Thứ Ba, 8 tháng 8, 2023

 

Bài viết “Yêu nước thế nào cho có văn hóa?”

của Trần Công Hưng trên BBC tiếng Việt


Có lẽ không phải tranh luận, bàn cãi thì ai cũng hiểu ít nhiều về truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam từ ngàn đời nay. Vẫn biết mỗi thời mỗi khác, mỗi người hiểu về lòng yêu nước và thực hành yêu nước theo cách khác nhau. Nhưng phải thấy rằng, dân tộc Việt Nam là dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn kết, tương thân tương ái “lá lành đùm lá rách”, thậm chí là “lá rách ít, đùm lá rách nhiều”.

Nếu ai không công nhận, không tán đồng với quan điểm “dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước” thiết nghĩ cũng chẳng sao. Xã hội có người này, người khác, có người nhận thức cao, nhận thức trung bình và nhận thức thấp... song điều quan trọng là họ xem xét về lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam bằng thái độ gì? thiện cản, chân thành hay thù hằn, ác ý.

Riêng cá nhân tôi, khi đọc bài viết “Yêu nước thế nào cho có văn hóa?” của ông Trần Công Hưng đăng trên trang BBC tiếng Việt thì cho rằng: tác giả đúng là người “đã từng là người Việt Nam”, chứ hiện nay thì chắc chắn không phải là người Việt Nam nữa rồi. Bởi vì, cách suy nghĩ, cách lập luận tưởng chừng như rất “khoa học”, minh chứng rất “lôgic”, lại có kèm theo cả các hình ảnh minh họa... song thái độ của tác giả rõ mười mươi là hằn học, ác ý, chê bai, coi thường người dân đất Việt chúng ta.

 Đọc bài viết này, công bằng mà nói tác giả cũng đã đề cập đến những thói hư, tật xấu của người Việt Nam chúng ta. Điều này có một chút là chính xác, không phải chờ đến bài viết này mà nhân dân ta, các nhà lãnh đạo, quản lý, các nhà khoa học và bạn bè quốc tế mới biết đến vấn đề này. Chúng ta thừa nhận rằng, người Việt Nam vẫn còn những thói hư, tật xấu như: văn hóa tham gia giao thông, sinh hoạt công cộng chưa tự giác; ý thức bảo vệ môi trường chưa tốt, thậm chí có lúc, có nơi có tư tưởng ích kỷ, bản vị, cục bộ địa phương... song không vì thế mà quy kết người Việt Nam: thiếu văn hóa, thiếu văn minh, hoặc thể hiện lòng yêu nước, văn hóa yêu nước không phù hợp giống như cách lập luận của ông Trần Công Hưng.

Thử hỏi, nếu dân tộc ta không có lòng yêu nước, thiếu văn hóa trong thể hiện lòng yêu nước thì suốt mấy ngàn năm qua, khi bắt buộc phải đối đầu sinh tử với giặc ngoại bang phương Bắc, kẻ thù phương Nam, các thế lực thực dân, đế quốc phương Tây... có tiềm lực về kinh tế, quân sự mạnh gấp nhiều lần dân tộc Việt Nam, chúng dùng đủ mọi thủ đoạn, dã tâm để xâm lược, đô hộ, đồng hóa, thuần phục, “bắt nạt” dân tộc Việt Nam nhỏ bé mà sao tất cả bọn chúng đều nhận thất bại cay đắng, nhục nhã ê chề, dân tộc ta vẫn giữ được độc lập, tự do, vẫn hiên ngang đứng vững và ngày càng có vị thế, có uy tín cao hơn trên trường quốc tế (?).

Thử hỏi, mỗi khi đất nước bị thiên tai, thảm họa như lũ lụt, hạn hán, hỏa hoạn... đã khi nào thế giới nhìn thấy người Việt Nam bàng quan, thờ ơ trước những đau thương, mất mát, thiếu thốn... của đồng bào, đồng chí, đồng hương, đồng tộc hay chưa (?)...

Chắc chắn là trong các cuộc chiến tranh sinh tồn không có sự may mắn; trong những lúc khó khăn, hoạn nạn người dân Việt Nam không bỏ rơi nhau hay trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ từ bên ngoài. Vậy điều gì làm nên sự khác biệt giữa Việt Nam với các dân tộc khác, nếu như người dân Việt Nam không có lòng yêu nước, thương nòi, không có tinh thần đồng cam cộng khổ, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, không có văn hóa yêu nước như cách ông Trần Công Hưng lập luận (!).

Khi viết bài báo “Yêu nước thế nào cho có văn hóa”, Trần Công Hưng chỉ dùng đôi mắt “thiển cận”, lại đứng quan sát ở tận đẩu đâu; do vậy, ông ta “có mắt không thấy núi Thái Sơn”, “thấy cây nhưng không thấy rừng”, “biết một mà chẳng biết hai”. Ông ta thật ra mới chỉ “Nhìn” chứ không phải “Quan sát”. Nhân việc thấy hiện tượng một số khán giả đến cổ vũ cho đội tuyển U19 Việt Nam trên Sân vận động Mỹ Đình có hiện tượng xô đẩy, chen lấn, la ó, đứng lên ghế, xả rác hay hiện tượng một số người thiếu ý thức lấy cắp đồ đạc hàng hóa của xe ô tô tai nạn... mà đã quy kết, đánh giá lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam với một bộ phận rất nhỏ trong xã hội. Thực chất đây là cách lập luận thiếu cơ sở khoa học, phản động về chính trị rất rất phiến diện, sai lầm, ác ý.

Cá nhân tôi không biết Trần Công Hưng là ai, ở đâu, làm gì... mà cũng chẳng cần phải biết để làm gì. Nhưng chỉ việc ông này viết bài “Yêu nước thế nào cho có văn hóa?” đăng tải trên BBC tiếng Việt thì cũng đủ thấy rằng trình độ của ông cũng chỉ dừng lại ở trạng thái A, B, C như trẻ mới vào lớp một; thái độ của ông cũng chẳng phải tốt đẹp gì cho cam.

Nói đi thì phải nói lại, tôi vẫn khuyên ông Trần Công Hưng một điều: nên quan sát cho kỹ, tìm hiểu cho rõ, nói năng, viết lách cho cẩn thận... nhất là khi động chạm đến niềm vinh dự, tự hào, truyền thống của dân tộc Việt Nam. Bởi nếu không, chính ông và người thân của ông sẽ trở nên lạc lõng trong dòng đời, bơ vơ trong cuộc sống, trước sau gì cũng chịu những kết cục bị thảm, mà tương lai trước mắt chính là cảnh tha hương, “cù bơ, cù bất” nơi xứ người hoặc sống trên quê hương mà bị nhân dân, bị cộng đồng xa lánh, coi như một thứ bỏ đi, ngoài vòng xã hội. Viễn cảnh ấy, dẫu chẳng ai muốn, nhưng nó sẽ đến với những ai đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc, đi ngược lại với dòng chảy cuộc sống đương đại, và không ai khác những người như ông Trần Công Hưng phải hứng chịu đầu tiên./.

 

 

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU

XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI, HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI

CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA


Thực hiện chủ trương chủ động hội nhập quốc tế, trong thời gian qua, hoạt động đối ngoại của Việt Nam đã có nhiều bước phát triển quan trọng, góp phần tiếp tục khẳng định vị thế của đất nước trên trường quốc tế, đem lại những điều kiện thuận lợi to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hình ảnh một nước Việt Nam quyết tâm chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, giữ vững độc lập chủ quyền; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, yêu chuộng hoà bình, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế đang ngày càng được khẳng định.

          Thành quả đó vừa phản ánh sự đúng đắn về đường lối đối ngoại, đối ngoại quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta, sự nỗ lực, quyết tâm của các cấp, các ngành trong cả nước; vừa đem lại niềm tự hào cho dân tộc ta về ý chí vươn lên, khẳng định mình trong bối cảnh quốc tế đầy biến động, phức tạp, diễn biến khó lường. Chúng ta đang ngày càng có vị trí, vị thế xứng đáng, uy tín và tiếng nói được tôn trọng trong các quan hệ, diễn đàn quốc tế.

          Trước thực tế ấy, trong khi đa số người Việt Nam ở trong nước, đồng bào ta ở nước ngoài vui mừng, thì một bộ phận nhân danh “những người yêu nước”, quan tâm đến “vận mệnh đất nước” lại tỏ ra “quan ngại”, “lo lắng” với những lý do bất bình thường. Họ bàn luận, bình luận khá nhiều vấn đề, trong đó, điều đáng buồn là có khá nhiều luận điệu thiếu thiện chí, xuyên tạc trắng trợn đường lối, hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước. Họ cho rằng, những hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta “mù mờ do bị chi phối bởi ý thức hệ lạc hậu”, rằng, “không minh bạch về mục đích, phương hướng”. Họ cho rằng đó là thủ đoạn ngoại giao “Bắt cá hai tay”, là “Biểu hiện sự hoảng sợ trước sức mạnh trỗi dậy của Trung Quốc, nên phải cố tìm ra đối trọng”,...Rằng, “Không ai muốn can thiệp khi Việt Nam bị lâm nguy, do sợ phật lòng những đối tác chiến lược khác”(!).

Chúng ta không loại trừ trong số những người đưa ra những luận điệu này có người là do sự ngộ nhận, a dua do thiếu cân nhắc, thiếu thông tin, hoặc hiểu chưa đầy đủ, phiến diện về đường lối, hoạt động đối ngoại của Việt Nam. Nhưng chúng ta cũng tỉnh táo để khẳng định rằng, hầu hết những người tung ra những luận điệu này đều tỏ rõ sự thiếu thiện chí, tỏ rõ ý đồ cố tình xuyên tạc, phá hoại đường lối, phủ nhận kết quả hoạt động đối ngoại của chúng ta.     

Chúng ta thừa hiểu rằng, thực chất dã tâm của những người tỏ ra “lo lắng, băn khoăn” về hoạt động đối ngoại của Việt Nam, chẳng qua là họ muốn Việt Nam đi theo, ngả theo con đường của Mỹ và Phương Tây. Vì thế, họ mới nhiệt tình biện luận rằng, theo Mỹ và Phương Tây mới đảm bảo có đủ sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc, chống lại sự khiêu khích, chi phối bởi ý thức hệ tư tưởng từ bên ngoài (ngụ ý chỉ Trung Quốc). Và rằng, như thế thì mới “minh bạch về mục đích, phương hướng”. Đồng điệu với những kẻ ra sức phá hoại xuyên tạc lý luận Mác - Lênin, dã tâm của họ tựu trung lại cũng là muốn chúng ta từ bỏ ý thức hệ, chống lại Trung Quốc, mở đường cho sự can thiệp, chi phối của các lực lượng thù địch, nhất khi có những va chạm trên Biển Đông.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn ý thức được rằng, Đảng, Nhà nước ta chưa bao giờ đặt lợi ích bảo vệ hệ tư tưởng lên trên lợi ích cùa dân tộc như họ từng vu cáo, xuyên tạc. Chúng ta kiên quyết bảo vệ chủ quyền thiêng liêng, nhưng bình tĩnh xử lý linh hoạt thông qua đàm phán, dựa trên luật pháp quốc tế, không bị kích động, phung phí, nóng vội sử dụng vũ lực. Chúng ta đã làm hết sức để duy trì môi trường hoà bình, cái chúng ta cần để phát triển đất nước và góp phần giữ gìn môi trường ổn định trong khu vực. Kết quả là, Việt Nam, Trung Quốc đã nhất trí không ngừng làm phong phú thêm mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, hai nước đã có nhiều bước tiến quan trọng trong giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông, đã thông qua văn kiện “Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; biên phòng hai nước đã thiết lập “đường dây nóng” trao đổi, xử lý kịp thời những vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển; hai bên thoả thuận cùng các nước ASEAN xúc tiến tiến trình đàm phán để đi đến Bộ Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (COC)... Đối với Hoa Kỳ, chúng ta đã luôn nỗ lực cải thiện mối quan hệ, do đó, từ chỗ bình thường hoá quan hệ, Việt Nam với Hoa Kỳ đã thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Với quan điểm, chủ trương đối ngoại nhất quán, hợp lý, quan hệ giữa nước ta với các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống, các nước láng giềng không ngừng tiến triển tốt đẹp.

Rõ ràng những luận điệu cho rằng, đường lối, hoạt động ngoại giao của Việt Nam “không minh bạch về mục đích, phương hướng”, “hoạt động ngoại giao mù mờ do bị chi phối bởi ý thức hệ lạc hậu” là hoàn toàn vô lý, đi ngược lại xu thế phát triển, cố tình phủ nhận thành quả đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Không khó khăn gì để nhận thấy rằng, những kiểu phát biểu, những luận điệu này cùng một giuộc với những luận điệu “Tổ quốc cao hơn Nhà nước và chế độ”, “Tổ quốc Việt Nam là cội nguồn chung của mọi người Việt Nam... Vì thế, dĩ nhiên Tổ quốc không thể mang một ý thức hệ tư tưởng nào cả” (!); thực ra, nó nằm trong âm mưu chung là tiếp sức, cổ suý cho những mưu toan xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi.

Ở khía cạnh khác, chúng ta thấy rằng, những kẻ đã tung ra những quan điểm, luận điệu thiếu trách nhiệm, thiếu thiện chí trên đây đã xuyên tạc truyền thống ngoại giao khoan dung, thân thiện với phương châm “thêm bạn bớt thù”, chủ động ngăn chặn xung đột, mầm mống chiến tranh, mong muốn xây dựng cuộc sống thái bình của dân tộc Việt Nam. Truyền thống ấy không chỉ hiện hữu trong lúc gặp khó khăn về thế và lực, vận mệnh bị đe doạ mà ngay cả khi dân tộc ta đang trên thế chiến thắng. Trong lịch sử dân tộc, sau đại thắng quân Minh, cha ông ta đã thực hiện “Sửa hoà hiếu hai nước, tắt muôn đời chiến tranh” (Cáo Bình Ngô- Nguyễn Trãi). Trong chiến tranh giải phóng dân tộc của thế kỷ XX vừa qua, một mặt chúng ta kiên quyết chống xâm lược, đế quốc, song mặt khác, chúng ta cũng luôn tích cực xây dựng tình hữu nghị, tranh thủ sự ủng hộ chính nghĩa, vãn hồi hoà bình của nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ và bạn bè quốc tế.

Họ đã cố tình phủ nhận đường lối đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định cho sự phát triển, phấn đấu vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội mà Đảng, Nhà nước, nhân dân ta công khai tuyên bố và được bạn bè quốc tế hoan nghênh, cổ vũ, bởi nó hợp với xu thế thời đại, là nguyện vọng, ý chí của tất cả các quốc gia, dân tộc không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển, bản sắc văn hoá trong điều kiện toàn cầu hoá. Do đó, những ý kiến muốn từ bỏ, xuyên tạc phương châm đối ngoại đa phương hoá, đa đạng hoá, mở cửa, làm bạn, chủ động hội nhập quốc tế là không thức thời, lạc hậu, là phủ nhận bài học của quá khứ, đi ngược lại dòng chảy của lịch sử đương đại. Có chăng nó chỉ hợp với luận điệu của những người muốn Việt Nam ngả hẳn sang Phương Tây, thù hận với nước láng giềng Trung Quốc, quay lưng lại với bạn bè truyền thống đã từng giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Vận mệnh của dân tộc là do chính dân tộc ta quyết định, sao lại lấy làm điểm tựa cho các “đối trọng” khác can thiệp giải quyết. Không hiểu lòng tự hào, tự tôn dân tộc có còn trong những con người Việt Nam nhân danh “yêu nước” này hay không?

Chúng ta thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị. Theo đó, phải lấy độc lập, tự chủ với thực lực bên trong là yếu tố căn bản, quyết định, kiên quyết không bị lệ thuộc, chi phối, can thiệp từ bên ngoài; còn sức mạnh bên ngoài do hoạt động đối ngoại mang lại có vai trò quan trọng, hỗ trợ đắc lực và dù có được chuyển hoá nhưng cũng không thể thay thế được sức mạnh nội lực. Liên quan đến đối ngoại quốc phòng, Việt Nam đã khẳng định chính sách quốc phòng hoà bình, tự vệ của mình, Việt Nam không là đồng minh quân sự của nước nào và không để nước ngoài nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam, Việt Nam không liên minh với nước này để chống lại nước khác, sức mạnh quân sự của Việt Nam chỉ nhằm tự vệ, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, không nhằm vào bất cứ quốc gia nào. Đó là tư thế, là ý chí, nguyện vọng của dân tộc ta được chung đúc, kết tinh từ lịch sử dựng nước, giữ nước và được tiếp nối, phát huy trong thời đại mới.

Lẽ nào, dân tộc ta với truyền thống kiên cường, bất khuất trong chống ngoại xâm lại lo sợ về sự mặc cả, hay việc các cường quốc sợ làm mất lòng đối tác chiến lược khi can thiệp, giúp đỡ ta lúc lâm nguy. Bài học của Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu về sự trông chờ vào sự giúp đỡ, cải cách của Pháp, Nhật đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX vẫn còn đó, ước vọng của hai nhà chí sĩ yêu nước nhiệt thành đã thất bại, chỉ đến khi chúng ta “Lấy sức ta mà giải phóng cho ta” vào mùa thu năm 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng, Cách mạng Tháng Tám thành công, dân tộc ta mới thoát khỏi gông cùm nô lệ, đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Tại Đối thoại Shangri-la lần thứ 12 vừa qua, Thủ trướng Nguyễn Tấn Dũng đã nêu rõ: Việt Nam kiên định nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá... Việt Nam mong muốn thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc dựa trên nguyên tắc độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, được cam kết và nghiêm túc thực hiện.        

Chúng ta hoàn toàn tin tưởng, khẳng định rằng, đường lối, quan điểm, hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn, hợp lý, được đông đảo các quốc gia trên thế giới tin tưởng, ủng hộ; vị thế, uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao. Bởi vậy, dù cho các thế lực thù địch, những kẻ thiếu thiện chí và những người ngộ nhận, thiếu hiểu biết ra sức tung ra những phát biểu thiếu khách quan hay những luận điệu xuyên tạc, thì với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị đúng đắn, công khai nhất định vẫn tiếp tục đưa đến những thành công của Việt Nam trên trường quốc tế, chúng ta sẽ có thêm nhiều bạn, nhiều đối tác và quan hệ quốc tế sâu sắc phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tình thế tích cực ấy không thể đảo ngược./.


 

ĐÒI “ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG” - MỘT CHIÊU BÀI LỖI THỜI

Vừa qua, trên các trang mạng xã hội xuất hiện loạt bài viết mượn danh nghĩa “kiến nghị” để đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam. Đây là vấn đề không mới, chỉ lừa gạt được một số ít người thiếu hiểu biết.

Nhớ lại những năm 90 của thế kỷ XX, khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, trào lưu đòi “đa nguyên, đa đảng” của các “nhà dân chủ” nhằm lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi theo quỹ đạo của vòng xoáy khủng hoảng rộ lên quyết liệt. Họ tung tin: “Chừng nào ở Việt Nam chỉ có độc đảng lãnh đạo thì chừng đó không thể nói tới một nền dân chủ thực sự”; và rằng, “muốn có dân chủ thực sự thì Việt Nam phải hội nhập vào xu thế đa đảng như phương Tây” (?). Họ ra sức tuyên truyền, phụ họa cho những điều phi lý, hòng “đổi trắng thay đen” và “đánh tráo lịch sử”, với mưu đồ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đối với Nhà nước và xã hội. Trong thành phần của “dàn hợp xướng” đó, có cả một số người từng được học hành tử tế trong chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), có điều kiện phát huy tài năng trên các lĩnh vực hoạt động và có cả những người từng vào sinh ra tử vì lý tưởng cộng sản, từng đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị… Đáng tiếc là, trước những khó khăn của cách mạng và sự tuyên truyền, kích động của các thế lực thù địch, họ đã “trở cờ”, thậm chí còn làm “người lính xung kích” phục vụ cho những mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, đi ngược lại lợi ích chính đáng của dân tộc. Để đạt mục đích đề ra, các “nhà dân chủ” đã không từ một thủ đoạn nào để chống phá nền tảng tư tưởng, chính trị của đất nước; trong đó, viết bài, tán phát tài liệu với nội dung tô hồng nền dân chủ, lối sống phương Tây; đả kích chế độ hiện hành, phủ nhận những thành tựu của đất nước dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN; kích động mâu thuẫn nội bộ, cho rằng trong Đảng, trong Quốc hội có bè nọ, phái kia,… là những thủ đoạn quen thuộc.

Gần đây, trên các trang mạng xã hội lại rộ lên những bài viết về đề tài này. Lời lẽ của những bài viết đó chẳng có gì mới; vẫn lặp lại những ngôn từ cũ rích, như: “độc đảng là mất dân chủ”, “ĐCSVN tiếm quyền lãnh đạo” hoặc chỉ có thực hiện chế độ “đa nguyên, đa đảng” thì “xã hội Việt Nam mới nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo”… Có tác giả còn lớn tiếng kêu gọi những đảng viên cộng sản hãy ra khỏi Đảng để thành lập một đảng mới, làm đối trọng với ĐCSVN. Họ cho rằng, có như vậy thì trong xã hội mới có dân chủ. Với vỏ bọc “vì dân, vì nước”, “đấu tranh cho nền dân chủ ở Việt Nam”, những tuyên bố của họ đã làm cho một số ít người thiếu hiểu biết lầm tưởng rằng: xã hội cứ có nhiều đảng thì sẽ có dân chủ hơn, có động lực để phát triển nhanh hơn.

Thực tế luôn khẳng định, chế độ một đảng hay nhiều đảng hoàn toàn chưa nói lên trình độ dân chủ ở từng nước; mà dân chủ phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền ở nước đó. Trên thế giới hiện nay, có những nước tồn tại nhiều đảng mà quyền tự do, dân chủ của nhân dân vẫn không được bảo đảm; ngược lại, có những nước chỉ một đảng cầm quyền, nhưng đảng đó biết đặt lợi ích của mình gắn bó với lợi ích của đa số nhân dân lao động thì quyền tự do, dân chủ vẫn được phát huy. Nước Mỹ hiện có 112 đảng, nhưng thực chất chỉ có Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ thay nhau cầm quyền. Tuy bề ngoài là chế độ đa đảng đối lập, nhưng xét về bản chất thì đảng nào cầm quyền cũng là đại diện cho quyền lợi của giai cấp tư sản - giai cấp chiếm số ít trong xã hội, nhưng lại nắm phần lớn tài sản của đất nước. Chính phong trào “Chiếm phố Uôn” ở nước Mỹ năm 2011 đã vạch trần thực chất nền dân chủ của Mỹ là nền dân chủ phục vụ cho 1%, của 1%, vì 1% dân Mỹ; đó là các nhà tư bản tài phiệt.

Ở Việt Nam, sự lãnh đạo của ĐCSVN được Hiến pháp (1980 và 1992) khẳng định là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Trong các kỳ đại hội, Đảng luôn nhất quán về vấn đề này. Điều này hoàn toàn không xuất phát từ ý muốn chủ quan của Đảng như các thế lực thù địch vẫn xuyên tạc, mà có cơ sở khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Cần nói thêm rằng, không phải Việt Nam chưa từng có chế độ đa đảng, mà chính lịch sử đã sớm phủ nhận chế độ đó. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, xã hội Việt Nam đã có giai đoạn tồn tại nhiều đảng phái, với những xu hướng chính trị khác nhau. Năm 1946, trước yêu cầu của cách mạng, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, ĐCSVN đã tuyên bố tự giải tán để thành lập Chính phủ đoàn kết dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu với sự tham gia của nhiều đảng phái đối lập, như: Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách)…, với mục tiêu chung là chống thực dân Pháp xâm lược, xây dựng hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước. Nhưng khi quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam, thì hai đảng đó cũng cuốn gói chạy theo, chỉ còn ĐCSVN là trung thành với lý tưởng của mình, lãnh đạo nhân dân phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đánh đuổi thực dân Pháp, sau đó là đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, mang lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, đưa cả nước đi vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và CNXH. Cũng có thời kỳ, ngoài ĐCSVN, tồn tại Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam; nhưng, cả hai đảng đều công nhận sự lãnh đạo của ĐCSVN và khi nhận thấy không còn vai trò lịch sử thì đã tuyên bố tự giải tán. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của ĐCSVN. Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng cho thấy, sự tồn tại một đảng hay nhiều đảng là do yêu cầu khách quan của lịch sử và sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân. Vai trò độc tôn lãnh đạo của ĐCSVN là sự lựa chọn khách quan của lịch sử đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, không như luận điệu của các “nhà dân chủ” cho rằng ĐCSVN “tiếm quyền”. Vì thế, mọi mưu đồ đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam đều không thể chấp nhận được!

Cũng phải thấy rằng, trong quá trình lãnh đạo, ĐCSVN không tránh khỏi những khuyết điểm, sai lầm, thậm chí đã có lúc phạm sai lầm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí. Song, Đảng đã nghiêm túc tự chỉnh đốn, tự đổi mới thông qua kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, nhằm tiếp tục lãnh đạo đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên. Mới đây, trên cơ sở nhận thức được những nguy cơ có thể đe dọa đến sự tồn vong của chế độ, Đảng đã ra Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” để kịp thời chấn chỉnh những hạn chế, khuyết điểm. Đây được coi là nghị quyết của “ý Đảng, lòng dân” nhằm xây dựng Đảng ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ. Chúng ta không phủ nhận trong xã hội vẫn còn những biểu hiện thiếu dân chủ, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhưng đó chỉ là những hiện tượng riêng lẻ, là những thiếu sót, hạn chế cụ thể trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN. Không thể xem đó là bản chất của Đảng; cũng không thể coi đó là bản chất của nền dân chủ mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang gắng sức xây dựng; càng không thể dựa vào những hiện tượng đó để tạo cớ đòi “đa nguyên, đa đảng”. Phía sau chiêu bài kích động đòi “đa nguyên, đa đảng”, không có mục đích gì khác ngoài mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội. 

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thu được nhiều thành tựu to lớn, làm thay đổi căn bản bộ mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước. Đời sống của nhân dân từng bước được nâng cao; dân chủ xã hội ngày càng được bảo đảm… Điều đó một lần nữa khẳng định vai trò lãnh đạo của ĐCSVN trong công cuộc giải phóng dân tộc trước kia, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực tiễn đó cũng là minh chứng hùng hồn bác bỏ ý kiến của những người lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” để chống Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN, đi ngược lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân lao động. Vấn đề đặt ra hiện nay đối với đất nước không phải là sự lựa chọn một đảng hay nhiều đảng mà phải thực hiện tốt hơn nữa sứ mệnh lãnh đạo của ĐCSVN trong tiến trình phát triển. Mọi mưu toan kích động, đòi “đa nguyên, đa đảng” chỉ là một chiêu bài đã lỗi thời./.


Thứ Hai, 7 tháng 8, 2023

XUYÊN TẠC QUAN ĐIỂM QUỐC PHÒNG, AN NINH CỦA ĐẢNG - THỦ ĐOẠN NHAM HIỂM CẦN BÁC BỎ

 

          Tăng cường quốc phòng, an ninh là yêu cầu tất yếu khách quan, nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề mà các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, đòi hỏi phải nhận diện và đấu tranh kiên quyết.

          Quốc phòng, an ninh là lĩnh vực đặc thù, nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đường lối, quan điểm của Đảng ta về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong 35 năm đổi mới vừa qua đã không ngừng được bổ sung, phát triển, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội, nổi bật là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”1. Đây là kết quả của quá trình phát triển tư duy của Đảng ta trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm, truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới. Sự phát triển đó còn dựa trên cơ sở nhận định, đánh giá, dự báo khách quan, chính xác tình hình thế giới, khu vực, trong nước; gắn bảo vệ Tổ quốc với xây dựng, đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế, phát triển đất nước phù hợp với ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

          Sự bổ sung, phát triển tư duy mới của Đảng ta về quốc phòng, an ninh là tất yếu khách quan - nhân tố quan trọng góp phần làm nên những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín, tiềm lực, sức mạnh mới cho đất nước. Nhưng với dã tâm phá hoại sự nghiệp cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, công kích chủ trương đúng đắn ấy, cố tình cản trở, gây nhiễu, hướng lái dư luận, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Thực hiện mưu đồ đó, chúng triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội và một số báo, đài phát thanh tiếng Việt ở nước ngoài để xuyên tạc, bóp méo trắng trợn quan điểm, đường lối của Đảng ta về tăng cường quốc phòng, an ninh; những hoạt động đối ngoại, các sự kiện quan trọng trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Mỗi khi tình hình an ninh, chính trị - xã hội, tình hình biên giới, biển, đảo có những diễn biến phức tạp, nhạy cảm, họ lại ra sức lợi dụng để xuyên tạc, gây nhiễu thông tin, tạo sự hoài nghi của các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; từ đó, kích động lôi kéo các phần tử bất mãn, cực đoan tạo lập lực lượng đối lập chống phá Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang ta.

          Với những lập luận theo lối “đánh lận con đen”, họ thêu dệt, xuyên tạc nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; cho rằng: Đảng, Nhà nước ta vì sợ mất vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền đất nước và xã hội mà ám ảnh, hù dọa về âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, về nguy cơ xung đột vũ trang, chiến tranh xâm lược,... lấy đó làm cái cớ để tuyệt đối hóa, đề cao nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, xem nhẹ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Thâm hiểm hơn, họ còn rắp tâm quy kết: Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại là bị “cuốn theo” hoặc “khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực”; từ đó, mưu đồ “chống lại một nước thứ ba”. Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch còn xuyên tạc Đảng, Nhà nước ta tập trung quá nhiều nguồn lực cho việc xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, “ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của nhân dân vốn đã có nhiều khó khăn, thiếu thốn”; đồng thời, làm nảy sinh các tiêu cực, như: đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng không thể kiểm soát được, làm cho đất nước rơi vào tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, v.v. Nhằm tạo tâm lý hoài nghi, sự mâu thuẫn trong nhận thức của nhân dân đối với chủ trương của Đảng về xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân hiện đại, chúng kích động tư tưởng đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với việc xây dựng Quân đội, Công an nói riêng và sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc nói chung. Thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội, họ đưa ra quan điểm: “Quân đội nên trung lập, đứng ngoài chính trị” và “chỉ tuân theo pháp luật” như quân đội các nước phương Tây. Đồng thời, xuyên tạc, phủ nhận bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp, mục tiêu lý tưởng, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân; thổi phồng hạn chế, khuyết điểm và vu cáo, nói xấu, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy cao cấp của Quân đội ta, tạo ra sự nghi ngờ, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối quốc phòng, an ninh của Đảng với mục đích phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Để gia tăng hiệu quả, họ kích động các phần tử cơ hội, bất mãn lợi dụng mạng xã hội tấn công liên tục với cường độ cao, tạo sức ép dư luận, làm cho Đảng ta phải “điều chỉnh” quan điểm về quốc phòng, an ninh theo ý đồ của họ.

          Những thủ đoạn trên của các thế lực thù địch là đặc biệt nguy hiểm, gây hoang mang, tạo sự nghi ngờ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào đường lối quân sự, quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc và phương hướng xây dựng Quân đội, Công an hiện đại của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, tác động tiêu cực đến quá trình triển khai, thực hiện đường lối của Đảng về quốc phòng, an ninh; kìm hãm và gây bất lợi cho ta trong quan hệ quốc tế và đối ngoại quân sự, quốc phòng, an ninh, nhất là với các nước lớn, các nước trong khu vực, cũng như bảo đảm hòa bình cho sự ổn định, phát triển đất nước, v.v. Từ đó, họ hướng lái tư tưởng xây dựng quân đội theo mô hình phương Tây; khơi dậy sự “mong ngóng” trong xã hội về sự liên kết, hỗ trợ, “giúp đỡ” của cường quốc để hiện đại hóa Quân đội, tác động tiêu cực, cản trở sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

          Một sự thật hiển nhiên không thể bác bỏ: trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng với sự xuất hiện của các hình thái chiến tranh hiện đại và phương thức tác chiến mới; nhiều nước trong khu vực và trên thế giới gia tăng đầu tư cho quốc phòng, đã và đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội, Công an, tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đồng thời, còn là yếu tố trực tiếp tạo lập môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Đặc biệt, để ứng phó kịp thời với các mối đe dọa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đang nổi lên ngày càng gay gắt, vấn đề tăng cường quốc phòng, an ninh là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Như vậy, Đảng ta xác định “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với khả năng của nền kinh tế, trình độ khoa học - công nghệ của đất nước và xu thế của khu vực, thế giới. Chủ trương này vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước mắt và lâu dài, vừa đáp ứng sự mong mỏi, nguyện vọng chính đáng và giải đáp những băn khoăn, vướng mắc trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an và nhân dân ta. Bên cạnh đó, thực tiễn lịch sử đã minh chứng, dân tộc Việt Nam luôn phải đương đầu với sự thôn tính, xâm lăng của các thế lực ngoại bang có tiềm lực kinh tế, quân sự hơn ta nhiều lần; vì vậy, “lo giữ nước từ khi nước chưa nguy” là tư tưởng lớn và là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Kế thừa kinh nghiệm, truyền thống ấy và xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, phát triển và nâng lên tầm cao mới thành kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và được thể hiện tập trung trong hệ thống các chiến lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đây là cơ sở, tiền đề tất yếu khách quan, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, đem lại cho nhân dân ta cuộc sống bình an, ấm no, hạnh phúc.

          Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp được hợp thành từ nhiều yếu tố, trong đó tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh giữ vai trò cốt yếu, trực tiếp. Vì vậy, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là yêu cầu tất yếu khách quan, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp: chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, tranh chấp biên giới, chủ quyền biển, đảo,… diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng quyết liệt, khó dự báo. Việt Nam xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là nhằm mục đích tự vệ, thể hiện tính chất hòa bình, chính nghĩa, không phải là “khơi mào” cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, để “chống lại một nước thứ ba” nào đó, làm cho tình hình trở nên phức tạp và “nóng” hơn như sự xuyên tạc xảo trá theo kiểu “gắp lửa bỏ tay người” của các thế lực thù địch.

          Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta: xây dựng Quân đội hiện đại không chỉ về vũ khí trang bị, mà hiện đại trên tất cả các nội dung cấu thành sức mạnh chiến đấu của Quân đội trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó còn là sự quán triệt sâu sắc quan điểm “người trước, súng sau”, giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người và vũ khí, trang bị. Nếu xa rời những nguyên tắc, yêu cầu trên sẽ dẫn đến xây dựng quân đội theo hướng quân đội “nhà nghề” như sự hô hào của các thế lực thù địch “Quân đội nên trung lập, đứng ngoài chính trị”, sẽ làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, không những không tăng cường được sức mạnh chiến đấu và bản chất giai cấp công nhân, mà còn dẫn đến những nguy hại khôn lường. Vì thế, những luận điệu xuyên tạc quan điểm về quốc phòng, an ninh của Đảng ta cần kiên quyết bác bỏ.

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN “KHÔNG CÓ THỜI ĐẠI QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI”

 


          Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại.

          Luận điệu sai trái về thời đại ngày nay

          Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một việc rất cần thiết. Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội, giúp ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách thức phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch trên đường đi; từ đó sẽ không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của thời cuộc và đời sống chính trị quốc tế.

          V.I.Lenin từng chỉ rõ: Khi phân tích bất cứ vấn đề xã hội nào, phải đặt trong bối cảnh lịch sử nhất định, vì chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, người ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước khác. Nói cách khác, vấn đề thời đại là căn cứ khách quan và tiền đề cần thiết để các chính đảng đi theo Chủ nghĩa Mác phân tích tình hình, xác định nhiệm vụ, phân chia trận tuyến, xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, triển khai thực hiện một cách khoa học.

          Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như hiện nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại và nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo.

          Phê phán luận điệu phủ nhận “không có thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

          Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy, nhưng hiện nay, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến chủ nghĩa xã hội nữa. Cụ thể hơn, họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và hệ thống XHCN nữa thì Việt Nam làm sao có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được.

          Đây là luận điệu sai trái cần phải phê phán, vì những lý do cơ bản sau:

          Thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga khai sáng

          Theo nghĩa chung nhất, thời đại lịch sử được hiểu là toàn bộ thời kỳ phát triển của một hình thái kinh tế-xã hội hoặc những giai đoạn chủ yếu trong hình thái ấy.

           Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước XHCN tháng 11-1957 tại Moscow (Liên Xô) đã khẳng định: “Nội dung cơ bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga”.

          Thực tế cho thấy, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và nhà nước XHCN đầu tiên ra đời năm 1917 đã đánh dấu chấm hết thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra thời đại mới, thời đại của sự quá độ lớn lao nhất trong lịch sử loài người, tiến tới một xã hội hiện thực không còn người bóc lột người, không còn nô dịch giữa người và người. Chế độ XHCN non trẻ đã vượt qua hàng loạt thử thách khắc nghiệt nhất của lịch sử, hiện diện cả ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ, phát triển mạnh mẽ với nhiều ưu việt về chính trị, kinh tế, xã hội.

          Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định nhận thức rõ bản chất, nội dung của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận rõ tình hình phức tạp, quanh co và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội nên đã hướng vào đánh giá trực tiếp những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất trong giai đoạn hiện nay của thời đại.

          Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng năm 1991 đã nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

          Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

          Thế giới có nhiều biến động nhưng khuynh hướng phát triển thời đại không thay đổi

          Xem xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử xã hội loài người đều cho thấy, mỗi bước chuyển từ một hình thái kinh tế-xã hội này đến hình thái cao hơn đều diễn biến trong thời gian rất dài, có khi vài trăm năm hoặc vài nghìn năm. Vậy nên việc Đảng ta phân định giai đoạn hiện nay của thời đại “quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới” là tư duy sáng tạo, có tính khoa học xác thực và cần thiết. Theo đó, việc nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng được thực hiện trong khung khổ giai đoạn hiện nay của thời đại.

           Khi đã xác định thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga, thì rõ ràng nội dung của thời đại ngày nay có hai vấn đề chính: Một là, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; hai là, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga. Nhận định về nội dung thời đại như vậy là sự khái quát mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, đầy tính thuyết phục.

          Tuy nhiên, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại. Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì nay chủ nghĩa xã hội sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của chủ nghĩa tư bản; rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

          Cách nhìn nhận như vậy rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp, chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước thụt lùi.

          Sự đổ vỡ của XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản. Sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng.

          Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ một thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

          Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chấm hết. Đây là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng thành quả mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga.

          Vả chăng, lịch sử đã chứng minh, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Anh năm 1688, các cuộc cách mạng tư sản Pháp vào các năm 1830, 1848, 1871.

          Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười Nga làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ một mảng lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới của sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

           Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều bắt nguồn từ kết quả của xã hội đấu tranh của những người lao động và sâu xa hơn là được ảnh hưởng những yếu tố tích cực của Cách mạng Tháng Mười Nga.

          Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định của Đảng ta rằng, tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới.

          Chặng đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

          Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được.

          Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

          Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin-người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

          Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

ĐẤU TRANH CHỐNG ÂM MƯU ĐÒI "CHUYỂN ĐỔI THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ" Ở VIỆT NAM

 


          Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam.

          Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.      

          Sự nguy hại khôn lường của âm mưu đòi “đa nguyên, đa đảng”

          Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”.

          Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.

          Kiên trì giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng

          Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

          Trong bối cảnh hiện nay, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng.

         Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.

          Bảo vệ đường lối cách mạng, khoa học của Đảng

          Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định. Những năm cuối thập niên 1930, trước sự chống phá của bọn Trotsky, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích”. Năm 1939, trong ý kiến gửi các đồng chí ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Đối với bọn Trotsky, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”.

          Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam “không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”.

          Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930), Luận cương chính trị tháng 10-1930, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng CNXH; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991 cũng như Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011) và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

          Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam": “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”.

          Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.

          Khẳng định nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

          Thực tiễn lịch sử 92 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn.

          Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong thế kỷ 20, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc giành được những thắng lợi vĩ đại:

          Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền CNXH.

          Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

          Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH: “Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ 20, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá”(4). Với những thành quả đạt được: “Chúng ta tự hào về dân tộc ta-một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta-Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện-một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân”.

          Đặc biệt, sau hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, quy mô nền kinh tế tăng từ 26,88 tỷ USD năm 1986 lên 271,2 tỷ USD năm 2020; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 182USD năm 1990 lên 2.779USD năm 2020. Sau 25 năm (1995-2020), Việt Nam đã làm được kỳ tích, đưa nền kinh tế tăng gấp 10 lần cả về quy mô và thu nhập bình quân trên đầu người, tăng 21 hạng về quy mô nền kinh tế và tăng 54 hạng về thu nhập đầu người trên bảng xếp hạng các quốc gia.

         Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam 92 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Đồng thời khẳng định một chân lý: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”.

          Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ./.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU ĐỐI LẬP GIỮA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN

 


          Một trong những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin.

          Mục đích của chúng nhằm phá hoại, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh từ gốc rễ, qua đó tiến công trực diện vào một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã xác định “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(1). Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) và được bổ sung tại Đại hội XII của Đảng: “Tư tưởng của Người, cùng với Chủ  nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”(2). Việc khẳng định này cho thấy tầm quan trọng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và đối với nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.

          Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó chúng tìm mọi cách để đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng quy kết Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuân thủ đúng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc, không theo Chủ nghĩa Mác-Lênin”; “Con đường Bác Hồ đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải chủ nghĩa xã hội” (!). Chúng còn cố ý minh họa bằng những những sự kiện lịch sử, như: Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, giải quyết vấn đề dân tộc trước vấn đề giai cấp... nhằm củng cố những luận điệu xuyên tạc này.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp

          Luận điệu xuyên tạc trên là vô căn cứ. Bởi lẽ, lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”, vì thế, “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc(3). Cho nên, mấu chốt của cách mạng vô sản vẫn là giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, dù cho quốc gia đó đã trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay chưa trải qua giai đoạn này. Ở các nước thuộc địa, nhiệm vụ trước mắt và quan trọng bậc nhất là thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc giành lấy độc lập, quyền tự quyết dân tộc để làm cơ sở hiện thực làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, cách mạng vô sản suy cho cùng cũng là vì quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc; việc giải quyết vấn đề giai cấp không đứng trên lập trường lợi ích quốc gia, dân tộc sẽ không thể giải quyết triệt để các vấn đề đặt ra của cuộc cách mạng, đôi khi còn dẫn đến thất bại.

 

          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức, tiếp thu sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản. Người đã tích cực chuẩn bị tư tưởng chính trị, tổ chức, cán bộ cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành lấy độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới. Thắng lợi đó là do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn giải quyết vấn đề dân tộc trước, sau đó giải quyết vấn đề giai cấp trên lập trường giai cấp vô sản, điều này đã thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng thực tiễn khách quan và bảo đảm tính lịch sử cụ thể của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc lựa chọn này không phải là sự ngẫu nhiên, “ăn may” mà là sự tìm tòi, phân tích thực tiễn cách mạng thấu đáo. Điều đó xuất phát từ tài năng, trí tuệ, sự nhạy bén chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

          Khi phân tích thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ, Việt Nam xuất phát từ một nước phương Đông truyền thống, nền nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân, sự phân hóa giai cấp chưa sâu sắc, khi thực dân Pháp xâm lược thì nhiệm vụ nổi lên hàng đầu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập dân tộc, tự do cho người dân, nên Người đã phê phán thẳng thắn quan điểm phiến diện, giáo điều, rập khuôn máy móc của một số người về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp ở Việt Nam: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” (4).

          Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi Chủ nghĩa Mác-Lênin là “cái cẩm nang” thần kỳ, “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam. Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(5). Người đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp cách mạng vô sản của Chủ nghĩa Mác-Lênin để nghiên cứu thực tiễn, tìm ra quy luật vận động và phát triển cách mạng Việt Nam bằng con đường cách mạng vô sản, qua đó khắc phục được khủng hoảng về con đường cứu nước, cứu dân tộc.

          Những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam đạt được đã cho thấy những điều Người khẳng định là hoàn toàn đúng đắn, “Đảng ta nhờ kết hợp được Chủ nghĩa Mác-Lênin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác”(6), và sự thật là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành lại độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và đưa nước ta bước vào giai đoạn độc lập, tư do và phát triển.

          Thực tế đó cho thấy, con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đường, dẫn lối là phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đó là: Người đã đề ra nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước giải phóng giai cấp nhưng không đối lập giữa nhiệm vụ giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc mà kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp để tiến tới giải phóng con người; Người chủ trương thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vì nhiệm vụ cách mạng của mỗi nước Đông Dương khác nhau, điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, dân tộc, con người mỗi nước có sự khác nhau.

          Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần làm phong phú kho tàng lý luận Mác ‑ Lê‑nin

Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lèo lái dư luận rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với phương Tây còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam”; “bây giờ Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin”(!).

          Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin vô hình trung đã phủ định nguồn gốc hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội lần thứ IX năm 2001 và Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” (7).

          Sự khẳng định đó đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và phẩm chất, nhân cách của Người, cùng với truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là Chủ nghĩa Mác-Lênin mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa này vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên lập trường của cách mạng vô sản. Cho nên “không thể nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạ thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin”(8).

          Đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bản thân các nhà kinh điển mác-xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản, nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.

          Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới, qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin./.

Nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh phải được thực hiện theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang... Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước” . Điểm mới của Đại hội XIII trước hết thể hiện ở việc đánh giá một số thành tựu nổi bật trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh: 1- Tư duy về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển và ngày càng hoàn thiện, sự kết hợp giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa và đối ngoại ngày càng hiệu quả; 2- Đã ban hành và triển khai đồng bộ các chiến lược quan trọng như Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; 3- Nhận thức và giải quyết các mối quan hệ về đối tác, đối tượng có bước chuyển biến quan trọng; 4- Chủ động đấu tranh kịp thời, hiệu quả, từng bước đẩy lùi các loại tội phạm và ứng phó kịp thời các mối đe dọa an ninh phi truyền thống; 5- Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có mặt tiến nhanh lên hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Bên cạnh đó, Văn kiện Đại hội XIII cũng chỉ rõ những hạn chế, đó là: Việc quán triệt, tổ chức, triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc có lúc, có nơi chưa nghiêm, hiệu quả chưa cao. Công tác nắm tình hình, dự báo chiến lược về quốc phòng, an ninh có lúc chưa thật sự chủ động; tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; an ninh trên một số địa bàn, lĩnh vực chưa thật vững chắc, nhất là an ninh mạng, an ninh trong đầu tư nước ngoài; nhiều yếu tố ảnh hưởng đến an ninh, an toàn con người chưa được quan tâm giải quyết triệt để; xử lý khiếu kiện đông người về vấn đề đất đai và một số tình huống phức tạp nảy sinh ở một số địa bàn, cơ sở có lúc, có nơi còn bị động, lúng túng. Công tác quản lý, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng còn hạn chế. Việc kết hợp kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh ở một số địa phương, đơn vị thiếu hiệu quả, còn biểu hiện chủ quan, mất cảnh giác, nặng về lợi ích kinh tế đơn thuần, trước mắt. Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó dự báo; đất nước đứng trước nhiều thuận lợi, thời cơ đan xen với những khó khăn, thách thức; nhiều vấn đề mới đặt ra phải giải quyết. Vì vậy, Đại hội XIII của Đảng xác định: Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. So với Đại hội XII của Đảng, việc xác định phương hướng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của Đại hội XIII có mặt đậm nét hơn và có những điểm mới. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

Lợi ích quốc gia - dân tộc phải được xác định đúng và phù hợp mức độ, thứ tự ưu tiên ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Lợi ích quốc gia - dân tộc là một phạm trù được đề cập rộng rãi trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của các quốc gia trên thế giới. Các nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế đã đưa ra khá nhiều quan niệm khác nhau về lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia - dân tộc. Tuy nhiên, hầu như các nhà nghiên cứu đều nhất trí cho rằng, lợi ích quốc gia - dân tộc là giá trị của một chủ thể có trách nhiệm tự xác định lợi ích của quốc gia, dân tộc mình. Vì vậy, có thể nói, đây là một khái niệm có tính khái quát hóa cao, bao gồm những nhu cầu sống còn của quốc gia đó; đó là tự bảo vệ, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quân sự và thịnh vượng về kinh tế. Tháng 3-1848, Thủ tướng Anh Hen-ry Pan-mơ-xtơn (Henry Palmerston) từng có một phát biểu kinh điển về lợi ích quốc gia tại Hạ viện Anh: “Không có đồng minh vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn và nhiệm vụ của chúng ta là theo đuổi những lợi ích đó”. Ở Việt Nam, một số chuyên gia cho rằng, khái niệm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia - dân tộc mặc dù có những điểm khác nhau, song được xem là có chung nội hàm và có thể sử dụng thay thế lẫn nhau. Lợi ích quốc gia là lợi ích chung của cộng đồng những người sống trên một đất nước, có chung nguồn gốc, lịch sử, phong tục, tập quán và phần nhiều còn chung cả tiếng nói, chữ viết. Lợi ích quốc gia thiên về đại diện của giai cấp cầm quyền. Trong khi đó, lợi ích dân tộc bao hàm tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia - dân tộc có chủ quyền, thống nhất, độc lập, lãnh thổ toàn vẹn; cho sự phát triển đi lên về mọi mặt của quốc gia - dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; cho sự nâng cao không ngừng sức mạnh tổng hợp quốc gia, năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế, vị trí, vai trò, uy tín quốc tế của quốc gia dân tộc. Lợi ích dân tộc là lợi ích của tất cả mọi người dân của một nước. Do những điều kiện đặc thù nên khái niệm lợi ích quốc gia - dân tộc ở Việt Nam có hướng tổng hợp cả hai khái niệm trên. Vì vậy, có thể xem lợi ích quốc gia - dân tộc là toàn bộ những nhu cầu sống còn, trường tồn và phát triển của một quốc gia đã được nhận thức và biến thành mục tiêu của chính sách đối ngoại trong quan hệ với thế giới còn lại ở mỗi thời kỳ lịch sử nhất định, là công cụ hết sức quan trọng trong phân tích chính sách đối ngoại. Việc xác định đúng và phù hợp mức độ, thứ tự ưu tiên lợi ích quốc gia - dân tộc là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia nói chung, Việt Nam nói riêng. Nhìn chung, lợi ích quốc gia - dân tộc được xem là “hòn đá tảng” hay “kim chỉ nam” của chính sách đối ngoại. Nội hàm của lợi ích quốc gia - dân tộc đôi khi cũng bao gồm cả những công cụ được lựa chọn để thực hiện mục tiêu chiến lược và ngoại giao chính là một trong những công cụ quan trọng giúp hiện thực hóa mục tiêu này. Để có thể thoát khỏi những “cạm bẫy” trong quá trình xác định và tối ưu hóa lợi ích quốc gia - dân tộc là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, bất kể lớn hay nhỏ, khi thực tế đã và đang cho thấy, thành công rất nhiều nhưng thất bại cũng không phải không có. Trong giai đoạn hiện nay, có thể thấy, lợi ích quốc gia - dân tộc cao nhất của Việt Nam là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ gắn liền với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo hộ lợi ích chính đáng và hợp pháp của công dân cũng như doanh nghiệp Việt Nam trong nước và ở nước ngoài; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa dân tộc.

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển

Có phải mọi sai lầm, sự xuống cấp đạo đức xã hội đều do “mặt trái của kinh tế thị trường”? Hay còn có những nguyên nhân khác bắt nguồn sâu xa từ nền tảng văn hóa đang bị lung lay, từ nhận thức chưa đúng, chưa tới tầm?. Trong vòng một vài năm nay, các phương tiện truyền thông đã nêu lên khá nhiều biểu hiện “chưa từng có” so với trước đây ở xã hội chúng ta - về của sự xuống cấp đạo đức, với chiều hướng ngày càng gia tăng, mức độ ngày càng nghiêm trọng. Có câu nói khá phổ biến phản ánh rất thực tâm trạng của nhiều người chúng ta: “Mong kinh tế như hôm nay, còn đạo đức trở lại như ngày xưa”. Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng đó là điều có thực, như nhiều vị cao niên thường tâm sự: “Thời chiến tranh, thời bao cấp mình thiếu thốn đủ thứ, nhưng rất giàu có về lý tưởng, nhân cách, tình nghĩa, sống thanh thản chứ đâu nhiều bức xúc như thời nay”. Trước tiên là lĩnh vực kinh tế. Nhờ vận động theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ bao năm nay, nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế và an sinh xã hội, đời sống của nhân dân được cải thiện đáng kể so với trước. Nhưng sự xuống cấp về đạo đức thể hiện rất rõ trong lĩnh vực này qua những đại án hình sự và nhiều vụ án kinh tế mà nhiều người chịu sự trừng phạt của pháp luật lại nằm trong “bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”. Đạo đức xã hội xuống cấp còn thể hiện ở những hành vi bạo lực trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ bạo lực gia đình, bạo lực học đường... đến bạo lực nơi công cộng. Có những người sẵn sàng dùng vũ khí “nóng”, vũ khí “lạnh” để giải quyết các mâu thuẫn trong mọi quan hệ giữa cha mẹ và con, anh chị em, vợ chồng, hàng xóm láng giềng, bạn bè… Nhiều trường hợp dẫn đến kết cục thật thương tâm. Thói tham lam, ích kỷ, thói vô cảm lan rộng gây nhiều tác hại cho cộng đồng, phản lại thuần phong mỹ tục của dân tộc. Trong nền kinh tế thị trường, mọi người đều tìm cách kiếm được nhiều tiền, điều này là chính đáng, tuy nhiên một số người đã tôn sùng đồng tiền một cách mù quáng, coi “tiền là trên hết” và tìm mọi thủ đoạn để có nhiều tiền, tạo mọi điều kiện để mặt trái của đồng tiền phát huy. Khi đồng tiền lên ngôi cũng chính là lúc đạo đức xuống cấp. Tìm nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên, chúng ta thường cho đó là do mặt trái của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, có phải mọi sai lầm, sự xuống cấp đạo đức xã hội đều do “mặt trái” của kinh tế thị trường? Hay còn có những nguyên nhân khác bắt nguồn sâu xa từ nền tảng văn hóa đã và đang bị lung lay, từ nhận thức chưa đúng, chưa tới tầm? Điều này cần tiếp tục có sự nghiên cứu thấu đáo để đưa ra lời giải thỏa đáng - bắt đầu từ tầm vĩ mô, từ những nhà hoạch định chính sách. Kinh tế thị trường có nhiều mặt tích cực nên phát huy, nhưng những mặt tiêu cực của nó cũng cần được nhận diện một cách khách quan và khoa học hơn nữa, để phê phán và khắc phục hữu hiệu. Điều này quả là chúng ta làm chưa tốt, không tốt, thậm chí còn có hiện tượng buông lỏng, thả nổi rất nguy hiểm. Phải thẳng thắn chỉ ra rằng, đạo đức xã hội và kinh tế chưa song hành, đạo đức xã hội chưa bắt kịp sự phát triển của kinh tế có một phần nguyên nhân là do tinh thần “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển”, nhiệm vụ xây dựng con người luôn luôn được Đảng đặt lên hàng đầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Người cũng nói: “Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính. Thiếu một đức thì không thành người”. Vì vậy, con người mà chúng ta xây dựng là con người chính trị và đạo đức. Đồng thời, không thể không xem trọng những yếu tố khác góp phần tạo nên con người cụ thể như cá tính, sở thích, ước muốn… của họ. Thời kỳ mới, cần có hệ giá trị chuẩn mực mới về văn hóa, đạo đức cho con người. Đây là vấn đề lớn, rất lớn nhưng ta chưa làm được. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước pháp quyền do nhân dân làm chủ, chúng ta có cơ sở để tin rằng cái thiện sẽ thắng cái ác, cái tốt sẽ thắng cái xấu, chúng ta sẽ xây dựng thành công một xã hội đạo đức tốt đẹp cùng với nền kinh tế tăng trưởng, phát triển - một xã hội xã hội chủ nghĩa đúng nghĩa./.