Thứ Hai, 14 tháng 8, 2023

 Một số nhận thức về hệ giá trị văn hoá

1. Giá trị, hệ giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra trong quá trình tương tác với tự nhiên, xã hội, sự sáng tạo này là liên tục và đến lượt mình - hệ giá trị văn hoá - lại trở thành yếu tố cơ sở, nền tảng, chuẩn mực chi phối phương châm, triết lý sống cũng như từng hành vi của con người. Như vậy, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của hệ giá trị văn hoá.

Giá trị, hệ giá trị văn hoá được hình thành trên cơ sở học (văn hoá hoá), con người được dạy bằng nhiều con đường khác nhau và thông qua trải nghiệm trực tiếp của các cá nhân. Các cá nhân nhập tâm hoá hệ giá trị thông qua việc học/trải nghiệm này và các giá trị khi được nhập tâm trở thành tập tính (hành động, lựa chọn…) mà không phản tư tại sao lại hành động/lựa chọn như vậy, ví dụ như thắp hương ngày rằm, mùng một; mời nhau trước khi ăn cơm, dùng đũa khi ăn... 

Với cách hiểu như vậy, giá trị, hệ giá trị văn hoá có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hiện thực hoá mục tiêu “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; “Xây dựng hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” mà Đảng ta đã đề ra. 

THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG MINH THẢO: MỘT TÌNH YÊU CHÂN THÀNH, GIẢN DỊ

 

Trong cuộc đời cầm quân của mình, có hai thời điểm mà Thượng tướng Hoàng Minh Thảo tự hào và nhớ mãi: Đó là tháng 10 năm 1945 nhận lệnh Bác Hồ và anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) làm Tư lệnh Chiến khu 3 thay tướng Nguyễn Bình vào Nam, và năm 1948 về Quân khu 4 giữ chức Tư lệnh thay tướng Nguyễn Sơn.
Đảm nhận chức vụ của hai vị tướng huyền thoại ở những địa bàn chiến lược quan trọng lúc còn tuổi thanh xuân, chứng tỏ Bác Hồ và Đại tướng Tổng tư lệnh rất tin vào tài năng quân sự của ông.
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo tên thật là Tạ Thái An, sinh năm Tân Dậu (1921) ở làng Bảo Khê (huyện Kim Động, Hưng Yên) trong gia đình bố là thợ may, mẹ buôn bán nhỏ. Tuổi thơ của ông trải qua nhiều biến cố của đất nước và gia đình: Vì có cảm tình với Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học nên sau khi nhà yêu nước này bị bắt, bố ông mang ông - người con duy nhất của gia đình-lên Tràng Định (Lạng Sơn) làm ăn và để tránh sự dòm ngó của mật thám Pháp. Năm 1935, khi ông 14 tuổi và đang học ở trường Thăng Long (Hà Nội) thì người mẹ thân yêu của ông qua đời. Người bố, như người đời thường nói, ở vậy “gà trống nuôi con” cho đến năm 1947 cũng lâm bệnh rồi mất.
Tuổi thơ và tuổi thanh xuân của Hoàng Minh Thảo đã khắc dấu vào tính cách sau này. Ông ảnh hưởng tính độc lập, tự chủ, quyết đoán trong công việc của người cha và tình yêu thương con người của người mẹ, một phụ nữ lam làm vùng quê Bắc bộ.
Học trường Thăng Long, được giáo dục lòng yêu nước của những thầy giáo nổi tiếng, trong đó có thầy giáo Võ Nguyên Giáp, ra trường ông về Tràng Định tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1941, Bác Hồ cử ông cùng với các đồng chí Hoàng Văn Thái, Nam Long, Đàm Quang Trung, Vũ Lập, Thanh Phong đi học Trường quân sự ở Đệ tứ chiến khu (Liễu Châu-Trung Quốc), một phân hiệu của Trường quân sự Hoàng Phố nổi tiếng. Học xong, ông cùng các đồng chí về nước tham gia Tổng khởi nghĩa năm 1945. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, ông được cử giữ chức Tư lệnh Chiến khu 3 và cuộc đời binh nghiệp của ông kéo dài cho đến năm 1995, lúc ông rời Viện chiến lược-Bộ Quốc phòng về hưu.
Ông làm tướng lúc còn rất trẻ và nghỉ việc khi đã rất... “già”.
- Hồi còn trẻ mà đã giữ chức vụ cao, chắc có nhiều cô gái mê bác lắm? - Tôi hỏi Thượng tướng khi ngồi trò chuyện tại nhà riêng của ông ở đường Phùng Chí Kiên, con đường nhỏ chạy cạnh Học viện Quốc phòng, nơi ông đã nhiều năm làm Giám đốc.
- Có cô nào đâu! Ông cười khà khà-Lúc đó tôi mới 24 tuổi nhưng nhìn bề ngoài nghiêm lắm, mặt đen, lông mày xếch, râu quai nón rậm rì, dáng quân sự nên cũng khó gần...
Ông nói vậy thôi chứ thực ra, theo nhiều người sống gần ông kể lại, hồi ông làm Tư lệnh Chiến khu 3, có một người con gái rất mến ông. Đó là chị Hoàng Ngân nổi tiếng. Hoàng Ngân sau sự hy sinh oanh liệt của anh Hoàng Văn Thụ-mối tình đầu của chị-đã nén đau thương để tận tâm phục vụ cách mạng cho đến ngày thắng lợi. Rồi nỗi đau nguôi ngoai, chị được Đảng phân công làm Thường vụ Khu ủy Liên khu 3, phụ trách Ban dân vận và phụ vận, thường gặp gỡ chàng Tư lệnh trẻ tuổi tài cao.
- Hoàng Ngân trạc tuổi với tôi. Tôi là Tư lệnh chiến khu, nhưng không phải là khu ủy viên, vì vậy về mặt nào đó, Hoàng Ngân là cấp trên của tôi. Chúng tôi gặp nhau khi họp khu ủy mở rộng, hoặc lúc bàn bạc việc phối hợp công tác giữa phụ nữ với quân sự.
Chính vì quan niệm là cấp trên nên Tư lệnh Hoàng Minh Thảo rất e dè khi tiếp xúc với người con gái nổi tiếng này, cho dù lúc đó nhiều người có ý vun vào.
- Hoàng Ngân giỏi lắm, lý luận chính trị rất sắc sảo, có thể “chọi” lại với cả ông Hoàng Tùng. Vì thế nên tôi có phần hơi... tự ti!
Sau này, khi chị Hoàng Ngân về chiến khu Việt Bắc đảm nhiệm chức vụ Bí thư Trung ương Đoàn phụ nữ cứu quốc Việt Nam (nay là Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam) rồi đột ngột lâm bệnh mất, ông vừa tiếc thương, vừa cảm phục người con gái tài sắc vẹn toàn đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho cách mạng.
Chuyện lấy vợ của ông cũng rất bình thường, giản dị như biết bao cán bộ, chiến sĩ ta hồi đó. Đầu năm 1948, có người bạn đến thăm ông mang theo hai tấm ảnh của hai người con gái. Cả hai cô đều khoảng 18, 19 tuổi, rất đẹp, vẻ ngoài đài các của con gái “cành vàng lá ngọc” đất Hà thành. Ngắm đi ngắm lại, ông chọn cô gái trông có vẻ hiền hậu hơn. Đó là nữ sinh mới học xong đệ tứ Vũ Thị Minh Nguyệt, quê ở Bưởi, người bạn đời sau này của ông.
Nhưng bố của Minh Nguyệt lúc đó đang làm Trưởng ty Trước bạ tỉnh Nam Định và cô đang sống cùng bố mẹ ở vùng quê Hải Hậu, nơi cơ quan bố sơ tán. Đường xa cách trở, đất nước lại đang chiến tranh, việc binh bận rộn nên Hoàng Minh Thảo chưa thực hiện được việc tìm gặp ý trung nhân của mình. Cho đến cuối năm 1948, khi vào Khu 4 làm Tư lệnh trưởng đóng quân ở Thanh Hóa, ông mới quyết định gặp bằng được người trong ảnh.
- Một buổi chiều ở vùng quê Hải Hậu, có 5 người đạp xe tìm đến nhà tôi, đi đầu là một thanh niên râu quai nón rậm rì, mắt sáng và sắc, đôi lông mày xếch trông rất dữ tướng. Sau này tôi mới biết đó là anh Hoàng Minh Thảo và những người đi cùng là bí thư riêng, bảo vệ, công vụ - Bà Vũ Thị Minh Nguyệt nhớ lại.
Vốn là con nhà “Danh gia vọng tộc”, lại được giáo dục kỹ lưỡng theo nếp gia phong thời đó, nên chuyện tình duyên của tiểu thư hoàn toàn phó thác vào sự sắp đặt của bố mẹ. Và cũng chính vì thế, vị hôn phu tương lai của Minh Nguyệt, Đại tá Tư lệnh Hoàng Minh Thảo thỉnh thoảng đi công tác có ghé thăm cũng chủ yếu đàm đạo với ông bà chủ nhà, mà rất ít khi nói chuyện với cô.
- Thế hồi đó, hai cụ có ủng hộ chàng rể tương lai Hoàng Minh Thảo không?-Tôi hỏi.
- Ủng hộ quá đi chứ. Đã gần 80 tuổi, nhưng bà Nguyệt vẫn rất nhanh nhẹn, sắc sảo, và dấu ấn của một thời thanh xuân đài các vẫn còn đó. -Bố mẹ tôi bảo rằng, Bộ đội Cụ Hồ tất nhiên là người tốt, hoàn toàn tin tưởng để giao phó số phận con gái mình. Còn tôi thì nghe theo lời bố mẹ...
Cuộc viếng thăm cứ thế tiếp diễn, cho đến một hôm, ông rủ bà đi dạo quanh làng rồi về ngồi nói chuyện ở cạnh bờ ao. Ông nói chuyện về trường kỳ kháng chiến, về cuộc sống của ông, của bà sau khi đất nước hòa bình mà không đề cập gì đến chuyện tình yêu. Vốn thông minh và sắc sảo, cô gái đất Hà thành biết rằng ông đang ngỏ lời cầu hôn mình. Từ trong trái tim thiếu nữ, một niềm tin trào dâng dành cho người con trai trông có vẻ dữ tướng nhưng rất hiền lành và chân thành.
- Tôi có cảm tình với ông ấy một phần cũng nhờ tác động của bố mẹ, nhất là mẹ tôi, một người học rộng và rất giỏi giang. Chứ thực ra hồi tôi đi học, giời ơi, nhiều thanh niên hào hoa theo lắm. Cứ lượn đi lượn lại nhà tôi suốt! - Bà Nguyệt cười.
Vài tháng sau đó, đám cưới giữa đôi trai tài gái sắc được tổ chức ở Hà Nam, nơi gia đình nhà gái sơ tán. Gọi là đám cưới, nhưng chỉ làm mấy mâm cơm liên hoan, chẳng mời ai cả. Nhà trai thì không còn bố mẹ, nên vẫn chỉ mấy người thân tín thường đi cùng với Hoàng Minh Thảo đến dự. Đó là đám cưới giản dị như bao nhiêu đám cưới khác của bộ đội thời đó, bởi đất nước đang chiến tranh. Không chụp ảnh, không có hoa, không đưa đón dâu, chú rể vẫn trong bộ quân phục thường ngày vẫn mặc, chân thành và mộc mạc bên cạnh cô dâu “cành vàng lá ngọc”, giống như đám cưới trong “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan.
Cưới nhau xong, bà vẫn ở lại với bố mẹ, còn ông tất nhiên trở lại Thanh Hóa tiếp tục trọng trách của mình. Và cứ thế, bà theo gia đình chạy giặc, lúc thì vào Thanh Hóa, rồi trở lại Nam Định, về Hà Nam, Đồng Văn... Còn ông thì mải việc binh, thỉnh thoảng lần theo địa chỉ người vợ trẻ để về thăm ít hôm. Trường kỳ kháng chiến với những thời khắc hiếm hoi bên nhau cũng đủ để bà sinh cho ông đứa con trai đầu lòng.
Cuộc tình của họ cứ như vậy, đơn sơ, chân thành và mộc mạc, không còn đâu thời gian để dỗi hờn, để chiều chuộng, để mơ mộng như bao bạn gái của bà.
Chấp nhận làm vợ người lính, tiểu thư đất Hà thành bắt đầu cuộc sống khác. Không thể cứ “bám” theo bố mẹ mãi, chồng lại đi xa, bà bắt đầu đi dạy học ở các vùng sơ tán, rồi tham gia lao động sản xuất với bà con địa phương vừa để nuôi con, vừa “kháng chiến, kiến quốc”. Tính hay lam hay làm của những phụ nữ nông thôn đã giúp bà sau này một mình vừa công tác vừa vun vén nuôi ba con nhỏ chờ ông khi ông khoác ba lô vào chiến trường Tây Nguyên chiến đấu năm 1966 cho đến ngày Đại thắng 30-4-1975. Khi ông đã trở thành vị tướng nổi tiếng, Giám đốc Học viện Quốc phòng, người ta vẫn thấy người phụ nữ nhỏ nhắn này lao động suốt ngày, lúc chăm sóc cây cối, vườn tược, trồng rau, nuôi thỏ, nuôi gà. Bà bảo rằng, do thích lao động nên bây giờ tuổi đã 80 nhưng bà vẫn còn minh mẫn và nhanh nhẹn lắm.
- 60 năm sống với nhau, ngẫm lại thấy vất vả nhưng tự hào. Phúc đức là nhà tôi đi chiến đấu trước hòn tên mũi đạn mà không hề hấn gì. Con cái chúng tôi đều đã trưởng thành, “thằng” thứ hai theo nghiệp bố, đang là Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Hà Nội. Ông nhà tôi trông “thô” và nghiêm khắc nhưng hiền lắm, thương con lắm-Bà Nguyệt nói.
Ngồi bên vợ, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo chỉ cười. Khi cười, trông ông thật hiền, thật chân thành. Không những với tình yêu, tình vợ chồng, cha con, mà ông chân thành với mọi người, với đồng chí, đồng đội, như bức trướng mà Học viện Quốc phòng tặng nhân dịp mừng thọ ông 80 tuổi: “Trung thành với Tổ quốc, chân thành với đồng đội”.
Điều đó làm cho ông trở thành một trong những vị tướng được cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta yêu quý./.
QĐND


 Tham nhũng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng: Nhìn từ góc độ sai lệch chuẩn mực xã hội

THAM NHŨNG - HÀNH VI SAI LỆCH CHUẨN MỰC XÃ HỘI

Theo Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018, tham nhũng là những hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Tham nhũng làm chậm sự phát triển kinh tế - xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân vào nhà nước và đến chừng mực nào đó gây mất ổn định chính trị, kinh tế, xã hội và làm nhiễu loạn văn hóa.

ĐẠI HỘI XIII - NỬA NHIỆM KỲ NHÌN LẠI

 

Tính đến tháng 8 này, chúng ta đã đi được hơn nửa chặng đường thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đúng là thời gian trôi đi nhanh thật! Mới ngày nào các cấp ủy đảng từ Trung ương đến các địa phương, cơ sở tổ chức học tập, triển khai thực hiện Nghị quyết XIII mà đến thời điểm này đã đánh giá kết quả thực hiện qua nửa nhiệm kỳ.
Có thể nói, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, đất nước ta đứng trước rất nhiều khó khăn, có những khó khăn chưa có tiền lệ. Đại dịch COVID-19 kéo dài gây hậu quả nặng nề, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, cuộc xung đột giữa Nga và Ukraina diễn biến phức tạp; hầu hết các chuỗi cung ứng bị đứt gãy; lạm phát tăng cao, các nước thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất dẫn đến suy giảm tăng trưởng và gia tăng rủi ro trên các thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản quốc tế... tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến an ninh chính trị, kinh tế, xã hội trên phạm vi toàn cầu.
Ở trong nước, dưới tác động của tình hình thế giới và hậu quả nặng nề của đại dịch COVID-19, biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ,... kinh tế - xã hội nước ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, rất gay gắt, nặng nề; hầu hết các ngành, các lĩnh vực đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng; vừa phải tập trung giải quyết những vấn đề phức tạp mới phát sinh, vừa phải xử lý các yếu kém, tồn đọng kéo dài từ nhiều năm trước để lại...
Trong bối cảnh có quá nhiều khó khăn, thách thức, với ý chí, quyết tâm cao và tinh thần "Tiền hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng", "Dọc ngang thông suốt", Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Cụ thể, Đảng ta vẫn quyết tâm tổ chức nhiều hội nghị quan trọng, có tính chất toàn quốc. Đó là Hội nghị của Chính phủ nhiệm kỳ 2021 - 2026 với các địa phương, nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình hành động của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên; Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính; Hội nghị toàn quốc về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Hội nghị đối ngoại toàn quốc và Hội nghị Văn hóa toàn quốc.
Điểm nhấn quan trọng khác chính là 6 hội nghị toàn quốc về 6 lĩnh vực đã được tổ chức ngay trong năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Ngay sau đó, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã ban hành 6 Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng chiến lược trên cả nước với thông điệp rất rõ nét là tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong nhận thức và hành động phát triển nhanh và bền vững cho tương xứng với tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương trong vùng.
Đáng chú ý, trong nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành 36 Nghị quyết và 54 Kết luận, trong đó có nhiều nghị quyết, kết luận liên quan đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống dịch COVID-19… Những kết luận này đã lãnh đạo, chỉ đạo để xử lý những vấn đề cốt lõi về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, từ đó thay đổi tư duy, cách tiếp cận trong công tác cán bộ, công tác phòng chống tham nhũng, phục hồi phát triển kinh tế...
Điểm đặc biệt của các Nghị quyết, chỉ thị được ban hành trong nhiệm kỳ này là rất nhanh đến với cơ sở. Bởi trong những nhiệm kỳ trước, Nghị quyết sau khi được Trung ương quán triệt xong thì các cấp mới mời đội ngũ báo cáo viên đi truyền đạt từ cấp tỉnh, thành phố xuống tận cơ sở. Còn như hiện nay, bằng các hội nghị trực tuyến từ trung ương đến cơ sở, nghị quyết đã đến được tới từng đảng viên trong cả nước một cách đồng thời. Đây là một điểm mới, tạo nên tính đồng bộ và toàn diện để nhanh chóng đưa nghị quyết đi vào cuộc sống.
Vì vậy, ở nửa đầu nhiệm kỳ này, nhiều lĩnh vực công tác của Đảng đã được triển khai kịp thời, thực hiện nghiêm túc, kiên trì, kiên quyết, như công tác tổ chức-cán bộ, công tác kiểm tra giám sát… Một trong những kết quả về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đánh giá là: Chúng ta đã tạo ra được sự chuyển biến rất tích cực, với nhiều dấu ấn nổi bật trong việc kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn hơn giữa “xây” và “chống”, toàn diện hơn trên các mặt công tác xây dựng Đảng. Đặc biệt, công tác cán bộ tiếp tục được coi trọng hơn, đúng mức hơn với vị trí, vai trò là “then chốt của then chốt”; có nhiều cách làm, quy định mới, hiệu quả cao hơn, gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung...
Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có bước tiến đột phá, đạt nhiều kết quả quan trọng, toàn diện, tạo hiệu ứng tích cực được cán bộ, đảng viên và Nhân dân đánh giá cao. Theo báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 5/2022, đã khởi tố, điều tra gần 4.200 vụ/7.572 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế (trong đó, các tội về tham nhũng đã khởi tố, điều tra 455 vụ/1.054 bị can). Riêng Ban Chỉ đạo đã đưa 977 vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo ở 3 cấp độ; trong đó Ban Chỉ đạo trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 180 vụ án, 133 vụ việc.
Từ tháng 1 đến tháng 5/2023, các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 1.099 vụ/2.411 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế; khởi tố mới 242 vụ án/864 bị can về tội tham nhũng (tăng gần 2 lần so cùng kỳ năm 2022).
Ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được thành lập ở cả 63 tỉnh, thành phố trong nhiệm kỳ này. Đến tháng 4/2023, 63 Ban chỉ đạo đã đưa 327 vụ án, 179 vụ việc tham nhũng, tiêu cực, phức tạp được dư luận quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo, xét xử…
Cùng với công tác xây dựng Đảng, kinh tế - xã hội là một trong những điểm nhấn quan trọng nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng. Điển hình như Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 07 ngày 1/6/2021 về một số nhiệm vụ trọng tâm phòng, chống dịch COVID-19 và phát triển kinh tế - xã hội; Kết luận 24 tháng 12/2021 về Chương trình Phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Ban Chấp hành Trung ương ban hành Kết luận 20 tháng 10/2022 để đánh giá tình hình kinh tế xã hội 2021 - 2022 và đề ra các định hướng, chủ trương phòng, chống dịch COVID-19 cũng như những định hướng lớn về chương trình phục hồi, phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó, Quốc hội, Chính phủ cụ thể hóa thành Nghị quyết, các chương trình, kế hoạch phục hồi, phát triển kinh tế.
Chính vì thế, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng kinh tế vẫn đạt được những kết quả tích cực. Việt Nam là một điểm sáng "trong bức tranh xám màu" của kinh tế toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế năm 2021 đạt 2,56%, trong khi nhiều nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng âm; tăng trưởng kinh tế năm 2022 đạt 8,02%, cao hơn nhiều so với kế hoạch 6 - 6,5%, và là mức cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới; tăng trưởng GDP trong 6 tháng năm 2023 tuy chỉ đạt 3,72% so với cùng kỳ, nhưng theo dự báo của nhiều tổ chức quốc tế, cả năm vẫn có thể đạt từ 6 đến 6,5%....
Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, sản xuất, đời sống của người dân, người lao động trên cả nước gặp nhiều khó khăn. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, tổ chức thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác an sinh xã hội, đảm bảo an sinh đến từng người dân. 104.000 tỷ đồng là số tiền được giải ngân để hỗ trợ an sinh cho gần 508 triệu người dân, người lao động và 1,4 triệu người sử dụng lao động trong hơn 2 năm qua…
Đến thời điểm này, chúng ta có thể khẳng định rằng, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cùng với các Nghị quyết, chỉ thị của Trung ương đã đi vào cuộc sống như một lẽ tự nhiên, bởi tính đúng đắn, bởi mục tiêu được xác định phù hợp với điều kiện thực tế, với “ý Đảng hợp với lòng dân”. Để thực hiện nghị quyết chúng ta đã có những kinh nghiệm quý trong việc tuyên truyền, thể chế hóa, xây dựng chương trình hành động, tổ chức thực hiện, kiểm tra, sơ kết, tổng kết…
Kỳ tích không đến một cách tự nhiên. Đó là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự quyết liệt điều hành của Chính phủ và sự đồng hành của Quốc hội đổi mới và các tầng lớp Nhân dân.
Chúng ta tin tưởng rằng, từ kết quả của nửa nhiệm kỳ đầu Đại hội XIII sẽ tiếp tục là động lực để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đoàn kết, phấn đấu với quyết tâm và nỗ lực cao hơn nữa; năng động, sáng tạo hơn nữa để sáng suốt nắm bắt mọi thời cơ, thuận lợi; vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức; hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra cho cả nhiệm kỳ khoá XIII, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển, cường thịnh; ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Bác Hồ muôn vàn kính yêu hằng mong đợi như lời phát biểu bế mạc Hội nghị giữa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng./.
Báo ĐCSVN

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vừa là nhiệm vụ thường xuyên, vừa là yêu cầu cấp bách, đòi hỏi tinh thần trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Nêu cao vai trò tiền phong, xung kích của tuổi trẻ, thanh niên Việt Nam đã và đang tích cực triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với nhiều giải pháp sáng tạo, đồng bộ, hiệu quả.
Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Trong giai đoạn hiện nay, quán triệt, thực hiện tốt Nghị quyết số 35-NQ/TW là trách nhiệm chung của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, trong đó có lực lượng thanh niên, với vai trò là những chủ nhân tương lai của đất nước.
Thanh niên là đội dự bị tin cậy của Đảng, trực tiếp tham gia thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, thanh niên là lực lượng có vai trò quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định rõ vị trí, vai trò và đặt niềm tin vào thế hệ trẻ. Người khẳng định rằng: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, mạnh hay yếu, một phần lớn là do các thanh niên” (1). Với vai trò, nhiệm vụ kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đòi hỏi khách quan đặt ra hiện nay là cần không ngừng phát huy vai trò của lực lượng thanh niên trong bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch.
Những năm gần đây, tình hình thế giới, khu vực đã liên tục có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng những tồn tại, bất cập trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội của Việt Nam, nhằm xuyên tạc tình hình thực tế của nước ta; cổ súy, kích động những tư tưởng, hành động sai trái, chống đối, phá hoại sự ổn định, cản trở sự phát triển của đất nước. Chúng còn ra sức lôi kéo, tập hợp những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong và ngoài nước, tìm cách tạo cớ, kêu gọi các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đặc biệt, các thế lực thù địch đã tận dụng tối đa phương tiện truyền thông, như mạng xã hội cùng với hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở hải ngoại để phát tán các thông tin sai lệch, bóp méo tình hình xã hội của Việt Nam; đăng tải nhiều video clip xấu, độc lên các trang mạng xã hội như Facebook, Youtube..., Các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm đó đã và đang tác động không nhỏ đến nhận thức, tâm lý, thái độ của một bộ phận nhân dân, trong đó có lực lượng thanh niên.
Thực tế thời gian qua, cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị đã coi trọng và phát huy có hiệu quả vai trò của thanh niên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của lực lượng thanh niên đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các cấp bộ Đoàn từ Trung ương đến địa phương đã có nhiều hoạt động đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ. Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trong thanh niên được quan tâm với nhiều hình thức đa dạng, hiệu quả như: các cuộc thi Olympic các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các chương trình cập nhật kiến thức, đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luận chính trị; các chương trình thông tin, thời sự... Qua đó, giúp cán bộ, đoàn viên thanh niên có nhận thức đúng, trách nhiệm cao trong phản bác các luận điệu sai trái, phê phán những biểu hiện tiêu cực, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tuy nhiên, trình độ nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của một bộ phận thanh niên vẫn còn những bất cập, hạn chế; nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chưa đầy đủ, sâu sắc. Nhiều thanh niên tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chưa thường xuyên, liên tục, còn bị động. Ở một số địa phương, có lúc, có nơi việc cung cấp thông tin chính thống cho thanh niên chưa kịp thời, chưa đầy đủ; nhiều bài viết đấu tranh, phản bác chưa đủ sức thuyết phục về khoa học, lý luận, thiếu sức chiến đấu. Không ít bạn trẻ còn hạn chế trong khai thác, sử dụng công nghệ thông tin, nhất là sử dụng công nghệ cao trong đấu tranh trên không gian mạng,…
Để tiếp tục phát huy vai trò của thanh niên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, vấn đề quan trọng hàng đầu là cần tăng cường công tác bồi dưỡng, cập nhật kiến thức lý luận chính trị, quán triệt, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với lực lượng thanh niên. Bên cạnh những phương pháp tuyên truyền truyền thống, cần tăng cường đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục thông qua các nền tảng công nghệ số như xây dựng Cổng thông tin điện tử học tập chính trị cho đoàn viên thanh niên; tổ chức các hội nghị trực tuyến học tập lý luận chính trị, quán triệt các Nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường tổ chức các cuộc thi trực tuyến tìm hiểu về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tìm hiểu về Đảng Cộng sản Việt Nam, về Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, truyền thống lịch sử dân tộc nhằm thu hút lượng đoàn viên, thanh thiếu nhi tham gia. Thực tế cho thấy các hoạt động giáo dục chính trị này đã gần gũi với thanh niên hơn, được thanh niên đón nhận và tham gia nhiều hơn, từ đó góp phần tăng cường “sức đề kháng" của thanh niên trước các thông tin xấu, độc và âm mưu của các thế lực thù địch.
Cùng với đó, tổ chức Đoàn các cấp phải chú trọng truyền tải những thông tin tích cực tới cán bộ, đoàn viên, thanh niên, đặc biệt trên các nền tảng số, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Việc sưu tầm những tấm gương người tốt việc tốt, các câu chuyện đẹp và nhân văn đưa lên các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, Instagram,… đã và đang nhận được rất nhiều những phản hồi tích cực của người dùng, nhất là của thanh thiếu niên. Qua đó, giúp những yếu tố tích cực, cái đẹp tự lan tỏa trong đời sống xã hội.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc nghiên cứu, học tập các chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chú trọng phổ biến, tuyên truyền trên internet, mạng xã hội và các kênh truyền thông khác những nội dung liên quan đến an ninh truyền thông, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhận diện kịp thời âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch... Tăng cường các hoạt động hội thảo, tọa đàm, chia sẻ kinh nghiệm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các tổ chức Đoàn và lực lượng thanh niên.
Thường xuyên đổi mới các hình thức tuyên truyền theo hướng sáng tạo, linh hoạt gắn với đặc điểm thanh niên ở mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi vùng miền để thu hút sự quan tâm, chú ý của thanh niên. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông; vận dụng tổng hợp các hình thức tuyên truyền, kết hợp chặt chẽ với đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng, tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền trên internet, các mạng xã hội và các kênh truyền thông khác, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch...

CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM


Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam được hình thành, vun đắp qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước, giữ nước với nhiều giá trị đặc sắc. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển văn hóa, trong đó có chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Với quan điểm nhất quán, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định văn hóa nói chung, văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng là một bộ phận quan trọng, là động lực của sự phát triển bởi: “Văn hóa... là hồn cốt của Dân tộc, nói lên bản sắc của Dân tộc. Văn hóa còn thì Dân tộc còn”(1). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” tiếp tục khẳng định quan điểm xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Nghị quyết cũng nhấn mạnh nhiệm vụ giữ gìn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số, nhất là tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội truyền thống; chủ động đón nhận cơ hội phát triển, vượt qua thách thức để giữ gìn, hoàn thiện bản sắc văn hóa dân tộc.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh quan điểm phát triển: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc... lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”(2), “Khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và đời sống văn hóa giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số... Quan tâm, tạo điều kiện phát triển văn hóa, văn nghệ của các dân tộc thiểu số”(3).
Thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, thời gian qua, Nhà nước đã ban hành các chính sách nhằm phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số, tập trung vào một số lĩnh vực cơ bản sau:
Một là, chính sách bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số.
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến công tác giáo dục ngôn ngữ đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số(4)... Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về việc bảo tồn tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số, 27/53 dân tộc thiểu số có bộ chữ viết riêng của dân tộc mình, như Tày, Thái, Hoa, Khmer, Nùng, Mông, Gia-rai, Ê-đê, Ba-na, Xơ-đăng, Chăm, Cơ-ho, Mnông... được bảo tồn. Một số ngôn ngữ được sử dụng trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, các đài phát thanh và truyền hình địa phương, và được sử dụng để in các tác phẩm văn nghệ truyền thống, các sáng tác mới... Bên cạnh đó, việc tổ chức dạy, học ngôn ngữ dân tộc thiểu số cũng được triển khai ở các trường học vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên cả nước. Hiện nay, cả nước đã có 30 tỉnh triển khai với 700 trường học tiếng dân tộc thiểu số; phát hành 8 chương trình tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Gia-rai, Ba-na, Ê-đê, Mông, Mnông, Thái) và 6 bộ sách giáo khoa tiếng dân tộc thiểu số (Chăm, Khmer, Gia-rai, Ba-na, Ê-đê, Mông). Nhiều địa phương đã khảo sát, thống kê, sưu tầm tiếng nói, chữ viết, thư tịch cổ của các dân tộc; biên soạn, xuất bản sách tiếng dân tộc thiểu số.
Hai là, chính sách bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa truyền thống vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1270/QĐ-TTg, ngày 27-7-2011, “Phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”” nhằm huy động sức mạnh của toàn xã hội phát triển văn hóa dân tộc, góp phần để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia, hướng tới bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tế...; Quyết định số 2493/QĐ-TTg, ngày 22-12-2016, “Phê duyệt Đề án Kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền di sản văn hóa truyền thống điển hình của các dân tộc thiểu số Việt Nam giai đoạn 2017 - 2020”, hướng tới mục tiêu huy động nguồn lực của toàn xã hội cùng tham gia gìn giữ, bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc; tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và ý thức bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa của toàn xã hội, các chủ thể văn hóa và tổ chức, cá nhân có liên quan. Quyết định số 936/QĐ-TTg, ngày 30-6-2017, “Phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa giai đoạn 2016 - 2020”, trong đó có mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc; phát triển các công trình văn hóa hiện đại, có ý nghĩa biểu tượng quốc gia, ý nghĩa chính trị, lịch sử, truyền thống đặc sắc hướng tới mục tiêu chiến lược xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc...
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 4686/QĐ-BVHTTDL, ngày 31-12-2013, “Phê duyệt Đề án tổ chức định kỳ “Ngày hội, giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng đồng bào các dân tộc thiểu số” theo khu vực và toàn quốc giai đoạn 2013 - 2020”; Quyết định số 3965/QĐ-BVHTTDL, ngày 16-11-2015, “Về việc phê duyệt Dự án “Chương trình hoạt động, lễ hội và biểu diễn văn hóa nghệ thuật các dân tộc cấp tỉnh, vùng và quốc gia giai đoạn 2015 - 2020” (thuộc Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” theo Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ)”... Qua đó, nhiều hoạt động giao lưu văn hóa được diễn ra trên phạm vi cả nước, từng vùng, từng địa phương, từng dân tộc, như Giao lưu văn hóa các dân tộc tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam hằng năm; ngày hội văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc, Tây Bắc, miền Trung và miền Đông Nam Bộ, ngày hội văn hóa dân tộc Mông, Chăm, Khmer, Mường, Dao, Hoa, Thái...; liên hoan nghệ thuật hát then, đàn tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái.... Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá di sản văn hóa truyền thống điển hình của các dân tộc thiểu số Việt Nam được nâng cao. Các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng được lập hồ sơ khoa học, xếp hạng cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt. Việt Nam đã có nhiều di sản được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, như Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (năm 2008); Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam (năm 2019); Nghệ thuật Xòe Thái (năm 2022)...
Ngoài ra, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 209/QĐ-BVHTTDL, ngày 18-1-2019, về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” với mục tiêu bảo tồn và phát huy trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số, khơi dậy lòng tự hào đối với văn hóa và trang phục truyền thống các dân tộc, hình thành ý thức, động lực để chính các chủ thể văn hóa, các cấp chính quyền địa phương có ý thức bảo tồn, phát huy và sử dụng trang phục truyền thống phổ biến hơn trong cuộc sống.
Cùng với việc ban hành các văn bản trên, xác định những người có uy tín, già làng, trưởng bản, các nghệ nhân có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn, trao truyền, phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng, tiêu biểu của các dân tộc thiểu số, hằng năm, Đảng và Nhà nước tổ chức gặp mặt già làng, trưởng bản, những người có uy tín là người dân tộc thiểu số, trao tặng danh hiệu nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú cho các nghệ nhân đã có nhiều cống hiến xuất sắc trong gìn giữ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc, như nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; tri thức dân gian; ngữ văn dân gian; tiếng nói, chữ viết; lễ hội truyền thống...
Ba là, chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch.
Thời gian qua, nhiều địa phương trên cả nước đã khai thác các giá trị văn hóa địa phương, tạo nên những sản phẩm du lịch khá hấp dẫn. Một số mô hình phát triển du lịch đã hình thành và hoạt động khá hiệu quả, như du lịch cộng đồng người Thái ở Bản Mển (xã Thanh Nưa, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) và Bản Áng (xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La); du lịch cộng đồng người Dao ở bản Nậm Đăm (xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang), du lịch cộng đồng của người Lự ở bản Thẳm (huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu)... Vấn đề liên kết vùng, hợp tác giữa các đơn vị, tổ chức và việc ứng dụng khoa học - công nghệ, truyền thông trong hoạt động du lịch ngày càng được chú trọng trong các hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, trong đó phải kể đến tuyến du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc”; “Con đường di sản miền Trung”, “Con đường xanh Tây Nguyên”; “Không gian cồng chiêng Tây Nguyên”; “Du lịch cội nguồn”, “Cội nguồn Tây Bắc”, “Sắc màu vùng cao”; “Du lịch vòng cung Tây Bắc”... Việc triển khai chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch khá hiệu quả, góp phần vừa phục hồi, bảo tồn, phát huy nhiều giá trị văn hóa đặc trưng, tiêu biểu của các vùng, miền trên cả nước, vừa tạo thêm việc làm, tăng thu nhập; qua đó, thúc đẩy quá trình xóa đói, giảm nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Bốn là, chính sách truyền thông đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Một số chính sách liên quan đến công tác truyền thông đã được ban hành, góp phần tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung và chính sách bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng đến với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, như các quyết định của Thủ tướng Chính phủ(5). Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, các đài phát thanh, truyền hình địa phương, các cơ quan báo chí và truyền thông trên cả nước cũng tích cực phủ sóng và nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin, tuyên truyền về công tác dân tộc trên khắp mọi miền Tổ quốc.
Năm là, chính sách về công tác thông tin, thư viện nhằm lưu trữ các văn bản cổ, về hoạt động nghe nhìn, sáng tác văn học, nghệ thuật về chủ đề dân tộc thiểu số.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1558/QĐ-TTg, ngày 5-8-2016, “Phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát huy giá trị tác phẩm văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam””. Đề án đã khảo sát, điều tra, nghiên cứu, sưu tầm, xây dựng hệ thống tư liệu, sáng tạo, xuất bản, phát hành, quảng bá các công trình văn học, nghệ thuật về các dân tộc thiểu số Việt Nam dưới dạng sách in, sách điện tử (Ebook), sách 3D, các phim tài liệu, phim chuyên đề và hệ thống thư viện số.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hệ thống chính sách văn hóa đối với các dân tộc thiểu số còn ít và chưa đồng bộ, chưa phù hợp với đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội. Việc tổ chức thực hiện chính sách còn chậm, chưa thực sự đi vào cuộc sống... Nguồn lực đầu tư hỗ trợ bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số còn hạn chế, sử dụng thiếu hiệu quả. Nhận thức một bộ phận không nhỏ các ngành, các cấp về văn hóa dân tộc thiểu số còn hạn chế. Chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng nên chưa phát huy được hiệu quả tài năng, tâm huyết của đội ngũ trí thức, nghệ nhân dân gian dân tộc thiểu số. Chính sách bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc theo các lĩnh vực cụ thể, chính sách tái tạo môi trường, khôi phục cảnh quan, không gian sinh tồn của đồng bào dân tộc thiểu số chưa được quan tâm định hướng và thể hiện một cách rõ ràng.
Thời gian tới, để tiếp tục hoàn thiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức trong công tác hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số.
Chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số phải gắn với chính sách phát triển quốc gia - dân tộc, chính sách phát triển của vùng, chú ý đến tính toàn diện, tính đặc thù. Quá trình hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách phải xuất phát từ thực tiễn, từ tiềm năng, lợi thế, tính đặc thù của từng vùng, từng địa phương, từng tộc người và phải đặt trong tổng thể sự phát triển quốc gia, dân tộc. Cần có thái độ tôn trọng đối với di sản văn hóa các dân tộc thiểu số. Tăng cường các hoạt động bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu, đặc trưng và phù hợp với điều kiện mới; bảo đảm hài hòa giữa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy, bảo tồn và phát triển, nhất là phát triển bền vững về văn hóa, đặt trong mối quan hệ với kinh tế - xã hội. Cụ thể hóa các nội dung chính sách bảo tồn khẩn cấp văn hóa các dân tộc thiểu số rất ít người (có số dân dưới 10.000 người), các dân tộc thiểu số tại các khu vực tái định cư dự án thủy điện liên thông, tại vùng biên giới, kết nối toàn diện với các chương trình, dự án có liên quan.
Hai là, đổi mới công tác tuyên truyền.
Bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế cùng cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, công tác quản lý nhà nước về văn hóa phải có sự thay đổi trong tư duy và hành động. Bên cạnh việc tiếp tục nâng cao nhận thức về vai trò của văn hóa các dân tộc thiểu số, cần tiếp tục đầu tư xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý văn hóa. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác bảo tồn văn hóa, về công tác quản lý văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là đối với thế hệ trẻ, củng cố niềm tự hào, ý thức và trách nhiệm của mỗi người dân trong gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần xác định công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về hoạt động bảo tồn văn hóa và quản lý văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một nội dung quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng đối với cơ sở. Nhiệm vụ tuyên truyền có thể được lồng ghép với việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu chọn lọc các giá trị văn hóa mới, bài trừ những tập tục cổ hủ; chống âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm gây chia rẽ dân tộc, chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Ba là, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc và quản lý văn hóa dân tộc thiểu số, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số.
Chú trọng công tác tuyển dụng công chức, viên chức được đào tạo đúng chuyên môn, nghiệp vụ; thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức trong tình hình mới đối với đội ngũ làm công tác dân tộc và quản lý văn hóa dân tộc thiểu số. Có cơ chế phát huy vai trò của các nghệ nhân, già làng, trưởng bản trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số; khuyến khích cộng đồng tham gia bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, ngăn chặn nguy cơ làm mai một, sai lệch hoặc thất truyền. Tiếp thu thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong quản lý văn hóa, như số hóa những dữ liệu cốt lõi gắn với bản sắc văn hóa đặc trưng của các dân tộc thiểu số; từ đó, có thể lựa chọn đăng tải trên các phương tiện thông tin và truyền thông để đông đảo người dân có điều kiện tiếp cận, tương tác, tìm hiểu thuận lợi hơn.
Gắn kết công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa và hoạt động du lịch với sự tham gia của các bên liên quan, trong đó vai trò nòng cốt thuộc về các chủ thể văn hóa... để vừa tạo ra sinh kế, góp phần xóa đói, giảm nghèo, vừa tạo ý thức cho chính cộng đồng trong việc lựa chọn, phát huy, trao truyền và thực hành các giá trị văn hóa đặc trưng, tiêu biểu trong đời sống. Đó cũng là cơ sở để văn hóa các dân tộc thiểu số phát triển bền vững. Bên cạnh đó, cần gắn kết giữa xây dựng và phát triển văn hóa, văn nghệ theo hướng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; chú trọng phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn với sản phẩm và dịch vụ văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số.
Bốn là, nhân rộng các mô hình bảo tồn văn hóa; xây dựng các mô hình mới về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống phù hợp với thực tiễn của các địa phương.
Xác định làng, bản, buôn, sóc, ấp... là địa bàn cơ sở để bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống và xây dựng đời sống văn hóa mới, trong đó chú trọng phát huy vai trò người dân - chủ thể sáng tạo và hưởng thụ văn hóa - những người có khả năng nuôi dưỡng và phát huy tốt nhất các giá trị văn hóa truyền thống với nòng cốt là các già làng, các nghệ nhân và trí thức là người dân tộc thiểu số. Thực hiện các mô hình bảo tồn văn hóa có hiệu quả, phổ biến và nhân rộng các mô hình bảo tồn văn hóa được triển khai tốt, đồng thời đổi mới, bổ sung các mô hình bảo tồn các giá trị văn hóa phù hợp với thực tiễn của địa phương. Tiếp tục triển khai thực hiện ngày hội văn hóa các dân tộc thiểu số theo vùng, ngày hội đại đoàn kết dân tộc tại các địa phương; xây dựng mô hình bảo tàng văn hóa tư nhân; đưa mô hình truyền dạy văn hóa dân tộc vào các trường học; gắn tổ chức truyền dạy, phát triển nghề thủ công truyền thống, điêu khắc dân gian với các cơ quan, tổ chức phát triển du lịch, các trung tâm xúc tiến việc làm và tiêu thụ sản phẩm.
Năm là, tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm ổn định đời sống cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Cùng với phát triển kinh tế, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương cần quan tâm bố trí đủ nguồn lực cho các chương trình, dự án, đề án, nghiên cứu khoa học về bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số và nâng cao hiệu quả công tác quản lý văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số; trong đó có chính sách hỗ trợ, phục dựng các lễ hội truyền thống, các sản phẩm văn hóa truyền thống. Tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ có công tạo dựng các công trình, sản phẩm văn hóa; phổ biến, truyền dạy nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hỗ trợ các mô hình văn hóa đặc sắc, mô hình điểm ở các bản, làng; hỗ trợ việc bảo tồn tiếng nói và chữ viết. Để tăng cường nguồn lực cho phát triển văn hóa, chú trọng đến vấn đề xã hội hóa các hoạt động văn hóa với sự tham gia và giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cần chú ý đến môi trường, không gian phù hợp để đồng bào các dân tộc thiểu số hoạt động, phát triển và sáng tạo văn hóa. Phát huy vai trò chủ động, trách nhiệm và tính phản biện trong việc thực hiện chính sách văn hóa. Tăng cường sự tham gia, tư vấn của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia trong lĩnh vực văn hóa để kịp thời kiến nghị, chỉnh sửa những bất cập của một số chính sách cho phù hợp với thực tiễn./.
Tạp chí Cộng Sản
Có thể là hình ảnh về 3 người