Thứ Ba, 15 tháng 8, 2023
XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH TRƯỚC SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
DIỄN BIẾN CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công
là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài, kiên cường, bất khuất của nhân dân
Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn, đầy sáng tạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới lần
thứ II bước vào giai đoạn quyết định, quân đội Xô Viết liên tiếp giành thắng lợi
quyết định trên chiến trường châu Âu, giải phóng một loạt nước và tiến thẳng
vào sào huyệt của phát xít Đức tại Béc lin. Ngày 9/5/1945, phát xít Đức phải đầu
hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở châu Âu. Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên
chiến với Nhật và chỉ sau 1 tuần đã tiêu diệt đội quân Quan Đông tinh nhuệ của
Nhật, đẩy phát xít Nhật vào thế thất bại không thể tránh khỏi. Ngày 14/8/1945,
phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc.
Trong nước, trải qua nhiều thử thách cam
go và các cuộc diễn tập quan trọng như: Cao trào cách mạng 1930 - 1931, phong
trào dân chủ 1936 - 1939, phong trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945, phong trào
cách mạng ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Trước tình hình quốc tế và trong nước có
nhiều thuận lợi, Đảng ta đã có những quyết sách nhằm đẩy mạnh công tác chuẩn bị
khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 9/3/1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính hất
cẳng Pháp. Ngay trong đêm đó, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng tại làng
Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) quyết định phát động phong trào kháng Nhật cứu nước.
Ngày 12/3/1945, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng và ra Chỉ thị "Nhật
- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Chỉ thị quan trọng này đã thể
hiện sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, chủ động và sáng tạo của Đảng, chỉ rõ
phương hướng và biện pháp hành động cách mạng đúng đắn trong cao trào kháng Nhật,
cứu nước, mở đường đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi.
Từ ngày 15/4 đến ngày 20/4/1945, Trung
ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định phát triển lực
lượng vũ trang, nửa vũ trang và thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt
Nam giải phóng quân, xây dựng 7 chiến khu chống Nhật, cứu nước. Từ tháng 4/1945
trở đi, cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra mạnh mẽ. Phong trào đấu tranh vũ
trang, khởi nghĩa từng phần đã diễn ra ở nhiều vùng. Các lực lượng cách mạng đã
phối hợp với quần chúng giải phóng được một loạt các xã, châu, huyện thuộc các
tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Quảng Ngãi, Bắc
Giang.
Trên cơ sở đánh giá thời cơ và tình hình
cách mạng trong nước đã phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, Hội nghị đại biểu toàn
quốc của Đảng họp ở Tân Trào từ ngày 13/8 đến ngày 15/8/1945 đã đi đến kết luận:
"Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi". Vì vậy, phải
"Kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội", khẩn trương "Đánh chiếm
ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay thôn quê, thành lập ủy ban
nhân dân ở những nơi làm chủ", tất cả vì mục tiêu "Việt Nam hoàn toàn
độc lập".
Ngày 13/8/1945, ủy ban Khởi nghĩa toàn
quốc thành lập, ra Quân lệnh số 1: Hiệu triệu toàn dân đứng lên khởi nghĩa
giành chính quyền. Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân tại Tân Trào đã thông qua
"10 chính sách lớn của Việt Minh", thông qua "Lệnh Tổng khởi
nghĩa", quyết định Quốc kỳ nền đỏ sao vàng, Quốc ca và bầu ra ủy ban Dân tộc
Giải phóng Trung ương do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí
Minh gửi thư kêu gọi nhân dân cả nước tổng khởi nghĩa, trong đó chỉ rõ:
"Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng
dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ
Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt vùng dậy, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành
chính quyền. Từ ngày 14/8 đến ngày 18/8, cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra giành được
thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận miền Trung, một phần miền
Nam và ở các thị xã: Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An,... Ngày 19/8, khởi
nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23/8, khởi nghĩa thắng lợi ở
Huế và ở Bắc Kạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định,
Gia Lai, Bạc Liêu... Ngày 25/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn - Gia Định, Kon
Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre... Ở Côn Đảo,
Đảng bộ nhà tù Côn Đảo đã lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy
giành chính quyền.
Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng
8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lần đầu tiên trong lịch
sử, chính quyền trong cả nước thuộc về nhân dân. Ngày 02/9/1945, tại vườn hoa
Ba Đình (Hà Nội), trước hàng chục vạn nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt
Chính phủ Lâm thời trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc
dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (nay là Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam). Từ đó, ngày 2/9 là Ngày Quốc khánh nước ta./.
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
ĐẠI HỘI XIII - NỬA NHIỆM KỲ NHÌN LẠI
NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945
Cách
mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài,
kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt và đúng
đắn, đầy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sự
thành công nhanh chóng của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có nhiều nguyên do,
trong đó nguyên do quan trọng và quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt
và khéo léo của Đảng. Đảng đã áp dụng và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin một
cách đúng đắn, độc lập, tự chủ và sáng tạo trong điều kiện cụ thể của nước ta.
Đảng đã sử dụng phương pháp, chiến lược và chiến thuật cách mạng linh hoạt và
phù hợp, nhận thức được thời cơ, chủ động nắm bắt thời cơ và quyết tâm tiến
hành khởi nghĩa để giành chính quyền trên toàn quốc.
Sự
thành công của Cách mạng Tháng Tám còn phụ thuộc vào tinh thần yêu nước, đoàn kết
và ý chí quật cường của các tầng lớp nhân dân Việt Nam. Nhân dân đã không chịu
sống mãi trong tình trạng bị áp bức và làm nô lệ, mà chung lòng đi theo Đảng và
được Đảng lãnh đạo thông qua các cuộc nổi dậy vũ trang. Nhân dân đã quyết tâm nổi
dậy để giành lại độc lập cho dân tộc sau 87 năm đấu tranh gian khổ và dũng cảm,
chống lại kẻ thù dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhiều người dân và chiến sĩ đã
không tiếc máu xương và hy sinh hết mình vì mục tiêu độc lập dân tộc.
Cách
mạng Tháng Tám được tiến hành trong hoàn cảnh quốc tế có một số lợi thế nhất định.
Chủ nghĩa phát xít ở Đức, Ý và Nhật đã bị đánh bại và các phong trào giải phóng
của các dân tộc bị áp bức và các lực lượng tiến bộ trên thế giới đang phát triển
mạnh.
Cuộc
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã thành công vang dội, đánh dấu sự chiến thắng lớn
đầu tiên của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, mở ra một giai đoạn
quan trọng trong lịch sử dân tộc. Quyền lực đã được trao lại cho nhân dân, và
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - một quốc gia công nông đầu tiên ở Đông
Nam Á, đồng thời tiễn biệt chế độ quân chủ phong kiến và đô hộ của thực dân,
phát xít trong suốt hơn 80 năm. Người dân Việt Nam đã trở thành người dân một
quốc gia độc lập, tự quyết và nắm giữ vận mệnh của chính mình. Việt Nam đã chuyển
từ một quốc gia thuộc địa nửa phong kiến thành một quốc gia độc lập, tự do và
dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành Đảng cầm quyền, và quốc gia, xã hội,
dân tộc và con người Việt Nam đã bước vào một thời kỳ mới - thời kỳ độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội.
Về
ý nghĩa lịch sử của sự kiện Cách mạng Tháng Tám.
Cách
mạng Tháng Tám là sự kết hợp sáng tạo giữa chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng của
Hồ Chí Minh, sự định hướng cách mạng của Đảng ta đã liên kết giữa yếu tố độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, và kết nối sức mạnh của dân tộc với xu thế thời đại.
Đây là thành công đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin tại một nước thuộc địa ở
châu Á. Đây cũng là sự phát triển tất yếu trong lịch sử dân tộc sau hàng nghìn
năm đấu tranh, là đỉnh cao của ý chí quật cường và sức mạnh cộng đồng, là sự kết
hợp giữa trí tuệ của dân tộc và chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với
xu hướng thời đại nâng cao hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, nâng cao độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Thắng
lợi của Cuộc Cách mạng Tháng Tám đã truyền cảm hứng cho phong trào giải phóng
dân tộc trong các nước bị chủ nghĩa đế quốc áp bức và thống trị. Nó đã khẳng định
rằng, trong bối cảnh của cuộc cách mạng vô sản đang lan tràn, một cuộc cách mạng
được lãnh đạo bởi một đảng của giai cấp công nhân không chỉ có thể thành công
trong một quốc gia tư bản kém phát triển, nơi có những yếu tố yếu nhất của chủ
nghĩa đế quốc, mà còn có thể thành công ngay cả trong một nước thuộc địa nửa
phong kiến lạc hậu, đưa cả dân tộc đi lên theo con đường của chủ nghĩa xã hội./.
CẢM XÚC NHÂN KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY QUỐC KHÁNH 2/9 LỊCH SỬ
Chúng
ta đang trải qua những ngày mùa thu đặc biệt trong lịch sử, khi khắp các con đường
tràn ngập cờ hoa đỏ để chào mừng ngày Quốc khánh 2/9. Đúng vào mùa thu này, khi
mừng Tết Độc lập, người dân Việt Nam lại nhớ lại những nguồn cội, những giá trị
về hòa bình và lịch sử vĩ đại của dân tộc. Có những người đã gắn bó suốt 78 năm
qua, vẫn gìn giữ kỷ niệm về ngày Quốc khánh độc lập đầu tiên, cũng có những người
trẻ sinh ra trong hòa bình nhưng vẫn đầy tự hào và xúc động mỗi khi mùa thu
cách mạng trở lại. Riêng đối với tôi, khi thời khắc đất nước chuẩn bị kỷ niệm 78
năm Quốc khánh đang cận kề, sự xúc động và tự hào về quê hương và Tổ quốc dậy
lên không ngừng.
Chúng
ta đã được sinh ra và lớn lên trong một thời đại hòa bình - một điều rất may mắn.
Chúng ta có cơ hội được học tập và phát triển khả năng của mình, được trải nghiệm
cuộc sống và theo đuổi đam mê tuổi trẻ - một điều vô cùng hạnh phúc. Nhưng
chúng ta đừng bao giờ quên, đừng bỏ qua sự hiểu biết về quá khứ, về những người
dân Việt Nam đã trải qua những thời kỳ khó khăn, sống trong nghèo đói và với những
vũ khí thô sơ như gậy gộc. Họ đã đứng lên theo tiếng gọi của Việt Minh, đại diện
cho toàn dân, để lật đổ chính quyền thực dân và phong kiến, để chấm dứt sự thống
trị và bán nước, để đưa Việt Nam từ một quốc gia bị nô lệ trở thành một quốc
gia tự do và độc lập. Nhân dân Việt Nam đã từ một thân phận nô lệ trở thành chủ
nhân đất nước và chịu trách nhiệm cho tương lai của mình.
Điều
này càng thúc đẩy ta phải trân trọng những thời khắc đặc biệt như mùa thu này,
khi quê hương hân hoan chào đón ngày Quốc khánh, để khắc sâu trong trái tim sự
xúc động và tự hào về quê hương. Hãy trân trọng những giây phút này, để chúng
ta không bao giờ quên và không bao giờ lờ mờ đi về quá khứ, về những người đã
hy sinh tất cả để đem lại tự do và chủ quyền cho đất nước. Chúng ta là những
người con của một Tổ quốc thiêng liêng, là những người có trách nhiệm giữ gìn
và phát triển những thành công đã đạt được, để xứng đáng với những giá trị và
tình yêu mà quê hương đã dành cho chúng ta.
Hơn
7 thập kỷ đã trôi qua, nhưng ngày 2 tháng 9 năm 1945 vẫn là một khoảnh khắc vô
cùng quan trọng đối với đất nước, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị cha già của dân
tộc đã phát biểu tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, tuyên bố trước quốc dân và
thế giới. Lời tuyên ngôn này đã cất lên và vẫn còn vang mãi trong không gian,
ghi sâu trong lòng mỗi người dân, nhấn mạnh rằng dân tộc Việt Nam đã kiên quyết
chống lại ách nô lệ của Pháp suốt hơn 80 năm, đã đứng vững bên cạnh đồng minh
chống lại phát xít trong nhiều năm qua, và bây giờ là lúc dân tộc Việt Nam được
tự do và độc lập.
Lời
tuyên ngôn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện những quyền lợi cơ bản và nguyện
vọng chân thành nhất của dân tộc Việt Nam, khẳng định tinh thần và sự kiên cường
của nhân dân. Thời gian trôi qua, ý chí của Đảng và tình yêu của nhân dân đã tạo
nên một sức mạnh tổng hợp, giúp con tàu cách mạng Việt Nam vượt qua biết bao
khó khăn và chinh phục biển lớn. Kỷ niệm 78 năm đó, tình đoàn kết của hàng triệu
người Việt đã giúp đất nước chống lại hai đế quốc hùng mạnh và khẳng định vị thế
ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế. Bài học về đoàn kết ấy vẫn giữ
giá trị quan trọng đối với sự phát triển và xây dựng đất nước ngày hôm nay. Đặc
biệt, trong thời điểm mà toàn Đảng và toàn dân đang quyết tâm xây dựng Đảng ta
ngày càng trong sạch và vững mạnh.
Từ
ngày thống nhất đất nước, Việt Nam đã thực sự gia nhập vào chủ quyền của mình.
Niềm khát khao hòa bình và tinh thần kiên cường từ Tuyên ngôn độc lập ngày
2/9/1945 đã ăn sâu vào trái tim và suy nghĩ của từng người dân Việt Nam, đó
cũng chính là nguồn động viên vĩnh cửu để khích lệ sự nhiệt huyết của thế hệ trẻ
trong việc bảo vệ và đẩy mạnh sự độc lập tự do của dân tộc. Đối với các bạn trẻ
hiện nay, có nhiều cách để thể hiện tình yêu quê hương, và bằng cách này hay
cách khác, tình yêu đối với Tổ quốc như mạch nguồn hàng ngày, đã thấm sâu và
lan tỏa trong từng trái tim người Việt Nam.
Là
một người trẻ sống trong thời đại hòa bình, tôi luôn ghi nhớ công lao của những
người đi trước, những người đã đổ máu và xương cho sự bình an của thế hệ sau. Mỗi
khi đến ngày Quốc khánh 2/9, tôi luôn dành thời gian riêng để tìm hiểu về lịch
sử quê hương và dân tộc và luôn nhắm mắt nhớ lại sự dũng cảm và tình yêu quê
hương của các anh hùng đi trước.
Hiện
nay, đối diện với nhiệm vụ mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới
sự lãnh đạo của Đảng, nhằm duy trì và phát huy truyền thống của thế hệ trẻ Việt
Nam qua từng giai đoạn của cách mạng, chúng tôi cam kết tự rèn đức và luyện
tài, trở thành lực lượng tiên phong, sáng tạo trong mọi lĩnh vực của xã hội và
thực hiện nhiệm vụ cao cả trong việc bảo vệ Tổ quốc./.
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 15/8
Thứ Hai, 14 tháng 8, 2023
Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay - Nhìn từ khía cạnh lãnh đạo học
Khoa học về lãnh đạo, quản lý được hình thành từ hàng nghìn năm trước đây đã sản sinh ra nhiều tư tưởng, lý thuyết khác nhau, đặc biệt là có sự khác biệt tương đối giữa tư tưởng phương Đông và phương Tây. Mỗi tư tưởng, lý thuyết về lãnh đạo, quản lý đều có những giá trị riêng, là tham khảo nhất định đối với Đảng ta trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Tư tưởng phương Đông về lãnh đạo học
Những giá trị cốt lõi của các học thuyết về lãnh đạo trong xã hội phương Đông là dựa trên yếu tố tinh thần, những phương diện thuộc về con người và gắn với cộng đồng. Điểm mạnh của các học thuyết này là khuyến khích sự phát triển đầy đủ các khía cạnh thuộc về con người, bằng cách nuôi dưỡng, chăm lo về tâm hồn, cảm xúc, tinh thần và sự tự do của mỗi cá nhân, tuy nhiên điểm yếu chính là thiếu đi tính kỷ luật, tư duy cụ thể, lạm dụng trực giác và kinh nghiệm chủ quan.
Nghiên cứu về một số lý thuyết lãnh đạo điển hình trong xã hội phương Đông cho thấy rằng, Đức trị, Pháp trị và Vô vi là ba hệ thống tư tưởng, lý luận đã đạt tới trình độ học thuyết, là sản phẩm có giá trị lâu dài, bền vững về khoa học lãnh đạo, quản lý của Trung Quốc thời kỳ cổ đại. Các học thuyết này được sinh ra trong thời loạn lạc, cơ sở hạ tầng của xã hội thấp kém, nhưng lại là thời các nhà cầm quyền trọng nhân tài, cho kẻ sỹ được tự do tư tưởng và ngôn luận, nên các học phái “trăm hoa đua nở”, cạnh tranh với nhau để gây ảnh hưởng tới hoạt động lãnh đạo và quản trị quốc gia.
Thuyết “đức trị” là hệ tư tưởng của Khổng Tử, là học thuyết chính trị có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần không chỉ đối với Trung Quốc, mà còn đối với nhiều nước khác trong khu vực, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Ma-lai-xi-a…; từ đó, hình thành nên không gian “Văn hóa Khổng giáo” của phương Đông. Hạt nhân lý thuyết lãnh đạo, quản lý “đức trị” của Khổng Tử là đạo Nhân. Con người sinh ra đều có bản chất “Người” (đức nhân), nhưng do năng lực, tài năng và hoàn cảnh sống khác nhau nên đã trở thành những nhân cách không giống nhau. Bằng sự học tập, tu dưỡng không ngừng, con người dần dần hoàn thiện bản chất người của mình - trở thành người có “Nhân”. Theo Khổng Tử, người có đạo Nhân (đủ tài đức) được gọi là “người hiền”, mẫu người hiền điển hình là người quân tử. Nhiều đặc điểm của người quân tử được Khổng Tử nói đến, như: Giữ vững tín nghĩa, không cố chấp điều nhỏ nhặt; thân với mọi người mà không kết đảng, hòa hợp với mọi người mà không a dua; lấy nghĩa làm gốc, theo lễ mà làm, nói năng khiêm tốn, nhờ thành tín mà nên việc; hiểu rộng, biết nhiều, làm được nhiều việc, làm việc tác phong nhanh nhẹn...
Nếu Khổng Tử dùng “nhân trị” và “đức trị”, Mặc Tử chủ trương hòa bình, kiêm ái, bình đẳng giữa người với người, thì Hàn Phi Tử kiên trì đề ra “luật pháp” để trị nước, một khái niệm còn mới thời bấy giờ. Trong bốn trường phái tư tưởng lớn của Trung Quốc (Nho, Mặc, Lão, Pháp), học thuyết “pháp trị”(1) của Hàn Phi Tử mang nhiều điểm khác biệt nhất, thể hiện tính thực tế và hiện đại của một nhà cải cách chính trị. Theo học thuyết này, pháp luật là công cụ đắc lực và hiệu nghiệm nhất để duy trì và củng cố quyền lực chính trị (uy thế) của nhà vua - công cụ của đế vương, chỗ dựa vững chắc nhất để bảo đảm an toàn cho sự ngự trị của vua, nên, nhà vua sáng suốt phải đặt pháp luật lên trên đức hạnh và trên cả người hiền (vụ pháp chứ không vụ đức): “Thánh vương không quý nghĩa mà quý pháp luật”(2). Trong học thuyết “pháp trị” của Hàn Phi, “pháp” phải được kết hợp với “thuật” và “thế”. “Pháp” là nội dung của chính sách cai trị được thể hiện bằng luật lệ; “thế” là công cụ, phương tiện tạo nên sức mạnh, còn “thuật” là phương pháp, cách thức để thực hiện nội dung chính sách cai trị. Theo Hàn Phi Tử, phải lấy “pháp” làm gốc để ổn định trật tự xã hội, nhưng chỉ có “pháp” mà thiếu “thế” tức là quyền lực thì dẫu người làm vua cũng không thể bảo đảm cho bề tôi phục tùng sự cai trị của mình.
Cách tiếp cận về quản trị xã hội và đời sống cá nhân của Lão Tử ngược hoàn toàn với quan điểm của Khổng Tử và Hàn Phi Tử. Ông cho rằng, xã hội ngày càng suy đồi, luân lý bị xem thường chính là do các nhà tư tưởng và các nhà cầm quyền can thiệp vào tính tự nhiên của đời sống, đưa ra nhiều giáo lý, chuẩn mực, luật lệ, quy định và duy trì một bộ máy nhà nước, quân đội lớn, tốn kém... Triết lý cơ bản nhất của Lão Tử về lãnh đạo, quản lý là phải thuận và học hỏi tự nhiên, không được làm trái với các quy luật và bản chất của thế giới tự nhiên có trước loài người. Lão Tử phê phán xã hội đương thời, vì đánh mất tính tự nhiên vốn có, tức là không theo Đạo. Ông cho rằng, giải pháp để xã hội phát triển không phải là cải tạo hiện trạng xã hội theo các mục tiêu, chuẩn mực của Nho gia hay Pháp gia, mà là ngược lại, cần đưa con người về những tình cảm hồn nhiên, bẩm sinh, trong sạch, không suy tính. Tuy nhiên, “vô vi” không có nghĩa là nhà lãnh đạo, quản lý không làm gì, mà chính là thuận theo Đạo để đạt được hiệu quả tối đa, làm ít nhưng được nhiều. “Vô vi nhi trị” mà Lão Tử hướng đến tức là phải thông qua “vô vi” để đạt tới mục đích của “trị”. Lão Tử cho rằng, người lãnh đạo cần biết rằng, trách nhiệm của mình chẳng qua chỉ là “phụ trợ vạn vật tự nhiên”, cần tránh xuất phát từ cái riêng của mình để quản lý một cách bừa bãi, chỉ có làm được như vậy mới có thể khiến hiệu suất quản lý đạt tới mức lớn nhất. Người lãnh đạo, quản lý không nên cố áp đặt ý chí của mình cho người khác, lấy tiêu chuẩn của mình làm tiêu chuẩn phán đoán sự vật. “Vô vi nhi trị” về bản chất chính là loại bỏ sức ép cao từ bên trên, tạo ra sức mạnh từ dưới lên. Thuật lãnh đạo này đòi hỏi người lãnh đạo cần thực hiện việc trao quyền đầy đủ, khiến cho cấp dưới có cơ hội và điều kiện phát huy đầy đủ tài năng, đồng thời bảo vệ và khuyến khích nhân tài một cách thỏa đáng.
NHỮNG KHOẢNH KHẮC ĐẸP CỦA NIỀM TIN VÀ LÝ TƯỞNG
Từ năm 2015 tới nay, tổ chức khủng bố “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” đã đẩy mạnh khuếch trương phạm vi ảnh hưởng, tích cực kết nạp thành viên và thực hiện hàng loạt hoạt động ở trong nước. Các thành viên của tổ chức này ở Lâm Đồng đã bị lực lượng Công an đấu tranh, bóc gỡ, nhiều đối tượng cốt cán bị khởi tố và xét xử.



