Thứ Năm, 10 tháng 8, 2023

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CHIẾN THÔNG TIN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Tiến bộ vượt bậc của khoa học - công nghệ, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn được xem là những nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc chiến thông tin, nhất là chiến tranh thông tin trên không gian mạng. Các cuộc chiến tranh này đã và đang có những tác động chưa thể lường hết đối với chế độ chính trị, thể chế nhà nước cũng như hệ giá trị của các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Mặc dù Liên hợp quốc và các quốc gia trên thế giới, bao gồm Việt Nam, đã và đang nỗ lực để giải quyết, nhưng đến nay vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.
Tác động của cuộc chiến thông tin trên không gian mạng đối với an ninh quốc gia và quan hệ quốc tế
Sự ra đời và phát triển của internet cùng những yếu tố, như hạ tầng thông tin, công nghệ,... tạo nên không gian mạng, đã và đang giúp tăng khả năng thu thập dữ liệu, lan truyền thông tin, bảo vệ thông tin cũng như làm gián đoạn thông tin, đồng thời tạo ra các cơ hội dễ dàng trong việc tiếp cận thông tin đến từng người dân ở khắp nơi trên thế giới, cộng đồng quốc tế và quan hệ giữa các chủ thể (nhà nước, phi nhà nước) trong quan hệ quốc tế. Với tốc độ đường truyền nhanh, độ bao phủ rộng và chi phí thấp, các chiến dịch thông tin truyền thông trên các nền tảng mạng xã hội tương tác ở tất cả các cấp độ đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị, an ninh, kinh tế và xã hội trên toàn cầu.
Thực tiễn những năm qua cho thấy, bên cạnh những thành quả to lớn và khía cạnh tích cực đối với thế giới, không gian mạng và các khía cạnh liên quan đến công nghệ mới đã và đang tạo điều kiện cho sự bùng nổ, phát triển của chiến tranh thông tin trên không gian mạng. Các hoạt động chiến tranh thông tin trên không gian mạng có thể bao gồm các cuộc tấn công mạng, phá hủy hệ thống thông tin của đối phương, tấn công nền tảng mạng xã hội, bằng cách đưa vào trong tâm trí con người hình ảnh, thông tin có chủ đích theo hướng có lợi cho mình/nước mình về thế giới hay quốc gia, cộng đồng nhằm thực hiện mục tiêu xác lập vị thế độc quyền trong việc “diễn giải” một câu chuyện, sự kiện nào đó, trong khi tìm cách “tước đoạt” năng lực phát tán thông tin của một quốc gia hay các chủ thể nhà nước, phi nhà nước trong quan hệ quốc tế. Các hình thức chiến tranh này đã và đang có những tác động sâu sắc trong quan hệ giữa các quốc gia nói chung và nội bộ của từng quốc gia nói riêng với một số nguy cơ đáng chú ý sau:
Một là, đe dọa sự ổn định chính trị, thậm chí là sự tồn vong, sự lựa chọn về thể chế chính trị của các quốc gia, đảng cầm quyền, tổ chức, liên minh. Thông tin sai lệch, xuyên tạc từ nước ngoài được truyền tải bằng các nền tảng công nghệ hiện đại được vận hành cùng với công nghệ tr.í t.uệ nh.ân t.ạo (AI), đã và đang có những tác động rất lớn nhằm tăng cường sự đối nghịch về ý thức hệ, nhằm can thiệp vào các vấn đề chính trị trong nước của quốc gia khác, như can thiệp sâu hơn vào các cuộc bầu cử, bao gồm cả việc cải thiện khả năng nhắm trúng mục tiêu và thuyết phục các nhóm bỏ phiếu cụ thể của đối thủ, thậm chí là thay đổi kết quả bầu cử cũng như hạ bệ đảng cầm quyền, liên minh đảng cầm quyền,... tại nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả các nước lớn. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu gần đây cũng đưa ra không ít bằng chứng về các chiến dịch tin giả, xuyên tạc từ bên ngoài đã có tác động nhất định đối với sự kiện người dân Anh bỏ phiếu rời Liên minh châu Âu (hay còn gọi là “Brexit”). Điều này không chỉ làm suy yếu vị thế toàn cầu của Liên minh châu Âu (EU), mà còn dẫn đến những tác động tiêu cực về xu thế liên kết quốc tế và cân bằng quyền lực trong quan hệ quốc tế.
Cuộc chiến thông tin giữa Nga và phương Tây về cuộc xung đột Nga - U-crai-na hiện nay cũng là một ví dụ điển hình. Với thế mạnh về các nền tảng mạng xã hội, hệ thống truyền thông mạng của phương Tây đã và đang truyền tải nhiều nội dung thông tin, hình ảnh và video một chiều về cuộc xung đột Nga - U-crai-na và tình hình nội trị nước Nga. Ở chiều ngược lại, bên cạnh việc gồng mình chống các hình thức cấm vận toàn diện của phương Tây, Nga cũng có sự chủ động triển khai “phòng thủ” tốt, bao gồm các giải pháp công nghệ do Nga làm chủ nhằm ngăn chặn, đập tan những cuộc xâm nhập, tấn công mạng, lan truyền tin trên không gian mạng mà Nga cho là tin giả, xuyên tạc, kích động, gây rối loạn từ bên trong nước Nga. Bên cạnh đó, Nga cũng chủ động phản công, triển khai các biện pháp truyền tải thông tin có lợi nhất của mình ra bên ngoài khi có thể để cộng đồng quốc tế và người dân phương Tây hiểu rõ nguyên nhân của việc Nga triển khai “chiến dịch quân sự đặc biệt” ở U-crai-na. Trong cuộc chiến này, các phương tiện tuyên truyền chính trị giữa Nga và phương Tây hiện nay đã chuyển sang một không gian mới - không gian của các phương tiện truyền thông xã hội đa nền tảng, như Facebook, Instagram, Tiktok, Twitter, Youtube, Vkontakte, Odnoklassniki và Moy Mir cho đến các ứng dụng di động, các kênh truyền hình, các trang web và tuyên truyền bằng nhiều ngôn ngữ ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới, có thể tạo ra những tác động mạnh mẽ ngay lập tức, như BBC, Reuter (Anh), CNN, AP (Mỹ), AFP (Pháp), DW (Đức), RT (Nga)...
Hai là, làm mất lòng tin, căng thẳng chính trị, thậm chí dẫn đến xung đột trong quan hệ quốc tế, đe dọa tới trật tự, an ninh quốc gia, khu vực và thế giới. Các thông tin giả, sai sự thật được sử dụng trong không gian mạng đều có mục đích chính trị nhằm thực hiện lợi ích của các quốc gia, đối thủ và các chủ thể có lợi ích. Đây là một trong những công cụ quan trọng mà các quốc gia sử dụng trong triển khai chính sách đối ngoại nhằm gây hiểu lầm, bất đồng và bất hòa giữa các tầng lớp nhân dân ở các quốc gia khác, nhằm mục tiêu gia tăng lợi ích, vị thế, ảnh hưởng của mình trong quan hệ quốc tế và làm suy yếu vai trò của đối phương. Các công nghệ hiện đại ngày nay đã trở thành công cụ để các quốc gia, chủ thể lợi ích (kể cả chủ thể phi nhà nước) tạo ra những loại hình sản phẩm truyền thông, tin tức theo thời gian thực một cách giả mạo, tinh vi nhằm gây ra những xáo trộn, mâu thuẫn, thậm chí là xung đột trong nội bộ một quốc gia hoặc giữa các quốc gia. Có thể thấy, quốc gia nào, xã hội nào cũng đều thấm thía những hậu quả chính trị của những thông tin sai lệch, cho dù mức độ dễ bị tổn thương khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh trong nước của từng quốc gia.
Đối với những “điểm nóng” xung đột hay chiến tranh, các loại hình chiến tranh thông tin mạng được triển khai rầm rộ trong thời gian qua đã và đang tạo ra các nguy cơ, hệ lụy đối với hòa bình, an ninh quốc tế. Bên cạnh đó, thông qua các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới, các tổ chức khủng bố, tổ chức tội phạm xuyên quốc gia có thể dễ dàng chiêu mộ, đào tạo trực tuyến, mở rộng hoạt động ở nhiều nơi trên thế giới, đe dọa tình hình an ninh của các quốc gia cũng như sự ổn định, hòa bình, an ninh của khu vực và quốc tế.
Ba là, nguy cơ dẫn đến xung đột về hệ giá trị của các quốc gia. Việc áp dụng, phát triển các nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ mới nổi, đặc biệt là vận hành trên công nghệ AI của các doanh nghiệp, tập đoàn ở các nước lớn, như Mỹ và Trung Quốc, nhằm cạnh tranh, đối phó lẫn nhau sẽ dẫn đến những tác động lớn, thậm chí là xung đột không chỉ về hệ giá trị đối với Mỹ, Trung Quốc nói chung, người dân sử dụng ở Mỹ và Trung Quốc nói riêng, mà còn đối với các quốc gia và người dân trên thế giới. Các nền tảng công nghệ hiện đại vươn tới toàn cầu và công nghệ AI đã được địa phương hóa cho phù hợp với từng khu vực, lãnh thổ, có thể là phương tiện để tăng cường sự đối nghịch về ý thức hệ, tiêu chuẩn về dân chủ, tự do ngôn luận, kích động bạo lực,... phục vụ việc can thiệp vào các vấn đề chính trị trong nước của quốc gia khác, gây ảnh hưởng đến tình hình chính trị của các quốc gia có chủ quyền.
Ngoài ra, trên thế giới hiện nay, các chiến dịch tuyên truyền tin giả, xuyên tạc, sai sự thật từ cuộc chiến thông tin giữa các thực thể tham gia quan hệ quốc tế (nhà nước, phi nhà nước) đã và đang lan rộng và trở thành một trong những thách thức nghiêm trọng đối với thế giới, quốc gia và người dân trên toàn cầu. Đại dịch COVID-19, biến đổi khí hậu và bất bình đẳng xã hội ngày càng gia tăng đi kèm với nguy cơ hiện hữu về đói nghèo... đã tạo ra làn sóng thông tin sai lệch, xuyên tạc dữ dội hơn trên các nền tảng mạng xã hội toàn cầu, khu vực và quốc gia, gây ảnh hưởng đến quyền con người cũng như những giá trị tích cực và nỗ lực của các quốc gia, định chế quốc tế, xã hội trên khắp thế giới đạt được trong nhiều thập niên qua.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tốc độ phát triển internet, mạng xã hội nhanh nhất thế giới. Theo số liệu thống kê đến tháng 6-2021, trong số 97,75 triệu dân cả nước có trên 68,72 triệu người (chiếm 70,3% dân số) sử dụng internet, cao thứ 12 trên thế giới và thứ 6 ở châu Á; hơn 72 triệu người (chiếm 73,7% dân số) dùng mạng xã hội, chủ yếu là Youtube, Facebook (đứng thứ 7 trong số 10 quốc gia sử dụng Facebook nhiều nhất) và là một trong 10 nước có số lượng người dùng Youtube cao nhất thế giới. Trong đó, 94% số người sử dụng internet hằng ngày là sinh viên, trí thức trẻ, thanh niên.
Trong thời gian qua, lợi dụng những thế mạnh và tính mở của không gian mạng với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, không có ranh giới cụ thể giữa “thực” và “ảo”, các thế lực thù địch, phản động trong nước và ngoài nước, bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, không ngừng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, đó là: 1- Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; 2- Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; 3- Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng... Điển hình là đầu năm 2022, ngay từ khi xảy ra cuộc xung đột Nga - U-crai-na, trên các diễn đàn đa phương quốc tế và phương tiện thông tin đại chúng, Việt Nam đã nhiều lần nêu rõ quan điểm chính thức của mình. Thế nhưng, trên internet, các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại cố tình đăng tải những tin, bài có nội dung phê phán, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam trong quan điểm, cách nhìn nhận, ứng xử trước những vấn đề liên quan đến cuộc xung đột giữa Nga và U-crai-na..., mưu toan hướng dư luận trong nước và quốc tế hiểu sai lệch về Việt Nam, gây ảnh hưởng tới mối quan quan hệ của Việt Nam với Nga, U-crai-na và cộng đồng quốc tế. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị còn đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc, chống phá chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam khi xuyên tạc rằng nguyên tắc “không tham gia liên minh quân sự” nêu trong Sách trắng Quốc phòng năm 2019 của Việt Nam là “hành động tự trói”, không phù hợp với xu thế của thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải thay đổi...
Để chủ động đập tan những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, ngay từ năm 1983, Đảng ta đã đưa ra quan điểm: “Tăng cường hoạt động của các cơ quan nghiên cứu lý luận để làm tốt nhiệm vụ tham gia nghiên cứu, chuẩn bị và giải thích về mặt lý luận đường lối, chính sách của Đảng trên các lĩnh vực, nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm tiên tiến trong các phong trào cách mạng của quần chúng, phê phán những tư tưởng, quan điểm sai trái với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và đường lối của Đảng”. Kể từ đó đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản (nghị quyết, chỉ thị) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới, về công tác tư tưởng, lý luận... trong đó nêu rõ các quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động. Đặc biệt, ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”... Tháng 1-2021, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lôí̀ sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã thể hiện sự chủ động của Đảng ta trong công tác quan trọng này.
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới vấn đề “bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia”, nhất là về các nguy cơ, biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh, bảo vệ bí mật quốc gia trong không gian mạng, như Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 25-7-2018, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”; Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 25-7-2018, của Bộ Chính trị, “Về Chiến lược an ninh mạng quốc gia”... Có thể thấy, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng đều thống nhất quan điểm chỉ đạo về bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Trên cơ sở đó, Nhà nước đã thể chế hóa thành pháp luật, như Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018 và Luật Quốc phòng năm 2018... Việc Nhà nước từng bước thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về an toàn thông tin, nhất là thông tin mạng, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo vệ thông tin và hệ thống thông tin, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc trên không gian mạng.
Mặc dù vậy, việc triển khai các nghị quyết, chỉ thị, văn bản pháp luật nêu trên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn gặp khá nhiều khó khăn, thách thức, xuất phát từ một số nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về nguyên nhân khách quan, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó đoán định. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn song gặp nhiều trở ngại, khó khăn. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, quyết liệt, nhất là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Cách thức tập hợp lực lượng trên thế giới và trong khu vực diễn ra hết sức linh hoạt. Bên cạnh các thách thức an ninh truyền thống, các thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là biến đổi khí hậu và dịch bệnh nổi lên gay gắt hơn. Đặc biệt là đại dịch COVID-19, với sự xuất hiện của các biến chủng mới tiếp tục tác động tiêu cực đến sự phát triển của các quốc gia và quan hệ quốc tế, đồng thời đặt ra nhiều vấn đề về chính trị, đối ngoại, kinh tế, y tế, môi trường, khoa học - công nghệ và văn hóa - xã hội... Tất cả những điều này ít nhiều tác động đến môi trường hòa bình, an ninh và phát triển của quốc tế, khu vực và các nước, trong đó có Việt Nam, tác động đến việc triển khai đường lối đối ngoại, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cũng như bảo đảm tình hình an ninh, ổn định trật tự xã hội của Việt Nam thời gian qua. Về nguyên nhân chủ quan, hạn chế về nguồn lực triển khai, làm chủ công nghệ, hạn chế về nghiên cứu, dự báo và những thách thức nhức nhối của tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đã tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.
Trên cơ sở những phân tích về thực trạng, tác động của chiến tranh thông tin trong không gian mạng và những khó khăn, thách thức, nguyên nhân nêu trên, để góp phần triển khai thực hiện hiệu quả công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động trong thời gian tới, cần lưu ý một số nội dung từ góc độ chính trị, đối ngoại như sau:
Ở phương diện quốc tế và khu vực
Một là, tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vừa hợp tác, vừa đấu tranh; kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế đối với tất cả các loại hình không gian, nhất là không gian mạng, trong thời gian tới.
Hai là, chủ động tham gia các diễn đàn đa phương quốc tế, trong đó có Liên hợp quốc về việc xây dựng bộ quy chuẩn quốc tế về cách hành xử có trách nhiệm của các thực thể tham gia quan hệ quốc tế (bao gồm nhà nước, phi nhà nước...) khi tham gia, triển khai các hoạt động trên không gian mạng, trong đó nhấn mạnh đến nội dung bảo đảm việc tôn trọng thể chế chính trị, nền tảng tư tưởng và giá trị dân chủ của các quốc gia có chủ quyền cũng như chống các loại hình thông tin xuyên tạc, tin giả, xấu, độc hại và coi các loại hình thông tin này là kẻ thù chung của cộng đồng quốc tế.
Ba là, tham gia thúc đẩy xây dựng các văn kiện quốc tế về hợp tác ở cấp độ quốc tế và khu vực, xây dựng và triển khai các biện pháp xây dựng lòng tin trong quan hệ quốc tế nhằm giải quyết tận gốc vấn đề thông tin xuyên tạc, tin giả, sai sự thật và ngăn chặn các cuộc chiến tranh thông tin trong không gian mạng, thậm chí là chiến tranh mạng..., qua đó đóng góp vào việc xây dựng lòng tin giữa các quốc gia trên không gian mạng; tham gia thảo luận, đóng góp nội dung theo quan điểm của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế, khu vực về xây dựng các văn bản quản lý, quản trị đối với việc áp dụng các công nghệ mới nổi có liên quan đến các lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam trong không gian mạng; tham gia thúc đẩy việc triển khai thực hiện các điều ước, nghị quyết liên quan của Liên hợp quốc về bảo vệ và bảo đảm việc thụ hưởng, thực hiện các quyền con người trước những tác động tiêu cực ngày càng gia tăng và sâu rộng của thông tin xuyên tạc, sai lệch, tin giả.
Ở phương diện quốc gia
Thứ nhất, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị nêu trên của Đảng, Nhà nước về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị khóa XII, Luật An ninh mạng và các luật liên quan; mở rộng, nâng cao hiệu quả và đưa các mối quan hệ đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân đi vào chiều sâu, tạo nền tảng chính trị cho quan hệ giữa Việt Nam với các nước; tạo lập sự đồng thuận và hậu thuẫn chính trị của các chính đảng và các lực lượng chính trị đối với sự nghiệp đổi mới cũng như bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức nhân dân với vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong hoạt động đối ngoại.
Thứ hai, tăng cường giáo dục, tuyên truyền sâu rộng về Luật An ninh mạng, để người dân có ý thức đấu tranh mạnh mẽ với các hành vi sử dụng không gian mạng tuyên truyền chống phá Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam. Quyết tâm thực hiện nội dung về “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” được đề ra tại Đại hội XIII của Đảng, trong đó ưu tiên bảo đảm thực hiện các nội dung hệ giá trị của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng, bao gồm các lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích xã hội, lợi ích chính đáng của cá nhân, trên cơ sở tập trung nhấn mạnh các thành tố, như dân chủ và pháp quyền, nhân ái và yêu nước, trung thực và bản lĩnh; dân giàu, nước mạnh, công bằng, trách nhiệm, hạnh phúc, đoàn kết, cần cù, sáng tạo; quan tâm đầu tư phát triển các lực lượng đặc biệt, đặc thù và mạng lưới cộng tác viên với sự hỗ trợ của công nghệ AI trong theo dõi, ngăn ngừa, thậm chí là chủ động tấn công, loại bỏ các sản phẩm truyền thông chứa đựng thông tin xuyên tạc, tin giả, độc hại nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và các chính sách, hoạt động của Đảng và Nhà nước.
Thứ ba, tiếp tục xây dựng, củng cố đoàn kết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân trong nước cũng như ngoài nước nhằm giải quyết tận gốc “giặc nội xâm” (tham nhũng, tiêu cực...), tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, qua đó tăng cường sức mạnh nội tại, bổ trợ cho việc đối phó với các loại hình giặc ngoại xâm thông qua triển khai đồng bộ các biện pháp đối ngoại, quốc phòng và an ninh; quyết liệt triển khai Đề án “Nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đến năm 2030”, nhằm phục vụ việc quảng bá, nâng cao hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế; đồng thời, thu thập những thông tin có chọn lọc về tình hình, sự phát triển của thế giới, khu vực về các vấn đề được dư luận và nhân dân trong nước quan tâm; đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.
Ở phương diện ý thức của con người
Một là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện, tôn trọng và bảo vệ các quyền con người do luật pháp quy định, trong đó bao gồm các quyền về tự do ngôn luận, quyền riêng tư, quyền tham gia các công việc của cộng đồng và bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử; nâng cao, đa dạng hóa các biện pháp triển khai ở tất cả các cấp trong việc củng cố lòng tin của người dân vào Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa và ngăn ngừa, đập tan các xu hướng phân cực, kích động, cổ xúy ngôn từ hận thù trên không gian mạng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân; củng cố, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân, tạo nền tảng xã hội hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên không gian mạng.
Hai là, xác định cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những tác động tiêu cực của cuộc chiến thông tin không gian mạng là lâu dài, kiên nhẫn, bền bỉ và cần học cách sống chung với tin giả, thông tin xuyên tạc, qua đó tự tạo sức đề kháng, giúp hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên và nhân dân kiên cường hơn khi tham gia tương tác trên không gian mạng để chống thông tin độc hại, âm mưu thâm độc chống phá Đảng và Nhà nước. Chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhìn nhận và có trách nhiệm, ý thức trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Củng cố mối quan hệ thường xuyên, liên tục với các nhóm cần tranh thủ ở nước ngoài đã hiểu biết về Việt Nam cũng như ưu tiên xây dựng quan hệ và tạo thiện cảm với các đối tượng, như giới báo chí, giới trẻ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Ba la, chú trọng đầu tư và đặt con người vào vai trò chủ thể, luôn làm chủ công nghệ, trong đó có công nghệ hiện đại, công nghệ mới nổi phục vụ việc xây dựng nguồn nhân lực công nghệ số chất lượng cao, trong đó có yêu cầu kiên định về lập trường, bản lĩnh chính trị trước những thay đổi, biến đổi của thế giới trong tương lai.
Ở phương diện kỹ thuật
Thứ nhất, tập trung triển khai các chiến lược quan trọng tự lực, tự cường về công nghệ, nhất là Chiến lược ch.uyển đ.ổi s.ố quốc gia, Chiến lược quốc gia về phát triển tr.í t.uệ nh.ân t.ạo đến năm 2030, trong đó quan tâm tập trung đầu tư cho công nghệ tiên tiến, hiện đại, đặc biệt là công nghệ AI, tiến tới xây dựng Việt Nam trở thành một “cường quốc mạng” (đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực về AI), góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế, đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bao gồm việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thứ hai, phát huy phẩm chất cần cù, thông minh, sáng tạo của con người Việt Nam; đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng các nền tảng hạ tầng, hệ thống mạng “Make in Viet Nam” song song với việc làm chủ, quản lý được các hệ thống nền tảng mạng do nước ngoài sản xuất, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào các nền tảng mạng do các doanh nghiệp, tập đoàn của nước ngoài cung cấp và tạo nền móng vững chắc trong việc triển khai, áp dụng các công nghệ hiện đại trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, hệ giá trị quốc gia trong toàn bộ đời sống chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam trong tương lai; hợp tác, đặt hàng với các trường đại học, viện nghiên cứu có uy tín, các tập đoàn công nghệ lớn (Viettel, VNPT, FPT...) để xây dựng bộ công cụ toàn diện được vận hành bởi công nghệ AI và có tính tương thích cao trên mọi nền tảng mạng xã hội nhằm phục vụ việc triển khai công tác đấu tranh lâu dài của Đảng trong lĩnh vực này.
Thứ ba, sớm xây dựng, cập nhật, ban hành các văn bản pháp luật, trong đó bao gồm các quy định bảo vệ, quản lý dữ liệu quan trọng của quốc gia, của người dân Việt Nam; cập nhật, sửa đổi, bổ sung nội dung liên quan đến công nghệ AI trong các văn bản, chính sách, quản lý hoạt động nền tảng mạng/trực tuyến của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam./.
Tạp chí cộng sản

CÁCH MẠNG THÁNG 8, MỐC SON CHÓI LỌI CỦA DÂN TỘC


Cách mạng Tháng Tám - Cuộc Cách mạng thần kỳ của dân tộc Việt Nam đến nay vừa tròn 78 năm. Những người cùng thời với sự kiện lịch sử trọng đại này và lớp hậu sinh sẽ mãi mãi khắc ghi. Bởi từ đây, toàn dân Việt Nam có một sự đổi đời thật kỳ diệu và ngoạn mục. Từ đây, người dân Việt Nam được sống dưới mái nhà chung tự do, không còn phải chịu kiếp nô lệ, lầm than, một cổ ba tròng dưới ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và chế độ phong kiến mục ruỗng. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công được coi là một kỳ tích của Việt Nam trong thế kỷ XX, mở ra một trang sử vẻ vang chói lọi vào bậc nhất, đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Cách mạng tháng Tám chính là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp nhất của một dân tộc anh hùng bất khuất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân nhất tề nổi dậy theo cách mạng đánh Pháp, đuổi Nhật. Cách mạng Tháng Tám thành công đã đập tan chính quyền của thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) - Nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Cách mạng Tháng Tám thành công là nhờ có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đảng đã vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Chúng ta đã chớp đúng thời cơ, kết hợp một cách hài hòa giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, tiến lên giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh chóng. Một số mốc quan trọng trong cuộc Tổng khởi nghĩa là: Từ ngày 14 đến ngày 18/8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa nổ ra giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận các tỉnh miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã: Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam... Ngày 19/8, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và ở Bắc Cạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Lai, Bạc Liêu... Ngày 25/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn - Gia Định, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay nhân dân. Khi nói về cuộc Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng, đây là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. Dù mới 15 tuổi với hơn 5.000 đảng viên nhưng Đảng ta xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đủ sức lãnh đạo nhân dân đập tan ách thống trị của thực dân đế quốc, phong kiến. Không gì quý hơn độc lập tự do. Bao nhiêu năm dưới ách thống trị, kìm kẹp của kẻ thù là bấy nhiêu năm mất tự do. Thậm chí đến cả đi lại cũng phải khép mình. Chính vì vậy, khi cách mạng nổ ra, cả dân tộc Việt Nam nhất tề đứng dậy đánh đuổi giặc ngoại xâm giành lấy chính quyền và hoàn toàn làm chủ cuộc đời.
Kỷ niệm 78 năm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, chúng ta càng phải ra sức phấn đấu để giữ gìn và phát triển thành quả to lớn cuộc cách mạng do chính Đảng ta, nhân dân ta làm nên. Một dân tộc từng gan dạ và luôn hướng tới độc lập, tự do thì không dễ gì để cho kẻ thù khuất phục. Việt Nam có một vị trí địa lý cực kỳ quan trọng ở khu vực Đông Nam châu Á, một đất nước rất giàu tiềm năng về tài nguyên, phong phú về khoáng sản và có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng về an ninh – quốc phòng. Chính vì vậy, thực dân Pháp không từ bỏ dã tâm và chúng đã quay lại xâm lược nước ta một lần nữa.
Truyền thống Cách mạng Tháng Tám đã trở thành động lực cho dân tộc Việt Nam, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Cả nước đứng lên tiếp tục 9 năm cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và đã giành thắng lợi vinh quang bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Truyền thống Cách mạng Tháng Tám còn tiếp tục phát huy cao độ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chúng ta là những người chiến thắng, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Từng bước đưa Việt Nam đổi mới, phát triển, hội nhập với khu vực và trên thế giới.
Kỷ niệm 78 năm Cách mạng Tháng Tám thành công trong điều kiện cả nước đang thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa, từng bước xóa đói giảm nghèo, tiến tới dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Trong bước đi lên của đất nước cũng còn nhiều chông gai phía trước. Trên thế giới vẫn chưa bình yên, vẫn còn có những cuộc chiến tranh cục bộ. Thiên tai, lũ lụt, động đất, sóng thần diễn ra thường xuyên làm ảnh hưởng đến cục diện kinh tế thế giới, ảnh hưởng không nhỏ đến chúng ta. Rồi vấn đề Biển Đông vẫn xảy ra tranh chấp. Những thế lực thù địch luôn rình rập chống phá chúng ta trên nhiều phương diện, bằng nhiều thủ đoạn tinh vi “Diễn biến hòa bình” ở mọi nơi, mọi lúc, mọi chỗ. Chúng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền chống phá cách mạng nước ta. Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam vẫn đang tỏa sáng. Một đất nước rất ổn định về chính trị, nền kinh tế vẫn ở trên đà tăng trưởng và phát triển, an ninh, quốc phòng được củng cố vững chắc.
Theo quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố mới đây, Việt Nam đã lấy lại được sự ổn định kinh tế vĩ mô. Xuất khẩu đang tiến triển rất tốt. Thị trường tài chính bình ổn trở lại. IMF nhấn mạnh: Việt Nam có những tiến bộ đáng kể trong ổn định kinh tế, thúc đẩy cải cách trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước. Đời sống của nhân dân ở mọi miền về cơ bản là ổn định, trật tự xã hội được đảm bảo. Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia trên thế giới được đánh giá là thanh bình và hạnh phúc. Có cuộc sống thực tế của hôm nay, chúng ta càng không thể quên thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Bởi vì, có Cách mạng Tháng Tám mới có một Việt Nam đổi mới, phát triển và hội nhập.
Sự kiện lịch sử trọng đại này còn mãi mãi vang vọng không những hôm nay mà còn mãi về sau trong từng người dân Đất Việt.
Kỷ niệm 78 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và những sự kiện lớn của đất nước, chuẩn bị cho một bước đi mới trong tương lai ngày càng ổn định vững chắc hơn trên con đường hội nhập, công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thực sự là mốc son chói lọi trong sử vàng của dân tộc Việt Nam./.
Nguồn: QUỐC PHÒNG Việt Nam

CÁCH ĐỐI ĐÃI VỚI TRÍ THỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH


Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm, coi trọng đội ngũ trí thức. Người luôn đề cao vai trò của trí thức, trân trọng và động viên đội ngũ này đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Đánh giá cao vai trò và địa vị của trí thức, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế… Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam sẽ là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất và độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”[1].
Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, Hồ Chí Minh là người khởi xướng và lãnh đạo thành công cuộc cách mạng lớn nhất, khó khăn nhất trong lịch sử dân tộc, cũng là người đã đối đãi với trí thức một cách mẫu mực. Người là bậc thầy cho các thế hệ lãnh đạo chính trị. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là noi theo Người, làm theo Người trong hành động cách mạng, là “sửa đổi cách lãnh đạo”, trong đó có cách ứng xử và đối đãi của người lãnh đạo, quản lý đối với trí thức.
Một là, phát triển tinh thần yêu nước và ý thức tự trọng dân tộc của trí thức. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rất sớm rằng, ở đời ai cũng có quyền tin theo một học thuyết, một chủ nghĩa nhưng có một điểm chung mà hễ là người Việt Nam thì ít nhiều ai cũng có. Đó là tinh thần yêu nước và ý thức tự trọng dân tộc. Như mọi người Việt Nam yêu nước khác, trí thức cảm thấy nô lệ, mất nước là quốc nhục. Họ mong muốn tìm lối thoát nhưng bế tắc. Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã sáng suốt tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Năm 1941, Người viết: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng… Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng”. Và quan trọng là người đứng đầu cuộc cách mạng ấy đã bằng cả cuộc đời bôn ba nếm mật nằm gai, bất chấp gian khổ, hy sinh nên lời kêu gọi ấy có sức nặng của sự hòa đồng, đồng tâm, đồng chí, của sự dẫn dắt đầy tin cậy: “Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”[2].
Lấy cứu quốc là việc chung, Hồ Chí Minh đã làm cho cả nước một lòng, không còn mấy ai nghi kỵ, mặc cảm, đắn đo. Hầu hết trí thức có tên tuổi của nước Việt Nam như các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố, các ông Phan Kế Toại, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước; các văn nghệ sĩ trí thức như Xuân Diệu, Huy Cận, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Xuân Hữu, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Ngô Tất Tố… và biết bao trí thức yêu nước khác, cùng với toàn dân đã tập hợp dưới ngọn cờ Tổ quốc do Hồ Chí Minh dẫn dắt làm cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 thành công và làm hai cuộc kháng chiến dài nhất, gian khổ nhất trong lịch sử thắng lợi. Phát triển tinh thần yêu nước của trí thức, đồng thời thẳng thắn, chân thành khuyên nhủ và bằng cả tấm lòng yêu nước, thương dân vô bờ bến, với đạo đức trong sáng và tác phong giản dị, Hồ Chí Minh đã phát huy được năng lực sáng tạo của trí thức, giúp họ ngày một tiến bộ, vững bước cùng dân tộc. Cùng với những đánh giá, khen ngợi, khích lệ, Người đã chân tình, thẳng thắn khuyên “những người trí thức… cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình. Phải khiêm tốn. Chớ kiêu ngạo. Phải ra sức làm các việc thực tế”, không nên chỉ bằng lòng với những kiến thức, lý luận đã học được mà “lý luận phải đem ra thực hành… lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên. Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để đem lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích”[3]. Cơm áo và danh dự là hai mặt của một vấn đề làm người trí thức băn khoăn. Trong thư trả lời một trí thức vào khoảng đầu cuộc kháng chiến chống Pháp khó khăn, thiếu thốn, Hồ Chí Minh đã viết: Ai chẳng muốn no cơm, ấm áo. Nhưng sinh hoạt vật chất hết đời người đó là hết. Còn tiếng tăm xấu hay tốt còn truyền đến ngàn đời về sau.
Như vậy, Hồ Chí Minh đã phát triển tinh thần yêu nước và ý thức tự trọng dân tộc của từng người trí thức hòa đồng vào chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự cường dân tộc của toàn dân. Nhờ đó, trí thức Việt Nam ngày càng trở thành đội ngũ hùng hậu của dân tộc, đã xây đắp nên mối liên kết tất yếu của sự phát triển: Cách mạng và trí thức, trí thức và cách mạng.
Hai là, trân trọng trí thức, tìm kiếm người tài đức là nghĩa vụ và bổn phận của nhà lãnh đạo. Hồ Chí Minh với thái độ quang minh chính đại, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết nên đã cảm hóa, tập hợp, thu phục, phát huy được đông đảo trí thức. Trong lúc chính quyền non trẻ, vận mệnh quốc gia như ngàn cân treo sợi tóc, nhiều trí thức nổi tiếng xuất thân từ tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội, được đào tạo trong các nhà trường của đế quốc, phong kiến đã nghe theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh gác bút nghiên lên đường tranh đấu.
Những ngày đầu tiên, trên cương vị nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu Chính phủ, Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc, dễ hiểu về mối quan hệ giữa nhân tài và kiến quốc. Người viết “Kiến quốc cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”. Và, Người thiết tha “mong rằng đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến…, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng, có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay”[4]. Trong công tác tổ chức nhân sự, Hồ Chí Minh đã nghiêm cấm các cơ quan đảng, chính phủ không được “tư túng – kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai”[5].
Chính Người đã nghiêm khắc tự phê bình vì chưa bao quát hết nên một số cơ quan chính phủ đã quan liêu, thiếu sâu sát để cho một số người tài đức chưa có dịp tham gia việc kháng chiến kiến quốc. Một chỉ thị ngắn, rất ngắn, không cần lắm chữ nhiều lời, ngày 20-11-1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể coi là một chỉ thị trường tồn cho các thế hệ cán bộ lãnh đạo đất nước: “Tìm người tài đức. Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiển năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo ngay cho Chính phủ biết. Báo cáo phải nói rõ: Tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó. Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ”[6].
Ba là, tin dùng, mạnh dạn trao cho người trí thức những chức vụ tương xứng với tài năng và đức độ của họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ai cũng có lòng tự trọng, tự tin. Không có lòng tự trọng, tự tin là người vô dụng... Vì vậy, người lãnh đạo cần phải tôn trọng lòng tự tin, tự trọng của các đồng chí mình”[7].
Tôn trọng, sử dụng trí thức là vấn đề rất lớn, ta không chỉ tìm thấy những chỉ dẫn từ các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh mà còn phải nghiêm túc, ôn lại lịch sử để thấy Người đã đối đãi với trí thức trong từng trường hợp mẫu mực như thế nào.
Năm 1946, nhận trọng trách Quốc hội khóa I giao cho thành lập Chính phủ trong lúc cần tập hợp sức mạnh toàn dân tộc vào việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, Hồ Chí Minh đã trân trọng giới thiệu những trí thức nổi tiếng, ngoài Đảng giữ các chức vụ quan trọng: “Bộ Nội vụ, một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết: Cụ Huỳnh Thúc Kháng…; Bộ Quốc phòng: một thanh niên trí thức và hoạt động quốc dân ta đã từng nghe tiếng: Ông Phan Anh,… Bộ xã hội, kiêm cả Y tế, Cứu tế và Lao động: Một nhà chuyên môn có tiếng trong y giới: Bác sĩ Trương Đình Tri;… Bộ Giáo dục: một người đã lâu năm hoạt động trong công việc giáo dục quốc dân và là người mà quốc dân có thể tin rằng nếu đem việc giáo dục giao cho để gánh vác thì người ấy sẽ làm hết nhiệm vụ: Ông Đặng Thai Mai;… Bộ Tư pháp: cũng là một trong đám người trí thức và đã hoạt động rất nhiều trong công cuộc cách mạng: Ông Vũ Đình Hòe”[8].
Biết bao trí thức với những tài năng, đức độ và cả những cá tính khác nhau đã đi cùng dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ xâm lược với sự tin dùng và ân cần chỉ bảo, chăm sóc của Hồ Chí Minh. Họ đã có sự nghiệp vẻ vang trong vinh quang chói lọi của Tổ quốc Việt Nam yêu quý. Những tên tuổi lớn: GS. Bộ trưởng Hoàng Minh Giám, GS. Nguyễn Văn Huyên, GS.VS Tôn Thất Tùng, GS.VS Trần Đại Nghĩa, GS. Trần Hữu Tước, GS. Lương Định Của, GS. Trần Đức Thảo…; các nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa: Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi…; các tướng lĩnh trí thức quân sự tài ba sau Võ Nguyên Giáp là những Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn v.v…, mà sự nghiệp của họ, nhờ có Hồ Chí Minh và cách mạng nên còn mãi với non sông đất nước.
Bốn là, chăm lo đào tạo đội ngũ trí thức mới với tầm nhìn vì sự nghiệp trăm năm. Suốt đời Hồ Chí Minh luôn chăm lo sự nghiệp đào tạo thế hệ cách mạng cho hiện tại và tương lai của đất nước. Với tầm nhìn xa, trông rộng, trong bất kỳ hoàn cảnh nào của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý đào tạo trí thức giải quyết hài hòa giữa kháng chiến và kiến quốc.
Nhìn lại lịch sử, chúng ta có thể khẳng định nhờ có Đảng, nhờ có Chủ tịch Hồ Chí Minh, đất nước có được một đội ngũ trí thức xuất thân từ công nhân, nông dân, bộ đội, thanh niên xung phong, đủ khả năng gánh vác nhiệm vụ nặng nề cùng nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng, công cuộc đổi mới, thực hiện CNH, HĐH, hội nhập quốc tế như hiện nay.
Sau lễ Tuyên ngôn độc lập (2-9-1945) một ngày, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề nâng cao dân trí, chống giặc dốt là một trong ba nhiệm vụ cấp bách của nhà nước Việt Nam mới. Người khẳng định “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Liền sau đó là phong trào xóa nạn mù chữ đồng thời lần lượt tất cả các bậc, từ tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học được thành lập.
Trước khi qua đời, Người còn dặn phải đào tạo thanh thiếu niên trở thành những người có đạo đức và tài năng “vừa hồng”, “vừa chuyên”. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay đang là vấn đề bức thiết của Nhà nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo một đội ngũ trí thức, một thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh, thể hiện nỗi ưu lo dân – nước đang đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải suy tư để thực hiện tốt lời dạy cuối cùng của Người.
Năm là, phải giữ danh giá của người lãnh đạo mà đối xử với trí thức. Lãnh đạo trí thức là việc khó. Nhưng Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói khó dễ đều bởi tại lòng mình. Lòng người lãnh đạo mà trong sáng, nhân hậu, chí công vô tư thì đó là sức mạnh, là bí quyết để dùng người. Nếu không sẽ “hỏng cả công việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo”[9].
Hồ Chí Minh khuyên “người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu… phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng”[10] để lãnh đạo cho đúng, dùng cán bộ đúng.
Dùng cán bộ đúng là nghĩa vụ, bổn phận của nhà lãnh đạo, đồng thời cũng là phẩm chất chính trị và danh giá của họ. Theo Hồ Chí Minh, để làm tròn nhiệm vụ và giữ gìn danh giá của mình, người lãnh đạo cần: Phải có độ lượng vĩ đại để dùng cán bộ một cách chí công vô tư, khiến cho cán bộ không bị thành kiến, không bị bỏ rơi, không lãng phí, thất thoát nhân tài; “Phải có tinh thần rộng rãi” để gần gụi tất cả mọi người, kể cả “những người mình không ưa”. “Phải có tính chịu khó dạy bảo” để nâng đỡ những người còn kém, giúp họ tiến bộ. Mà muốn dậy bảo người khác, nhất là đối với trí thức thì người lãnh đạo phải tự hiểu mình, phải học hỏi để hiểu người. Không có trình độ, không hiểu công việc của người khác thì không thể lãnh đạo được họ; “Phải sáng suốt” để không bị “bọn cơ hội, bọn vu vơ bao vây” mà xa cách cán bộ tốt – “Phải có thái độ vui vẻ, thân mật” cán bộ cấp dưới mới “vui lòng gần gụi mình”, mới coi mình là đồng chí, là thầy, là bạn của họ. Sinh thời, Người đã thể hiện những điều trên một cách khoa học và nghệ thuật trong các tình huống, với từng đối tượng khác nhau.
Hiện nay, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, trong các kỳ Đại hội gần đây, Đảng ta đều khẳng định “phát triển giáo dục và đào tạo nhằm bồi dưỡng nhân tài”. Từ những bài học lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại, cần suy nghĩ một cách nghiêm túc, thấu đáo, vận dụng và phát triển sáng tạo để có thể trọng dụng nhân tài một cách có hiệu quả nhất. Nhân tài không chỉ từ một nguồn giáo dục và đào tạo, mà còn từ đời sống thực tiễn, trong số gần 100 triệu đồng bào. Muốn có nhân tài, phải điều tra, phát hiện, lựa chọn, hiểu biết rồi mới bồi dưỡng và quan trọng nhất là trọng dụng, tức là phải quý trọng thật sự và khéo dùng họ đúng tài, xứng việc. Tại Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài, nhất là các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học có khả năng chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng”[11].
Tuy nhiên, cần phải học lại “quy trình” công tác cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh để làm thật sự, không dừng lại ở câu chữ trên nghị quyết hoặc làm “đúng quy trình” một cách máy móc, hình thức, để lọt những cán bộ phẩm chất kém vào bộ máy. Đối với nhân tài, phải chân thực, thành tâm, tạo môi trường dân chủ để họ phát huy hết tài năng cống hiến cho đất nước và dân tộc. Bản thân người sử dụng nhân tài phải hiểu biết nhân tài, phải có đạo đức “dĩ công vi thượng”. Thiếu tâm, thiếu tầm, thiếu đức, thiếu trí tuệ, bản lĩnh sẽ không bao giờ biết quý trọng nhân tài, có được nhân tài và dùng được nhân tài.
Thượng tá, ThS Đặng Công Thành - Khoa Hồ Chí Minh học, Học viện Chính trị
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại biểu trí thức dự Hội nghị Chính trị đặc biệt tháng 3-1964. (Ảnh tư liệu)
Có thể là hình ảnh về 7 người
Tất cả cảm xúc:
15

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

 

Theo Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, hiện nay, giáo dục lý luận chính trị chủ yếu vẫn diễn ra dưới hình thức các hội nghị tập huấn, quán triệt nghị quyết theo hướng một chiều, ít có tương tác.
Chiều 9/8, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị Giao ban Công tác giáo dục lý luận chính trị ở cơ sở năm 2023.
Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại Hà Nội, kết hợp trực tuyến đến 63 điểm cầu Tỉnh ủy, Thành ủy trực thuộc Trung ương.
Thông tin về công tác giáo lục lý luận chính trị ở cơ sở năm 2022 và phương hướng, nhiệm vụ những tháng cuối năm 2023, Vụ trưởng Vụ Lý luận Chính trị, Ban Tuyên giáo Trung ương Đoàn Văn Báu cho biết gần 2 năm qua, bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác giáo dục lý luận chính trị nhưng với sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, Ban Tuyên giáo các cấp, sự phối hợp, giúp đỡ của các cơ quan liên quan, các trung tâm chính trị cấp huyện đã triển khai và hoàn thành một khối lượng lớn công việc với nhiều điểm mới, nổi bật.
Công tác giáo dục lý luận chính trị tiếp tục được các cấp ủy quan tâm, triển khai thực hiện bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động.
Trung tâm chính trị cấp huyện chủ động, kịp thời tham mưu cấp ủy, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên cơ sở theo đúng hướng dẫn và chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, cấp ủy địa phương.
Đội ngũ giảng viên trung tâm không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Chế độ, chính sách liên quan đến học viên, giảng viên và báo cáo viên được thực hiện kịp thời; chất lượng giảng dạy tiếp tục được bảo đảm và nâng cao.
Công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng, bảo đảm hoạt động quản lý, đào tạo, bồi dưỡng tại các trung tâm chính trị cấp huyện hiệu lực, hiệu quả.
Công tác giáo dục lịch sử Đảng được các cấp ủy chú trọng, đẩy mạnh tổ chức nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ địa phương, lịch sử đảng bộ ngành.
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được trên, theo ông Đoàn Văn Báu, công tác giáo dục lý luận chính trị còn một số hạn chế, tồn tại như chất lượng đào tạo nhiều nơi không đảm bảo; việc cấp, ký giấy chứng nhận, văn bằng đào tạo chưa đúng với quy định; việc chiêu sinh, mở lớp các lớp đào tạo, bồi dưỡng gặp nhiều khó khăn; số lượng đăng ký tham gia học tập của các đảng ủy xã, thị trấn còn hạn chế, nhất là Chương trình Sơ cấp Lý luận Chính trị…
Tại Hội nghị, các đại biểu đã tham luận, đóng góp ý kiến, chia sẻ những thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp để thực hiện hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị trong thời gian tới.
Phát biểu chỉ đạo, nhấn mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị là một lĩnh vực khó, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Lê Hải Bình chia sẻ với thực tiễn mà các đại biểu và báo cáo nêu ra tại hội nghị.
Các tham luận, ý kiến đã phản ánh sinh động thực tiễn công tác giáo dục lý luận chính trị đang diễn ra ở cơ sở, trong đó có những đổi mới sáng tạo song vẫn còn những khó khăn, thách thức.
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh một số thách thức trong đổi mới nội dung, phương thức giáo dục lý luận chính trị trong cuộc đua với các đầu vào thông tin khác mà cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân có được.
Theo Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, hiện nay, giáo dục lý luận chính trị chủ yếu vẫn diễn ra dưới hình thức các hội nghị tập huấn, quán triệt nghị quyết theo hướng một chiều, ít có tương tác, hiệu quả thu nhận kiến thức từ người nghe thấp. Trong khi đó, thông tin được tiếp nhận qua các kênh thông tin khác như mạng xã hội lại rất nhanh nhưng lại chưa được quan tâm chú trọng sử dụng để phục vụ công tác giáo dục lý luận chính trị.
Ông Lê Hải Bình lưu ý hiện nay, công tác tuyên giáo đang đối mặt với những diễn biến tư tưởng trong quần chúng nhân dân do tác động của các biến động nhanh chóng, khó lường của tình hình thế giới, khu vực và trong nước. Cùng với đó là sự bùng nổ của các loại hình đầu vào thông tin mới.
Do vậy, công tác tuyên giáo nói chung, công tác giáo dục lý luận chính trị, nhất là ở cơ sở nói riêng cần phải cập nhật kịp thời những xu hướng biến động của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, nắm bắt diễn biến tư tưởng của quần chúng nhân dân, góp phần tạo sự ổn định về tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Công tác giáo dục lý luận chính trị cũng phải đổi mới, thích ứng linh hoạt trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới mà công cuộc đổi mới đất nước do Đảng lãnh đạo đặt ra. Công tác này cần có sự cập nhật kịp thời những quy định, kết luận mới của Đảng, nhất là trong xây dựng Đảng./.
Theo TTXVN
Có thể là hình ảnh về 6 người và văn bản

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 10/8


“Đồng bào lương và giáo hãy đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau”.
Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Điện gửi đồng bào xã Đoài”, Báo Nhân dân đăng số 5233, ngày 10 tháng 8 năm 1968.
Đây là giai đoạn đế quốc Mỹ dùng không quân, hải quân bắn phá miền Bắc để cắt đường tiếp tế của hậu phương cho chiến trường miền Nam, chúng đã tàn phá nhiều thành phố, làng quê; ngày 21 tháng 7 năm 1968 máy bay Mỹ bắn phá xã Đoài, tỉnh Nghệ An làm 02 giám mục, 03 linh mục bị thương; một số tu sĩ, đồng bào giáo và lương bị thương và tử vong, nhà thờ bị hư hỏng, hàng trăm nhà dân bị tàn phá. Biết tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Điện thăm hỏi, động viên nhân dân xã Đoài, tỉnh Nghệ An; trong Điện Bác kêu gọi: “Đồng bào lương và giáo hãy đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau”.
Việt Nam là đất nước đa dân tộc, tôn giáo, trong quá trình lãnh đạo đất nước Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng khối đoàn kết chặt chẽ giữa các tôn giáo, các dân tộc trong khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân với chính sách tôn giáo nhất quán: “Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân”; công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hay không có tín ngưỡng, tôn giáo đều là công dân Việt Nam, có quyền và nghĩa vụ như nhau. Đoàn kết lương - giáo là đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo; đoàn kết giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thực hiện chức năng đội quân công tác, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn quán triệt và thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác dân vận, nhất là trên các địa bàn có đồng bào theo đạo, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
Đồng thời, chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là những luận điệu xuyên tạc, mua chuộc, lôi kéo, xúi giục các chức sắc tôn giáo có quan điểm tiêu cực để kích động quần chúng nhân dân tụ tập đông người, biểu tình bất hợp pháp, bạo động… gây mất đoàn kết giữa đồng bào lương - giáo trên địa bàn, củng cố đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo và tình hữu nghị với các nước láng giềng, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'