệ thống trên nền tảng văn hóa Việt Nam. Bác Hồ từng huấn thị: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Đó chính là phương lược lâu dài của chính thể chúng ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Xã hội Việt Nam đang phát triển nhanh, khá toàn diện chính vì đã khơi dậy được nhiều nguồn lực và có cơ chế đúng đắn kiểm soát tốt các khu vực quyền lực. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa diễn ra nhanh, toàn diện đã và đang đặt ra không ít thách thức về quyền lực và thực hành quyền lực, kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Một bộ phận cán bộ, trong đó có những cán bộ cấp cao đã tha hóa biến chất, bị quyền lực, vật chất cám dỗ làm hư hỏng bản thân đến mức phải bị kỷ luật, thậm chí bị xử lý hình sự. Đây là bài học đau xót về sự thiếu giám sát, kiểm soát dẫn đến tha hóa quyền lực.
Xã hội ta đang trưởng thành về mọi mặt. Trong bước đường trưởng thành sẽ phải đối mặt và vượt qua nhiều thách thức, trở ngại, mà thách thức và trở ngại lớn nhất chính là quá trình thực thi quyền lực trong cơ chế chính trị một Đảng cầm quyền duy nhất ở nước ta. Điều này đã được Đảng, Nhà nước ta nhận thức sâu sắc, rõ ràng và đang nỗ lực thực hiện bằng nhiều giải pháp đồng bộ để bảo đảm cho đất nước ta phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. Ví như mới đây, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Quy định số 114-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Quy định số 205-QĐ/TW do Bộ Chính trị khóa XII ban hành năm 2019 chỉ nói đến kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Còn Quy định số 114 đã đề cập đến việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ với phạm vi rộng hơn. Bên cạnh đó, các cơ chế, giải pháp cũng được quy định cụ thể hơn, chặt chẽ hơn. Điều này cho thấy, Đảng ta không ngừng hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh với các biểu hiện tham nhũng, tha hóa quyền lực, nhằm bảo đảm mục tiêu ở đâu có quyền lực thì ở đó phải được kiểm soát chặt chẽ.
Phải khẳng định rằng, gần 80 năm qua, kể từ ngày lập quốc theo chế độ mới đến nay, việc thực thi quyền lực nhà nước của chúng ta ngày càng đúng đắn, tốt đẹp hơn, vì sự tối thượng của nó chính là phục vụ nhân dân và phụng sự Tổ quốc. Do đó, nếu “nhà dân chủ” nào không hiểu bản chất vấn đề, cố ý đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, đánh tráo khái niệm giữa sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ với mục tiêu, bản chất thực thi quyền lực tối cao thuộc về nhân dân của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, là điều đáng phải phê phán.
ST

QUAN ĐIỂM, NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI


Xây dựng Đảng về đạo đức là một trong các mặt trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng Đảng mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nêu ra. Trong Quyết định số 88-QĐ/TW ngày 1/12/2022 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Chính trị khóa XIII nêu rõ: “Ban Tuyên giáo Trung ương là cơ quan tham mưu, giúp việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức...”.
QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC
Xây dựng Đảng về đạo đức là gốc trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng Đảng
Đảng ta xác định vai trò của những nhiệm vụ chiến lược như sau: (1) Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; (2) Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt (Tại Đại hội XIII của Đảng, phạm vi rộng hơn, không chỉ là xây dựng Đảng, mà còn là xây dựng hệ thống chính trị); (3) Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; (4) Quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng và Nhà nước.
Riêng về nhiệm vụ xây dựng Đảng, việc Đảng coi đó là nhiệm vụ then chốt là hoàn toàn chính xác, bởi xét trên chỗ dựa của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, chúng ta thấy có 3 trụ cột: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Xã hội xã hội chủ nghĩa; Đảng Cộng sản Việt Nam. Ba trụ cột này đều rất quan trọng, như thế chân vạc, “kiềng ba chân”. Nếu một trong ba trụ cột này yếu thì chế độ chính trị ở Việt Nam sẽ bị yếu; nếu hai hoặc ba trụ cột này yếu hoặc bị đổ thì chế độ chính trị ở Việt Nam cũng bị yếu và bị sụp đổ. Nói nhiệm vụ xây dựng Đảng là then chốt hoàn toàn có căn cứ lý luận và thực tế. Kinh nghiệm, bài học từ sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô cũng như các đảng cộng sản Đông Âu những năm 80 - 90 của thế kỷ trước cho thấy rõ điều đó. Và, không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn dò trong Di chúc thiêng liêng: “Trước hết nói về Đảng”(1); “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”(2).
Về nhiệm vụ “gốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm: Đạo đức cách mạng như nguồn của sông, như gốc của cây, là điều căn bản của con người; rằng, yêu cầu người cách mạng phải là người có trọn vẹn đủ đức và tài, trong đó đức là gốc. Chính vì thế, trong buổi Lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (đầu năm 1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”(3). Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng năm 2016 đã bổ sung nhiệm vụ (hoặc coi như một modul) là xây dựng Đảng về đạo đức trong tổng thể các mặt như từ nhiều năm trước Đảng đã xác định: xây dựng Đảng về ba mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức. Việc nêu bổ sung xây dựng Đảng về đạo đức đã đánh dấu tư duy mới của Đảng về việc nhìn nhận về tầm quan trọng đặc biệt về xây dựng đạo đức cách mạng cho tổ chức Đảng và đảng viên. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng năm 2021 khẳng định lại: “Phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(4). Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức đóng vai trò gốc. Chính vì thấy rõ vai trò rất quan trọng của nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức, cho nên trong Mục XIV “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng”, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức”(5). Một khía cạnh nữa phải coi xây dựng Đảng về đạo đức là nhiệm vụ gốc là bởi vì thực tế trong những năm qua, kinh tế đất nước phát triển nhưng đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa tương xứng, môi trường đạo đức có nơi, có lúc bị ô nhiễm. Một trong những biểu hiện của tình hình đó là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ chủ chốt, cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(6).
Không có đạo đức chung chung. Không phải là đạo đức cũ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Có người cho rằng đạo đức cũ và đạo đức mới không có gì khác nhau. Nói như vậy là lầm to, đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều. Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”(7); “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”(
😎
.
Chuẩn mực đạo đức cách mạng của tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên mà Đảng ta xây dựng phải là sự tổng hợp từ các yếu tố đó, nếu không, rất có thể sẽ là những nội dung, chuẩn mực đạo đức cũ, mặc dù tên (hay mệnh đề) biểu đạt giống nhau. Đạo đức cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thể hiện tư duy và hành động thống nhất giữa các giải phóng: Giải phóng dân tộc - Giải phóng giai cấp - Giải phóng xã hội - Giải phóng con người. Các “giải phóng đó” là sự kết tinh những gì tinh túy của nhân loại với cái đích cuối cùng, cao đẹp nhất là con người được giải phóng khỏi mọi sự chế định, áp bức bất công của tự nhiên và trong xã hội; con người tiến tới sự tự do như C.Mác và Ph.Ăngghen viết trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848): “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(9). Trong giá trị đạo đức cách mạng trên đây, có những quan điểm và gương sáng thực hành đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà Đảng ta trong những năm gần đây triển khai việc học tập và làm theo.
Đạo đức cách mạng ở đây còn là sự kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, nhất là trong ứng xử của con người với người (với xã hội) và với giới tự nhiên, hay như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy vào ba mối quan hệ cơ bản nhất: đối với tự mình, đối với người, đối với việc. Trong các giá trị này, còn chắt lọc, tiếp thụ và phát huy những yếu tố phù hợp của các tôn giáo vào trong đời sống xã hội hiện đại, vì những giá trị đó cũng là những biểu hiện của các học thuyết giải phóng và phát triển, nhất là đối với con người.
Lấy cá nhân đảng viên làm trung tâm trong xây dựng đạo đức cách mạng
Trong xây dựng đạo đức cách mạng, có thể phân chia thành hai phương diện: tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên. Xét riêng về phương diện nào cũng quan trọng. Nhưng, xét về cá nhân đảng viên có vai trò rất quan trọng. Đảng là do nhiều cá nhân ưu tú trong xã hội hợp thành. Do vậy, trong xây dựng đạo đức cách mạng, bên cạnh việc xây dựng đạo đức chung cho các tổ chức Đảng, thì xây dựng đạo đức cho cá nhân đảng viên có vai trò đặc biệt quan trọng. Những chuẩn mực đạo đức cách mạng đối với đảng viên phản ánh chính xác nhất đạo đức cách mạng của toàn Đảng.
NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC
Bảo đảm nhận thức luôn đi đôi với hành động; nói đi đôi với làm
Nói đến đạo đức là nói đến thành tố ý thức đạo đức, hành vi đạo đức, hệ thống thiết chế truyền bá và giáo dục đạo đức, v.v.. Khi đã xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng rồi thì phải có những điều kiện bảo đảm thực hành có kết quả, nếu không thì sẽ trở thành lý thuyết suông. Phải thực hành đạo đức hằng ngày, tránh tình trạng nói không đi đôi với làm mà hiện nay không ít tổ chức Đảng và đảng viên mắc phải. Cần học theo nguyên tắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay như­ ở những bài học đầu tiên đào tạo, huấn luyện cho thanh niên Việt Nam yêu nước tại các lớp của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phần nhập môn, Hồ Chí Minh nêu lên Tư­­ cách của một ngư­­ời cách mệnh gồm 23 điều, trong đó có điều: “Nói thì phải làm”(10). Hoặc như trong Bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại biểu thân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa khi Người đến thăm tháng 2/1947 trong chặng đường Người trở lại Việt Bắc lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; khi kết luận, Người kêu gọi đồng bào trong tỉnh: Hãy “xắn tay áo làm đi”(11).
Cụ thể, dễ nhớ, dễ hiểu
Xây dựng Đảng về đạo đức phải đi vào cụ thể, không chung chung, không trừu tượng, không kinh viện, để dễ nhớ, hiểu, được thực hành thường xuyên trong mỗi đảng viên và trong mỗi tổ chức Đảng. Bảo đảm tính thiết thực, mang lại kết quả rõ rệt. Nêu lên những chuẩn mực hoặc tiêu chí đạo đức cho cán bộ, đảng viên, ngoài những điều phổ quát, phải có những chuẩn mực cụ thể cho từng lĩnh vực, cho từng loại tổ chức Đảng, cho từng khối cán bộ, đảng viên.
Xây dựng Đảng về đạo đức phải bảo đảm tính nêu gương trong chuẩn mực
Gương sáng về đạo đức có tác dụng như bài học trong xây dựng Đảng về đạo đức cho con người, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên. Thường làm gương nói chung và nêu gương về đạo đức diễn ra theo “đường một chiều” (không có chiều ngược lại), nghĩa là: 1) Người lớn tuổi hơn làm gương cho người nhỏ tuổi hơn; 2) Thầy cô giáo làm gương cho học sinh; 3) Cấp trên làm gương cho cấp dưới, kể cả tổ chức Đảng cấp trên và những đảng viên giữ chức vụ cao hơn làm gương cho những đảng viên giữ chức vụ thấp hơn hoặc không giữ chức vụ gì (như Đại hội XIII của Đảng nêu: “Theo phương châm chức vụ càng cao càng phải phải gương mẫu”(12)); 4) Đảng viên làm gương cho người ngoài Đảng. Nếu làm khác “đường dẫn một chiều” đó và người lớn tuổi, cấp trên…không nêu gương sáng thì lúc đó thành “gương xấu”, như thế thì không thể nào xây dựng Đảng về đạo đức có kết quả tốt được.
Các chuẩn mực đạo đức trong xây dựng Đảng phải luôn luôn phù hợp với từng lúc, từng nơi
Cuộc sống biến đổi không ngừng, do đó không có sự vật nào bất biến. Lúc này, vấn đề này là chuẩn, nhưng lúc khác, nó không còn là chuẩn nữa mà thay thế vào đó là vấn đề khác chuẩn hơn. Điều đó cho chúng ta thấy rằng, phải luôn luôn xem xét lại để điều chỉnh cho phù hợp với từng lúc, từng nơi. Mỗi một lĩnh vực, mỗi một cấp bộ Đảng, thậm chí mỗi một vùng miền, thời kỳ, giai đoạn đều có những yêu cầu khác nhau về đạo đức. Nói như vậy không có nghĩa là không cần một chuẩn mực chung, mà là những cái chung đó là những điều bền vững nhất, có tính chất chỉ dẫn cho những chuẩn mực cụ thể cho từng lúc, từng nơi, từng lĩnh vực, từng địa bàn. Ví dụ: đức tính giản dị, lành mạnh, tiết kiệm của đạo đức đảng viên thì thời nào cũng cần, cái này thuộc về bản chất; nhưng đối với từng thời kỳ thì có thể biểu hiện khác nhau về hành vi: ăn, ở, mặc, đi lại… về cách quan hệ ứng xử cụ thể với con người, nhất là đối với dân.
Rèn luyện đạo đức suốt đời, coi trọng tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức
Đạo đức cách mạng của đảng viên không phải cứ tự nhiên mà có, nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nó không phải từ trên trời rơi xuống, mà do tu dưỡng bền bỉ hằng ngày để phát triển, củng cố, như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là tùy thuộc tinh thần tự giác của con người. Mà tinh thần tự giác đòi hỏi đạo làm người phải được thực hành liên tục. Nó là năng lượng của cuộc sống, thậm chí năng lượng đó có thể chuyển hoá sang người khác để bảo tồn và phát huy.
Tư cách của cán bộ, đảng viên được hình thành, luôn luôn được nâng cao, ngoài tác động của chung quanh, còn chủ yếu là do tự tu dưỡng rèn luyện, trong đó có tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời./.
ST

Nhận diện, kiên quyết đấu tranh với các luận điệu sai trái trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh hiện nay

Thời gian qua, lợi dụng những đến vấn đề liên quan đến quốc phòng, ninh (QP - AN) của đất nước, các thế lực thù địch, phản động đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động tuyên truyền xuyên tạc về QP - AN. Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực QP - AN hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau. Chủ yếu vẫn là: Đòi “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an; phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp QP - AN; tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng về công tác QP - AN, xây dựng lực lượng vũ trang Nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhất là “thế trận lòng dân”; xuyên tạc mục đích của các hợp đồng mua bán vũ khí, trang bị cho Quân đội và Công an, quy kết rằng: Việt Nam tăng cường tiềm lực QP - AN để chống lại một nước thứ ba, khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực; xuyên tạc mục đích các chuyến thăm Việt Nam, nhất là chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta tới các nước và nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam, nhất là chuyến thăm tới các nước lớn; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển; xuyên tạc vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và Công an; đặt lợi ích kinh tế đối lập với lợi ích QP - AN; đối lập giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm phủ định vai trò của QP - AN trong sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta. Thông qua các phương tiện truyền thông, các trang mạng của một số đài nước ngoài phát tiếng Việt và Facebook, Blog... Các hoạt động thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực QP - AN được tiến hành ở mọi thời điểm, nhưng cường độ cao và quyết liệt nhất vẫn là vào các ngày lễ lớn của dân tộc; khi diễn ra sự kiến chính trị quan trọng của đất nước, các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại QP-AN hoặc khi tình hình an ninh, chính trị xã hội, tình hình biên giới, biển đảo có những diễn biến phức tạp, nhạy cảm. Để nhận diện, đấu tranh hiệu quả với các luận điệu trên, trước hết phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng: "... kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...". Từ đó không ngừng nâng cao nhận thức, nêu cao tinh thần cảnh giác của nhân dân trước những thông tin và luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch liên quan đến lĩnh vực QP - AN. Điều này có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về lĩnh vực QP - AN. Có nhận thức đúng tính chất nguy hại của sự việc mới có ý thức cảnh giác, đề phòng. Do đó, công tác giáo dục, tuyên truyền về lĩnh vực QP - AN, làm rõ đâu là thông tin chính thống, đâu là thông tin bịa đặt, nhằm dụng ý xấu để cảnh giác. Việc làm này phải được tiến hành một cách kiên trì, bền bỉ, thường xuyên, liên tục, chú trọng những vùng có lịch sử chính trị - xã hội phức tạp, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo sinh sống; địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về QP - AN. Cung cấp thông tin chính thống về lĩnh vực QP - AN đến quần chúng nhân dân một cách kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực. QP - AN là lĩnh vực đặc thù, có liên quan trực tiếp đến sự an nguy của quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, trong thời đại của internet, một sự kiện xảy ra chỉ trong thời gian rất ngắn đã lan khắp toàn cầu. Vì vậy, luôn chủ động giữ vững trận địa thông tin, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời và minh bạch thì càng ngăn chặn được các luồng thông tin thất thiệt, thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc sự việc, hoặc suy diễn tiêu cực, gây hoang mang trong xã hội. Trừ các thông tin bí mật quân sự, bí mật quốc gia, các thông tin khác, nhất là về các sự kiện lớn, đột xuất, phức tạp, nhạy cảm, có thể gây bất ổn xã hội, thì luôn cần có thông tin chính thống, kịp thời từ cơ quan chức năng, từ người có thẩm quyền phát ngôn cho báo chí, đó chính là sự định hướng dư luận hiệu quả nhất. Trong đó, xây dựng lực lượng đấu tranh phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về QP – AN, hoạt động hiệu quả. Tập trung vào đội ngũ nhà báo, nhà nghiên cứu, thông tin viên, tuyên truyền viên trên lĩnh vực QP - AN có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, luôn xung kích trong đấu tranh, phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về QP - AN, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng. +Nhận diện, đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên lĩnh vực QP - AN là cuộc chiến lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng. Trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có vai trò rất quan trọng. Sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của Quân đội và Công an làm nòng cốt cho toàn dân, là nhân tố trực tiếp trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

ĐỂ VIỆC HỌC VÀ LÀM THEO BÁC HIỆU QUẢ HƠN Ở MỖI CHI BỘ


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền"[1] và "Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới"[2]. Bởi vậy, học tập và làm theo gương Bác qua những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến đang được thực hiện ở nhiều cấp ủy, tổ chức đảng. Vậy làm sao để phương pháp này phát huy hiệu quả thiết thực?
Thời gian gần đây, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở nhiều chi bộ thường diễn ra dưới hình thức phân công đảng viên sưu tầm những câu chuyện về gương điển hình tiên tiến của địa phương để đọc, nghe trong các kỳ sinh hoạt chi bộ. Hình thức này phù hợp với nội dung chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", đó là: “Đẩy mạnh việc phát hiện, bồi dưỡng, biểu dương, tuyên truyền, nhân rộng các tấm gương, điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo Bác”.
Ưu điểm của cách làm này đó là giới thiệu được những tấm gương người tốt việc tốt, điển hình tiên tiến trong học và làm theo gương Bác, xuất phát từ thực tiễn cuộc sống và công tác. Tuy nhiên, ở góc độ khác có thể thấy, đây mới chỉ là việc thuần túy kể lại thành tích, chưa có tác dụng khích lệ, động viên mỗi cán bộ, đảng viên học tập, làm theo. Trong mỗi câu chuyện đều có phần bài học kinh nghiệm để đề nghị đảng viên trong chi bộ học tập, làm theo, nhưng hiệu quả như thế nào thì hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức và ý chí của từng đảng viên. Chi ủy cũng không có kế hoạch theo dõi, giám sát cán bộ, đảng viên học tập, làm theo như thế nào. Có người nghĩ đơn thuần, sưu tầm câu chuyện, kể và nghe trong sinh hoạt chi bộ như vậy là đã hoàn thành nhiệm vụ trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mặt khác, những câu chuyện về người tốt việc tốt, điển hình tiên tiến trong học và làm theo Bác nêu trên đều đã được các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị khen thưởng, biểu dương, tuyên truyền phổ biến qua nhiều kênh thông tin để cán bộ, đảng viên và nhân dân biết đến. Vì thế hình thức học tập và làm theo Bác như các chi bộ đang thực hiện còn hơi máy móc, kém hiệu quả và không gây hứng thú, không có tác dụng khích lệ, động viên cán bộ, đảng viên.
Trong Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị đã nêu rõ, bên cạnh những kết quả đạt được, việc tổ chức thực hiện Chỉ thị 05 còn bộc lộ một số hạn chế: “Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có nơi, có lúc chưa quyết liệt, chưa kịp thời, chưa sát thực tế; một số người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị chưa thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm, còn thụ động, trông chờ, ỷ lại, thiếu sáng tạo trong triển khai thực hiện Chỉ thị. Việc tu dưỡng, rèn luyện, làm theo Bác, nhất là trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt người đứng đầu chưa thường xuyên; một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm các quy định của Đảng, vi phạm pháp luật. Việc thực hiện Chỉ thị 05 gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện nhiệm vụ chính trị và giải quyết các khâu đột phá, các vấn đề cấp bách, bức xúc còn lúng túng, hiệu quả chưa cao. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc còn bị động, kết quả chưa cao. Việc phát hiện, biểu dương các tập thể, cá nhân điển hình trong học tập và làm theo Bác chưa kịp thời, thiếu sức thuyết phục. Công tác đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chưa mạnh mẽ; tự phê bình và phê bình có nơi, có lúc còn hình thức; tình trạng thiếu tự giác nhận khuyết điểm, đổ lỗi, nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi. Công tác kiểm tra, giám sát của nhiều cấp ủy đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, thiếu quyết liệt, phạm vi, đối tượng còn hẹp, hiệu quả cảnh báo, phòng ngừa vi phạm chưa đạt yêu cầu”.
Để việc thực hiện Chỉ thị 05 thời gian tới đạt hiệu quả thiết thực, Kết luận 01-KL/TW cũng nêu rõ, cần phải quán triệt, tập trung làm tốt ba nội dung: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên. Trong Kết luận đã nêu rõ 7 nhóm nhiệm vụ yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên tập trung thực hiện.
Trên cơ sở đó, để việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh trong mỗi chi bộ đạt hiệu quả thiết thực hơn, chúng tôi xin đề xuất một số ý kiến như sau:
1. Về học tập
Thứ nhất, cần tiếp tục quán triệt, giáo dục đảng viên trong chi bộ nâng cao nhận thức về giá trị của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đồng thời xác định rõ việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là công việc và trách nhiệm thiết thân của mỗi cán bộ, đảng viên. Vì đảng viên có nhận thức sâu sắc một vấn đề thì giải quyết vấn đề đó mới đạt hiệu quả cao; xác định rõ một công việc thì hoàn thành công việc đó mới đạt kết quả tốt nhất.
Thứ hai, duy trì hình thức kể những mẩu chuyện về tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh theo chuyên đề hằng năm của Ban Tuyên giáo Trung ương, hoặc kể gương điển hình tiên tiến của tập thể, cá nhân ở địa phương đã được tổ chức có thẩm quyền công nhận. Qua đó liên hệ đưa ra những nội dung làm theo thiết thực nhất để thảo luận, trao đổi trong chi bộ. Quan trọng là phải thống nhất được quan điểm về nội dung làm theo - điểm mới mà trong hình thức sinh hoạt chi bộ vừa nêu trên chưa có, nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm và sự hứng thú của đảng viên trong học tập và làm theo gương Bác. Đồng thời, đây cũng là một giải pháp để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.
Thứ ba, việc phân công đảng viên trong chi bộ sưu tầm, kể chuyện về tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, hoặc kể gương điển hình tiên tiến cần có phương pháp khoa học, đảm bảo hài hòa, cân đối với từng đảng viên. Tránh tình trạng có đảng viên tham gia nhiều lần, có đảng viên ít tham gia, thậm chí không chủ động tìm hiểu, nghiên cứu, sưu tầm, chỉ thụ động nghe lại. Việc đó sẽ dẫn đến nguy cơ phát sinh tình trạng trì trệ, lười học tập, suy nghĩ trong đảng viên.
Chủ tịch Hồ Chí minh cũng đã căn dặn: Một dân tộc, một đảng viên và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Bởi vậy, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cách mạng hằng ngày, là việc nên làm của mỗi cán bộ, đảng viên.
2. Về làm theo
Thứ nhất, cấp ủy chi bộ căn cứ tinh thần Chỉ thị số 05, Kết luận số 01 của Bộ Chính trị và nhiệm vụ chính trị của chi bộ hằng năm để xây dựng kế hoạch làm theo. Theo đó mỗi cán bộ, đảng viên tự xây dựng kế hoạch làm theo cụ thể, thực hiện nghiêm túc, thực chất, định kỳ báo cáo kết quả với chi bộ. Cán bộ, đảng viên có trách nhiệm càng cao thì càng phải tích cực và gương mẫu nêu gương làm theo. Cấp ủy có kế hoạch theo dõi, giám sát, biểu dương kịp thời để khích lệ kết quả làm theo của từng cán bộ, đảng viên và tập thể chi bộ, nhằm tạo cho cán bộ, đảng viên thường xuyên duy trì ý thức học tập và làm theo đạo đức, tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh trong công tác và đời sống.
Thứ hai, lấy kết quả học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh làm một trong những tiêu chuẩn đánh giá, bình xét, phân loại cá nhân và tập thể hằng năm; thông qua đó phát hiện những điển hình tiên tiến để tuyên truyền, nhân rộng.
Tin rằng, với tinh thần “tự soi, tự sửa”, mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên sẽ nỗ lực, cố gắng hơn mỗi ngày trong học tập và làm theo gương Bác Hồ, để nhân rộng, lan tỏa những cái hay, cái đẹp trong xã hội như Bác hằng mong muốn./.
[1] Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2011, tập 1, tr.284.
[2] Sách đã dẫn, tập 15, tr.672.
Tạp Chí Xây Dựng Đảng
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'A VÀ LÀM THEO ĐẨY MẠNH HỌC TẬP TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ» CHÍ MINH'

VIỆT NAM NỖ LỰC BẢO ĐẢM AN NINH LƯƠNG THỰC TOÀN CẦU


Ngày 3-8, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã tổ chức Phiên thảo luận mở về “Nạn đói và mất an ninh lương thực do ảnh hưởng của xung đột” dưới sự chủ trì của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken (Chủ tịch Hội đồng Bảo an tháng 8-2023) với sự tham dự và phát biểu của đại diện hơn 80 nước thành viên Liên hợp quốc.
Phát biểu tại cuộc họp, diễn giả từ một số tổ chức quốc tế và đại diện các nước đánh giá thế giới đang đối mặt với nguy cơ mất an ninh lương thực do tác động đan xen của các yếu tố an ninh truyền thống và phi truyền thống, như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, xung đột vũ trang...
Về giải pháp, các ý kiến cho rằng cần tăng cường vai trò của Liên hợp quốc, nhất là Hội đồng Bảo an, trong việc ngăn ngừa xung đột, tăng cường hệ thống cảnh báo sớm về nguy cơ mất an ninh lương thực, củng cố hệ thống lương thực toàn cầu theo hướng bền vững hơn, bảo đảm khả năng tiếp cận lương thực của dân thường trong xung đột.
Phát biểu tại Phiên thảo luận, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc nhấn mạnh, các báo cáo gần đây và thảo luận tại Hội nghị Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) lần thứ 43 diễn ra tại Rome (Italy) tháng 7 vừa qua cho thấy thế giới đang phải đối mặt với thách thức ngày càng lớn về an ninh lương thực.
Trong khi hầu hết các lĩnh vực đã phục hồi ở mức độ khác nhau sau đại dịch, tình trạng mất an ninh lương thực tiếp tục là vấn đề nan giải ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là các khu vực có xung đột. Do đó cần có cam kết và nỗ lực chung mạnh mẽ hơn của cộng đồng quốc tế để chấm dứt vòng luẩn quẩn giữa xung đột và đói nghèo.
Nhấn mạnh cách hiệu quả nhất để ngăn ngừa nạn đói tại các vùng xung đột là ngăn chặn bạo lực và xây dựng hòa bình, Đại sứ Đặng Hoàng Giang cho rằng Hội đồng Bảo an cần đóng vai trò hiệu quả hơn trong giải quyết nguyên nhân gốc rễ của xung đột, qua đó giảm thiểu rủi ro mất an ninh lương thực do xung đột.
Đại diện Việt Nam kêu gọi các bên trong xung đột tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, đặc biệt là luật nhân đạo quốc tế, không phá hủy cơ sở hạ tầng thiết yếu đối với sự sống của dân thường, nhất là phụ nữ và trẻ em, như quy định tại Nghị quyết 2573 do Việt Nam đề xuất khi làm Chủ tịch Hội đồng Bảo an tháng 4-2021. Đồng thời, Hội đồng Bảo an cần phối hợp chặt chẽ hơn với các cơ quan chuyên môn như FAO, Chương trình Lương thực thế giới (WFP) và các đối tác quốc tế để giải quyết nạn đói ở các khu vực xung đột, hợp tác với các tổ chức khu vực để tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống lương thực và bảo đảm chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đại sứ Đặng Hoàng Giang khẳng định an ninh lương thực vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, trong đó ưu tiên phát triển nông nghiệp ít phát thải và có khả năng chống chịu tác động của biến đổi khí hậu, mong muốn đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo về lương thực trong khu vực.
Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh Việt Nam cam kết tiếp tục đóng góp tích cực cho an ninh lương thực toàn cầu, thông qua duy trì xuất khẩu gạo và các nông sản khác một cách ổn định; sẵn sàng cùng cộng đồng quốc tế giải quyết tình trạng mất an ninh lương thực do tác động của xung đột.
TTXVN
Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, phát biểu tại phiên thảo luận. Ảnh: TTXVN
Có thể là hình ảnh về 1 người, phòng tin tức và văn bản cho biết 'VIET NAM'