Thứ Ba, 8 tháng 8, 2023

 

Nhận diện, đấu tranh với các loại quan điểm sai trái, thù địch


Đấu tranh bác bỏ những luận điệu thù địch, sai trái với quan điểm, đường lối của Đảng, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong công tác tư tưởng của Đảng hiện nay.

Bối cảnh thế giới và trong nước hiện nay đang có những biểu hiện mới. Tình hình chính trị thế giới có những diễn biến phức tạp, khó lường; kinh tế thế giới vẫn bị ảnh hưởng bởi quá trình “hậu khủng hoảng.” 

Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi hết sức cơ bản, nền kinh tế nước ta đang phát triển chậm lại, đời sống xã hội có những vấn đề nổi cộm. Trong khi đó, quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế đang được thúc đẩy mạnh mẽ đi vào chiều sâu; an ninh biển đảo đang đứng trước những thách thức to lớn; các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng nước ta. 

Tình hình đó đặt ra những trách nhiệm nặng nề đối với cuộc đấu tranh tư tưởng, trong đó cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch càng trở thành một trong những nhiệm vụ trọng yếu. Để thực hiện tốt trọng trách này, vấn đề nhận diện các loại quan điểm sai trái, thù địch là hết sức cần thiết. Sau đây, xin nêu những dạng quan điểm sai trái, thù địch để có những giải pháp xử lý cụ thể và thích hợp. 

1. Những quan điểm sai trái do các thế lực thù địch tác động tuyên truyền
Một số xu hướng mà các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện truyền bá những quan điểm sai trái: 

- Tấn công vào nền tảng tư tưởng của chúng ta - chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Các nhà tư tưởng chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội phê phán, đả kích tới tấp vào chủ nghĩa Mác - Lênin hòng làm lung lay nền tảng tư tưởng của chúng ta và đẩy chúng ta đi chệch quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội. Các thế lực thù địch tung ra đủ thứ lý luận nhằm bác bỏ chủ nghĩa Cộng sản như du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa vì chủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc.

Họ còn cho rằng lý luận Mác - Lênin chỉ giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp, còn tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết đấu tranh dân tộc thuần túy, không thể áp đặt mẫu học thuyết Mác - Lênin vào Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế thị trường. 

- Phủ định nền tảng tư tưởng: phủ định học thuyết Mác - Lênin, cho là học thuyết Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, chỉ phù hợp với một chừng mực nào đó với trình độ, lực lượng sản xuất và văn hóa Nga, không phù hợp với thế kỷ này, với nước ta, từ đó cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin lỗi thời ở Việt Nam. 
Gần đây chúng chuyển sang luận điệu “Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa, ngay cả Bộ Chính trị” đồng thời chúng xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, đưa ra các luận điệu “đấu tranh giai cấp”, “tập trung dân chủ” là cổ vũ cho bạo lực, cho chiến tranh, cho độc quyền, độc đoán, thủ tiêu dân chủ, không phù hợp với xu thế thời đại, do đó không thể thúc đẩy xã hội phát triển. 

- Phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm. Cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương tiện; đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử... 

- Phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng hình thái kinh tế xã hội chỉ là một lý thuyết về chủ nghĩa xã hội không tưởng, không bao giờ thực hiện được, sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu, Liên Xô là một tất yếu, dự báo trước. Cho rằng chủ nghĩa xã hội đặt xã hội lên trên cá nhân chỉ là đề cao một số người đang nắm quyền trong xã hội đó.

- Tấn công vào đường lối của Đảng, các thế lực thù địch cho rằng không thể làm trái quy luật bỏ qua chế độ tư bản mà là phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng, giải quyết các vấn đề xã hội ở chừng mực nào đó, theo chủ nghĩa xã hội dân chủ. Nêu định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ không thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, sẽ bị cô lập trên trường quốc tế, nên gác định hướng xã hội chủ nghĩa lại. 

Chúng rêu rao rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn con đường sai, không thể có chủ nghĩa xã hội. Không ít kẻ đã lớn tiếng rằng “chủ nghĩa xã hội chính là bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản tiến tới chủ nghĩa tư bản, những ước mơ của chủ nghĩa xã hội thì chính chủ nghĩa tư bản đã thực hiện rồi, rằng người ta có thể dễ dàng tìm thấy ở chủ nghĩa tư bản những lời giải đáp đầy đủ cho mọi vấn đề được đặt ra trong đời sống loài người. Tóm lại, người ta muốn nói những người Marxist bàn về chủ nghĩa xã hội chẳng khác nào bàn về hư vô”. 

- Tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong thời kỳ đầu đổi mới xuất hiện một số ấn phẩm có nội dung phê phán, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng. Ở nước ngoài, các nhóm phản động người Việt lưu vong như Diễn đàn, Thông luận cùng với “12 điều kiến nghị của một công dân” của Bùi Tín, đã truyền qua đài BBC, RFI, chuyển về nước đòi “đổi mới triệt để”, “cải tổ Đảng”, “xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng”.

Nhân dịp Quốc hội phát động toàn dân góp ý kiến vào dự thảo Hiến pháp, chúng đòi xóa bỏ điều 4 của Hiến pháp, đổ lỗi tình trạng khủng hoảng và đói nghèo ở nước ta là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin mà Đảng Cộng sản áp đặt trên đất nước Việt Nam. Các thế lực chống cộng tập trung đánh vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là vào nguyên tắc tập trung dân chủ. 

Bằng việc vu cáo Đảng Cộng sản chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng trị”, thực hiện sự chuyên chính của một đảng, sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu, chúng đối lập Đảng với Nhà nước, đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân. 

- Một số người không phủ nhận hoàn toàn tính chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội nhưng lại phê phán Mác về luận điểm đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, cho rằng những luận điểm này làm nghèo đi những hình thức tiến hóa của xã hội, khuyến khích thù hận, mâu thuẫn, đấu tranh giai cấp liên miên. Dựa vào một số “cải cách” ở các nước tư bản và nhất là dựa vào các mô hình xã hội - dân chủ Thụy Điển, Phần Lan, họ cho rằng từ chủ nghĩa tư bản tiến sang chủ nghĩa xã hội không nhất thiết phải thông qua cách mạng xã hội mà cứ để cho nó phát triển tự nhiên, thông qua việc mở rộng dân chủ, đấu tranh nghị trường để nhân dân tự lựa chọn chế độ chính trị mới. 

- Về sứ mạng lịch sử của giai cấp công nhân: chúng cho rằng, giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn thấp, những lãnh tụ của giai cấp công nhân cũng thường có trình độ văn hóa không cao, “lại được đào luyện trong một lôgíc chuyên chế bạo ngược” cho nên giỏi lắm cũng chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể lãnh đạo toàn dân xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển.

Họ lập luận: “... nếu như giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là “Người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò lịch sử của mình? Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, vì nó có rất ít tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa phong kiến. 

Với những điều kiện như trên, giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo, xây dựng được chủ nghĩa xã hội đích thực ở Việt Nam..." v.v... và v.v... 

- Phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phê phán triệt để, bôi đen chủ nghĩa xã hội hiện thực, bác bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, công khai ca ngợi con đường tư bản chủ nghĩa. Cho rằng “đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là chắp vá, không tưởng. Việt Nam hiện nay đang đứng ở ngã ba đường, không biết đi theo con đường nào. Nếu không hòa nhập vào thời đại, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì sẽ bị trả giá, tự giác thì đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích đau đớn hơn, chậm chạp hơn”. 

Gần đây có luận điệu xảo quyệt, thâm độc hơn như “con đường mà Việt Nam muốn đi là thứ tư bản chủ nghĩa theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng con đường này không thể thành công vì không thể nào giải quyết thỏa hiệp giữa hai chủ nghĩa đối lập với nhau”. 

- Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và bôi nhọ lãnh đạo. Chúng cho rằng Đảng có nhiều sai lầm trong quá khứ, cho dù trong quá khứ có làm nhiều thành tích thì đến thời đại mới đã hết vai trò lịch sử, không đủ khả năng để lãnh đạo đất nước.

Phản bác quan điểm, cương lĩnh của Đảng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch đòi “từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”.

- Chống phá nước ta về vấn đề nhân quyền. Mỹ và một số nước Phương Tây đưa ra những chiêu bài “nhân quyền cao hơn chủ quyền, nhân quyền không biên giới, vấn đề nhân quyền về bản chất không còn được coi là công việc thuộc nội bộ của một quốc gia”. Hơn nữa, họ còn nêu ra rằng cộng đồng quốc tế có quyền tiến công vào bên trong lãnh thổ của một quốc gia để bảo vệ nhân quyền và giải tỏa tai họa để can thiệp “nhân đạo”.

Ngay cả khi quan hệ Việt - Mỹ đã được nâng cấp thành quan hệ đối tác toàn diện, một số đối tượng trong chính quyền Mỹ vẫn công khai tuyên bố: “Vấn đề nhân quyền vẫn sẽ là trọng tâm của sự bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Sự khác biệt về nhân quyền giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã cản trở mối giao hảo giữa hai nước và sự tiến bộ chậm chạp về nhân quyền đã làm tắc nghẽn sự phát triển của Việt Nam”.

- Mục tiêu của các thế lực thù địch là tập trung hướng vào nội bộ ta, tìm mọi hình thức, tinh vi hoặc trắng trợn, công khai hoặc bí mật, ráo riết làm cho nội bộ không ổn định, luôn luôn gieo rắc ngờ vực, nghi kỵ, giảm sút lòng tin hòng gây chia rẽ, lục đục nội bộ.

Ví dụ các chiến dịch tung tin thường tập trung vào các kỳ đại hội, kỳ bầu cử Quốc hội nhằm mục đích kích động, chia rẽ nội bộ. Xuất hiện nhiều luận điệu hết sức thâm độc, nguy hiểm như “Phe thân Mỹ sẽ thắng và phe thân Trung Quốc sẽ thua”.

Theo A25 (Tổng cục An ninh - Bộ Công an) hiện nay ở bên ngoài có 52 đài phát thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, mạng internet, 429 tờ báo, tạp chí, trên 40 nhà xuất bản bên ngoài tập trung tuyên truyền chống phá ta. Hàng năm có hơn 3.000 tài liệu chiến tranh tâm lý phá hoại tư tưởng, 28.000 thư ân xá quốc tế xâm nhập, tán phát qua con đường bưu điện quốc tế dưới dạng quà cáp, và gần 11.000 ấn phẩm được đưa vào bằng nhiều con đường khác.

Các đài phát thanh RFI, VOA, BBC liên tục phát những tài liệu, các cuộc phỏng vấn những phần tử người Việt lưu vong ở nước ngoài để cắt xén, thổi phồng, xuyên tạc một số tài liệu ở trong nước đưa lên mạng đang phát tán rộng rãi trong xã hội ta nhằm gây khó khăn cho sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, đồng thuận trong xã hội trước thời điểm Đại hội Đảng.

2- Những quan điểm sai trái do các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn gây ra

Một số đối tượng lá mặt, lá trái cơ hội chính trị, số phần tử bất mãn, cực đoan quá khích đang sống, làm việc thụ hưởng những thành quả cách mạng do Đảng và nhân dân mang lại nhưng lại bí mật cộng tác với những phần tử bất mãn, phản động nước ngoài để mưu cầu lợi ích cá nhân. Số đối tượng này tiếp nhận, tán phát tài liệu có nội dung xấu, móc nối viết bài nói xấu chế độ, chống phá Nhà nước Việt Nam. 

Những bài viết được tung lên Internet có nội dung tuyên truyền những quan điểm phản động, cực đoan. Chính số đối tượng ở trong nước, những phần tử bất hảo nói trên đã tham gia cộng tác viết bài, cung cấp thông tin, gửi thư kiến nghị đưa lên mạng gây ảnh hưởng xấu xung quanh việc ta bắt giữ các đối tượng có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia như Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn, Phạm Quế Dương, Cù Huy Hà Vũ...

Ngoài ra, phải kể đến một số văn nghệ sỹ, nhà báo, các nhà hoạt động chính trị, xã hội người ngoại quốc, ở nước ngoài đã đến Việt Nam do không có những thông tin chính xác, đầy đủ, bị người Việt phản động lưu vong tuyên truyền, lôi kéo cung cấp thông tin bịa đặt, phá hoại Việt Nam. Trong khi đó, các nguồn sách báo, phim ảnh có nội dung đồi trụy, ca ngợi một chiều, phiến diện về cuộc sống của những nước phát triển tư bản chủ nghĩa không quản lý được, tác động vào tư tưởng, tâm lý của nhân dân. 

Những biểu hiện cơ hội hữu khuynh ở nước ta hiện nay đã và đang xuất hiện trong bối cảnh đất nước vừa có thời cơ, vận hội lớn, vừa đứng trước nguy cơ, thách thức nghiêm trọng. 

Tư tưởng cơ hội hữu khuynh đó không chỉ được xây dựng trên một cơ sở lý luận xét lại nào đó, mà chỉ là sự cóp nhặt hỗn tạp giữa trào lưu triết học, xã hội học tư sản hiện đại, song lại chưa thoát được căn bệnh giáo điều đối với chủ nghĩa Marx-Lenin và mắc bệnh thực dụng. Điều này thể hiện thái độ và lối sống cơ hội nhằm trục lợi cả chính trị và vật chất. 

Cố tình nhắm mắt trước lịch sử của dân tộc về quá trình phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu, lợi dụng sự sụp đổ của Đông Âu và Liên Xô để phủ nhận những thành quả cách mạng mà nhân dân các nước đó lựa chọn. 

Họ cho rằng bi kịch Xô viết như lời cáo chung cho Chủ nghĩa Cộng sản, là hệ quả tất yếu cho các nước xã hội chủ nghĩa còn lại sẽ sụp đổ như hội chứng đôminô.

Một số đối tượng còn kích động nhân dân để gây rối như các vụ bạo loạn ở Tây Nguyên là một ví dụ đồng thời những đối tượng này còn cho rằng chủ nghĩa xã hội không có cơ sở kinh tế vì chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã chấp nhận nền kinh tế thị trường. 

Một số quan điểm khác phủ nhận con đường phát triển đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa lại viện dẫn cơ sở lý luận phương pháp luận Marxist về quá trình vận động của lịch sử như một dòng chảy lịch sử tự nhiên. 

Những người cơ hội trước kia đã từng giáo điều trong việc nhận thức về sự thối nát, giãy chết của chủ nghĩa tư bản, thì bây giờ họ lại ấu trĩ cho rằng thế giới tư bản chủ nghĩa ngày nay toàn những nước tư bản có nền công nghệ phát triển cao, toàn những con rồng, con hổ; rằng con đường tư bản đưa dân tộc đến tương lai tươi sáng. 

Họ ngụy biện rằng không nhất thiết phải theo chủ nghĩa Marx-Lenin, xây dựng chủ nghĩa xã hội, không nhất thiết phải chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì đất nước mới phát triển. Từ đó vội vàng đi đến kết luận rằng chủ nghĩa xã hội chỉ là một lý thuyết của một học thuyết chưa được chứng thực, nếu có thì chỉ mới có sự chứng thực của sự thất bại và đổ vỡ. 

Chúng xuyên tạc, trong nội bộ Đảng vẫn duy trì cái gọi là chế độ tập trung dân chủ, mà hầu hết các Đảng Cộng sản trên thế giới đã từ bỏ, vì thế thực chất, sự tập trung quyền lực bao giờ cũng đưa tới chỗ triệt tiêu dân chủ. Nhiều lắm dân chủ chỉ trở thành đồ rởm, chỉ có tác dụng trang trí cho sự tập trung quyền lực, đòi xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp.

“Đảng là cản trở của nền dân chủ” nên kiến nghị đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng “Đảng chỉ nên lãnh đạo tư tưởng, đạo đức, lối sống và định hướng chung chung”, “không lãnh đạo kinh tế, văn hóa, không lãnh đạo lực lượng vũ trang”... đó là công việc của nhà nước. Đây là thủ đoạn dọn đường cho sự hình thành tư tưởng đa nguyên chính trị, phi chính trị hóa quân đội để vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng.

Chúng tung ra luận điệu trong Đảng có phe cải cách và phe bảo thủ, có “nhóm lợi ích” từ lãnh đạo cấp cao và nhóm này chi phối toàn bộ các nhóm lợi ích ở cấp dưới. Chúng cũng bịa đặt rằng "điều này cho thấy phe bảo thủ đã thành công trong việc đặt nặng sự ổn định chính trị trong nước trước cải cách. Thành phần thủ cựu trong Đảng cộng sản lo ngại Nhà nước sẽ mất đặc quyền đặc lợi”.

Chúng tìm mọi cách bịa đặt, nói xấu cán bộ Đảng và Nhà nước, xuất hiện nhiều cuốn nhật ký, hồi ký tài liệu tung ra những chuyện giật gân trong sinh hoạt của các nhà lãnh đạo, đề cao người này, hạ thấp người kia, kích động, chia rẽ lãnh đạo cao cấp của Đảng, gây nghi ngờ hòng mong chia rẽ nhân dân với Đảng. 

Các đối tượng phủ định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, công kích đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là định hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp tục phát triển kinh tế quốc doanh như "kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội không thể hòa nhập được." 

“Kinh tế thị trường là kinh tế tư bản chủ nghĩa, do thời cuộc và do cuộc sống bắt buộc, chính quyền Việt Nam phải chọn sống chung với con hổ yêu tinh hiện đại này, thể nào sớm hay muộn cũng bị nó ăn thịt”, thực hiện đường lối mở cửa, phát triển kinh tế thị trường là chế độ Cộng sản Việt Nam đã uống liều thuốc đắng, kinh tế nhà nước là ung nhọt, là sân sau của những “nhóm lợi ích” cấp cao, là những tổ mối đục khoét của cải đất nước. 

Xuyên tạc lịch sử, đòi lật án, chúng xuyên tạc “Thành quả cách mạng Tháng Tám là thành quả cay đắng. Chính quyền về tay nhân dân nhanh chóng rơi vào tay Đảng cộng sản”, rằng “dù không có Đảng Cộng sản, nhiều thuộc địa đã giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tổn xương máu của dân tộc là do Đảng cộng sản gây ra”.

Chúng vu cáo “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là cuộc nội chiến, quân đội ta là những người lính đánh thuê của các thế lực hiếu chiến”. Bôi nhọ lịch sử chính là một thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, làm mất lòng tin. 
Tất cả các mũi tấn công trên đều nhằm vào phát triển mầm mống các nhân tố chống chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy sự hình thành xã hội dưới tác động của hàng hóa, nguồn vốn phương Tây, hình thành tâm lý sùng bái đồng dollar, lôi kéo thêm lực lượng cán bộ, đảng viên có quan điểm sai trái, hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân để lấn át kinh tế nhà nước. 

Tiếp tục phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh khi chúng cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu. Du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm là một sai lầm mà lịch sử không bao giờ tha thứ. Từ đó họ phát động chiến dịch bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, bôi nhọ danh nhân mà họ gọi là chiến dịch “hạ bệ thần tượng”. 

Gần đây chúng tung lên luận điệu “No Ho” phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc công lao, sự nghiệp vĩ đại của Bác. Thâm độc hơn, chúng tung ra luận điệu tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác - Lênin. Chúng ngụy biện rằng, bây giờ học thuyết Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao chủ nghĩa Hồ Chí Minh. 

“Chủ nghĩa Hồ Chí Minh” cũng ám chỉ chủ nghĩa dân tộc. Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm, vì như vậy sẽ làm suy yếu tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là để phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tiến tới phủ định chính ngay tư tưởng Hồ Chí Minh, trái với Cương lĩnh của Đảng. 

Họ còn nói chế độ một Đảng là không dân chủ, thậm chí đòi các đảng cộng sản đang cầm quyền phải từ bỏ vai trò lãnh đạo của mình. Một số người cho rằng thích ứng với nền kinh tế đa sở hữu thì nền chính trị không thể nhất nguyên được, không thể duy trì sự lãnh đạo của một đảng duy nhất. Do vậy theo họ, dân chủ phải đi liền với đa nguyên về chính trị. 

Không ít những lời gièm pha, chỉ trích rằng dân chủ của ta là nửa vời, chưa mở ra đã khép lại… Có người nói cách làm của chúng ta là non gan, yếu bóng vía, không dám mở bung dân chủ hết cỡ, không dám thực hiện dân chủ công khai, không giới hạn. 

Để chứng minh điều này, những người có lập trường cơ hội và thù địch viện dẫn và xuyên tạc nhiều sự thật lịch sử. Lấy hiện tượng làm bản chất, cường điệu một số hiện tượng đơn lẻ, có thực và có nguyên nhân cụ thể, biến nó thành phổ biến, tất yếu và không tránh khỏi của cả hệ thống. 

Từ tệ tham nhũng mà Đảng đang đấu tranh thì họ suy ra thành đảng tham nhũng. Đối với các chủ trương của Đảng, Nhà nước ta, dưới con mắt của các phần tử cơ hội, thù địch đều cho là có vấn đề, sai lầm, đầy mâu thuẫn, lúng túng và bế tắc. 

Tấn công vào định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế thị trường. Họ cho rằng Đảng ta đưa ra định hướng xã hội chủ nghĩa là thừa, vô nghĩa, do đó chỉ cần đặt vấn đề xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh là đủ, cần gì phải định hướng xã hội chủ nghĩa, vì theo họ dòng sông tự nó phải chảy ra biển, cần gì phải uốn nắn. Rằng: Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa là một điều kỳ quặc, trái quy luật, vì thế hãy tạm gác lại mục tiêu chủ nghĩa xã hội và lùi về với cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là đúng đắn nhất. 

3. Những quan điểm sai trái hình thành do trình độ nhận thức chính trị kém 

So với các nước trên thế giới, Việt Nam vẫn là một nước nghèo và kém phát triển, sự phát triển kinh tế còn chưa vững chắc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, năng suất, chất lượng hiệu quả kinh tế còn chưa cao. Trong lĩnh vực xã hội, còn nhiều vấn đề bức xúc đòi hỏi phải được tiếp tục quan tâm giải quyết. Điều đó đã tác động, gây ảnh hưởng xấu tới an ninh xã hội, làm ảnh hưởng tới cuộc sống bình yên của nhân dân. 

Mặc dầu đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân đã được cải thiện rõ rệt, nhưng tâm trạng của một bộ phận nhân dân chưa thật vui, chưa thật phấn khởi, không ít những hiện tượng bất ổn khác làm cho chúng ta tiếp tục suy nghĩ như: sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng miền, khoảng cách chênh lệch về sự phát triển giữa nông thôn và thành thị, giữa miền núi và đồng bằng ngày càng nới rộng. 

Lĩnh vực công tác tư tưởng, văn hóa vẫn bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém, đôi khi còn tỏ ra chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn, chưa làm sáng tỏ được những vấn đề do thực tiễn đất nước đặt ra để định hướng tư tưởng và thực tiễn, ngay cả trên nhiều vấn đề rất cơ bản. Lòng tin của một bộ phận nhân dân vào Đảng, vào chế độ có phần giảm sút vì bất bình trước những bất công xã hội. Tình hình đó đã làm khối đại đoàn kết dân tộc tuy đã được củng cố một bước song chưa bền chặt và đang đứng trước những thách thức mới, những nguy cơ tiềm ẩn; mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân tuy đã chăm lo củng cố song bắt đầu xuất hiện những hiện tượng không thể xem thường. 

Các thế lực thù địch đã kích động các dân tộc thiểu số đi theo tiếng gọi của thần thánh hoặc lịch sử, lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo vào các mục đích sai trái, bất hợp pháp, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Đối với người dân tộc thiểu số, họ luôn bị tư tưởng hẹp hòi kích động, dẫn đến nhận thức sai lệch trong một số vấn đề như: họ phải có đức tin riêng, có cuộc sống riêng, người Kinh là những kẻ cướp đất, cướp miếng ăn của họ. Từ cách nhìn sai lệch dễ nảy sinh quan điểm sai trái, những yếu tố tâm lý nghi kỵ, dân tộc hẹp hòi. 

Do sự nhận thức yếu kém cộng với sự kích động thù địch trong và ngoài nước, một số đồng bào dân tộc ở các tỉnh Tây Nguyên đã gây mất trật tự trị an, đập phá cơ sở vật chất, chống lại và hành hung người thi hành công vụ; một số người còn trốn, đi theo Fulro ra nước ngoài làm tay sai cho chúng. 

Đồng bào ở các vùng chiến lược về an ninh, quốc phòng ở nước ta chủ yếu là đồng bào theo đạo, người dân tộc thiểu số, có trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Đây là những địa bàn trọng yếu nhưng hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi còn yếu kém nên đã trở thành một trong những điểm yếu để các thế lực thù địch tác động mạnh bằng chiến tranh tâm lý.

Ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch thông qua việc truyền đạo trái phép, các tổ chức phi chính phủ đã mị dân bằng những khẩu hiệu có liên quan sát thực đến đời sống của nhân dân như “đói cho ăn, đau cho thuốc, chết cho hòm,” “máy bay của Liên hợp quốc về Buôn Ma Thuột đón đồng bào sang Mỹ hưởng cuộc sống sung sướng”… 

Sự kiện đồng bào Mông ở Mường Nhé vừa qua cũng có sự tác động của các đối tượng phản động. 

Trong khi đó, một số nơi do bất bình trước những khó khăn, những cách làm sai trái của một số cán bộ nên phản ứng tập thể, gây mất an ninh trật tự ở nông thôn, an ninh đô thị, thậm chí kéo dài như tranh chấp, khiếu kiện, đình công, lãn công… 

Do tác động nhiều mặt, trong xã hội đã xuất hiện nhiều hiện tượng như tầm thường văn hóa, chạy theo lối sống sinh hoạt văn hóa lai căng, thác loạn, dung tục, xa rời văn hóa truyền thống. Một số tác phẩm văn hóa có tư tưởng phủ định lại lịch sử, nhận thức sai về văn học, nghệ thuật. 

Một số đầu sách có nội dung phức tạp, xuyên tạc lịch sử văn học Việt Nam vẫn được nhập khẩu, phát hành. Trên thị trường băng đĩa nhạc xuất hiện hàng loạt băng đĩa đồi trụy, phản động được lưu hành. Hàng loạt thông tin xâm nhập vào không kiểm chứng, dẫn đến nhận thức sai lệnh thông tin và hình thành nên quan điểm sai trái. Một số báo đưa tin, bài không trung thực, thiếu định hướng tư tưởng gây ảnh hưởng xấu trong dư luận. 

Trong khi đó, một số cơ quan thông tấn báo chí nước ngoài (AFP, Reuter, BBC, VOA) đưa các tin, bài vu cáo ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Không ít cán bộ, đảng viên và một bộ phận quần chúng nhân dân đã đọc, nghe những tác phẩm này, không phân biệt đúng sai, nhiều cán bộ đảng viên đã biểu hiện dao động, mất lòng tin và suy thoái về chính trị. 

Tư tưởng cơ hội gấy nguy hại nghiêm trọng tới sự vững mạnh về chính trị và trong sạch về tổ chức của Đảng, kể cả bản thân vận mệnh của Đảng và đất nước. Các thế lực thù địch đều rất quan tâm lôi kéo tầng lớp trí thức, văn nghệ sỹ, thanh niên, học sinh, sinh viên vì đây là lực lượng hùng hậu, là đội ngũ quan trọng trong xã hội, nhất là trí thức, lớp trẻ. 

Chúng coi đó là hướng hoạt động có tính chiến lược nhằm chuyển hóa tư tưởng của thế hệ điều hành đất nước trong tương lai. Những thế hệ sau 1975 đã quên hoặc chưa từng nếm trải những khổ cực trong chiến tranh do đó dễ bị thao túng, lôi kéo. Do ảnh hưởng của các thế lực thù địch cùng với tác động của một số yếu tố khách quan, một số sinh viên viết thư nói xấu chế độ. 

Điển hình là một sinh viên Học viện Quan hệ quốc tế đã viết cảm tưởng lưu lại triển lãm do Đại sứ quán Mỹ tổ chức “cuộc kháng chiến kháng Mỹ cứu nước là cuộc chiến huynh đệ tương tàn, Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, thanh niên không được quyết định hướng đi và lựa chọn người lãnh đạo của mình hoặc tiếp thu những giá trị tiến bộ của nhân loại, chỉ có quyền được nghe những lời rao giảng đạo đức, chính trị giả tạo, ngụy biện.” 

Có một số cán bộ, đảng viên, trí thức cũng ngộ nhận, phê phán nguyên tắc tập trung dân chủ, thậm chí có người còn đòi xóa bỏ nguyên tắc này. Họ cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ nay đã lỗi thời, nó chỉ thích họp với hoạt động của Đảng khi chưa dành được chính quyền, còn hoạt động bí mật hoặc lãnh đạo chiến tranh, rằng thực hiện tập trung dân chủ là nguyên nhân gây ra độc đoán, chuyên quyền trong Đảng và trong xã hội, sẽ không có dân chủ, không có nhân đạo. 

Họ cho rằng định hướng xã hội chủ nghĩa là giáo điều, sách vở, xuất phát từ định đề giai cấp chứ không xuất phát từ thực tiễn Việt Nam. Theo họ, phải từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa thì mới phù hợp với thực tế đất nước, xu thế với thời đại. Họ cho rằng quan hệ sản xuất mà chúng ta đang xây dựng chỉ là phương tiện để phát triển sản xuất. Họ cho rằng chúng ta chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa bằng mọi giá, nên lực lượng sản xuất yếu kém, trì trệ. 

Một số người cho rằng không nên phân chia nền kinh tế theo tiêu chí quan hệ sản xuất mà lâu nay vẫn làm, như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. 

Theo họ, cách phân chia đó dẫn đến việc phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, không có lợi cho việc phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế khác. Thay vào đó, nên phân chia nền kinh tế theo tiêu chí nhỏ, vừa và lớn. Họ cho rằng, chỉ bằng cách xóa bỏ mọi dấu hiệu quan hệ xã hội của sản xuất thì mới có sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. 

Một số đối tượng đã xoay chiều, quay quắt, phủ định truyền thống, nêu ra những luận điệu quái gở như “các nhà lãnh đạo Việt Nam cứ mãi ngây thơ tin vào sự đồng lòng xả thân cho một ý thức hệ vu vơ” (Nguyễn Thanh Giang), “cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước như mọi người ngộ nhận, đó là cuộc đụng độ giữa hai thế lực hiếu chiến;” “dưới chiêu dụ của những lời lẽ hào hoa, dân tộc Việt bị xé làm đôi, một cách vô thức đã tự nguyện biến thành hai đội quân đánh thuê cho hai hệ thống chính trị đối nghịch; một cách vô thức biến giang san cha ông ta thành chiếc cối xay thịt khổng lồ” (Dương Thu Hương). 

“Cây muốn lặng, gió chẳng đừng,” Đảng ta, nhân dân ta luôn mong muốn một không khí hòa bình để xây dựng một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc nhưng các thế lực thù địch không để chúng ta yên. Chúng thường xuyên nhiều thủ đoạn để chống phá chúng ta. 

Vì vậy, đấu tranh chống quan điểm sai trái như một nhiệm vụ tất yếu chúng ta cần làm và nhất định phải làm thật tốt. Để thực hiện được điều đó, cần nhận rõ các dạng quan điểm sai trái để có những đối sách phù hợp. Yêu cầu chung nhất của việc đấu tranh chống quan điểm sai trái chính là làm tốt công tác tư tưởng trong Đảng và toàn dân bằng cách tuyên truyền, tổ chức, giáo dục hướng tới sự thống nhất tư tưởng và thống nhất hành động trong toàn xã hội.

Hơn 80 năm qua, Đảng ta luôn khẳng định công tác đấu tranh chống quan điểm sai trái trực tiếp phục vụ cho việc lãnh đạo thực hiện những mục tiêu cao cả của sự nghiệp cách mạng. Đây là nhiệm vụ đặc biệt, cần có sự phối hợp đồng bộ, chỉ đạo chặt chẽ, huy động năng lực và trí tuệ của đội ngũ cán bộ trong toàn hệ thống chính trị nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong nhận thức tình cảm, tư tưởng của nhân dân. 

Đấu tranh chống quan điểm sai trái cũng chính là sự khẳng định lập trường của Đảng và Nhà nước ta trước những biến động phức tạp trên thế giới và trong nước, từ đó củng cố nhận thức chính trị, giữ vững thế trận lòng dân, đưa sự nghiệp cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn./.

 

MỘT SỐ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, PHẢN ĐỘNG CHỐNG PHÁ

CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Đã không còn gì lạ lẫm khi ở đâu, lúc nào, trong bất cứ nhiệm vụ gì, lĩnh vực nào, các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đưa ra đều bị các thế lực thù địch công kích, xuyên tạc, ngay cả khi những chủ trương, chính sách ấy đã đúng mười mươi, được thực tế lịch sử chứng minh, được nhân dân ủng hộ và bạn bè quốc tế ghi nhận. Đặc biệt mỗi khi nước ta chuẩn bị tiến hành những hoạt động lớn, có ý nghĩa lịch sử trọng đại như: bầu cử Quốc hội, bầu cử hội đồng nhân dân hay đại hội Đảng các cấp thì các thế lực thù địch ra tăng cường độ, quy mô chống phá rất quyết liệt cách mạng Việt Nam.

Để làm cơ sở cho việc chủ động phòng chống một cách có hiệu quả các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, đòi hỏi mỗi chúng ta phải có bản lĩnh và “dũng khí đấu tranh”, có kiến thức sâu và toàn diện, thường xuyên được cập nhật thông tin, có phương pháp đấu tranh phù hợp và đặc biệt là phải nhận biết được chính xác âm mưu, thủ đoạn, thời điểm, cách thức, phương tiện, lực lượng chống phá của địch, nhất là phải nhận diện được các luận điệu chống phá của chúng theo từng thời điểm, giai đoạn nhất định.

Hiện nay, các luận điểm chống phá của địch rất đa dạng, trên tất cả các lĩnh vực, các nhiệm vụ, song có thể khu biệt và nhận diện một số hoạt động chống phá của địch như sau:

Một là, các luận điệu tuyên truyền, chống phá, phủ nhận vai trò lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam. đối với xã hội, hòng đối lập Đảng với Nhà nước và nhân dân tiến đến gạt bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Chúng cho rằng: sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước là “không cần thiết, là trở ngại lớn của nền dân chủ, Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay can thiệp quá sâu, “lấn sân”, “làm thay” công việc của quốc hội, chính phủ, quốc hội, chính phủ chỉ là những con dối theo sự sắp đặt của Bộ Chính trị” và theo đó “Đảng chỉ nên lãnh đạo tư tưởng, đạo đức, lối sống và định hướng chung chung; không lãnh đạo kinh tế, văn hoá, quân đội...”. Với lý do: ở các nước tư bản phương Tây, “nhiều việc không có đảng lãnh đạo dân người ta vẫn làm được”; vì vậy “Đảng chỉ cần thiết khi chưa giành được chính quyền, khi đã có chính quyền Đảng nên trao quyền lại cho nhân dân, cho bộ máy nhà nước”, như thế mới thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Chúng lập luận rằng: “kinh tế tư nhân không cần Đảng lãnh đạo; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không có sự lãnh đạo của Đảng sao vẫn hoạt động hiệu quả, còn các doanh nghiệp nhà nước do Đảng lãnh đạo thì làm ăn, yếu kém, thậm chí thua lỗ, phá sản”; đã có người đề xuất cách giải quyết vấn đề - Đảng nên lãnh đạo theo kiểu “tế nhị” “vừa có lợi cho dân tộc, vừa có lợi cho Đảng”. Nghĩa là, Đảng và dân tộc là hai thực thể đối lập nhau. Thực chất những quan điểm thù đich này là thủ đoạn thâm độc, nham hiểm nhằm đối lập Đảng với Nhà nước và nhân dân, dọn đường cho sự hình thành tư tưởng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để vô hiệu hoá vai trò lãnh đạo của Đảng.

Với luận thuyết “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, họ biện hộ rằng: đa nguyên, đa đảng bao giờ cũng tốt hơn nhất nguyên, một đảng “sự lãnh đạo của một đảng duy nhất là mất dân chủ, là độc tài”. Chúng cho rằng, thích ứng với nền kinh tế thị trường “đa nguyên” thì không thể “nhất nguyên chính trị”, “không thể duy trì sự lãnh đạo của một đảng duy nhất ”. Theo chúng, tình trạng khủng hoảng và đói nghèo, chậm phát triển ở Việt Nam “là hậu quả của chính sách cai trị độc tài của Đảng Cộng sản Việt Nam”, nên “phải xoá bỏ điều 4 ghi trong Hiến pháp về quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam”.

Để chứng minh chế độ một Đảng lãnh đạo là “sai lầm”, “là bước thụt lùi, kéo lùi sự phát triển” của đất nước. Mặt khác, chúng khoét sâu vào những khuyết điểm, yếu kém trong Đảng thổi phồng thành phổ biến, xem đó là bản chất của Đảng. Chúng đi đến quy kết “tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ độc đảng”. Trong khi Đảng ta kiên quyết đẩy lùi tham nhũng làm trong sạch bộ máy của Đảng và nhà nước thì chúng cho rằng “đó chỉ là những quân tốt thí để giữ thế cờ”; đồng thời tung tin thất thiệt, nói sai sự thật, vu cáo trắng trợn các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước ta nhằm tạo dư luận xấu, gây nghi ngờ, chia rẽ nội bộ Đảng và hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng nhân dân.

Để thực hiện âm mưu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch ráo riết công kích các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Họ cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ nay đã lỗi thời, nó chỉ phù hợp với hoạt động của Đảng khi chưa giành được chính quyền, trong hoạt động bí mật, hoặc khi lãnh đạo chiến tranh, thực hiện tập trung dân chủ là nguyên nhân gây ra độc đoán, chuyên quyền, gây mất dân chủ, vi phạm nhân quyền trong Đảng, trong xã hội. Thực chất của âm mưu này nhằm chống phá Đảng từ bản chất, làm cho Đảng thoái hoá, biến chất, phá vỡ khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đẩy Đảng về thời kỳ “tiểu tổ, phân tán”, kích động tư tưởng dân chủ theo lối tự do vô chính phủ, từng bước làm mất sức mạnh và vai trò, uy tín của Đảng đối với toàn xã hội.

Sự tác động của các quan điểm thù địch, sai trái thông qua mạng internet, các trang blog cá nhân đã và đang làm cho nguy cơ “tự diễn biến” gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp tới chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân, đặc biệt là một bộ phận thanh niên, học sinh, sinh viên và một số văn nghệ sĩ, trí thức “cấp tiến”. Nguy hiểm hơn, có những cán bộ, đảng viên suy giảm lòng tin vào mục tiêu, lý tưởng, vào sự lãnh đạo của Đảng, hoang mang dao động, giảm sút ý chí chiến đấu, thậm chí có người trước đây được Đảng, nhà nước cho ăn học, từng giữ những chức vụ trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, nhà nước; những người “vào sinh ra tử”, kiên trung trong chiến đấu… nay “trở mặt”, “đá bát”; viết tự truyện, nhật ký, tham gia một số diễn đàn, trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, công khai trên cac blog “vạch tội” Đảng, nhà nước, bôi đen, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử và “ấu trĩ” đến mức thừa nhận mình “sai lầm” khi đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Những vấn đề trên đây không phải là mới song thời điểm mà chúng ta đang chuẩn bị Đại hội lần thứ XII của Đảng lại là những vấn đề hết sức nhạy cảm. Âm mưu thâm độc bao trùm của những luận điệu thù địch, sai trái nhằm mục đích cuối cùng là xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, thay đổi mục tiêu phát triển đất nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng ta cần tỉnh táo nhận diện đúng, cảnh giác và vạch trần bản chất âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ; bình tĩnh xem xét, phân tích và nhận rõ những vẫn đề trọng tâm, trọng điểm mà các thế lực thù địch đang ra sức chống phá. Cần phân biệt các quan điểm sai trái với các tâm thư, ý kiến phát biểu, kiến nghị của những người có tâm huyết với đất nước. Chủ động có giải pháp đúng đắn để ngăn chặn và vô hiệu hoá mọi thủ đoạn tung tin, truyền bá những quan điểm thù địch, sai trái trên các phương tiện thong tin đại chúng nhằm tạo ra khả năng “miễn dịch” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ./.

 

VỀ MỘT SỐ QUAN ĐIỂM THÙ ĐỊCH, SAI TRÁI

CHỐNG PHÁ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

   

                                               

Suốt nhiều thập kỷ qua, các thế lực thù địch tìm mọi cách, dùng đủ mọi thủ đoạn “công phá” vào Đảng Cộng sản Việt Nam cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức nhằm từng bước hạ thấp vị thế, uy tín, tiến tới xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

 Biết rằng sức mạnh của Đảng ta và chế độ xã hội chủ nghĩa là sự thống nhất, gắn bó giữa Đảng với Nhà n­ước và nhân dân, do đó, những phần tử cơ hội, thù địch tập trung “công phá” vào vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, hòng đối lập Đảng với Nhà nước và nhân dân. Chúng lớn tiếng cho rằng: “sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là “không cần thiết, là trở ngại lớn của nền dân chủ”, “Đảng chỉ nên lãnh đạo tư tưởng, đạo đức, lối sống và định hướng chung chung; không lãnh đạo kinh tế, văn hoá; không lãnh đạo quân đội…”. Với lý do là: ở các nước tư bản phương Tây, “nhiều việc không có đảng lãnh đạo dân người ta vẫn làm được” (?)  vì vậy “Đảng chỉ cần thiết khi chưa giành được chính quyền, khi đã có chính quyền Đảng nên trao quyền lại cho nhân dân, cho bộ máy nhà nước”, như thế mới thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Chúng lập luận rằng: “kinh tế tư nhân không cần Đảng lãnh đạo; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không có sự lãnh đạo của Đảng sao vẫn hoạt động hiệu quả, còn các doanh nghiệp nhà nước do Đảng lãnh đạo thì làm ăn yếu kém, thậm chí thua lỗ…”. Đó là hiện tượng có thật, nhưng điều mà họ không hiểu hay cố tình suy diễn sai lệch phương thức lãnh đạo của đảng, Đảng lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối, chính sách, định hướng sự phát triển theo mục tiêu đã xác định; Đảng lãnh đạo thông qua bộ máy Nhà nước với luật pháp, chính sách cụ thể - thể chế hoá đúng với đường lối của Đảng; Đảng lãnh đạo thông qua vai trò và hoạt động của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng; Đảng tiến hành công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác cán bộ, công tác giáo dục, thuyết phục, vận động quần chúng nhân dân... Đảng chăm lo, bảo đảm lợi ích của toàn xã hội cũng như lợi ích của từng cá nhân…

Gần đây, đã có người đề xuất cách giải quyết vấn đề - Đảng nên lãnh đạo theo kiểu “tế nhị” “vừa có lợi cho dân tộc, vừa có lợi cho Đảng”. Nghĩa là, Đảng hãy theo gương các đảng cộng sản và công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ, sau khi mất vai trò, vị trí lãnh đạo đã lột xác thành lực lượng chính trị quan trọng (đảng đối lập) hoặc đã chuyền thành đảng dân chủ xã hội. Lời lẽ có vẻ bớt thù địch, thô bạo, song ý đồ vẫn là: gạt bỏ sự lãnh đạo của Đảng và thủ tiêu Đảng với tính cách là Đảng cầm quyền. Thực chất những quan điểm thù địch này là thủ đoạn thâm độc, nham hiểm nhằm dọn đường cho sự hình thành tư tưởng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để vô hiệu hoá vai trò lãnh đạo của Đảng.

Chúng biện hộ rằng: “sự lãnh đạo của một đảng duy nhất là không dân chủ, là độc tài”; thích ứng với nền kinh tế nhiều thành phần thì không thể “nhất nguyên chính trị”, “không thể duy trì sự lãnh đạo của một đảng duy nhất”. Chúng suy diễn, tình trạng khủng hoảng và đói nghèo ở Việt Nam “là hậu quả của chính sách cai trị độc tài của Đảng Cộng sản Việt Nam”, nên “phải xoá bỏ điều 4 ghi trong Hiến pháp về quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam”.

Để chứng minh chế độ một Đảng lãnh đạo là “sai lầm” “nguy hiểm”, những người có tư tưởng cơ hội, thù địch viện dẫn và xuyên tạc, bôi đen, bóp méo sự thật, họ đánh đồng hiện tượng với bản chất, cường điệu một số sai lầm, khuyết điểm có thật của Đảng thổi phồng thành phổ biến, xem đó là bản chất của Đảng. Lợi dụng những chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để bôi đen chế độ, công kích Đảng, Nhà nước. Trong lúc Đảng và nhân dân ta đang ra sức ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng thì họ quy kết rằng “tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ độc đảng”; những phần tử thoái hoá, biến chất bị các cơ quan chức năng xét xử theo pháp luật làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước thì họ cho rằng “đó chỉ là thí quân tốt để giữ thế cờ” đồng thời tung tin thất thiệt, nói sai sự thật, vu cáo trắng trợn các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta nhằm gây nghi ngờ, chia rẽ nội bộ Đảng và hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng nhân dân.

Để xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, các thế lực phản động, thù địch dùng nhiều “ngón đòn” tinh vi và xảo quyệt tập trung chống phá Đảng ta cả trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Tiến công vào đường lối của Đảng, các thế lực thù địch cho rằng: “không  thể làm trái quy luật bỏ qua chế độ tư bản mà là phát triển tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng, giải quyết các vấn đề xã hội ở chừng mực nào đó, theo chủ nghĩa xã hội dân chủ; “giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ không thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, sẽ bị cô lập trên trường quốc tế, nên gác định hướng xã hội chủ nghĩa lại”. Chúng rêu rao rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn con đường sai, không thể có chủ nghĩa xã hội”. Chúng ra sức xuyên tạc đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt là đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đường lối mở cửa, hội nhập của nước ta, đồng thời ra sức tô son cho chủ nghĩa tư bản, rằng “chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về bản chất, chủ nghĩa tư bản hội tụ với chủ nghĩa xã hội trong thời đại văn minh hậu công nghiệp... chủ nghĩa tư bản là vĩnh hằng. Không ít người còn lớn tiếng cho rằng; “chủ nghĩa xã hội chính là bước quá độ tiến tới chủ nghĩa tư bản”.

Trên lĩnh vực tư tưởng, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn hòng “đánh sập” hệ tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định sức mạnh của Đảng và bảo đảm vai trò lãnh đạo đối với toàn xã hội - làm cho Đảng mất phương hướng chính trị... dẫn tới mất vai trò lãnh đạo. Viện cớ chủ nghĩa xã hội hiện tại sụp đổ một mảng lớn trên thế giới, những người chống đối chủ nghĩa Mác - Lênin ở nước ta đi tới kết luận: “Chủ nghĩa Mác - Lênin là không khoa học, không thể kiểm nghiệm được trong thực tế; nó chỉ tồn tại trong những bộ óc hoang tưởng và bệnh hoạn, được Đảng Cộng sản bơm lên thành học thuyết chính thống, để áp đặt sự thống trị của mình lên toàn xã hội”.

Khi Đảng ta chủ trương chống “giáo điều’ và thực hiện “mở cửa”, một số người lợi dụng các diễn đàn trong các cuộc hội thảo tuyên truyền cho các quan điểm dân chủ tư sản và các khuynh hướng cơ hội đang phát triển ở Liên xô và Đông Âu. Trước sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, các nhà tư tưởng chống cộng lại được dịp phê phán, đả kích chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ cố tìm cách phủ nhận tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, cố chứng minh rằng Mác - Ăngghen không phải là những nhà khoa học. Họ nói dựng đứng rằng; “Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ là một ý thức hệ hư ảo”, “một thứ nói dối có ý thức”, “những vở kịch giả hình”, “chứa đày tính chất huyễn tưởng”; còn Lênin thì làm tăng sự huyễn tưởng đó “lên hơn một lần nữa”. Họ lớn tiếng cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã phá sản. Thất bại của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là sự thất bại của chủ nghĩa Mác - Lênin, “Vậy mà Đảng Cộng sản Việt Nam lại lấy thứ đó làm kim chỉ nam cho mọi hành động”... Thực chất những quan điểm đó đều nhằm xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng đi tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam.

Để thực hiện âm mưu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch ráo riết công kích các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Họ cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ nay đã lỗi thời, nó chỉ phù hợp với hoạt động của Đảng khi chưa giành được chính quyền, trong hoạt động bí mật, hoặc khi lãnh đạo chiến tranh, thực hiện tập trung dân chủ là nguyên nhân gây ra độc đoán, chuyên quyền, gây mất dân chủ, vi phạm nhân quyền, nhân đạo trong Đảng, trong xã hội. Thực chất của âm mưu này là nhằm phá vỡ khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, đẩy Đảng về thời kỳ “tiểu tổ, phân tán”, đi theo khuynh hướng dân chủ tự do vô chính phủ, từng bước làm mất sức mạnh và vai trò, uy tín của Đảng đối với toàn xã hội...

Thời gian qua, thông qua các “kênh”: báo, đài, Internet; văn hoá, sách báo, phim ảnh, các diễn đàn chính trị quốc tế… các quan điểm sai trái này đã len lỏi vào tư tưởng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên của Đảng và quần chúng nhân dân. Sự xâm nhập của các quan điểm thù địch, sai trái đã làm cho nguy cơ “tự diễn biến” gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp tới chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh niên, sinh viên và một số văn nghệ sĩ, trí thức “cấp tiến”. Các thế lực thù địch xác định, thanh niên, sinh viên là một trong những mũi nhọn để truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch. Một số văn nghệ sĩ, trí thức cũng bị các thế lực thù địch lôi kéo, kích động đấu tranh đòi tự do tuyệt đối về tư tưởng trong sáng tạo. Nguy hiểm hơn, trước sự thâm nhập của những quan điểm tư tưởng sai trái đó có không ít cán bộ, đảng viên suy giảm lòng tin vào mục tiêu, lý tưởng, vào sự lãnh đạo của Đảng, hoang mang dao động, giảm sút ý chí chiến đấu, thậm chí một số người sa ngã, tham gia vào việc truyền bá, phát tán các tài liệu có quan điểm thù địch, sai trái chống đối Đảng, chống đối chế độ.

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, trước những yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã sớm nhận thức rằng, để đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng phải thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật; thường xuyên tự phê bình và phê bình, nói thẳng, nói thật; giữ gìn và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đấu tranh kiên quyết đối với những phần tử cơ hội. Chăm lo xây dựng tổ chức bộ máy trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, thẩm quyền, trách nhiệm rõ ràng, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Coi trọng xây dựng tổ chức cơ sở đảng; chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn. Tạo sự chuyển biến thực sự và đồng bộ trong công tác cán bộ; coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, trọng dụng nhân tài. Bất luận trong hoàn cảnh nào, Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, quyết định của Đảng để phát huy ưu điểm, phòng ngừa và khắc phục kịp thời sai lầm, khuyết điểm; xây dựng tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và cán bộ, đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, Đảng phải thường xuyên đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng; phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân.

 Cùng với việc xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cần tổ chức tốt, chặt chẽ cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Công tác tư tưởng phải được đổi mới, ngày càng thiết thực và hiệu quả; đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, giải đáp cho được những vấn đề cơ bản, vừa bức thiết nảy sinh trong sự nghiệp đổi mới, nhằm bổ sung, hoàn thiện đường lối của Đảng, khắc phục bệnh quan liêu, tham nhũng, chống suy thoái trong Đảng cầm quyền; khắc phục nhanh chống sự sơ hở, yếu kém không để khe hở cho những quan điểm tư tưởng sai trái thâm nhập.

Chủ động có giải pháp đúng đắn để ngăn chặn và vô hiệu hoá mọi thủ đoạn tung tin, truyền bá những quan điểm thù địch, sai trái tạo ra khả năng “miễn dịch” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ - đây là vấn đề cực kỳ quan trọng ảnh hưởng đến sự sống còn của Đảng, của chế độ trong tình hình hiện nay. Tuyên truyền, giáo dục cho mọi người nâng cao nhận thức, mài sắc tinh thần cảnh giác cách mạng, chống “tự diễn biến” trước các âm mưa, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng lý luận. Kịp thời phát hiện các hoạt động và các luận điệu xuyên tạc, lừa bịp, mị dân của các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch, từ đó có phương sách đối phó một cách hiệu quả.

Mỗi tổ chức, mỗi cá nhân cần tỉnh táo, sáng suốt phân tích và nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền, lừa bịp của các thế lực thù địch. Cần phân biệt các quan điểm sai trái với các ý kiến phát biểu, kiến nghị của một số người có ý thức tổ chức, tâm huyết với đất nước. Cần có quy chế rõ ràng để tạo điều kiện tăng cường đưa thông tin của Việt Nam lên mạng Internet, đặc biệt cần có đội ngũ phóng viên - các cây viết sắc bén để phản kích lại các thông tin chống phá ta đưa tức thời lên mạng. Chính những thông tin chính thống này sẽ vạch trần sự xuyên tạc, gây hiểu nhầm về chính sách của Đảng và Nhà nước ta./.

 

 

Không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội


QĐND - Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là một thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội ta của các thế lực thù địch. Càng gần đến dịp kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, thì thủ đoạn đó càng rộ lên, với những chiêu trò mới nguy hiểm hơn. Điều đó cần phải lên án, bác bỏ...

Lịch sử ra đời, phát triển của xã hội loài người từ khi xuất hiện nhà nước cho thấy, bất kỳ giai cấp, đảng phái nào khi nắm quyền lãnh đạo đất nước cũng đều tổ chức ra quân đội để bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế của mình và sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia. Bởi thế, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, mang bản chất giai cấp sâu sắc, không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, trung lập, đứng ngoài chính trị. V.I.Lênin đã khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”(1)

Trong xã hội hiện đại, mỗi quốc gia đều có một hay đa đảng lãnh đạo và quân đội của quốc gia đó luôn gắn và phục tùng sự lãnh đạo của đảng chính trị cầm quyền. Vì thế, luận điệu đòi "phi chính trị hóa” quân đội là sự xuyên tạc, bịa đặt, hòng mưu đồ chính trị. Quan điểm quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc là phi lý và chưa bao giờ thực tiễn xác nhận. Những gì đã trải qua trên thế giới cho thấy, quân đội của bất kỳ nước nào, trong quá trình xuất hiện và trưởng thành, cũng luôn là một lực lượng chính trị quan trọng được nhà nước, giai cấp cầm quyền quan tâm lãnh đạo, xây dựng.

Lịch sử đã để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, cảnh tỉnh cho những ai còn mơ hồ trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch về bản chất của quân đội và xa rời, coi nhẹ sự lãnh đạo của đảng cầm quyền đối với quân đội. Điển hình là vào những năm 80 của thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản (ĐCS) Liên Xô do mắc bẫy của chiến lược “Diễn biến hòa bình” đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của học thuyết Mác - Lênin, xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội và hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp trong Hồng quân. Vì thế, đã làm cho Quân đội Liên Xô lúc bấy giờ bị “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa, dẫn đến phân rã về tư tưởng và tổ chức. Mặc dù lúc đó, lực lượng quân đội mạnh với khoảng 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng do bị "phi chính trị hóa”, mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu không bảo vệ Đảng Cộng sản. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho chế độ ở Liên Xô sụp đổ; và tương tự như vậy là các nước Đông Âu. Hiện nay, với kinh nghiệm đó và được bổ sung từ thực tiễn ở một số nước Bắc Phi-Trung Đông vừa qua, các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, hòng xóa bỏ những nước XHCN còn lại và các lực lượng tiến bộ trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Để thực hiện tham vọng đó, chúng xác định Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam là mục tiêu tập trung chống phá; trước mắt là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, “phi chính trị hóa” quân đội, làm rệu rã tinh thần, mất sức chiến đấu, tiến tới vô hiệu hóa lực lượng trung thành, chủ lực, nòng cốt bảo vệ Đảng Cộng sản, chế độ XHCN ở Việt Nam. Chúng lý sự rằng, quân đội là một tổ chức quân sự, công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước, được tổ chức ra để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì thế, quân đội trung lập về chính trị, đứng ngoài những biến động chính trị-xã hội, không chịu sự lãnh đạo của bất cứ đảng phái chính trị nào. Với lập luận đó, chúng ra sức phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lê-nin; xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng Cộng sản Việt Nam; phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với QĐND Việt Nam. Chúng còn đòi xóa bỏ hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, cùng hệ thống cơ quan chính trị và cán bộ chính trị trong quân đội; xuyên tạc truyền thống, bản chất Bộ đội Cụ Hồ, đoàn kết quân-dân, hòng làm giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội,... Càng gần đến Ngày thành lập quân đội, sự chống phá của các thế lực thù địch lại càng gia tăng, với nhiều thủ đoạn nguy hiểm và thâm độc. Chúng tuyên truyền, phủ nhận chiến thắng của quân đội dưới sự lãnh đạo của Đảng qua những giai đoạn cách mạng; xuyên tạc các sự kiện lịch sử có quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài cá nhân, đơn vị, hòng làm mất uy tín của quân đội,… Tất cả những điều đó không có gì khác ngoài mục đích là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND Việt Nam, làm cho quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị, suy giảm về sức mạnh chiến đấu; Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mất chỗ dựa vững chắc.

Tiếp thu học thuyết Mác - Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo xây dựng QĐND Việt Nam từ các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng; thường xuyên được giáo dục, rèn luyện qua thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, bảo đảm cho quân đội luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; là công cụ bạo lực của Nhà nước Việt Nam XHCN, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc, vì CNXH. Ngày 22-12-1944, trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “chính trị trọng hơn quân sự”, “tuyên truyền trọng hơn tác chiến”. Đây chính là nền tảng tư tưởng, phương châm hành động để Đảng ta xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong suốt 70 năm qua.

Ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cơ sở chính trị-xã hội của Quân đội ta là đường lối của Đảng, phong trào cách mạng của nhân dân. Quân đội được xây dựng trên nền tảng vũ trang toàn dân và làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành đấu tranh vũ trang, gắn bó máu thịt với nhân dân, thực sự là quân đội cách mạng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Bản chất của quân đội là sự thống nhất hữu cơ giữa tính đảng, tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc, được biểu hiện sinh động ở lý tưởng chiến đấu, cơ sở chính trị-xã hội, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và chức năng, nhiệm vụ. Lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta là vì độc lập dân tộc và CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là lý tưởng cao đẹp không chỉ mang tính cách mạng, khoa học, mà còn thấm đượm tính nhân văn sâu sắc; không chỉ phản ánh sự vận động, phát triển đúng quy luật của xã hội Việt Nam đương đại, mà còn phản ánh khát vọng thiêng liêng tự giải phóng, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vươn lên làm chủ của các thế hệ người Việt Nam xuyên suốt hành trình lịch sử. Đồng thời, thể hiện tình cảm sâu nặng, trách nhiệm chính trị, đạo đức cao cả của quân đội đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.

Cần khẳng định, chỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta mới có đường hướng phát triển đúng đắn, thực sự là đội quân có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc, nhân dân và luôn có ý chí quyết tâm, sức mạnh chiến đấu cao trước mọi kẻ thù xâm lược. Đảng thực hiện sự lãnh đạo quân đội thông qua hệ thống tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng ở đơn vị cơ sở. Nhà nước thống nhất quản lý quân đội theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Các tổ chức Đảng trong quân đội hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội ta đã hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

Lịch sử 70 năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định để quân đội hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, luôn đồng hành cùng dân tộc vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đánh bại đế quốc, thực dân, đưa non sông thu về một mối. Hiện nay, quân đội đang là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc XHCN, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Trên chặng đường đó, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, chúng ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức xuất phát từ sự chống phá của các thế lực thù địch, mà trọng điểm là đòi “phi chính trị hóa” LLVT nhân dân, nhất là QĐND.

Để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đó của các thế lực thù địch, phải tiếp tục tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch, nhân tố quyết định bảo đảm cho Quân đội ta luôn trưởng thành và chiến thắng. Phải tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, làm tròn sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp xây dựng quân đội, tăng cường quốc phòng trong thời kỳ mới.

Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam khẳng định vai trò lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng đối với quân đội. Đó là điều không thể phủ nhận. Các thế lực thù địch dù có mưu mô, xảo quyệt đến đâu cũng không thể bác bỏ được.

(1)- V.I.Lênin - Toàn tập, Tập 12, Nxb Tiến bộ M, 1979, tr. 136.


 

Không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam cần “xoay trục”


QĐND - Khái niệm “xoay trục” được sử dụng trong vài ba năm lại đây, khi Hoa Kỳ thực hiện chính sách tăng cường hiện diện tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Song khái niệm “xoay trục” được nói ở đây nằm trong một cuộc trao đổi giữa BBC với một cộng tác viên của hãng này. Đó là quan điểm: Đảng Cộng sản Việt Nam cần chuyển hướng chính trị. Nội dung của quan điểm này theo bài trả lời BBC là Đảng Cộng sản Việt Nam cần: “Xoay trục về nhân dân, xoay trục về dân tộc… tìm mọi phương sách, tìm mọi giải pháp vừa đúng đắn, tiến bộ, nhân văn, để đối xử với nhau trong nội bộ của dân tộc…". Và “Nếu cứ theo đuôi một phía nào đấy, thì chắc chắn là mình không thể xử lý một cách đàng hoàng, đúng đắn mọi vấn đề trong mối quan hệ dân tộc được… Và muốn như thế, phải phát huy tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do học thuật…”(?)

Có mấy vấn đề trong bài trả lời nói trên cần được làm rõ:

- Thứ nhất, cái “trục” mà thực chất là mục tiêu, lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ XX là gì? Liệu có cần phải thay đổi không?

- Thứ hai, căn cứ vào đâu mà tác giả (bài trả lời BBC nói trên) cho rằng quan hệ giữa Đảng ta với nhân dân đang có vấn đề, cần phải có cách đối xử với nhau trong nội bộ của dân tộc… đúng đắn?

- Thứ ba, căn cứ vào đâu mà tác giả (bài trả lời BBC) cho rằng “nếu cứ theo đuôi một phía nào đấy, thì chắc chắn là mình không thể xử lý một cách đàng hoàng, đúng đắn mọi vấn đề…”? Và để giải quyết vấn đề thì tác giả cho rằng, Việt Nam phải “phát huy tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do học thuật”!

Trước hết có thể khẳng định, cách nêu vấn đề “xoay trục” của người trả lời BBC là một sự xuyên tạc lịch sử và bóp méo vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thế kỷ XX.

Trong lịch sử dân tộc ta, 85 năm qua (1930-2015) cho thấy: Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đều vì độc lập dân tộc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân, ngoài ra không có mục tiêu, không có “trục” nào khác. Thử hỏi cuộc Cách mạng Tháng Tám giành độc lập dân tộc; các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, nhất là trong hai cuộc kháng chiến quy mô lớn chống thực dân Pháp (1945-1954), chống đế quốc Mỹ (1954-1975) bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước với tinh thần  “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” không phải vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc Việt Nam hay sao?

Chúng ta không phủ nhận thực trạng kinh tế, xã hội của Việt Nam đang còn không ít vấn đề cần phải giải quyết. Chẳng hạn sự phân hóa giàu nghèo, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức; tình trạng “lợi ích nhóm”, “bệnh nhiệm kỳ” như Hội nghị Trung ương  3, Trung ương 4 (khóa XI) đã chỉ ra chưa được đẩy lùi, nhưng không thể phủ nhận được công cuộc đổi mới (1986-2015) theo mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đã đạt được những thành quả to lớn. Diện mạo đời sống xã hội được thay đổi đáng kể, vị thế quốc gia, dân tộc được nâng cao. Cho đến nay, nhờ có môi trường chính trị ổn định, nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, cùng với hệ thống pháp luật đang được hoàn thiện, Việt Nam đang trở thành địa chỉ thu hút đầu tư nước ngoài có sức hấp dẫn lớn.

Cũng cần phải nói thêm rằng, từ sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ  biên giới quốc gia, chẳng lẽ không phải vì lợi ích của dân tộc, của nhân dân? Chẳng lẽ cái “trục” chính trị này đã đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc Việt Nam hay sao?

Thứ hai, phải chăng mối quan hệ giữa Đảng ta với nhân dân đang có vấn đề và cần phải “xoay trục” để có cách đối xử với nhau đàng hoàng như người ta nói?

Có thể nói ngay rằng đây là một sự bịa đặt đầy ác ý. Trên thế giới, không có quốc gia nào là không có sự khác biệt nhất định về quan điểm, tư tưởng trong các nhóm xã hội. Trong thể chế đa đảng hoặc trong nhà nước tôn giáo (một quốc gia dựa trên một thiết chế tôn giáo nhất định) thì có thể diễn ra nhiều vấn đề nội bộ, theo nghĩa là có sự khác biệt giữa các nhóm xã hội được pháp luật bảo vệ. Ở nước ta, quyền và lợi ích của con người, của công dân được quy định trong Hiến pháp, trong pháp luật. Những quan điểm, nhất là hành vi nào đó nằm ngoài các quy định được pháp luật bảo hộ không thể gọi quan hệ giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân có vấn đề, cần có cách “đối xử với nhau” như trong văn hóa ứng xử giữa cá nhân với cá nhân được. Việc đồng nhất những người có hành vi vi phạm pháp luật, bị các cơ quan chức năng xử lý với cách ứng xử cá nhân với cá nhân, cách  “đối xử với nhau” là một sự nhầm lẫn tai hại, không thể chấp nhận.

Thứ ba, phải chăng Việt Nam “cứ theo đuôi một phía nào đấy” nên đã ứng xử sai trong “nội bộ của dân tộc” và do đó cần phải “phát huy tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do học thuật”?

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, nhân dân Việt Nam đã giành được độc lập năm 1945 ngay trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, khi chưa có bất cứ một sự giúp đỡ nào của Liên Xô, Trung Quốc. Vào giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX, trong bối cảnh Liên Xô cải tổ dẫn đến sụp đổ… Việt Nam đã tổng kết thực tiễn, từ nông nghiệp (Chỉ thị số 100-CT/TƯ1), Nghị quyết 102)… từng bước xác định đường lối đổi mới. Việc Đảng ta nghiên cứu tham khảo kinh nghiệm các nước là điều bình thường.

Để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong điều kiện của một nước còn nghèo nàn, lạc hậu, lịch sử đã chứng minh đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là một mặt ra sức phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, mặt khác tranh thủ sự giúp đỡ của các nước XHCN, sự ủng hộ của các dân tộc yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới. Đến nay, Hiến pháp năm 2013 quy định Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được tôn trọng và bảo đảm… chẳng lẽ đây cũng là “theo đuôi”, bắt chước một quốc gia nào đấy?

Việt Nam đã, đang và sẽ luôn theo cái “trục” làm mọi cách để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, không gian sinh tồn của dân tộc với những phương thức tối ưu, đương nhiên điều đó không thể là theo đuôi ai cả.

Như vậy có thể nói, điều mà tác giả trả lời BBC rằng, Việt Nam cần phải “xoay trục” để có cách ứng xử đúng đắn “trong nội bộ dân tộc” là sự bịa đặt, là xuyên tạc lịch sử Việt Nam và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là một sai lầm về khoa học, lầm lạc về chính trị.


(1) Chỉ thị số 100-CT/TW ngày 13-1-1981 của Ban Bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp.

(2) Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5-4-1988 của Bộ Chính trị về “đổi mới quản lý nông nghiệp”.

 

KIÊN TRÌ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG ĐẤU TRANH PHÊ PHÁN MỘT SỐ QUAN ĐIỂM PHẢN MÁC-XÍT


Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã gây nên một sự biến lịch sử to lớn: hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới bị phá vỡ, phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa rơi vào bước thoái trào nghiêm trọng. Một số Đảng Cộng sản bị khủng hoảng sâu sắc về tư tưởng và tổ chức, chuyển hướng sang Đảng Xã hội dân chủ. Không ít người trước đây vốn tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vào chủ nghĩa xã hội nay cũng bị ngả nghiêng, chao đảo, không đứng vững trước những thử thách khắc nghiệt của lịch sử. Tình hình đó đã tạo lợi thế cho các thế lực chống cộng của chủ nghĩa đế quốc tấn công vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin và chủ nghĩa xã hội. Chúng luôn luôn lấy sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu để cố chứng minh rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã thật sự lỗi thời, chủ nghĩa xã hội chỉ là không tưởng, là một bước đi chệch hướng tạm thời của lịch sử do sự áp đặt chủ quan của các Đảng Cộng sản nên không thể tồn tại; chỉ có chủ nghĩa tư bản là có sức sống vì nó luôn luôn thích nghi với thời đại. Chúng còn cho rằng, học thuyết về đấu tranh giai cấp, về bạo lực cách mạng và chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin được các Đảng Cộng sản sùng bái, tin theo một cách mù quáng, nên đã gây ra các cuộc đấu tranh giai cấp đẫm máu trong lịch sử. Khi các Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền thì thiết lập nền chuyên chính vô sản độc tài, phản dân chủ; do đó, phải đánh đổ chế độ một đảng cầm quyền và thay vào đó bằng chế độ đa đảng, đa nguyên chính trị mới thiết lập được một xã hội thật sự dân chủ.

Ở nước ta cũng có một số người đưa ra những lập luận phản bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trái với quan điểm, đường lối của Đảng. Vì vậy, chúng ta cần phê phán những quan điểm phản mác-xít đó để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, bảo vệ quan điểm, đường lối đúng đắn của Đảng trong công cuộc đổi mới.

Sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu có phải đã chứng minh cho "sự đúng đắn" trong những luận điểm của bọn chống cộng và những kẻ phụ họa theo chúng không? Hoàn toàn không phải. Sự kiện xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân cơ bản là các Đảng Cộng sản cầm quyền ở đó sa vào giáo điều, chủ quan, bảo thủ, sai lầm về đường lối, không đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, dẫn đến sự khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng trầm trọng. Khi tiến hành cải tổ, cải cách lại xa rời chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phạm phải sai lầm này đến sai lầm khác, lúc tả khuynh, lúc hữu huynh, kể cả sự phản bội (ở Liên Xô)(1). Có quan điểm khá phổ biến cho rằng, khủng hoảng kinh tế - xã hội là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Nếu thế thì tại sao Trung Quốc, Việt Nam cũng bị khủng hoảng kinh tế - xã hội và gặp rất nhiều khó khăn nhưng chẳng những vẫn đứng vững mà còn có bước phát triển mới? Điều đó chỉ có thể được giải thích là, các Đảng Cộng sản cầm quyền ở đó có đường lối đúng đắn, có đội ngũ cán bộ quyết tâm phấn đấu lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc cải cách, đổi mới, giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Rõ ràng, ở đây nhân tố chủ quan - vai trò của Đảng Cộng sản cầm quyền là vô cùng quan trọng, đặc biệt là cơ quan lãnh đạo cấp cao và lãnh tụ của Đảng. Sở dĩ một đảng cầm quyền hùng mạnh nhất, với hơn 20 triệu đảng viên, giàu truyền thống và kinh nghiệm đấu tranh cách mạng như Đảng Cộng sản Liên Xô, lại chịu sự thất bại nhanh chóng và thảm hại như vậy là bởi, Đảng Cộng sản Liên Xô bị thoái hóa, biến chất, trước hết là trong giới lãnh đạo cấp cao của Đảng, đã hướng công cuộc cải tổ của họ đi chệch mục tiêu xã hội chủ nghĩa, phản lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đó là bài học quý giá mà các Đảng Cộng sản, đặc biệt là các Đảng Cộng sản cầm quyền, cần rút ra về công tác xây dựng Đảng. Nếu Đảng Cộng sản cầm quyền thật sự trong sạch, vững mạnh, biết vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp với thực tiễn cách mạng của nước mình thì các thế lực thù địch không thể thực hiện được chiến lược "diễn biến hòa bình" của chúng.

Như vậy, có thể rút ra kết luận: sự thất bại của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là sự thất bại của việc xa rời chủ nghĩa Mác - Lê-nin chứ không phải là sự lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, của chủ nghĩa xã hội, như bọn chống cộng và những kẻ theo đuôi chúng lập luận. Tất nhiên, mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực, bên cạnh tính ưu việt như chúng ta đã biết, cũng có những nhược điểm, khuyết tật. Những nhược điểm, khuyết tật đó, xét cho cùng, là do những điều kiện lịch sử sản sinh ra nó. Do đó, các Đảng Cộng sản cầm quyền cần có nhận thức đúng, có những biện pháp khắc phục những nhược điểm, khuyết tật đó và phát huy những ưu điểm vốn có của nó, đổi mới nó, làm cho nó ngày càng hoàn thiện và đứng vững, như Trung Quốc và Việt Nam đã làm.

Có phải chủ nghĩa tư bản sẽ tồn tại vĩnh viễn vì nó luôn luôn biết thích nghi với thời đại không? Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới đã làm cho lực lượng sản xuất đạt đến trình độ xã hội hóa cao, dẫn đến quá trình toàn cầu hóa kinh tế dưới dự chi phối của các tập đoàn tư bản lũng đoạn xuyên quốc gia. Bản thân quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng có những biến đổi để thích nghi với sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm nẩy sinh những nhân tố trái với chính nó như là những mầm mống của xã hội tương lai (chế độ "sở hữu cổ phần", "dân chủ hóa" quản lý và "tham dự lợi nhuận" của những người lao động làm thuê...). Thực tế đó đã được phản ánh dưới hình thức méo mó, xuyên tạc trong các mô hình xã hội của các nhà tương lai học phương Tây như "chủ nghĩa tư bản nhân dân", "chủ nghĩa tư bản của người lao động", "xã hội hậu công nghiệp"...

Khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa biến đổi, giai cấp công nhân cũng biến đổi theo. Trước kia, giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp cơ khí thì ngày nay, nền sản xuất tự động hóa và sự ra đời của nền kinh tế tri thức đã làm cho họ chuyển hóa dần thành giai cấp công nhân trí thức (sự hòa nhập giữa lao động trí óc và lao động chân tay). Khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa không còn thích nghi với lực lượng sản xuất đạt đến trình độ xã hội hóa rất cao và giai cấp công nhân trí thức đã trưởng thành, thì họ sẽ gánh lấy sứ mệnh lịch sử của mình là đưa chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tất nhiên, sự biến đổi của giai cấp công nhân sẽ khiến cho đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản cũng phải phát triển lên một trình độ cao hơn về tri thức, đạo đức cách mạng và phong cách lãnh đạo; có như vậy mới lãnh đạo được giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Trong điều kiện lịch sử mới, chủ nghĩa xã hội được xây dựng cũng có nhiều cái mới, phong phú hơn mà học thuyết của chủ nghĩa xã hội khoa học, do bị hạn chế bởi những điều kiện lịch sử sản sinh ra nó, chưa thể đề cập đến. Do đó, các Đảng Cộng sản cần vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết ấy để nó luôn luôn trở thành ngọn cờ lý luận soi đường cho phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới.

Có phải các Đảng Cộng sản sùng bái, tin theo một cách mù quáng học thuyết về đấu tranh giai cấp, về bạo lực cách mạng nên đã gây ra cuộc đấu tranh giai cấp đẫm máu trong lịch sử? Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho rằng, đấu tranh giai cấp chỉ là một giai đoạn nhất định trong lịch sử phát triển xã hội loài người. Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản. Chuyên chính vô sản chỉ là bước quá độ tiến lên xóa bỏ mọi giai cấp. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin coi bạo lực cách mạng không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện, là "bà đỡ" để đưa xã hội mới ra đời trong lòng xã hội cũ. Trong cuộc đấu tranh giai cấp, sở dĩ giai cấp vô sản phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng của giai cấp tư sản cầm quyền là bởi giai cấp tư sản đã sử dụng bộ máy bạo lực phản cách mạng khổng lồ (quân đội và cảnh sát) để đàn áp đẫm máu cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động ở cả chính quốc và thuộc địa. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng đề cập đến khả năng dùng biện pháp hòa bình nếu giai cấp tư sản tự nguyện rút lui khỏi vũ đài chính trị, nhưng khả năng này rất hiếm. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh tội ác của giai cấp tư sản thống trị trong việc đàn áp giai cấp vô sản và nhân dân lao động; bởi vậy, không thể "đổi trắng thay đen", đổ tội cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin được.

Phải chăng nền chuyên chính vô sản của giai cấp công nhân được thiết lập sau khi giành được chính quyền do Đảng Cộng sản lãnh đạo là độc tài, phản dân chủ? Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp, chế độ dân chủ bao giờ cũng có hai mặt là dân chủ và chuyên chính. Ở đây cần hiểu vấn đề là dân chủ với ai và chuyên chính với ai. Chế độ dân chủ trong xã hội nô lệ thực hiện dân chủ với giai cấp chủ nô và chuyên chính với giai cấp nô lệ. Chế độ dân chủ trong xã hội tư bản thực hiện dân chủ với giai cấp tư sản và chuyên chính với giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Chế độ dân chủ tư sản là một bước tiến lịch sử so với chế độ dân chủ chủ nô và chế độ chuyên chế phong kiến, nhưng thực chất vẫn là chế độ dân chủ của thiểu số giai cấp tư sản thống trị. Phải chăng giai cấp tư sản xây dựng bộ máy quyền lực nhà nước khổng lồ là để thực thi dân chủ trong toàn xã hội? Không phải như vậy. Bộ máy ấy dùng để đàn áp các lực lượng chống đối khi chế độ tư bản bị đe dọa, nhằm bảo vệ lợi ích và địa vị thống trị của giai cấp tư sản. Mặc dù luật pháp tư sản ghi nhận các quyền tự do, dân chủ của công dân, nhưng trên thực tế, các quyền đó lại bị nhà nước tư sản vi phạm. Điển hình là vụ đàn áp người da đen nổi dậy chống tệ phân biệt chủng tộc ở thành phố Lốt-an-giơ-lét của Mỹ. Trong vụ đàn áp đó, Tổng thống Mỹ (Bu-sơ cha) và chính quyền địa phương đã huy động 6.000 vệ binh quốc gia, trên 9.000 cảnh sát, 3.000 lính của sư đoàn 7 và 1.300 lính thủy đánh bộ đàn áp, làm 58 người chết (hầu hết là người da đen), trên 2.000 người bị thương, 2.500 người bị bắt.

Kế thừa và phát triển tư tưởng chuyên chính vô sản của C. Mác, V.I. Lê-nin đề cập nhiều mặt, nhiều khía cạnh của chuyên chính vô sản. Nhưng vấn đề cốt lõi của nó, theo V.I. Lê-nin, là giai cấp vô sản nắm quyền thống trị chính trị với ý thức là chỉ một mình mình nắm, thông qua đội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, giai cấp vô sản nắm quyền thống trị chính trị là nắm lấy nhà nước. Tất nhiên, đó phải là một nhà nước dân chủ kiểu mới (dân chủ đối với giai cấp vô sản và nhân dân lao động) và chuyên chính kiểu mới (chống lại giai cấp tư sản đã bị lật đổ nhưng luôn luôn tìm cách khôi phục lại địa vị thống trị của mình). Do đó, V.I. Lê-nin gọi chuyên chính vô sản là dân chủ vô sản. Giai cấp vô sản sử dụng chính quyền nhà nước của mình để thực thi và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của đại đa số nhân dân; giáo dục, động viên và tổ chức họ tham gia quản lý nhà nước, tham gia công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội; đồng thời, kiên quyết trấn áp các thế lực thù địch vi phạm pháp luật, gây bạo loạn hòng lật đổ nhà nước vô sản và chế độ xã hội mới.

Như vậy, chuyên chính vô sản là phương tiện tất yếu để giai cấp vô sản thực hiện sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, tiến tới chủ nghĩa cộng sản văn minh, xóa bỏ các giai cấp, xây dựng xã hội mới không còn áp bức, bóc lột. Rõ ràng, về bản chất, chuyên chính vô sản luôn mang tính nhân đạo cao cả. Chuyên chính vô sản là một hình thức dân chủ kiểu mới, chưa từng có trong lịch sử trước đây, do đó, trong quá trình thực hiện, nó không tránh khỏi những biểu hiện sai lầm, thiếu sót về mặt này, mặt khác. Những sai lầm, thiếu sót mang tính độc đoán, chuyên quyền của một số nhà lãnh đạo trong các Đảng Cộng sản cầm quyền vì động cơ địa vị và quyền lực cá nhân, xa rời nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số trong hoạt động chính trị, đó không phải là sản phẩm của nền chuyên chính vô sản như các thế lực chống cộng và bọn theo đuôi chúng đã xuyên tạc.

Chuyên chính vô sản có nhiều hình thức chính trị khác nhau, phù hợp với đặc điểm của mỗi nước và trong từng thời kỳ lịch sử. Ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, chúng ta đang xây dựng hệ thống chính trị dân chủ, bao gồm Đảng lãnh đạo, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được hiến định. Điều đó chính là sự xác nhận một thực tế lịch sử: chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất cách mạng Việt Nam và đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác - Cách mạng Tháng Tám, hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong thời kỳ đổi mới được dư luận thế giới đồng tình và khâm phục. Đảng lãnh đạo Nhà nước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm và thực thi các quyền của công dân và nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước cũng như đối với xã hội. Đảng, Nhà nước và công dân đều hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Đảng cố gắng đổi mới phương thức lãnh đạo đối với hệ thống chính trị nhằm nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đối với hoạt động của Đảng, Nhà nước, cán bộ, đảng viên và công chức trong bộ máy công quyền.

Đảng và Nhà nước ta đã làm được nhiều việc để thực hiện chế độ dân chủ của đại đa số nhân dân, đồng thời đề cao trật tự, kỷ cương xã hội, nhằm chống lại những hành động vi phạm pháp luật và những hoạt động chống đối của các thế lực thù địch, giữ vững sự ổn định chính trị và môi trường hòa bình để nhân dân an cư lạc nghiệp, cùng nhau đoàn kết, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Những đường lối, chủ trương lớn của Đảng, những dự án luật quan trọng của Nhà nước đều đưa ra để Mặt trận Tổ quốc thực hiện nhiệm vụ phản biện xã hội và nhân dân tham gia ý kiến; qua đó, chúng được chỉnh lý, sửa đổi trước khi ban hành hợp với "ý Đảng, lòng dân". Đảng và Nhà nước từng bước xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa, chúng ta cũng có những thiếu sót, khuyết điểm, như tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu, ức hiếp nhân dân còn xảy ra ở không ít cán bộ, công chức. Đặc biệt, nạn tham nhũng, lãng phí còn xảy ra nghiêm trọng. Đó là cái ung nhọt trong bộ máy công quyền cần kiên quyết cắt bỏ.

Các thế lực thù địch và những kẻ theo đuôi chúng đã thổi phồng những thiết sót, khuyết điểm đó để phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, công kích Đảng Cộng sản Việt Nam là độc tài, phản dân chủ. Chúng làm như vậy nhằm chia rẽ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, hòng thực hiện chiến lược và âm mưu "diễn biến hòa bình", gây bạo loạn và lật đổ, xóa bỏ chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, thiết lập chế độ dân chủ đa nguyên, đa đảng kiểu phương Tây. Chúng ta cần làm cho nhân dân thấy rõ âm mưu đen tối của chúng, kiên quyết bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ mà chúng ta đã tốn bao xương máu mới gây dựng nên. Đảng ta vẫn kiên trì khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng của mình; kiên trì xây dựng và chỉnh đốn Đảng để Đảng luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.

Chúng ta khẳng định chắc chắn rằng, còn chủ nghĩa tư bản, còn đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa thì chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn còn giữ nguyên giá trị, chưa có một học thuyết nào khác thay thế được. Đúng như sự đánh giá của Đại hội quốc tế về C. Mác năm 1995: "Chủ nghĩa Mác vẫn giữ nguyên ý nghĩa và tầm quan trọng của nó trong thế giới hiện đại..."(2), và chủ nghĩa Mác "vẫn luôn luôn là một căn cứ quyết định cho các tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế, cho các Đảng Cộng sản chân chính đề ra đường lối chiến lược và sách lược của mình"(3).


(1) Về sự phản bội của những người lãnh đạo cấp cao ở Liên Xô đã được chính Goóc-ba-chốp, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, tự phơi bày trong diễn văn đọc ở Trường đại học Tổng hợp Mỹ ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ông ta nói: "Mục đích của tôi là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản... Khi đích thân làm quen với phương Tây, tôi hiểu ra rằng mình không thể nào rời bỏ mục tiêu đã đề ra. Để thực hiện mục tiêu này, tôi cần phải giành lấy toàn bộ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Liên Xô, cũng như lãnh đạo tất cả các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Tôi đã tìm được chiến hữu để thực hiện mục tiêu này, trong số đó A.N. Ia-cốp-lép và E.A. Sê-vát-nát-de giữ vai trò đặc biệt. Trong sự nghiệp chung của chúng tôi, không thể nào đánh giá hết công lao của họ" (xem Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng, số 9, năm 2000, tr 45)

(2) Đại hội quốc tế về C.Mác diễn ra từ ngày 27 đến ngày 30-9-1995, nhân kỷ niệm 100 năm ngày ra đời chủ nghĩa Mác, với 500 viện nghiên cứu, tạp chí mác-xít và 30 trường đại học đến từ 22 nước trên thế giới

(3) Tuần báo Giải phóng, tiếng nói của hàng vạn chiến sĩ cách mạng các nước Mỹ La-tinh cư trú ở Thụy Điển, số ra ngày 7-7-1995