Thứ Ba, 15 tháng 8, 2023

XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH TRƯỚC SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong 93 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Thực tiễn đó cũng khẳng định một cách chắn chắn: Ở Việt Nam, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi đến những thắng lợi to lớn trong thời gian vừa qua.
Thời gian qua, với dã tâm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch đã đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc, trong đó tập trung xuyên tạc bản chất giai cấp công nhân của Đảng; nền tảng tư tưởng; chủ trương, đường lối và các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng...
Thực tế đó tiếp tục đặt ra yêu cầu cần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Theo đó, cần chú trọng một số nội dung như sau:
Thứ nhất, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng.
Tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch đã thông qua nhiều phương thức nhằm xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân của Đảng với lập luận về thực trạng (số lượng và trình độ) hạn chế của giai cấp công nhân và cho rằng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay chỉ là một nhóm lợi ích, không còn đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân và dân tộc Việt Nam.
Trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng cần phải giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, coi đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tuy nhiên, cần nhận thức rõ rằng, bản chất giai cấp công nhân của Đảng không chỉ phụ thuộc vào số lượng và trình độ của giai cấp công nhân trong Đảng mà chủ yếu phụ thuộc vào tôn chỉ, mục đích của Đảng là tôn chỉ, mục đích của giai cấp công nhân; nền tảng tư tưởng của Đảng là nền tảng tư tưởng của giai cấp công nhân, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của giai cấp công nhân... Do đó, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng, chúng ta phải kiên định con đường, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định, vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới; xây dựng đường lối, chủ trương và các chính sách đúng đắn, phù hợp; giữ vững nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, quan điểm, ý thức tổ chức của giai cấp công nhân; xây dựng đội ngũ cán bộ và đảng viên theo quan điểm của giai cấp công nhân; củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; chăm lo đời sống, thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân; trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản của giai cấp công nhân…
Thứ hai, xây dựng đường lối, chính sách lãnh đạo đúng đắn.
Với tư cách đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo toàn diện xã hội thông qua đường lối, chính sách phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội... Năng lực cầm quyền của Đảng là sự tổng hòa của đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh chính trị để giải quyết các yêu cầu, nhiệm vụ do tình hình đất nước đặt ra nhằm đạt được mục tiêu phát triển. Do vậy, việc xây dựng đường lối, chính sách đúng đắn, khoa học của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Trước việc các thế lực thù địch “khuyên” Việt Nam cần từ bỏ con đường mà Đảng và dân tộc đã lựa chọn hơn 93 năm qua - đó là “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, cần tiếp tục khẳng định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng đắn, con đường đó được xây dựng trên nền tảng lý luận khoa học là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phù hợp với thực cách mạng Việt Nam; đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo nhân dân Việt Nam; phù hợp với quy luật và xu thế vận động, phát triển của thế giới.
Tuy nhiên, đường lối đó phải được cụ thể hoá ở mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế trong từng thời kỳ, từng giai đoạn nhất định. Do đó, Đảng phải luôn dựa trên những điều kiện thực tế của đất nước, tình hình trên thế giới, phải dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng đường lối, chính sách trong từng thời kỳ; đặc biệt, trù bị những tình huống bất ngờ xảy ra; không bảo thủ, trì trệ nhưng cũng không được chủ quan, duy ý chí; vừa phải kịp thời nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, vừa phải tính toán từng bước đi thận trọng trong các thời kỳ, giai đoạn cụ thể. Từ vị trí của đảng cầm quyền và để chống nguy cơ sai lầm về đường lối, thời gian qua, Đảng Cộng sản Việt Nam cần tiếp tục thực hiện quan điểm thực tiễn cũng như phương châm “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, xem xét kỹ lưỡng những ưu điểm, khuyết điểm…”(1). Đó là cơ sở quan trọng cho những quyết sách đúng đắn, khoa học.
Muốn lãnh đạo đúng, theo Hồ Chí Minh còn phải “tổ chức thi hành cho đúng”, “kế hoạch một, biện pháp mười, quyết tâm phải hai, ba mươi” bởi chương trình, kế hoạch có hay đến mấy nhưng tổ chức thi hành không đúng, thiếu biện pháp thích hợp, cán bộ, đảng viên thiếu quyết tâm, hoặc không biết biến quyết tâm của lãnh đạo thành quyết tâm của nhân dân thì mọi chương trình, kế hoạch đều không trở thành hiện thực. Khi đường lối đúng đắn, phù hợp của Đảng đem lại hiệu quả trong thực tiễn thì uy tín của Đảng sẽ được nâng cao, niềm tin của nhân dân vào Đảng sẽ củng cố và đó cũng là minh chứng hùng hồn đánh bại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Thứ ba, đẩy mạnh nghiên cứu và học tập lý luận chính trị .
Trong bối cảnh đẩy mạnh công cuộc đổi mới nhưng chưa có tiền lệ, nhiều vấn đề mới nảy sinh trong quá trình phát triển, cùng với đó là những căn bệnh khó chữa như coi thường lý luận, lười học lý luận làm cho một số cán bộ, đảng viên thiếu nhận thức đúng đắn dẫn đến hoang mang, dạo động, thiếu niềm tin... Do đó, cần đẩy mạnh việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn nhằm góp phần cung cấp luận cứ cho việc hoạch định chủ trương, đường lối, đồng thời tạo niềm tin vững chắc cho cán bộ đảng viên và nhân dân.
Trong lĩnh vực giáo dục lý luận chính trị, cần khắc phục sự lạc hậu, trùng lặp trong nội dung của các chương trình, sự đơn điệu trong phương pháp giảng dạy. Thực hiện cải cách chương trình giáo dục lý luận chính trị theo mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng, đảm bảo truyền thụ có hiệu quả kiến thức lý luận cơ bản, hệ thống, đồng thời sát hợp và gắn với thực tiễn Việt Nam. Triển khai mạnh mẽ nhiệm vụ đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ khoa học, chính trị, phẩm chất đạo đức của giảng viên các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là một giải pháp quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị. Thay đổi cách đánh giá chất lượng đào tạo, đảm bảo thực chất, chống chủ nghĩa hình thức và bệnh thành tích, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo các môn lý luận chính trị hiện nay. Bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị giỏi, có phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn cao. Chúng ta phải nhanh chóng khắc phục được những hạn chế, bất cập như thiếu về số lượng, sự hụt hẫng giữa các thế hệ, sự giảm sút chất lượng khoa học, sự hạn chế trong hiểu biết thực tế… của đội ngũ này
Sức sống của tư tưởng không phải là khả năng tự thân mà là từ con người, do con người và trong xã hội. Để góp phần đảm bảo tính khoa học trong lãnh đạo, cầm quyền, chống lại các luận điệu xuyên tạc, Đảng phải tổ chức nghiên cứu lý luận để làm rõ và khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những vấn đề cần tiếp tục bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn đất nước và thời đại; đẩy mạnh nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với triển khai sâu rộng, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đặc biệt, trong khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần phân tích sự trung thành về nguyên tắc và những sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh so với chủ nghĩa Mác – Lênin nhằm lật ngược quan điểm xuyên tạc khi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh không còn giá trị trong giai đoạn hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh là “vay mượn”, là “ảo tưởng” , hoặc tách tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin…
Cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân về tình hình, nhiệm vụ cách mạng và hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế. Khẳng định “lẽ phải của chúng ta” để “vững bước trên con đường đã chọn”. Nhận diện, phát hiện và giải quyết kịp thời, triệt để những nhận thức sai lầm từ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Bởi những thông tin xấu và độc hại nếu không được nhận thức đầy đủ, sâu sắc và tỉnh táo thì có thể làm cho nội bộ Đảng xuất hiện những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”…
Thứ tư, tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng.
Một trong những luận điệu của các thế lực thù địch đó là vu cáo, xuyên tạc rằng, chế độ và thể chế chính trị một đảng duy nhất cầm quyền chính là mảnh đất tốt cho sự nảy sinh, dung dưỡng và phát triển tư tưởng và hành vi chuyên quyền, độc đoán. Chúng xuyên tạc các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng nhằm chia rẽ nội bộ Đảng, cho rằng, “thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ chỉ dẫn đến tập trung quan liêu, độc tài, mất dân chủ!”.
Đảng phải nghiêm túc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoat Đảng, cần phải mở rộng và phát huy dân chủ, đánh giá đúng, tôn trọng và bảo vệ quyền dân chủ của mỗi cán bộ, đảng viên, tạo không khí cởi mở, chân thành để mọi cán bộ, đảng viên bày tỏ chính kiến, tâm tư, nguyện vọng. Người đứng đầu tổ chức đảng cần lắng nghe, cân nhắc với tinh thần thật sự cầu thị những ý kiến góp ý của nhân dân và của cán bộ, đảng viên cấp dưới, cân nhắc, xem xét để tìm ra những vấn đề đúng đắn, khoa học, tránh mắc phải những sai lầm, khuyết điểm do sự độc đoán, chuyên quyền sinh ra.
Tăng cường đối thoại trong Đảng là những điều kiện quan trọng và cần thiết. Qua đó, nhiều vướng mắc của cán bộ, đảng viên được giải đáp trực tiếp và kịp thời, khó khăn được tháo gỡ, bức xúc trong tư tưởng cán bộ, đảng viên được giải tỏa. Đây cũng là dịp để cán bộ lãnh đạo cấp trên và cán bộ, đảng viên hiểu nhau, chia sẻ những khó khăn và thuận lợi, tạo được không khí đoàn kết, phấn khởi, tạo sự ổn định trong tập thể. Cùng với phát huy dân chủ là kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, chống đặc quyền, đặc lợi trong Đảng, làm lành mạnh các quan hệ trong Đảng và trong xã hội.
Tự phê bình và phê bình không những là nghệ thuật, văn hóa trong Đảng, mà còn là quy luật phát triển của Đảng, là biện pháp hữu hiệu để xây dựng Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức và thực hành hiệu quả việc tự phê bình và phê bình bằng những hình thức cụ thể, thiết thực, hiệu quả, tuân thủ tính mục đích và nguyên tắc trong tự phê bình và phê bình.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ trong nhân dân, do nhân dân xây dựng, ủng hộ, giúp đỡ và bảo vệ. Đảng mạnh ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm tròn được sứ mệnh của mình.
Thứ năm, thực hiện tốt công tác cán bộ.
Thời gian vừa qua, các thế lực thù địch lợi dụng một số cán bộ cố ý làm trái các quy định của pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng và việc xử lý đôi khi còn chưa kịp thời để tung ra những luận điệu chống phá Đảng, tập trung hướng vào nội bộ, tìm mọi hình thức tinh vi hoặc trắng trợn, công khai hoặc bí mật, ráo riết làm cho nội bộ mất ổn định, gieo rắc sự ngờ vực, nghi kỵ, giảm sút lòng tin hòng gây chia rẽ nội bộ.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định, phải: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước...; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài... Đồng thời, có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”(2). Công tác cán bộ của Đảng phải được làm tốt ngay từ khâu lựa chọn. Đó là một mắt xích quan trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Tiêu chuẩn để lựa chọn cán bộ, đặc biệt là những người cán bộ đảm nhận những vị trí quan trong trong cơ quan Đảng, Nhà nước cần đảm bảo tính toàn diện về phẩm chất, bản lĩnh chính trị, trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, khả năng đoàn kết, tập hợp quần chúng, tác phong làm việc...
Trên cơ sở đảm bảo yêu cầu, tiêu chuẩn, việc lựa chọn cán bộ cần phải kiên quyết không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ tiêu chuẩn; đồng thời không để lọt vào cơ quan lãnh đạo của Đảng những người có một trong các khuyết điểm như: Bản lĩnh chính trị không vững vàng; không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng; có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, vận động cho cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán; không công bằng, công minh trong đánh giá, sử dụng cán bộ, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình; để nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng hoặc để xảy ra tham nhũng, thất thoát, vụ việc tiêu cực lớn ở địa phương, cơ quan, đơn vị; không chịu nghiên cứu học hỏi; bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm; ý thức kỷ luật kém, không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức, uy tín giảm sút; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân hoặc vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính; vi phạm quy định về lịch sử chính trị hoặc chính trị hiện nay(3).
Mặt khác, việc lựa chọn cán bộ phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, thật sự trong sáng, khách quan, đặc biệt phải “có con mắt tinh đời” trong việc đánh giá, giới thiệu, lựa chọn; lấy tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và hiệu quả công tác, uy tín của bản thân và gia đình làm thước đo chủ yếu.
Đánh giá cán bộ là khâu rất quan trọng để phát huy tính tích cực của cán bộ, đảng viên. Đánh giá đúng sẽ bố trí, sử dụng đúng, phát huy được khả năng, sở trường của cán bộ, sẽ tạo cho cán bộ, đảng viên phấn khởi, tin tưởng và tích cực trong công tác. Ngược lại, cán bộ, đảng viên không được đánh giá đúng, không được tôn trọng, không được bảo vệ sẽ xa lánh tổ chức, tiêu cực trong hoạt động chính trị, nghĩ khác, làm khác, thậm chí dẫn đến những vấn đề về tư tưởng như: chán nản, tự ty, bi quan, tiêu cực… là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, mất đoàn kết, tổn hại cho tổ chức hoặc dễ bị các phần tử cơ hội chính trị lợi dụng lôi kéo, mua chuộc.
Chèo lái con thuyền cách mạng, gánh trên vai trọng trách lịch sử mà Đảng và nhân dân giao phó, Đảng phải luôn được xây dựng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được đòi hỏi và yêu cầu đặt ra. Đó chính là sức mạnh nội sinh, những “kháng thể” mạnh mẽ của Đảng trước sự chống phá điên cuồng của các thế lực thì địch. Đó cũng chính là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng.
Bên cạnh cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những cán bộ, đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân chúng ta cần xây dựng chính sách đãi ngộ và chính sách tiền lương công bằng, hợp lý, bảo đảm cho cán bộ, công chức đủ sống và sống tốt bằng đồng lương chân chính. Đời sống được đảm bảo, quyền lợi vật chất chính đáng được bảo vệ; quyền dân chủ được phát huy, đời sống tinh thần được thỏa mãn... là điều kiện để mỗi người cán bộ, đảng viên gắn bó với công việc, tập thể và xã hội, yên tâm, vững vàng thực hiện nhiệm vụ được giao./.
Tạp chí Tuyên giáo
Có thể là hình ảnh về 8 người

DIỄN BIẾN CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

 


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài, kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn, đầy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới lần thứ II bước vào giai đoạn quyết định, quân đội Xô Viết liên tiếp giành thắng lợi quyết định trên chiến trường châu Âu, giải phóng một loạt nước và tiến thẳng vào sào huyệt của phát xít Đức tại Béc lin. Ngày 9/5/1945, phát xít Đức phải đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở châu Âu. Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật và chỉ sau 1 tuần đã tiêu diệt đội quân Quan Đông tinh nhuệ của Nhật, đẩy phát xít Nhật vào thế thất bại không thể tránh khỏi. Ngày 14/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc.

Trong nước, trải qua nhiều thử thách cam go và các cuộc diễn tập quan trọng như: Cao trào cách mạng 1930 - 1931, phong trào dân chủ 1936 - 1939, phong trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945, phong trào cách mạng ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Trước tình hình quốc tế và trong nước có nhiều thuận lợi, Đảng ta đã có những quyết sách nhằm đẩy mạnh công tác chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 9/3/1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp. Ngay trong đêm đó, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng tại làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) quyết định phát động phong trào kháng Nhật cứu nước. Ngày 12/3/1945, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng và ra Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Chỉ thị quan trọng này đã thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, chủ động và sáng tạo của Đảng, chỉ rõ phương hướng và biện pháp hành động cách mạng đúng đắn trong cao trào kháng Nhật, cứu nước, mở đường đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi.

Từ ngày 15/4 đến ngày 20/4/1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định phát triển lực lượng vũ trang, nửa vũ trang và thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân, xây dựng 7 chiến khu chống Nhật, cứu nước. Từ tháng 4/1945 trở đi, cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra mạnh mẽ. Phong trào đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần đã diễn ra ở nhiều vùng. Các lực lượng cách mạng đã phối hợp với quần chúng giải phóng được một loạt các xã, châu, huyện thuộc các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Quảng Ngãi, Bắc Giang.

Trên cơ sở đánh giá thời cơ và tình hình cách mạng trong nước đã phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào từ ngày 13/8 đến ngày 15/8/1945 đã đi đến kết luận: "Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi". Vì vậy, phải "Kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội", khẩn trương "Đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay thôn quê, thành lập ủy ban nhân dân ở những nơi làm chủ", tất cả vì mục tiêu "Việt Nam hoàn toàn độc lập".

Ngày 13/8/1945, ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc thành lập, ra Quân lệnh số 1: Hiệu triệu toàn dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân tại Tân Trào đã thông qua "10 chính sách lớn của Việt Minh", thông qua "Lệnh Tổng khởi nghĩa", quyết định Quốc kỳ nền đỏ sao vàng, Quốc ca và bầu ra ủy ban Dân tộc Giải phóng Trung ương do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi nhân dân cả nước tổng khởi nghĩa, trong đó chỉ rõ: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt vùng dậy, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền. Từ ngày 14/8 đến ngày 18/8, cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã: Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An,... Ngày 19/8, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và ở Bắc Kạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Lai, Bạc Liêu... Ngày 25/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn - Gia Định, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre... Ở Côn Đảo, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo đã lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền.

Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lần đầu tiên trong lịch sử, chính quyền trong cả nước thuộc về nhân dân. Ngày 02/9/1945, tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), trước hàng chục vạn nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Từ đó, ngày 2/9 là Ngày Quốc khánh nước ta./.

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG


Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vừa là nhiệm vụ thường xuyên, vừa là yêu cầu cấp bách, đòi hỏi tinh thần trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Nêu cao vai trò tiền phong, xung kích của tuổi trẻ, thanh niên Việt Nam đã và đang tích cực triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với nhiều giải pháp sáng tạo, đồng bộ, hiệu quả.
Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Trong giai đoạn hiện nay, quán triệt, thực hiện tốt Nghị quyết số 35-NQ/TW là trách nhiệm chung của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, trong đó có lực lượng thanh niên, với vai trò là những chủ nhân tương lai của đất nước.
Thanh niên là đội dự bị tin cậy của Đảng, trực tiếp tham gia thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, thanh niên là lực lượng có vai trò quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định rõ vị trí, vai trò và đặt niềm tin vào thế hệ trẻ. Người khẳng định rằng: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, mạnh hay yếu, một phần lớn là do các thanh niên” (1). Với vai trò, nhiệm vụ kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đòi hỏi khách quan đặt ra hiện nay là cần không ngừng phát huy vai trò của lực lượng thanh niên trong bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch.
Những năm gần đây, tình hình thế giới, khu vực đã liên tục có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng những tồn tại, bất cập trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội của Việt Nam, nhằm xuyên tạc tình hình thực tế của nước ta; cổ súy, kích động những tư tưởng, hành động sai trái, chống đối, phá hoại sự ổn định, cản trở sự phát triển của đất nước. Chúng còn ra sức lôi kéo, tập hợp những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong và ngoài nước, tìm cách tạo cớ, kêu gọi các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đặc biệt, các thế lực thù địch đã tận dụng tối đa phương tiện truyền thông, như mạng xã hội cùng với hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở hải ngoại để phát tán các thông tin sai lệch, bóp méo tình hình xã hội của Việt Nam; đăng tải nhiều video clip xấu, độc lên các trang mạng xã hội như Facebook, Youtube..., Các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm đó đã và đang tác động không nhỏ đến nhận thức, tâm lý, thái độ của một bộ phận nhân dân, trong đó có lực lượng thanh niên.
Thực tế thời gian qua, cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị đã coi trọng và phát huy có hiệu quả vai trò của thanh niên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của lực lượng thanh niên đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các cấp bộ Đoàn từ Trung ương đến địa phương đã có nhiều hoạt động đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ. Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trong thanh niên được quan tâm với nhiều hình thức đa dạng, hiệu quả như: các cuộc thi Olympic các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các chương trình cập nhật kiến thức, đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luận chính trị; các chương trình thông tin, thời sự... Qua đó, giúp cán bộ, đoàn viên thanh niên có nhận thức đúng, trách nhiệm cao trong phản bác các luận điệu sai trái, phê phán những biểu hiện tiêu cực, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tuy nhiên, trình độ nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của một bộ phận thanh niên vẫn còn những bất cập, hạn chế; nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chưa đầy đủ, sâu sắc. Nhiều thanh niên tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chưa thường xuyên, liên tục, còn bị động. Ở một số địa phương, có lúc, có nơi việc cung cấp thông tin chính thống cho thanh niên chưa kịp thời, chưa đầy đủ; nhiều bài viết đấu tranh, phản bác chưa đủ sức thuyết phục về khoa học, lý luận, thiếu sức chiến đấu. Không ít bạn trẻ còn hạn chế trong khai thác, sử dụng công nghệ thông tin, nhất là sử dụng công nghệ cao trong đấu tranh trên không gian mạng,…
Để tiếp tục phát huy vai trò của thanh niên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, vấn đề quan trọng hàng đầu là cần tăng cường công tác bồi dưỡng, cập nhật kiến thức lý luận chính trị, quán triệt, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với lực lượng thanh niên. Bên cạnh những phương pháp tuyên truyền truyền thống, cần tăng cường đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục thông qua các nền tảng công nghệ số như xây dựng Cổng thông tin điện tử học tập chính trị cho đoàn viên thanh niên; tổ chức các hội nghị trực tuyến học tập lý luận chính trị, quán triệt các Nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường tổ chức các cuộc thi trực tuyến tìm hiểu về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tìm hiểu về Đảng Cộng sản Việt Nam, về Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, truyền thống lịch sử dân tộc nhằm thu hút lượng đoàn viên, thanh thiếu nhi tham gia. Thực tế cho thấy các hoạt động giáo dục chính trị này đã gần gũi với thanh niên hơn, được thanh niên đón nhận và tham gia nhiều hơn, từ đó góp phần tăng cường “sức đề kháng" của thanh niên trước các thông tin xấu, độc và âm mưu của các thế lực thù địch.
Cùng với đó, tổ chức Đoàn các cấp phải chú trọng truyền tải những thông tin tích cực tới cán bộ, đoàn viên, thanh niên, đặc biệt trên các nền tảng số, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Việc sưu tầm những tấm gương người tốt việc tốt, các câu chuyện đẹp và nhân văn đưa lên các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, Instagram,… đã và đang nhận được rất nhiều những phản hồi tích cực của người dùng, nhất là của thanh thiếu niên. Qua đó, giúp những yếu tố tích cực, cái đẹp tự lan tỏa trong đời sống xã hội.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc nghiên cứu, học tập các chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chú trọng phổ biến, tuyên truyền trên internet, mạng xã hội và các kênh truyền thông khác những nội dung liên quan đến an ninh truyền thông, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhận diện kịp thời âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch... Tăng cường các hoạt động hội thảo, tọa đàm, chia sẻ kinh nghiệm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các tổ chức Đoàn và lực lượng thanh niên.
Thường xuyên đổi mới các hình thức tuyên truyền theo hướng sáng tạo, linh hoạt gắn với đặc điểm thanh niên ở mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi vùng miền để thu hút sự quan tâm, chú ý của thanh niên. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông; vận dụng tổng hợp các hình thức tuyên truyền, kết hợp chặt chẽ với đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng, tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền trên internet, các mạng xã hội và các kênh truyền thông khác, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch...
ThS Phạm Hồng Hải
Có thể là hình ảnh về 6 người và văn bản

ĐẠI HỘI XIII - NỬA NHIỆM KỲ NHÌN LẠI


Tính đến tháng 8 này, chúng ta đã đi được hơn nửa chặng đường thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đúng là thời gian trôi đi nhanh thật! Mới ngày nào các cấp ủy đảng từ Trung ương đến các địa phương, cơ sở tổ chức học tập, triển khai thực hiện Nghị quyết XIII mà đến thời điểm này đã đánh giá kết quả thực hiện qua nửa nhiệm kỳ.
Có thể nói, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, đất nước ta đứng trước rất nhiều khó khăn, có những khó khăn chưa có tiền lệ. Đại dịch COVID-19 kéo dài gây hậu quả nặng nề, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, cuộc xung đột giữa Nga và Ukraina diễn biến phức tạp; hầu hết các chuỗi cung ứng bị đứt gãy; lạm phát tăng cao, các nước thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất dẫn đến suy giảm tăng trưởng và gia tăng rủi ro trên các thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản quốc tế... tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến an ninh chính trị, kinh tế, xã hội trên phạm vi toàn cầu.
Ở trong nước, dưới tác động của tình hình thế giới và hậu quả nặng nề của đại dịch COVID-19, biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ,... kinh tế - xã hội nước ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, rất gay gắt, nặng nề; hầu hết các ngành, các lĩnh vực đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng; vừa phải tập trung giải quyết những vấn đề phức tạp mới phát sinh, vừa phải xử lý các yếu kém, tồn đọng kéo dài từ nhiều năm trước để lại...
Trong bối cảnh có quá nhiều khó khăn, thách thức, với ý chí, quyết tâm cao và tinh thần "Tiền hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng", "Dọc ngang thông suốt", Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Cụ thể, Đảng ta vẫn quyết tâm tổ chức nhiều hội nghị quan trọng, có tính chất toàn quốc. Đó là Hội nghị của Chính phủ nhiệm kỳ 2021 - 2026 với các địa phương, nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình hành động của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên; Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính; Hội nghị toàn quốc về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Hội nghị đối ngoại toàn quốc và Hội nghị Văn hóa toàn quốc.
Điểm nhấn quan trọng khác chính là 6 hội nghị toàn quốc về 6 lĩnh vực đã được tổ chức ngay trong năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Ngay sau đó, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã ban hành 6 Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng chiến lược trên cả nước với thông điệp rất rõ nét là tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong nhận thức và hành động phát triển nhanh và bền vững cho tương xứng với tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương trong vùng.
Đáng chú ý, trong nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành 36 Nghị quyết và 54 Kết luận, trong đó có nhiều nghị quyết, kết luận liên quan đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống dịch COVID-19… Những kết luận này đã lãnh đạo, chỉ đạo để xử lý những vấn đề cốt lõi về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, từ đó thay đổi tư duy, cách tiếp cận trong công tác cán bộ, công tác phòng chống tham nhũng, phục hồi phát triển kinh tế...
Điểm đặc biệt của các Nghị quyết, chỉ thị được ban hành trong nhiệm kỳ này là rất nhanh đến với cơ sở. Bởi trong những nhiệm kỳ trước, Nghị quyết sau khi được Trung ương quán triệt xong thì các cấp mới mời đội ngũ báo cáo viên đi truyền đạt từ cấp tỉnh, thành phố xuống tận cơ sở. Còn như hiện nay, bằng các hội nghị trực tuyến từ trung ương đến cơ sở, nghị quyết đã đến được tới từng đảng viên trong cả nước một cách đồng thời. Đây là một điểm mới, tạo nên tính đồng bộ và toàn diện để nhanh chóng đưa nghị quyết đi vào cuộc sống.
Vì vậy, ở nửa đầu nhiệm kỳ này, nhiều lĩnh vực công tác của Đảng đã được triển khai kịp thời, thực hiện nghiêm túc, kiên trì, kiên quyết, như công tác tổ chức-cán bộ, công tác kiểm tra giám sát… Một trong những kết quả về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đánh giá là: Chúng ta đã tạo ra được sự chuyển biến rất tích cực, với nhiều dấu ấn nổi bật trong việc kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn hơn giữa “xây” và “chống”, toàn diện hơn trên các mặt công tác xây dựng Đảng. Đặc biệt, công tác cán bộ tiếp tục được coi trọng hơn, đúng mức hơn với vị trí, vai trò là “then chốt của then chốt”; có nhiều cách làm, quy định mới, hiệu quả cao hơn, gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung...
Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có bước tiến đột phá, đạt nhiều kết quả quan trọng, toàn diện, tạo hiệu ứng tích cực được cán bộ, đảng viên và Nhân dân đánh giá cao. Theo báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 5/2022, đã khởi tố, điều tra gần 4.200 vụ/7.572 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế (trong đó, các tội về tham nhũng đã khởi tố, điều tra 455 vụ/1.054 bị can). Riêng Ban Chỉ đạo đã đưa 977 vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo ở 3 cấp độ; trong đó Ban Chỉ đạo trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 180 vụ án, 133 vụ việc.
Từ tháng 1 đến tháng 5/2023, các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 1.099 vụ/2.411 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế; khởi tố mới 242 vụ án/864 bị can về tội tham nhũng (tăng gần 2 lần so cùng kỳ năm 2022).
Ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được thành lập ở cả 63 tỉnh, thành phố trong nhiệm kỳ này. Đến tháng 4/2023, 63 Ban chỉ đạo đã đưa 327 vụ án, 179 vụ việc tham nhũng, tiêu cực, phức tạp được dư luận quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo, xét xử…
Cùng với công tác xây dựng Đảng, kinh tế - xã hội là một trong những điểm nhấn quan trọng nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng. Điển hình như Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 07 ngày 1/6/2021 về một số nhiệm vụ trọng tâm phòng, chống dịch COVID-19 và phát triển kinh tế - xã hội; Kết luận 24 tháng 12/2021 về Chương trình Phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Ban Chấp hành Trung ương ban hành Kết luận 20 tháng 10/2022 để đánh giá tình hình kinh tế xã hội 2021 - 2022 và đề ra các định hướng, chủ trương phòng, chống dịch COVID-19 cũng như những định hướng lớn về chương trình phục hồi, phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó, Quốc hội, Chính phủ cụ thể hóa thành Nghị quyết, các chương trình, kế hoạch phục hồi, phát triển kinh tế.
Chính vì thế, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng kinh tế vẫn đạt được những kết quả tích cực. Việt Nam là một điểm sáng "trong bức tranh xám màu" của kinh tế toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế năm 2021 đạt 2,56%, trong khi nhiều nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng âm; tăng trưởng kinh tế năm 2022 đạt 8,02%, cao hơn nhiều so với kế hoạch 6 - 6,5%, và là mức cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới; tăng trưởng GDP trong 6 tháng năm 2023 tuy chỉ đạt 3,72% so với cùng kỳ, nhưng theo dự báo của nhiều tổ chức quốc tế, cả năm vẫn có thể đạt từ 6 đến 6,5%....
Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, sản xuất, đời sống của người dân, người lao động trên cả nước gặp nhiều khó khăn. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, tổ chức thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác an sinh xã hội, đảm bảo an sinh đến từng người dân. 104.000 tỷ đồng là số tiền được giải ngân để hỗ trợ an sinh cho gần 508 triệu người dân, người lao động và 1,4 triệu người sử dụng lao động trong hơn 2 năm qua…
Đến thời điểm này, chúng ta có thể khẳng định rằng, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cùng với các Nghị quyết, chỉ thị của Trung ương đã đi vào cuộc sống như một lẽ tự nhiên, bởi tính đúng đắn, bởi mục tiêu được xác định phù hợp với điều kiện thực tế, với “ý Đảng hợp với lòng dân”. Để thực hiện nghị quyết chúng ta đã có những kinh nghiệm quý trong việc tuyên truyền, thể chế hóa, xây dựng chương trình hành động, tổ chức thực hiện, kiểm tra, sơ kết, tổng kết…
Kỳ tích không đến một cách tự nhiên. Đó là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự quyết liệt điều hành của Chính phủ và sự đồng hành của Quốc hội đổi mới và các tầng lớp Nhân dân.
Chúng ta tin tưởng rằng, từ kết quả của nửa nhiệm kỳ đầu Đại hội XIII sẽ tiếp tục là động lực để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đoàn kết, phấn đấu với quyết tâm và nỗ lực cao hơn nữa; năng động, sáng tạo hơn nữa để sáng suốt nắm bắt mọi thời cơ, thuận lợi; vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức; hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra cho cả nhiệm kỳ khoá XIII, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển, cường thịnh; ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Bác Hồ muôn vàn kính yêu hằng mong đợi như lời phát biểu bế mạc Hội nghị giữa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng./.
Báo ĐCSVN
Có thể là hình ảnh về cái bục và văn bản cho biết 'BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG DÀNG CỌNG SAN VIỆT NAM HỘI NGHỊ GIỮA NHIỆM KÝ KHOÁ XIII'

NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945

 


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài, kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn, đầy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự thành công nhanh chóng của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có nhiều nguyên do, trong đó nguyên do quan trọng và quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và khéo léo của Đảng. Đảng đã áp dụng và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin một cách đúng đắn, độc lập, tự chủ và sáng tạo trong điều kiện cụ thể của nước ta. Đảng đã sử dụng phương pháp, chiến lược và chiến thuật cách mạng linh hoạt và phù hợp, nhận thức được thời cơ, chủ động nắm bắt thời cơ và quyết tâm tiến hành khởi nghĩa để giành chính quyền trên toàn quốc.

Sự thành công của Cách mạng Tháng Tám còn phụ thuộc vào tinh thần yêu nước, đoàn kết và ý chí quật cường của các tầng lớp nhân dân Việt Nam. Nhân dân đã không chịu sống mãi trong tình trạng bị áp bức và làm nô lệ, mà chung lòng đi theo Đảng và được Đảng lãnh đạo thông qua các cuộc nổi dậy vũ trang. Nhân dân đã quyết tâm nổi dậy để giành lại độc lập cho dân tộc sau 87 năm đấu tranh gian khổ và dũng cảm, chống lại kẻ thù dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhiều người dân và chiến sĩ đã không tiếc máu xương và hy sinh hết mình vì mục tiêu độc lập dân tộc.

Cách mạng Tháng Tám được tiến hành trong hoàn cảnh quốc tế có một số lợi thế nhất định. Chủ nghĩa phát xít ở Đức, Ý và Nhật đã bị đánh bại và các phong trào giải phóng của các dân tộc bị áp bức và các lực lượng tiến bộ trên thế giới đang phát triển mạnh.

Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã thành công vang dội, đánh dấu sự chiến thắng lớn đầu tiên của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, mở ra một giai đoạn quan trọng trong lịch sử dân tộc. Quyền lực đã được trao lại cho nhân dân, và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - một quốc gia công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đồng thời tiễn biệt chế độ quân chủ phong kiến và đô hộ của thực dân, phát xít trong suốt hơn 80 năm. Người dân Việt Nam đã trở thành người dân một quốc gia độc lập, tự quyết và nắm giữ vận mệnh của chính mình. Việt Nam đã chuyển từ một quốc gia thuộc địa nửa phong kiến thành một quốc gia độc lập, tự do và dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành Đảng cầm quyền, và quốc gia, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam đã bước vào một thời kỳ mới - thời kỳ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Về ý nghĩa lịch sử của sự kiện Cách mạng Tháng Tám.

Cách mạng Tháng Tám là sự kết hợp sáng tạo giữa chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng của Hồ Chí Minh, sự định hướng cách mạng của Đảng ta đã liên kết giữa yếu tố độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, và kết nối sức mạnh của dân tộc với xu thế thời đại. Đây là thành công đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin tại một nước thuộc địa ở châu Á. Đây cũng là sự phát triển tất yếu trong lịch sử dân tộc sau hàng nghìn năm đấu tranh, là đỉnh cao của ý chí quật cường và sức mạnh cộng đồng, là sự kết hợp giữa trí tuệ của dân tộc và chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với xu hướng thời đại nâng cao hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, nâng cao độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của Cuộc Cách mạng Tháng Tám đã truyền cảm hứng cho phong trào giải phóng dân tộc trong các nước bị chủ nghĩa đế quốc áp bức và thống trị. Nó đã khẳng định rằng, trong bối cảnh của cuộc cách mạng vô sản đang lan tràn, một cuộc cách mạng được lãnh đạo bởi một đảng của giai cấp công nhân không chỉ có thể thành công trong một quốc gia tư bản kém phát triển, nơi có những yếu tố yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc, mà còn có thể thành công ngay cả trong một nước thuộc địa nửa phong kiến lạc hậu, đưa cả dân tộc đi lên theo con đường của chủ nghĩa xã hội./.

CẢM XÚC NHÂN KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY QUỐC KHÁNH 2/9 LỊCH SỬ

 


Chúng ta đang trải qua những ngày mùa thu đặc biệt trong lịch sử, khi khắp các con đường tràn ngập cờ hoa đỏ để chào mừng ngày Quốc khánh 2/9. Đúng vào mùa thu này, khi mừng Tết Độc lập, người dân Việt Nam lại nhớ lại những nguồn cội, những giá trị về hòa bình và lịch sử vĩ đại của dân tộc. Có những người đã gắn bó suốt 78 năm qua, vẫn gìn giữ kỷ niệm về ngày Quốc khánh độc lập đầu tiên, cũng có những người trẻ sinh ra trong hòa bình nhưng vẫn đầy tự hào và xúc động mỗi khi mùa thu cách mạng trở lại. Riêng đối với tôi, khi thời khắc đất nước chuẩn bị kỷ niệm 78 năm Quốc khánh đang cận kề, sự xúc động và tự hào về quê hương và Tổ quốc dậy lên không ngừng.

Chúng ta đã được sinh ra và lớn lên trong một thời đại hòa bình - một điều rất may mắn. Chúng ta có cơ hội được học tập và phát triển khả năng của mình, được trải nghiệm cuộc sống và theo đuổi đam mê tuổi trẻ - một điều vô cùng hạnh phúc. Nhưng chúng ta đừng bao giờ quên, đừng bỏ qua sự hiểu biết về quá khứ, về những người dân Việt Nam đã trải qua những thời kỳ khó khăn, sống trong nghèo đói và với những vũ khí thô sơ như gậy gộc. Họ đã đứng lên theo tiếng gọi của Việt Minh, đại diện cho toàn dân, để lật đổ chính quyền thực dân và phong kiến, để chấm dứt sự thống trị và bán nước, để đưa Việt Nam từ một quốc gia bị nô lệ trở thành một quốc gia tự do và độc lập. Nhân dân Việt Nam đã từ một thân phận nô lệ trở thành chủ nhân đất nước và chịu trách nhiệm cho tương lai của mình.

Điều này càng thúc đẩy ta phải trân trọng những thời khắc đặc biệt như mùa thu này, khi quê hương hân hoan chào đón ngày Quốc khánh, để khắc sâu trong trái tim sự xúc động và tự hào về quê hương. Hãy trân trọng những giây phút này, để chúng ta không bao giờ quên và không bao giờ lờ mờ đi về quá khứ, về những người đã hy sinh tất cả để đem lại tự do và chủ quyền cho đất nước. Chúng ta là những người con của một Tổ quốc thiêng liêng, là những người có trách nhiệm giữ gìn và phát triển những thành công đã đạt được, để xứng đáng với những giá trị và tình yêu mà quê hương đã dành cho chúng ta.

Hơn 7 thập kỷ đã trôi qua, nhưng ngày 2 tháng 9 năm 1945 vẫn là một khoảnh khắc vô cùng quan trọng đối với đất nước, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị cha già của dân tộc đã phát biểu tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, tuyên bố trước quốc dân và thế giới. Lời tuyên ngôn này đã cất lên và vẫn còn vang mãi trong không gian, ghi sâu trong lòng mỗi người dân, nhấn mạnh rằng dân tộc Việt Nam đã kiên quyết chống lại ách nô lệ của Pháp suốt hơn 80 năm, đã đứng vững bên cạnh đồng minh chống lại phát xít trong nhiều năm qua, và bây giờ là lúc dân tộc Việt Nam được tự do và độc lập.

Lời tuyên ngôn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện những quyền lợi cơ bản và nguyện vọng chân thành nhất của dân tộc Việt Nam, khẳng định tinh thần và sự kiên cường của nhân dân. Thời gian trôi qua, ý chí của Đảng và tình yêu của nhân dân đã tạo nên một sức mạnh tổng hợp, giúp con tàu cách mạng Việt Nam vượt qua biết bao khó khăn và chinh phục biển lớn. Kỷ niệm 78 năm đó, tình đoàn kết của hàng triệu người Việt đã giúp đất nước chống lại hai đế quốc hùng mạnh và khẳng định vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế. Bài học về đoàn kết ấy vẫn giữ giá trị quan trọng đối với sự phát triển và xây dựng đất nước ngày hôm nay. Đặc biệt, trong thời điểm mà toàn Đảng và toàn dân đang quyết tâm xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch và vững mạnh.

Từ ngày thống nhất đất nước, Việt Nam đã thực sự gia nhập vào chủ quyền của mình. Niềm khát khao hòa bình và tinh thần kiên cường từ Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 đã ăn sâu vào trái tim và suy nghĩ của từng người dân Việt Nam, đó cũng chính là nguồn động viên vĩnh cửu để khích lệ sự nhiệt huyết của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ và đẩy mạnh sự độc lập tự do của dân tộc. Đối với các bạn trẻ hiện nay, có nhiều cách để thể hiện tình yêu quê hương, và bằng cách này hay cách khác, tình yêu đối với Tổ quốc như mạch nguồn hàng ngày, đã thấm sâu và lan tỏa trong từng trái tim người Việt Nam.

Là một người trẻ sống trong thời đại hòa bình, tôi luôn ghi nhớ công lao của những người đi trước, những người đã đổ máu và xương cho sự bình an của thế hệ sau. Mỗi khi đến ngày Quốc khánh 2/9, tôi luôn dành thời gian riêng để tìm hiểu về lịch sử quê hương và dân tộc và luôn nhắm mắt nhớ lại sự dũng cảm và tình yêu quê hương của các anh hùng đi trước.

Hiện nay, đối diện với nhiệm vụ mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm duy trì và phát huy truyền thống của thế hệ trẻ Việt Nam qua từng giai đoạn của cách mạng, chúng tôi cam kết tự rèn đức và luyện tài, trở thành lực lượng tiên phong, sáng tạo trong mọi lĩnh vực của xã hội và thực hiện nhiệm vụ cao cả trong việc bảo vệ Tổ quốc./.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 15/8


“Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là:
Phải: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”.
Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với người làm tướng trong quân đội trong buổi nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ năm, họp tháng 8 năm 1948
Bác đã luận giải tường minh từng phẩm chất của người làm tướng:
Trí, là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng.
Tín, là phải làm cho người ta tin mình. Thí dụ đã hứa thưởng thì phải thưởng. Tín cũng còn nghĩa tự tin vào sức mình nữa, nhưng không phải là tự mãn tự cao.
Dũng, là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh.
Nhân, là phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cảm cộng khổ với họ. Đối với địch hàng, ta phải khoan dung.
Liêm, là chớ tham của, chớ tham sắc, tham sắc thì hay bị mỹ nhân kế, chớ tham danh vọng, tham sống.
Trung, là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng.
Những yêu cầu trên xuất phát từ thực tế khách quan và hoàn toàn phù hợp với quy luật xây dựng và bản chất của quân đội kiểu mới - một quân đội của dân, do dân và vì dân.
Thấu triệt lời Bác dạy, các thế hệ tướng lĩnh trong quân đội - những người đứng mũi, chịu sào, chịu trách nhiệm trong việc cụ thể hóa đường lối chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng luôn khắc ghi và phấn đấu, rèn luyện. Mỗi vị tướng trong quân đội luôn nhận thức sâu sắc bổn phận phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ trên cương vị công tác của mình; có tính quyết đoán, dám chịu trách nhiệm; có tinh thần dám đánh và biết cách đánh thắng quân thù; tiêu biểu mẫu mực về tinh thần tự học, tự rèn; mưu lược, biết địch, biết ta; biết phân tích thiên thời, địa lợi, nhân hòa; biết lấy ít thắng nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông; biết phát huy sở trường, sở đoản của quân mình; hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch; biết tạo ra và phát huy sức mạnh tổng hợp để chiến đấu, chiến thắng quân thù…
Trong giai đoạn hiện nay, phẩm chất người sĩ quan cấp tướng trong Quân đội ta tiếp tục được tôi luyện và không ngừng tiến bộ; đội ngũ cán bộ, sĩ quan quân đội, nhất là các tướng lĩnh không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững phẩm chất, đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh trung nghĩa, thao lược, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; thương yêu cấp dưới, chia sẻ, đồng cam, cộng khổ với bộ đội; quan tâm, giúp đỡ nhân dân, xứng đáng với lòng tin, tình cảm trân trọng của nhân dân với “Bộ đội Cụ Hồ”, với những vị tướng của nhân dân./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

Thứ Hai, 14 tháng 8, 2023

Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay - Nhìn từ khía cạnh lãnh đạo học

     Khoa học về lãnh đạo, quản lý được hình thành từ hàng nghìn năm trước đây đã sản sinh ra nhiều tư tưởng, lý thuyết khác nhau, đặc biệt là có sự khác biệt tương đối giữa tư tưởng phương Đông và phương Tây. Mỗi tư tưởng, lý thuyết về lãnh đạo, quản lý đều có những giá trị riêng, là tham khảo nhất định đối với Đảng ta trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

    Tư tưởng phương Đông về lãnh đạo học

    Những giá trị cốt lõi của các học thuyết về lãnh đạo trong xã hội phương Đông là dựa trên yếu tố tinh thần, những phương diện thuộc về con người và gắn với cộng đồng. Điểm mạnh của các học thuyết này là khuyến khích sự phát triển đầy đủ các khía cạnh thuộc về con người, bằng cách nuôi dưỡng, chăm lo về tâm hồn, cảm xúc, tinh thần và sự tự do của mỗi cá nhân, tuy nhiên điểm yếu chính là thiếu đi tính kỷ luật, tư duy cụ thể, lạm dụng trực giác và kinh nghiệm chủ quan.

    Nghiên cứu về một số lý thuyết lãnh đạo điển hình trong xã hội phương Đông cho thấy rằng, Đức trị, Pháp trị và Vô vi là ba hệ thống tư tưởng, lý luận đã đạt tới trình độ học thuyết, là sản phẩm có giá trị lâu dài, bền vững về khoa học lãnh đạo, quản lý của Trung Quốc thời kỳ cổ đại. Các học thuyết này được sinh ra trong thời loạn lạc, cơ sở hạ tầng của xã hội thấp kém, nhưng lại là thời các nhà cầm quyền trọng nhân tài, cho kẻ sỹ được tự do tư tưởng và ngôn luận, nên các học phái “trăm hoa đua nở”, cạnh tranh với nhau để gây ảnh hưởng tới hoạt động lãnh đạo và quản trị quốc gia.

    Thuyết “đức trị” là hệ tư tưởng của Khổng Tử, là học thuyết chính trị có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần không chỉ đối với Trung Quốc, mà còn đối với nhiều nước khác trong khu vực, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Ma-lai-xi-a…; từ đó, hình thành nên không gian “Văn hóa Khổng giáo” của phương Đông. Hạt nhân lý thuyết lãnh đạo, quản lý “đức trị” của Khổng Tử là đạo Nhân. Con người sinh ra đều có bản chất “Người” (đức nhân), nhưng do năng lực, tài năng và hoàn cảnh sống khác nhau nên đã trở thành những nhân cách không giống nhau. Bằng sự học tập, tu dưỡng không ngừng, con người dần dần hoàn thiện bản chất người của mình - trở thành người có “Nhân”. Theo Khổng Tử, người có đạo Nhân (đủ tài đức) được gọi là “người hiền”, mẫu người hiền điển hình là người quân tử. Nhiều đặc điểm của người quân tử được Khổng Tử nói đến, như: Giữ vững tín nghĩa, không cố chấp điều nhỏ nhặt; thân với mọi người mà không kết đảng, hòa hợp với mọi người mà không a dua; lấy nghĩa làm gốc, theo lễ mà làm, nói năng khiêm tốn, nhờ thành tín mà nên việc; hiểu rộng, biết nhiều, làm được nhiều việc, làm việc tác phong nhanh nhẹn...

    Nếu Khổng Tử dùng “nhân trị” và “đức trị”, Mặc Tử chủ trương hòa bình, kiêm ái, bình đẳng giữa người với người, thì Hàn Phi Tử kiên trì đề ra “luật pháp” để trị nước, một khái niệm còn mới thời bấy giờ. Trong bốn trường phái tư tưởng lớn của Trung Quốc (Nho, Mặc, Lão, Pháp), học thuyết “pháp trị”(1) của Hàn Phi Tử mang nhiều điểm khác biệt nhất, thể hiện tính thực tế và hiện đại của một nhà cải cách chính trị. Theo học thuyết này, pháp luật là công cụ đắc lực và hiệu nghiệm nhất để duy trì và củng cố quyền lực chính trị (uy thế) của nhà vua - công cụ của đế vương, chỗ dựa vững chắc nhất để bảo đảm an toàn cho sự ngự trị của vua, nên, nhà vua sáng suốt phải đặt pháp luật lên trên đức hạnh và trên cả người hiền (vụ pháp chứ không vụ đức): “Thánh vương không quý nghĩa mà quý pháp luật”(2). Trong học thuyết “pháp trị” của Hàn Phi, “pháp” phải được kết hợp với “thuật” và “thế”. “Pháp” là nội dung của chính sách cai trị được thể hiện bằng luật lệ; “thế” là công cụ, phương tiện tạo nên sức mạnh, còn “thuật” là phương pháp, cách thức để thực hiện nội dung chính sách cai trị. Theo Hàn Phi Tử, phải lấy “pháp” làm gốc để ổn định trật tự xã hội, nhưng chỉ có “pháp” mà thiếu “thế” tức là quyền lực thì dẫu người làm vua cũng không thể bảo đảm cho bề tôi phục tùng sự cai trị của mình.

    Cách tiếp cận về quản trị xã hội và đời sống cá nhân của Lão Tử ngược hoàn toàn với quan điểm của Khổng Tử và Hàn Phi Tử. Ông cho rằng, xã hội ngày càng suy đồi, luân lý bị xem thường chính là do các nhà tư tưởng và các nhà cầm quyền can thiệp vào tính tự nhiên của đời sống, đưa ra nhiều giáo lý, chuẩn mực, luật lệ, quy định và duy trì một bộ máy nhà nước, quân đội lớn, tốn kém... Triết lý cơ bản nhất của Lão Tử về lãnh đạo, quản lý là phải thuận và học hỏi tự nhiên, không được làm trái với các quy luật và bản chất của thế giới tự nhiên có trước loài người. Lão Tử phê phán xã hội đương thời, vì đánh mất tính tự nhiên vốn có, tức là không theo Đạo. Ông cho rằng, giải pháp để xã hội phát triển không phải là cải tạo hiện trạng xã hội theo các mục tiêu, chuẩn mực của Nho gia hay Pháp gia, mà là ngược lại, cần đưa con người về những tình cảm hồn nhiên, bẩm sinh, trong sạch, không suy tính. Tuy nhiên, “vô vi” không có nghĩa là nhà lãnh đạo, quản lý không làm gì, mà chính là thuận theo Đạo để đạt được hiệu quả tối đa, làm ít nhưng được nhiều. “Vô vi nhi trị” mà Lão Tử hướng đến tức là phải thông qua “vô vi” để đạt tới mục đích của “trị”. Lão Tử cho rằng, người lãnh đạo cần biết rằng, trách nhiệm của mình chẳng qua chỉ là “phụ trợ vạn vật tự nhiên”, cần tránh xuất phát từ cái riêng của mình để quản lý một cách bừa bãi, chỉ có làm được như vậy mới có thể khiến hiệu suất quản lý đạt tới mức lớn nhất. Người lãnh đạo, quản lý không nên cố áp đặt ý chí của mình cho người khác, lấy tiêu chuẩn của mình làm tiêu chuẩn phán đoán sự vật. “Vô vi nhi trị” về bản chất chính là loại bỏ sức ép cao từ bên trên, tạo ra sức mạnh từ dưới lên. Thuật lãnh đạo này đòi hỏi người lãnh đạo cần thực hiện việc trao quyền đầy đủ, khiến cho cấp dưới có cơ hội và điều kiện phát huy đầy đủ tài năng, đồng thời bảo vệ và khuyến khích nhân tài một cách thỏa đáng.

NHỮNG KHOẢNH KHẮC ĐẸP CỦA NIỀM TIN VÀ LÝ TƯỞNG

   Từ năm 2015 tới nay, tổ chức khủng bố “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” đã đẩy mạnh khuếch trương phạm vi ảnh hưởng, tích cực kết nạp thành viên và thực hiện hàng loạt hoạt động ở trong nước. Các thành viên của tổ chức này ở Lâm Đồng đã bị lực lượng Công an đấu tranh, bóc gỡ, nhiều đối tượng cốt cán bị khởi tố và xét xử.

Tổ chức lưu vong “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” được thành lập ngày 16/2/1991 tại Mỹ, do Đào Minh Quân (nguyên trung úy VNCH, SN 1952 tại Thừa Thiên – Huế, quốc tịch Hoa Kỳ) cầm đầu. Tôn chỉ, mục đích của tổ chức phản động này là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng phương pháp bạo động vũ trang, dựng “nền đệ tam Việt Nam cộng hòa”.
Năm 1995, Tổng cục An ninh đã xác lập chuyên án đấu tranh, bóc gỡ, xử lý, vô hiệu hóa hàng trăm cơ sở nội địa và số đối tượng xâm nhập của tổ chức này. Tuy nhiên, từ năm 2015 tới nay, Đào Minh Quân và số đối tượng cầm đầu ở nước ngoài tiếp tục phục hồi tổ chức, tiến hành các hoạt động chống phá ngày càng manh động, nguy hiểm hơn.
Phương thức, thủ đoạn của tổ chức này là vận động quốc tế, tranh thủ hậu thuẫn của một số nước phương Tây, hoạt động khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân, hoạt động tuyên truyền nhằm phá hoại hệ tư tưởng, rải truyền đơn, kích động biểu tình, kết hợp chủ trương tập hợp người Việt trong và ngoài nước, các tầng lớp xã hội tham gia tổ chức, sử dụng phương pháp đấu tranh bất bạo động và bạo động vũ trang. Năm 2018, Bộ Công an đã ra thông báo xác định “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” là tổ chức khủng bố. Trước đó, tháng 8/2017, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can, truy nã Đào Minh Quân về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”.
    Năm 2017, Nguyễn Đoàn Quang Viên (SN 1982, ngụ tại thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà) đang ở TP Hồ Chí Minh, đã sử dụng tài khoản Facebook “Donald Trump” kết bạn với một số người trong tổ chức này. Sau khi gia nhập “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”, Viên cùng Trần Công Khải (ngụ tại TP Hồ Chí Minh) và một số đối tượng khác lập nhóm “Anh em nhà ku tí” để bàn bạc, lên kế hoạch phá hoại Hội nghị APEC 2017 được tổ chức tại Việt Nam. Tháng 11/2017, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hồ Chí Minh đã khởi tố Trần Công Khải về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Từ thời điểm này, Viên luôn được lực lượng Công an quan tâm, động viên tránh xa, từ bỏ tổ chức để nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
    Nguyễn Đoàn Quang Viên đã thề thốt từ bỏ, nhưng chỉ được thời gian ngắn. Tháng 6/2018, đối tượng này tái hoạt động trở lại cho “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”. Sau khi củng cố chứng cứ, ngày 6/7/2021, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã ra quyết định khởi vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam Nguyễn Đoàn Quang Viên về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.
Viên khai nhận: được Nguyễn Hữu Trí, thành viên của “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” sống ở Mỹ lôi kéo nên đã tiếp tục tham gia tổ chức này. Trí tung tin, khi nào đạt được 5 triệu phiếu “trưng cầu dân ý”, bầu Đào Minh Quân làm tổng thống thì sẽ đủ tư cách về Việt Nam tái thiết đất nước. Khi ấy, các thành viên của tổ chức này sẽ được ban phát nhiều chế độ đãi ngộ, bổ nhiệm giữ những vị trí, chức vụ trọng yếu trong bộ máy nhà nước. Tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” đã phong Nguyễn Đoàn Quang Viên cấp hàm “Thiếu tá”, chức vụ “Cục trưởng Cục tâm lý chiến, Tổng cục chiến tranh chính trị”. Nhiệm vụ của “Cục trưởng” là tuyên truyền về tổ chức, đề ra ý tưởng và kêu gọi người dân tham gia “trưng cầu dân ý” thông qua hình thức quét Qrcode.
Đặc biệt, Nguyễn Đoàn Quang Viên còn lôi kéo được Y Phinh Du (SN 1984), Phó Chỉ hủy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự xã Bông Krang, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 23/2/2022, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã ra quyết định khởi tố Y Phinh Du về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Y Phinh Du khai nhận, được Nguyễn Đoàn Quang Viên lôi kéo, đối tượng đã viết đơn xin tham gia tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”, trở thành người hoạt động tích cực cho tổ chức này ở Đắk Lắk.
    Y Phinh Du lấy thông tin của 861 trường hợp thông qua danh sách tham gia nghĩa vụ quân sự năm 2018 và danh sách những người tham gia bảo hiểm y tế tại xã Bông Krang cùng nhiều tài liệu liên quan tới lĩnh vực quốc phòng gửi cho Nguyễn Đoàn Quang Viên để thực hiện “trưng cầu dân ý”. Công an tỉnh Lâm Đồng đã ủy thác cho Cơ quan An ninh điều tra Quân khu 5 (Bộ Quốc phòng), tiến hành xác minh các tài liệu do Y Phinh Du gửi cho “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”. Kết quả xác minh những tài liệu này là mật, thuộc lĩnh vực quốc phòng. Do đó, Công an tỉnh Lâm Đồng đã khởi tố bổ sung Y Phing Du tội “cố ý làm lộ bí mật nhà nước”.
    Do đối tượng này thực hiện tội phạm xâm phạm khách thể là bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực quốc phòng nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã tách, chuyển phần vụ án liên quan tới Y Phinh Du cho Cơ quan An ninh điều tra Quân khu 5 thụ lý, điều tra.
    “Nếu không kịp thời ngăn chặn, khởi tố bắt giữ, xử lý đối tượng sẽ hết sức nguy hiểm, có nguy cơ đe doạ nghiêm trọng đến an ninh quốc gia. Xử lý Nguyễn Đoàn Quang Viên là đòn đánh mạnh vào cơ sở nội địa, đối tượng cốt cán, “ngọn cờ” của tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” ở trong nước, thức tỉnh đối với nhiều người còn hoang mang, giao động, tin vào những luận điệu tuyên truyền bịp bợm của tổ chức này!..”, Thượng tá Lê Văn Trúc, Trưởng Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Lâm Đồng cho biết./.