Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2023

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ SỰ LỰA CHỌN CỦA LỊCH SỬ, DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ XÂY DỰNG XÃ HỘI MỚI KHÔNG CÓ ÁP BỨC, BÓC LỘT, BẤT CÔNG

 

Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX, phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai phong kiến liên tiếp nổ ra trên khắp mọi miền đất nước. Tuy nhiên, do không có một đường lối cách mạng đúng đắn và phương pháp cách mạng thích hợp, nên tất cả các phong trào nổi dậy, các cuộc khởi nghĩa mang sắc thái giai tầng khác nhau đều bị thất bại.

Trong sự bế tắc, khủng hoảng về đường lối cách mạng, đã xuất hiện một người con ưu tú, kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, gánh vác sứ mệnh lịch sử, đó chính là Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và vượt qua tư duy lối mòn của các nhà yêu nước tiền bối, Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, nô dịch - con đường cách mạng vô sản. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Sự lựa chọn con đường cách mạng của Người phù hợp với yêu cầu của lịch sử dân tộc, là sự lựa chọn đúng đắn duy nhất của Việt Nam vào thời điểm cách mạng đó. Ngày 3-2-1930, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đáp ứng yêu cầu tất yếu của lịch sử.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, tiến hành ba cao trào cách mạng, làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt lịch sử dân tộc, đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã khẳng định tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc bị áp bức trên thế giới vì độc lập, tự do và phẩm giá con người. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc và đất nước không tách rời giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự hội tụ của mạch ngầm dòng chảy của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí độc lập, tự cường, tự tôn dân tộc; lòng khát khao tự do, hạnh phúc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng, xã, Tổ quốc của dân tộc Việt Nam được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh khơi dậy mạnh mẽ trong thời đại mới.

Tiếp nối thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam quyết chí, bền lòng với một ý chí sắt đá “đánh nhau có hy sinh, có gian khổ, nhưng bền gan, vững chí thì cuối cùng ta nhất định thắng, địch nhất định thua” cùng tinh thần quyết tử “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, theo một phương châm nhất quán: “Ta chỉ giữ gìn non sông, đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Còn thực dân phản động Pháp thì mong ăn cướp nước ta, mong bắt dân ta làm nô lệ. Vậy ta là chính nghĩa, địch là tà. Chính nhất định thắng tà; trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dù cuộc “chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lập nên kỳ tích Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; đưa đến ký kết Hiệp định Genève vào năm 1954, lập lại nền độc lập, hòa bình ở Việt Nam. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, ra sức đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho miền Nam; miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Toàn thể dân tộc Việt Nam “giương cao mãi mãi ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước để thỏa lòng mong ước của Người. Với quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam một lần nữa anh dũng chiến đấu, lập nên chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Tiếp đến là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, sau cuộc trường chinh kéo dài suốt 30 năm, Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang trọn vẹn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, ghi vào lịch sử mốc son chói lọi như lời Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc đi xa: “Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng 2 đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”./.

TBQL 17

Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2023

KHÔNG THẾ LỰC NÀO CÓ THỂ NGĂN CẢN KHÁT VỌNG VƯƠN LÊN CỦA TOÀN DÂN TỘC!

         Ngăn cản khát vọng vươn lên của một dân tộc không chỉ là thái độ phản lại những giá trị tiến bộ của nhân loại mà còn là hành vi chà đạp lên ước nguyện chính đáng của gần 100 triệu người Việt đang chung tay góp sức, nỗ lực đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh.

Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc và Đảng ta. Mục tiêu ấy không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng thời đại. Nhưng các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại xuyên tạc việc Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra tầm nhìn, khát vọng phát triển đất nước như vậy là viễn cảnh hão huyền, viển vông.

MỘT LỐI SUY DIỄN QUY CHỤP, VÔ LƯƠNG

Tìm đủ chiêu trò để bôi nhọ, xuyên tạc nhằm chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là âm mưu, thủ đoạn không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị. Việc Đảng ta tổ chức Đại hội XIII thành công rất tốt đẹp trên mọi phương diện, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, khiến những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị càng thêm cay cú. Họ không chỉ phủ nhận nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối chính trị của Đảng mà còn cố tình đánh lạc hướng dư luận bằng những cái nhìn thiển cận, hẹp hòi và suy diễn ác ý về những điểm mới được xác định trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Họ cho rằng, các quan điểm và giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đưa ra trùng lắp, chống chéo, cái nọ cản trở cái kia nên khó có thể thực hiện được. Họ rêu rao việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu “Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” chỉ là những chiếc bánh vẽ ghi trong văn kiện Đảng”; còn việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là mục tiêu tuyên truyền “vẽ voi trên giấy” của tuyên giáo Cộng sản Việt Nam sau Đại hội XIII”, là thái độ mị dân của những người cộng sản “chỉ nói hay mà không làm”... 

Từ cái nhìn sặc mùi phản động đó, họ đã bộc lộ rõ tim đen của những kẻ chống phá quyết liệt đối với Đảng và chế độ ta: “Còn chuyên chế cộng sản lãnh đạo thì người Việt Nam không có quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc và cũng không có khát vọng phát triển thịnh vượng, hùng cường”!

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ TỪNG BƯỚC HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG CHÍNH ĐÁNG, NHÂN VĂN

Việc Đảng ta đưa ra tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu từng bước đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc, không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng với xu thế phát triển của thời đại.

Sau nhiều năm giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, đặc biệt năm 2020 trong điều kiện đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu, phần lớn các nước trên thế giới có mức tăng trưởng âm thì nước ta vẫn giữ được mục tiêu kép là vừa kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa giữ mức tăng trưởng dương. Năm 2020 quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 343 tỷ USD, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt 3.521USD, đứng thứ sáu ASEAN.

Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, để nằm trong nhóm các nước thu nhập trung bình cao vào năm 2025, theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (WB) thì thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam phải ở mức 4.046-12.535USD/người/năm. Khi đó, quy mô GDP năm 2025 của Việt Nam cần đạt từ 410 tỷ USD (mức cận dưới) đến 1.260 tỷ USD (mức cận trên). Nếu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2030 ở mức 6,7-6,8% (tương đương với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020) thì đến năm 2027 Việt Nam sẽ vào nhóm nước thu nhập trung bình cao.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chỉ tiêu cụ thể: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5-7%/năm; GDP bình quân đầu người khoảng 4.700-5000USD. Như vậy, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” là có cơ sở. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” cũng có căn cứ hiện thực, vì mục tiêu này dựa trên các kịch bản tăng trưởng kinh tế phù hợp với nguồn lực, khả năng hiện tại và triển vọng phát triển của đất nước.

Dưới góc nhìn của chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng, định hướng tầm nhìn và khát vọng phát triển cho Việt Nam dựa trên nguyên tắc lấy thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, phản ánh quy luật phát triển ở Việt Nam và khai thác có hiệu quả những thành tựu phát triển của thế giới, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0; tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại về phát triển toàn diện con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, phù hợp với triết lý phát triển của dân tộc Việt Nam và bản chất nhân văn cao đẹp của chủ nghĩa xã hội; đồng thời phù hợp với những chuẩn mực quốc tế về quản trị tốt, phục vụ phát triển và có khả năng xử lý, ứng phó linh hoạt với những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn.

Tầm nhìn, khát vọng phát triển của Việt Nam không phải dựa trên ý chí chủ quan, không phải là tâm lý “con hát mẹ khen hay” như một số luận điệu rêu rao mà điều này được giới truyền thông quốc tế nhận định là có cơ sở. Báo The Washington Times (phiên bản báo in) của Mỹ ngày 9/4 vừa qua đăng bài viết đánh giá Việt Nam đã thành công trong việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt nhà nước; đồng thời nhận định Việt Nam có một quá trình phát triển kinh tế đáng kinh ngạc khi vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới trong hai thập kỷ qua. Mặt khác, Việt Nam đã có được sự ổn định về mặt chính trị, tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức thu nhập của người dân trong những năm tới.

Mới đây, nhiều hãng truyền thông uy tín tại Romania, như: Hãng thông tấn quốc gia Agerpres, Romaniatv, Republicatv, Proarges, Digi24,... cũng nhận định, vào đầu nhiệm kỳ Chính phủ 2016-2021, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 14 trên thế giới về dân số, quy mô nền kinh tế đứng thứ 48, nhưng đến nay, xếp hạng của Việt Nam đã tăng 11 bậc, đứng thứ 37 thế giới. Dù con đường phát triển còn nhiều khó khăn, thử thách nhưng có cơ sở để tin tưởng Việt Nam từ ngưỡng thu nhập trung bình sẽ gia nhập nhóm nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Mỗi con người có khát vọng đã là điều đáng quý. Càng quý trọng hơn khi mỗi tổ chức, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia dân tộc đều có khát vọng cao cả để hy vọng làm được những điều tốt đẹp, góp phần làm thay đổi cuộc sống, xã hội theo chiều hướng tích cực, văn minh, tiến bộ; qua đó đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại.

Do đó, ngăn cản khát vọng vươn lên của một dân tộc không chỉ là thái độ phản lại những giá trị tiến bộ của nhân loại mà còn là hành vi chà đạp lên ước nguyện chính đáng của gần 100 triệu người Việt đang chung tay góp sức, nỗ lực đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh. Những luận điệu sai trái đó nhất định sẽ bị phủ nhận hoàn toàn bởi niềm tin, ý chí, khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, như lời khẳng định của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Khát vọng về một nước Việt Nam hùng cường 2045 “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ và tinh thần Đại hội Đảng XIII đề ra, là mục tiêu cao cả mà chúng ta hôm nay và những thế hệ tiếp theo phải nỗ lực phấn đấu để giành được. Cha ông ta đã làm nên những trang sử hào hùng, được viết bằng mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ. Chúng ta có niềm tin mãnh liệt rằng: Tiếp nối truyền thống hào hùng sẽ có nhiều chương sử mới viết tiếp những kỳ tích tiến lên giàu mạnh, hùng cường của đất nước ta và dân tộc ta”./.
Yêu nước ST.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới và Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016-2025 và định hướng đến năm 2030

 

Quyết định số 1944/QĐ-TTg Chương trình thực hiện Kết luận số 13-KL/TW ngày 16/8/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị (Khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới và Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016-2025 và định hướng đến năm 2030.

Chương trình được phê duyệt có mục tiêu chung là phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong phòng, chống tội phạm; củng cố, nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp giữa các bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội trong công tác phòng, chống tội phạm, Chương trình đã đưa ra mục tiêu cụ thể là chủ động phòng ngừa, tiếp tục làm giảm tội phạm, năm sau giảm so với năm trước; giảm tỷ lệ tái phạm tội; giảm ít nhất 5% các tội phạm xâm hại trẻ em so với giai đoạn 2016-2020. Tỷ lệ điều tra, khám phá các loại tội phạm hằng năm đạt trên 75%; các tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đạt trên 90% tổng số vụ án khởi tố. Bắt giữ, vận động đầu thú 30% số đối tượng truy nã hiện có và phấn đấu bắt 50% số đối tượng truy nã phát sinh. 

 

Cùng với đó, Chương trình đặt mục tiêu bảo đảm 100% các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đều được tiếp nhận, phân loại, xử lý; tỷ lệ giải quyết đạt trên 90%. Truy tố đúng thời hạn trên 90% số vụ án hình sự đã có kết luận điều tra đề nghị truy tố, bảo đảm truy tố bị can đúng tội đạt trên 95%. Nâng cao chất lượng xét xử, tỷ lệ giải quyết án hình sự đạt trên 88%. Tăng cường các biện pháp phòng, chống oan sai, chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. 

 

Kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các vụ án về kinh tế, chức vụ, tham nhũng, tiêu cực, nâng tỷ lệ giải quyết và kết thúc điều tra các vụ án tham nhũng năm sau cao hơn năm trước; nâng tỷ lệ thu hồi, kê biên, phong tỏa tài sản bị chiếm đoạt trong các vụ án tham nhũng đạt trên 60%; bảo đảm 100% các vụ việc có dấu hiệu tội phạm được phát hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đều được chuyển ngay đến cơ quan điều tra để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. 

 

Tập trung thực hiện hiệu quả công tác chuyển hóa địa bàn trọng điểm, phức tạp về trật tự, an toàn xã hội, phấn đấu tỷ lệ chuyển hóa thành công hằng năm đạt từ 60% trở lên; 85% các địa bàn đã chuyển hóa thành công không tái phức tạp trở lại. 

 

Kiện toàn các cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm bảo đảm gọn đầu mối, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đi vào thực chất; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan bảo vệ pháp luật bảo đảm năng lực, trình độ, đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. 

 

Để đạt được mục tiêu cụ thể nêu trên, nhiệm vụ của Chương trình đặt ra là nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác phòng, chống tội phạm; chủ động phòng ngừa tội phạm, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ; phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở là chính, lấy cơ sở là địa bàn trọng tâm nhằm giảm bền vững các loại tội phạm và giảm tỷ lệ phạm tội lần đầu. 

 

Đồng thời, thực hiện có hiệu quả các hình thức tuyên truyền phòng, chống tội phạm, nâng cao nhận thức pháp luật cho Nhân dân, nhất là thanh thiếu niên, người lao động, học sinh, sinh viên... ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, biển đảo. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật trong công tác phòng, chống tội phạm. 

 

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tấn công trấn áp, điều tra, xử lý tội phạm. Trong đó, tiếp tục tổ chức thực hiện hiệu quả 15 đề án thuộc Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016-2025 và định hướng đến năm 2030; thường xuyên mở các đợt cao điểm tấn công, trấn áp các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, tội phạm lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để hoạt động, tội phạm về ma túy, tội phạm xâm hại phụ nữ, trẻ em, tội phạm trên không gian mạng, tội phạm về môi trường, tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng, tội phạm liên quan đến kinh doanh đa cấp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản...

NHẬN THỨC VỀ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI CÁC VẤN ĐỀ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn phải đối mặt với những kẻ thù hùng mạnh và nhiều nguy cơ, thách thức to lớn. Trong suốt quá trình ấy, ông cha ta đã làm nên biết bao chiến công oanh liệt, bảo vệ vững chắc và xây dựng Tổ quốc Việt Nam ngày càng phát triển. Từ khi Đảng ra đời, cách mạng Việt Nam đã tiếp tục giành nhiều thắng lợi vĩ đại, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, hiện nay đất nước đang phải đối diện với nhiều thách thức trong lĩnh vực an ninh quốc gia, trong đó nổi lên những vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.

Khái niệm “an ninh” là trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm, đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, của tổ chức, của từng lĩnh vực hoạt động xã hội hoặc của toàn xã hội.

Từ đó suy rộng ra, “an ninh quốc gia” ở nước ta được hiểu là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ Xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Các nước trên thế giới có quan niệm về an ninh quốc gia khác nhau, xuất phát từ vị thế và trình độ phát triển của quốc gia đó. Ngay cả trong một quốc gia thì quan niệm về an ninh quốc gia ở mỗi giai đoạn lịch sử cũng có những nội dung khác nhau để phù hợp với tình hình thực tế.

Nhìn chung, trong những giai đoạn lịch sử trước đây thuật ngữ “an ninh quốc gia” thường chỉ được giới hạn những vấn đề thuộc về an ninh quân sự. Bởi lẽ trong bối cảnh thế giới khi ấy, những nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia hầu hết chỉ tập trung vào các hoạt động quân sự để tấn công vào chính quyền nhà nước, vào biên giới lãnh thổ của một quốc gia. Những nguy cơ khác chỉ là thứ yếu, hoặc đơn thuần chỉ để phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho những hoạt động về quân sự, chính trị. Vì vậy, quan niệm về an ninh quốc gia theo cách hiểu này được gọi là “an ninh truyền thống”.

Sau Chiến tranh lạnh, trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển dần trở thành xu thế chủ đạo. Tuy nhiên, thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Bước vào thế kỷ XXI, môi trường quốc tế ngày càng phức tạp, đa dạng hơn. Thực tế thế giới dần nảy sinh nhiều vấn đề mới, đe dọa đến độc lập, chủ quyền của nhiều quốc gia dân tộc và cuộc sống bình yên của nhân dân các nước nhưng không thuộc về lĩnh vực quân sự. Quan niệm về an ninh quốc gia vì thế cũng có những thay đổi, từ đó thuật ngữ “an ninh phi truyền thống” đã xuất hiện để miêu tả những biến đổi mới của môi trường an ninh quốc tế.

Từ năm 1983, Richard H. Ullman, một học giả Hoa Kỳ, được coi là người tiên phong đưa ra quan niệm về an ninh phi truyền thống (non-traditional security). Ông cho rằng an ninh quốc gia không nên hiểu theo nghĩa hẹp là bảo vệ nhà nước trước những cuộc tấn công quân sự qua biên giới lãnh thổ mà an ninh quốc gia còn phải đối mặt với những thách thức phi truyền thống, bao gồm: khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức, an ninh môi trường, di cư bất hợp pháp, an ninh năng lượng và an ninh con người.

Trải qua quá trình phát triển về nhận thức, đến nay quan niệm về an ninh phi truyền thống đã phân nhánh thành hai trường phái rõ rệt.

Trường phái thứ nhất quan niệm an ninh phi truyền thống là an ninh tổng hợp, bao gồm tất cả các lĩnh vực như quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường... Trường phái này cho rằng an ninh phi truyền thống không đối lập với an ninh truyền thống, mà chỉ là sự mở rộng nội hàm của khái niệm an ninh truyền thống mà thôi.

Trường phái thứ hai lại quan niệm an ninh phi truyền thống là một lĩnh vực mới, phân biệt với an ninh truyền thống. Theo trường phái này thì an ninh phi truyền thống sẽ không bao hàm lĩnh vực an ninh quân sự. An ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống là hai mặt hợp thành an ninh quốc gia nói chung. Hiện nay quan điểm của Đảng và Nhà nước ta cũng theo cách tiếp cận này.

Có thể thấy giữa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống có mối liên hệ biện chứng. Các vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống thường có tác động qua lại, hơn nữa trong những điều kiện nhất định còn có thể chuyển hóa lẫn nhau. Bên cạnh đó, một số vấn đề vốn thuộc về lĩnh vực an ninh phi truyền thống có thể diễn biến thành vấn đề an ninh truyền thống và ngược lại.

Tuy nhiên, giữa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống vẫn có những khác biệt rất cơ bản.

Một là, phạm vi quan tâm của an ninh truyền thống thường lấy đơn vị là quốc gia, dân tộc; còn phạm vi quan tâm của an ninh phi truyền thống lại bao gồm từ con người, quốc gia và cả nhân loại.

Hai là, nội dung quan tâm của an ninh truyền thống tập trung chủ yếu ở lĩnh vực quân sự, chính trị, nhưng an ninh phi truyền thống lại quan tâm ở nhiều lĩnh vực của đờỉ sống xã hội, môi trường sinh thái và những vấn đề toàn cầu.

Ba là, mối đe dọa của an ninh truyền thống chủ yếu đến từ bên ngoài biên giới quốc gia, còn các mối đe dọa an ninh phi truyền thống lại đến từ cả bên trong và bên ngoài lãnh thổ quốc gia.

Bốn là, ứng phó với vấn đề an ninh truyền thống nhấn mạnh biện pháp chính trị, quân sự, ngoại giao của từng quốc gia riêng lẻ; trong khi đó, ứng phó với vấn đề an ninh phi truyền thống phải sử dụng tổng hợp các biện pháp với sự tham gia của nhiều tổ chức, nhiều quốc gia trên thế giới.

Ở Việt Nam, nhận thức về an ninh phi truyền thống là cả một quá trình với nhiều giai đoạn, nhiều nấc thang từ thấp đến cao.

Từ những năm 90 của thế kỷ XX, văn kiện Đại hội VIII của Đảng (6/1996) đã thể hiện: “Cộng đồng thế giới đứng trước nhiều vấn đề có tính toàn cầu (bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo...), không một quốc gia nào có thể tự giải quyết, mà phải có sự hợp tác đa phương”. [3]

Đại hội IX (01/2001) tiếp tục khẳng định tinh thần của Đại hội VIII đồng thời bổ sung thêm vấn đề phòng chống tội phạm quốc tế vào nội dung này.

Đại hội X (4/2006) đã bổ sung và phát triển một số luận điểm quan trọng: “Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các quốc gia và các tổ chức phối hợp giải quyết; khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn; sự gia tăng dân số cùng với các luồng di cư; tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng, cạn kiệt tài nguyên, môi trường tự nhiên bị hủy hoại; khí hậu diễn biến ngày càng xấu, kèm theo những thiên tai khủng khiếp; các dịch bệnh lớn, các tội phạm xuyên quốc gia có chiều hướng tăng”.

Như vậy có thể thấy rõ, cho đến Đại hội X, Đảng chưa chính thức sử dụng khái niệm “an ninh phi truyền thống” trong các văn kiện chính trị. Tuy nhiên, Đảng đã nhận thức và chỉ ra những dấu hiệu, những vấn đề của an ninh phi truyền thống đồng thời ý thức được xu hướng phát triển và những tác động sâu sắc của những vấn đề này trong tương lai.

Phải đến Đại hội XI của Đảng (4/2011) thuật ngữ “an ninh phi truyền thống” mới chính thức sử dụng với các nội dung cụ thể như chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, hạn chế bùng nổ dân số, phòng ngừa và hạn chế dịch bệnh hiểm nghèo…

Đại hội XII (01/2016) đánh dấu một bước tiến mới trong nhận thức của Đảng ta, bằng cách đặt an ninh phi truyền thống bên cạnh an ninh truyền thống, đồng thời chỉ ra một số vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, an ninh mạng, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố... Như vậy, an ninh phi truyền thống đã được nâng lên ngang hàng với an ninh truyền thống, trở thành một lĩnh vực quan trọng của an ninh quốc gia nói chung.

Đại hội XIII của Đảng (01/2021) đã tiếp tục khẳng định nhận thức, quan điểm nhất quán về nội dung, thách thức của an ninh phi truyền thống đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, trong đó nhấn mạnh: “Những vấn đề toàn cầu như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường... tiếp tục diễn biến phức tạp, “Những vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng đa dạng, phức tạp, tác động mạnh mẽ, từ đó Đảng đề ra nhiệm vụ “sẵn sàng ứng phó hiệu quả các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống ...

An ninh phi truyền thống đã và đang trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới. Do đó, việc nghiên cứu, dự báo để chủ động có biện pháp phòng, chống là vấn đề cấp thiết đối với mọi quốc gia, trong đó có cả Việt Nam. Để ứng phó hiệu quả với tác động của an ninh phi truyền thống, bảo vệ an ninh quốc gia, cần thực hiện một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức về an ninh phi truyền thống trong bối cảnh mới cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Có thể làm điều này bằng nhiều con đường, cách thức khác nhau. Trước hết là thông qua hình thức truyền thông (báo, đài phát thanh truyền hình…) để tác động đến nhận thức cho cộng đồng xã hội. Bên cạnh đó là lồng ghép các biện pháp giáo dục trong nhà trường, tổ chức tuyên truyền thông qua các hội nghị, hội thảo khoa học, thông tin thời sự… Các biện pháp này cần thực hiện thường xuyên, đồng bộ và nội dung, hình thức phải hướng đến các đối tượng cụ thể mới có thể đem lại hiệu quả.

Thứ hai, chủ động, tích cực phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Một trong những đặc điểm của công tác đảm bảo an ninh quốc gia là tính phòng ngừa rất cao. Bởi một khi các nguy cơ gây mất an ninh quốc gia nếu chuyển hóa thành thực tế, dù ở mức độ nào, cũng tác động tiêu cực đến đời sống bình yên của người dân, đến sự ổn định và phát triển của quốc gia, dân tộc. Chính vì vậy, để ứng phó với những mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Đảng, Nhà nước ta cần chủ động đầu tư phát triển kinh tế - xã hội bền vững, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, chăm lo bảo vệ môi trường sinh thái… Cần chủ động phân loại từng lĩnh vực an ninh phi truyền thống với đặc điểm khác nhau để xác định những cơ chế, phương thức ứng phó phù hợp. Bên cạnh đó cần xây dựng các lực lượng chuyên trách về ứng phó các vấn đề an ninh phi truyền thống đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, tinh thông nghiệp vụ, giỏi ngoại ngữ, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức hội nhập quốc tế, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Thứ ba, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn xã hội trong giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống. An ninh phi truyền thống hầu hết đều là những vấn đề phức tạp, đa ngành, đa lĩnh vực và có tác động rộng lớn đến đời sống xã hội. Chính vì thế, đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống đòi hỏi phải có sự tham gia có trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong đó, Đảng cần có những dự báo khoa học về xu hướng phát triển của tình hình thế giới, nhận thức rõ các vấn đề an ninh phi truyền thống, từ đó xác định chủ trương, đường lối để ứng phó phù hợp. Nhà nước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, chỉ đạo lực lượng chuyên trách ứng phó các vấn đề an ninh phi truyền thống trên từng lĩnh vực. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể có nhiệm vụ đoàn kết, tập hợp các lực lượng xã hội để phối hợp phòng ngừa và ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống; đồng thời phản biện các chương trình, dự án có khả năng tạo ra mối đe dọa an ninh phi truyền thống, bảo đảm phát triển bền vững cho đất nước. Bên cạnh đó, bản thân mỗi người dân cũng cần nâng cao trách nhiệm trước các vấn đề an ninh phi truyền thống, tỉnh táo trước các sự kiện mà bản thân có thể tham gia một cách vô thức.

Thứ tư, tăng cường mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế để ứng phó với các nguy cơ của an ninh phi truyền thống. An ninh phi truyền thống hầu hết là những vấn đề mà một quốc gia đơn lẻ không thể nào tự mình giải quyết một cách trọn vẹn. Do đó, việc hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế trong việc ứng phó với những thách thức an ninh phi truyền thống là một tất yếu khách quan. Để thực hiện chủ trương này, Việt Nam cần chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, trong đó chú trọng hợp tác về phòng ngừa và ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống thông qua cơ chế và phương thức đa dạng, linh hoạt; tham gia các cơ chế hợp tác an ninh song phương và đa phương trên cơ sở đảm bảo lợi ích quốc gia dân tộc, đồng thời tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.

Tóm lại, với xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ hiện nay, an ninh phi truyền thống hiện đã và đang nổi lên như một bộ phận đặc biệt quan trọng của bảo vệ an ninh quốc gia nói chung. Vì vậy, toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nâng cao nhận thức về vấn đề này, đồng thời phải thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong việc tham gia cùng các lực lượng chuyên trách ứng phó hiệu quả, kịp thời những mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Chỉ có như vậy an ninh quốc gia mới được giữ vững, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đem lại cuộc sống an toàn, hạnh phúc cho nhân dân, tham gia giải quyết những vấn đề toàn cầu đang đặt ra bức thiết hiện nay và cả tương lai phía trước./.

Cách mạng màu là gì? Bản chất của âm mưu, thủ đoạn “cách mạng màu”

 

Cách mạng màu với nhiều tên gọi khác nhau như: cách mạng nhung, đường phố, cam, hoa hồng, hoa tulip, hạt dẻ… diễn ra ở một số nước Đông Âu và Trung Đông, Bắc Phi trong thời gian qua và những diễn biến chính trị tại Thái Lan, Campuchia, Mianma, Inđônêxia, Vênêxuêla đã cho thấy bản chất nguy hiểm từ sự can dự của các thế lực vào tình hình nội bộ các nước có chủ quyền, gây ra bất ổn chính trị kéo dài, ly khai dân tộc nhằm tìm mọi cách thay thế chính quyền hiện tại, xây dựng chính quyền thân Mỹ và phương Tây. Câu hỏi đặt ra là: Việt Nam chúng ta có phải đối diện với nguy cơ xảy ra “cách mạng màu” hay không? Đâu là giải pháp để ngăn ngừa âm mưu, thủ đoạn thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam?

Bản chất của âm mưu, thủ đoạn “cách mạng màu”

Cách mạng màu (tiếng Anh là colour revolution) là thuật ngữ chỉ các cuộc bạo lực chính trị có tổ chức, chính biến phi vũ trang ở quốc gia có chủ quyền nhằm lật đổ nhà nước đương nhiệm, gây ra khủng hoảng chính trị, đồng thời lập ra bộ máy cầm quyền mới của lực lượng đối lập được Mỹ và phương Tây hậu thuẫn. Đó là chiến lược toàn cầu của Mỹ sử dụng những phương thức, thủ đoạn điển hình là sự phản đối quy mô lớn bằng biện pháp phi bạo lực nhằm mục đích thay đổi chế độ đang tồn tại để thiết lập một chính phủ thân Mỹ và phương Tây kể từ thời kỳ hậu chiến tranh lạnh đến nay.

Các đối tượng của cách mạng màu là đảng phái, lực lượng chính trị đối lập trong nước hình thành từ các trào lưu “dân chủ hóa xã hội” hoặc nảy sinh, phát triển từ sự mâu thuẫn, phân hóa, phân lập của nội bộ đảng, chính phủ cầm quyền. Lãnh tụ phe đối lập thường là những người bất mãn, cơ hội chính trị, bất đồng với đảng, chính phủ cầm quyền được các thế lực nước ngoài hậu thuẫn, thậm chí nuôi dưỡng để thực hiện chính biến khi có thời cơ thuận lợi. Các thế lực bên ngoài là kẻ khởi xướng, định hướng, kích động, thúc đẩy, vạch kế hoạch, huấn luyện, tài trợ vật chất, ủng hộ tinh thần và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong nước tổ chức và tiến hành hoạt động cách mạng màu. Thế lực bên ngoài đóng vai trò “đạo diễn”, lực lượng trong nước giữ vai trò” thực thi”. Đây là một hiện tượng chính trị diễn ra thông qua nghị trường, đấu tranh chính trị (mít tinh, biểu tình, tuần hành), dựa trên cơ sở những tiền đề trong một quốc gia, dân tộc có quan điểm, chủ trương trái với lợi ích của Mỹ và phương Tây; được hậu thuẫn bởi lực lượng bên ngoài nước can thiệp một cách thô bạo, trắng trợn vào công việc nội bộ của nước đó nhằm lật đổ chính quyền hay sự cầm quyền của các đảng phái chính trị để thay thế bằng đảng phái đối lập phù hợp với lợi ích Mỹ và phương Tây.

“Cách mạng màu” với nhiều tên gọi khác là cách mạng nhung, đường phố, cam, hoa hồng, hoa tulip, hạt dẻ,… xuất hiện lần đầu tiên với cách mạng Vàng ở Philíppin từ năm 1983, cách mạng Nhung ở Tiệp Khắc năm 1989, cách mạng Đường phố ở Nam Tư năm 2000, cách mạng Nhung ở Grudia năm 2003, cách mạng Cam ở Ucraina năm 2004 và 2014, cách mạng hoa Tulip ở Cưrơgưxtan năm 2005, cách mạng cây Tuyết tùng ở Libăng năm 2005, cách mạng Xanh ở Iran năm 2009, cách mạng hoa Nhài ở Tuynidi từ năm 2010, cách mạng hoa Sen ở Ai Cập từ năm 2011, cách mạng màu ở khu vực Trung Đông - Bắc Phi (còn gọi là Mùa xuân Arập, gồm: Libi, Xyri, Angiêri, Yêmen, Marốc, Gioócđani, Arậpxêút, Ôman, Irắc), cách mạng Ô dù ở Hồng Kông năm 2014,… và những diễn biến chính trị tại Thái Lan, Campuchia, Mianma, Inđônêxia, Vênêxuêla cho thấy bản chất nguy hiểm từ sự can dự của các thế lực phương Tây vào tình hình nội bộ các nước có chủ quyền, gây ra bất ổn chính trị kéo dài, ly khai dân tộc nhằm tìm mọi cách thay thế chính quyền hiện tại.

Bản chất cách mạng màu là phản cách mạng, là phương thức, thủ đoạn theo chủ nghĩa sôvanh nước lớn sử dụng để loại bỏ chính quyền các nước không đi theo quỹ đạo của mình bằng nhóm cầm quyền khác, mà chưa làm thay đổi bản chất bên trong của các nước. Lợi dụng những mâu thuẫn, khó khăn của chính quyền đương nhiệm để tạo ra nguy cơ chính trị, thông qua việc bầu cử tự do và “cách mạng đường phố” để lật đổ chính quyền hợp pháp, dựng lên chính quyền thân Mỹ và phương Tây.

Ở các nước xã hội chủ nghĩa và nước có xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội thì chúng tìm mọi cách lật đổ và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lập đảng chính trị cầm quyền mới đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Trong truyền thông phương Tây, cách mạng màu được miêu tả rất hấp dẫn, giàu hứa hẹn như là những cuộc cách mạng dân chủ và nhân quyền phổ biến, trong đó, người dân có quyền đòi hỏi trách nhiệm dân chủ và yêu sách đối việc quản trị của chính quyền sở tại. Thực tế, cách mạng mang tính mị dân, người dân không có quyền lợi gì, thậm chí sau cách mạng là khủng hoảng chính trị, bất ổn xã hội kéo dài, mâu thuẫn giai tầng và dân tộc sâu sắc, kinh tế chậm phát triển, đói nghèo và thương vong gia tăng, đẩy các nước lâm vào hỗn loạn.

“Cách mạng màu” là một bộ phận hợp thành của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mục tiêu phá hoại nền độc lập của các quốc gia, dân tộc nhằm củng cố vị trí siêu cường quốc số một thế giới của mình, chi phối, dẫn dắt và truyền bá văn hóa, lối sống, dân chủ và nhân quyền của Mỹ và phương Tây trên thế giới; khống chế hoặc tạo ảnh hưởng mạnh mẽ để thiết lập chính quyền chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Mỹ. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, mục tiêu là lật độ vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lập ra đảng phái chính trị đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa do Mỹ và phương Tây định đoạt. Hiện nay, đối tượng của cách mạng màu hết sức đa dạng, có thể diễn ra ở nước có chế độ chính trị khác nhau, trong đó có Việt Nam.

Việt Nam chúng ta có phải đối diện với nguy cơ của “cách mạng màu” hay không

 

Các hoạt động nhằm thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam

Sau khi Đông Âu và Liên Xô sụp đổ ngày 25/12/1991, đặc biệt từ khi Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch gia tăng với những phương thức, thủ đoạn ngày càng thâm độc, quy mô lớn, tác động tiêu cực đến đời sống an ninh xã hội. Mục tiêu của chúng là xây dựng lực lượng, nhân tố và điều kiện và tạo ra thời cơ để tiến hành cách mạng màu gây bạo loạn, xúi giục nhân dân biểu tình, kích động chống đối chính quyền, tìm mọi cách lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam và sự lãnh đạo của Đảng.

Hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng nhằm tạo tiền đề về tư tưởng, chính trị, xã hội cho cuộc cách mạng màu ở Việt Nam. Đó là những hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò cầm quyền của Đảng. Những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, những kẻ thâm thù cộng sản, đối lập và phản bội cách mạng, những người a dua, kiêu ngạo, thậm chí có cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sử dụng những thủ đoạn và cách thức đa dạng, phong phú, mà chủ yếu là các bài viết theo lối “bổn cũ soạn lại”, các video, clip cắt ghép, các bloger trên một số báo chí nước ngoài, các trang mạng xã hội có tư tưởng chống phá Việt Nam như: Chantroimoi media, BBC NEWS, VOA tiếng Việt, Dân Báo, RFA,... ra sức đưa ra những luận điệu sai trái, thù địch, bóp méo và phủ nhận hoàn toàn nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đồng thời, tuyên truyền kêu gọi cải cách chính trị để tiến tới một nền dân chủ đa nguyên, đa đảng, thiết lập quyền tự do phát ngôn, ra báo tư nhân, lập đảng, lập hội, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang... Các hoạt động tuyên truyền kích động các hoạt động biểu tình, phá rối an ninh, trật tự xã hội, gây bạo loạn thông qua các sự kiện chính trị lớn của Đảng, Nhà nước, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm như: tranh chấp, khiếu kiện, đình công, vấn đề tôn giáo, dân tộc, tranh chấp biển đảo.

Hoạt động tác động, chuyển hóa nội bộ, hình thành nhân tố chống đối từ bên trong, thúc đẩy “tự diễn biến” nội bộ. Chúng lợi dụng quá trình hợp tác toàn diện với Việt Nam, chúng tăng cường tiếp cận vào những vấn đề chính trị - xã hội nội bộ, thông qua các dự án, chương trình nhằm hiện thực hóa mục tiêu dân chủ hóa chính trị. Chúng sử dụng các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các tập đoàn kinh tế đầu tư ở Việt Nam, tìm mọi cách tác động làm thay đổi chính sách, pháp luật, cải cách hành chính theo quỹ đạo dân chủ tư sản; tác động vào các cơ quan báo chí truyền thông và đội ngũ phóng viên định hướng theo cách làm báo phương Tây, thúc đẩy phát triển xã hội dân sự; thâm nhập vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo nhằm hình thành “giá trị Mỹ”, tự do phương Tây để chuyển hóa tư tưởng giới trẻ, tạo đà xây dựng lực lượng chính trị và tổ chức đối lập ở Việt Nam. Chúng tác động phân hóa, xâm nhập, cài cắm cơ sở nội gián, in sao và phát tán rộng rãi tài liệu với nội dung sai lệch gây mất niềm tin chế độ, thay đổi lập trường, hình thành lực lượng chống đối từ nội bộ trong hệ thống chính trị.

Hoạt động thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” hướng đến một xã hội đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tạo tiền đề cho sự ra đời các tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam. Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng và các hoạt động trao đổi, chuyển giao, hỗ trợ, hợp tác góp phần đẩy mạnh xã hội dân sự theo tiêu chí phương Tây, tạo dựng hành lang pháp lý cho việc hình thành xã hội dân sự ở Việt Nam. Thông qua quan hệ hợp tác, tài trợ cho các tổ chức đoàn thể quần chúng, các thế lực thù địch đẩy mạnh hình thành các tổ chức đối lập (như: công đoàn độc lập), tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam, đồng thời liên kết tạo thành mạng lưới các hiệp hội nhằm tăng cường vị trí, tầm quan trọng của các tổ chức phi chính phủ trong nước phối hợp tổ chức quốc tế để tiến hành cách mạng màu ở Việt Nam khi có thời cơ.

Biện pháp ngăn ngừa nguy cơ “cách mạng màu” ở Việt Nam

 

Xác định được những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng và Nhà nước ban hành các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp lý nhằm tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý đối với công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn nguy cơ cách mạng màu ở Việt Nam. Đặc biệt là chủ trương, chính sách về công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, phòng và chống “diễn biến hòa bình”; công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản; hoàn thiện hệ thống pháp lý trong đấu tranh với hoạt động thù địch, tăng cường quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và tổ chức phi chính phủ Việt Nam. Đẩy mạnh các biện pháp ngăn ngừa hoạt động thù địch bên ngoài tạo dựng tổ chức chính trị đối lập gây nguy cơ cách mạng màu ở Việt Nam. Nâng cao chất lượng các tổ chức, cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ vô hiệu hóa những kế hoạch, phương thức tổ chức huấn luyện, đào tạo lực lượng hậu thuẫn, tài trợ vật chất, móc nối các đối tượng trong nước, tạo ảnh hưởng chính trị của các đối tượng thù địch đối với quần chúng nhân dân và với dư luận xã hội. Phối hợp chặt chẽ các cấp chính quyền, lực lượng vũ trang cơ sở, mạng lưới nhân dân triển khai các biện pháp nghiệp vụ, giám sát chặt chẽ các đối tượng cầm đầu, bao vây, phong tỏa, tước bỏ điều kiện hoạt động của đối tượng thù địch.

Đồng thời, ngăn chặn, bóc gỡ, triệt phá mọi hoạt động hình thành tổ chức đối lập ở trong nước dưới danh nghĩa hợp tác, chương trình, dự án, tài trợ,… nhằm thúc đẩy cho ra đời ồ ạt các tổ chức xã hội dân sự, đảng phái chính trị phản động, tranh giành ảnh hưởng, thu hút quần chúng, gây mất niềm tin của nhân dân với chính quyền, tạo ra mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo và đòi độc lập. Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề chính trị, xã hội phức tạp để kích động thành những làn sóng chống đối cục bộ, biểu tình, bạo loạn, gây áp lực với Đảng và Nhà nước. Tùy từng đối tượng, vụ việc để có các biện pháp kịp thời, hợp lý để tổ chức phòng ngừa, răn đe, đấu tranh, trấn áp và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm pháp luật, không để bị động, bất ngờ. Nâng cao nhận thức, cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về thủ đoạn, âm mưu cách mạng màu, nắm bắt tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, kịp thời định hướng, uốn nắn tư tưởng đúng đắn, phê phán những biểu hiện mơ hồ, lệch lạc, a dua, bị lôi kéo, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tiếp tục quản lý có hiệu quả Luật An ninh mạng, kiểm soát mạng xã hội và định hướng các kênh thông tin đại chúng.

Thực tiễn các cuộc cách mạng màu đã diễn ra trên thế giới và cuộc đấu tranh phòng ngừa nguy cơ ở Việt Nam, vấn đề đặt ra là tiếp tục xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, bảo đảm sự ổn định chính trị vững mạnh từ Trung ương đến địa phương; giữ gìn nền quốc phòng toàn dân, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; nâng cao tinh thần đoàn kết toàn dân; các lực lượng vũ trang luôn chủ động trước những nguy cơ và thách thức; tăng cường vai trò quản lý báo chí, truyền thông, đặc biệt là mạng xã hội trong việc phát tán thông tin, định hướng dư luận…

Có thể khẳng định một điều, không có liều thuốc nào hữu hiệu bằng việc tự đề kháng và ngăn ngừa dịch bệnh từ xa. Loại bỏ tham nhũng tiêu cực, xử lý các cá nhân cán bộ biến chất, suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa là điều chúng ta bắt buộc phải làm. Làm tốt việc này, không những đất nước phát triển giàu mạnh mà niềm tin của nhân dân dành cho Đảng, chính quyền sẽ tăng lên. Khi nhân dân có niềm tin, họ sẽ không dễ bị lôi kéo, kích động. Bài học ở nhiều quốc gia trên thế giới cho chúng ta thấy rõ ràng rằng phải cảnh giác với chúng và cũng cần phải chấn chỉnh lại chính mình./.

 

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: 72 CÁI GAI ĐỘC!

     72 người ký tên đòi xóa bỏ ĐCS VN (xóa Điều 4 Hiến pháp) là 72 cái gai độc trong lòng chế độ ta.

Bọn chúng không chỉ đáng khinh bỉ mà cần phải dẹp bỏ ngay. Trấn áp kẻ chống đối khi chúng còn trong trứng nước. Không để chúng nằm trong danh sách các nhà giáo, các nhà khoa học biên soạn Sách giáo khoa cấp nhà nước ban hành năm 2025.

Hội đồng phong chức danh khoa học trung ương là do nhà nước lập ra, thường là một nguyên thứ trưởng hoặc một bộ trưởng đứng đầu.
Nhà nước có quyết định phong tặng Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Giáo sư, Phó giáo sư và các danh hiệu cao quý khác thì Nhà nước có quyền tước bỏ nếu họ không còn xứng đáng.

Tôi chỉ băn khoăn: tại sao đến lúc này mặt thật của bọn phản động, bọn tự diễn biến, bọn xuyên tạc và làm sai lệch lịch sử 

rõ ràng như vậy mà không kịp xử lý chúng một cách nghiêm khắc để làm gương cho kẻ khác?

Viết đến đây tôi hồi tưởng lại những năm tháng vinh quang và cay đắng khi tôi học tập ở Liên Xô.

Năm 2005, khi đọc Thông điệp Liên bang, Tổng thống Nga Putin nói: “Liên Xô tan rã là tai họa chính trị nghiêm trọng nhất của thế kỷ 20. Đối với nhân dân Nga, đó là một bi kịch thực sự”.

Ngày 5/2/1990, Hội nghị mở rộng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua nghị quyết bỏ Điều 6 của Hiến pháp Liên Xô quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước và xã hội; thiết lập hệ thống chính trị đa đảng và chức vụ Tổng thống Liên Xô. Sau đó, Gorbachev được bầu làm Tổng thống. Ngày 25/12/1991 là ngày cuối cùng Gorbachev làm Tổng thống Liên Xô, cũng là ngày tồn tại cuối cùng của Liên Xô. 19 giờ 32 phút, quốc kỳ Liên Xô hình búa liềm đã in đậm trong lòng nhiều thế hệ người Liên Xô và nhân dân thế giới trên nóc Điện Kremli ủ rũ hạ xuống trong gió lạnh, lá cờ ba mầu của Liên bang Nga thay thế. Sáng 26/12/1991, Viện Cộng hòa Xô viết tối cao Liên Xô họp hội nghị lần cuối cùng. Các đại biểu giơ tay biểu quyết thông qua tuyên ngôn tuyên bố “Liên Xô ngừng tồn tại”. Đảng Cộng sản Liên Xô, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết - hai cái tên rực rỡ suốt hơn nửa thế kỷ, đã rút khỏi vũ đài lịch sử âm thầm như thế. 

Giữa những năm 80 của thế kỷ 20, khi tôi đang là NCS, ăn phụ cấp ở trong hệ thống và guồng máy của ĐCS LX, thế giới đã chứng kiến sự kiện Liên Xô - cường quốc có diện tích địa lý trải rộng trên lục địa Á - Âu, có lực lượng vũ trang hùng mạnh... nhanh chóng sụp đổ mà không phải đối mặt với một cuộc xâm lăng hay gặp một biến cố tự nhiên đặc biệt nào./.
Yêu nước ST.

DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ MUỐN LÀM GÌ THÌ LÀM!

     Gần đây, nhiều kẻ phê phán Việt Nam thiếu dân chủ, vi phạm quyền con người, cấm tự do ngôn luận… Với góc nhìn của một thường dân tôi thấy chẳng có gì mà ầm ĩ. 

Này nhé:
- Bạn cứ thoải mái làm bất cứ việc gì bạn thích có ai cấm bạn đâu miễn là bạn đừng làm những việc pháp luật cấm ảnh hưởng đến an ninh đất nước và lợi ích của cộng đồng. 

- Bạn cứ nói những gì bạn nghĩ có ai cấm bạn đâu miễn là bạn đừng xuyên tạc, bôi nhọ đất nước; xúc phạm nhân phẩm, đời tư của người khác.

- Bạn muốn đi đường nào bạn đi có ai cấm bạn đâu miễn là bạn đừng vượt quá tốc độ, vượt đèn đỏ, đi vô tuyến đường, làn đường pháp luật không cho phép. 

- Bạn muốn đứng đâu là quyền của bạn nhưng bạn không thể đứng trên pháp luật. Pháp luật là tối thượng, mọi công dân phải tuân thủ, bạn cũng không ngoại lệ. 

- Bạn thể hiện quan điểm thế nào trước một vấn đề xã hội quan tâm là quyền của bạn nhưng quan điểm đó phải mang tính xây dựng, hướng về chân thiện mỹ; Không được trái với chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục và quy tắc ứng xử trên mạng xã hội; phủ nhận máu xương của cha anh mình đã ngã xuống để đất nước có ngày hôm nay.

Đất nước nào cũng vậy, chế độ nào cũng vậy, phải có kỷ cương, phép nước. Đã là công dân phải tuân thủ pháp luật. Dân chủ và nhân quyền không có nghĩa là bạn muốn làm gì thì làm, nói gì thì nói./.
Yêu nước ST.

KHI “TẬP TRUNG” VÀ “DÂN CHỦ” BỊ TÁCH RỜI

 

Trong các nguyên tắc của Đảng thì tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình là những nguyên tắc rất cơ bản trong lãnh đạo, tổ chức và sinh hoạt Đảng. Tuy nhiên, khi vận hành, với động cơ cá nhân, lợi ích nhóm, các nguyên tắc này bị lợi dụng, lạm dụng, bóp méo, trở thành bình phong, hợp lý hóa cho các sai phạm của lãnh đạo... Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản, nguyên tắc có tính chất xương sống trong tổ chức của chính đảng mác-xít. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thường gọi đây là nguyên tắc dân chủ tập trung với hàm ý nhấn mạnh, đề cao thành tố dân chủ trong nội hàm cùng với thành tố tập trung. Người chỉ rõ rằng: “Toàn thể đảng viên, toàn thể các cấp, tổ chức thống nhất lại theo một nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc ấy tức là dân chủ tập trung”. Người chỉ rõ đây là nguyên tắc lãnh đạo, nguyên tắc tổ chức cao nhất, là chế độ lãnh đạo của Đảng. Có thể thấy nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện đặc trưng cốt lõi và có ý nghĩa quyết định tới chất lượng, hiệu quả trong lãnh đạo, tổ chức và sinh hoạt Đảng. Tuy nhiên, qua thực tế thì nhiều vụ việc vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước thời gian qua đều liên quan đến việc chấp hành và thực thi nguyên tắc này.

Theo số liệu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã phát hiện, xử lý theo thẩm quyền nhiều tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên có dấu hiệu vi phạm kỷ luật Đảng ở nhiều tỉnh, thành phố, các cơ quan, đơn vị trong cả nước. Phần lớn các vụ việc vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng xuất phát từ vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Điều đáng nói ở đây là nguyên tắc tập trung dân chủ được xác lập và quy định rất chặt chẽ, cả trong Điều lệ Đảng cũng như nhiều văn bản hướng dẫn thực thi cụ thể của Đảng nhưng sao vẫn bị bóp méo và bị lợi dụng, lạm dụng để làm vỏ bọc cho các quyết định sai trái của lãnh đạo? Câu trả lời ở đây chính là do cách nhận thức và ở khâu vận hành nguyên tắc.

Cần khẳng định rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc thống nhất, quy định cách tổ chức, hoạt động của Đảng, trong đó, tập trung phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ phải đi đôi với tập trung; đảng viên bình đẳng về quyền và trách nhiệm; các cơ quan lãnh đạo của Đảng do bầu cử lập ra; nghị quyết của Đảng được quyết định theo đa số; thiểu số phục tùng đa số; tổ chức đảng cấp dưới phục tùng tổ chức đảng cấp trên; đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng..., nhằm bảo đảm cho Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, kỷ luật nghiêm minh.

Trong nguyên tắc tập trung dân chủ, tập trung và dân chủ quy định lẫn nhau. Tập trung mà không có dân chủ thì sẽ trở thành tập trung quan liêu, chuyên quyền, độc đoán; còn dân chủ mà không đi tới tập trung thì sẽ rơi vào tình trạng dân chủ vô tổ chức, hỗn loạn. Nguyên tắc tập trung dân chủ quy định chế độ làm việc, ra quyết định đặc thù của Đảng. Nếu như trong chế độ thủ trưởng, người đứng đầu được tự quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình thì trong Đảng, người đứng đầu cấp ủy phải theo chế độ lãnh đạo tập thể, các quyết định lãnh đạo phải được thảo luận và quyết định theo đa số. Vừa qua, nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý đồng thời là người đứng đầu cấp ủy đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ ở nội dung này, áp đặt, thiếu dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo, không bàn bạc, thảo luận trong tập thể lãnh đạo, dẫn đến quyết định chủ trương không đúng quy định, vượt thẩm quyền, vi phạm nguyên tắc tập thể lãnh đạo, quy chế làm việc của cấp ủy, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế, ảnh hưởng xấu tới tình hình chính trị, xã hội và uy tín của Đảng. Như thế, ở những cơ quan, đơn vị, địa phương khi người đứng đầu nắm cả hai vai, vừa là thủ trưởng cơ quan, vừa là người đứng đầu cấp ủy, nếu không nắm vững nguyên tắc, đồng thời nếu không có sự kiểm soát và kiềm chế của tập thể thì rất dễ vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc tập trung dân chủ quy định tổ chức đảng các cấp quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, tuy nhiên không được nhân danh tổ chức đảng ra nghị quyết trái với nguyên tắc, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên. Vừa qua, không ít cấp ủy đảng đã vi phạm quy định này.

Ở các tổ chức đảng vi phạm, người đứng đầu không bám sát vào các nội dung nguyên tắc, thiếu thảo luận dân chủ, áp đặt ý kiến chủ quan cá nhân. Dân chủ trở thành hình thức, giả hiệu, chỉ là bình phong bên ngoài, còn nội hàm bên trong lại bị một số cá nhân, đặc biệt là người đứng đầu chi phối, lũng đoạn, chèo kéo, ép buộc, thậm chí hăm dọa để bắt tập thể theo ý mình. Nhiều cá nhân trong tổ chức đảng thể hiện sự tập trung theo lối a dua, xu nịnh, "theo đóm ăn tàn", bất chấp nguyên tắc. Dân chủ bị vận hành sai quy trình và tập trung bị “cá nhân hóa”. Do đó, ý kiến của các cán bộ, đảng viên không được lắng nghe, không được cân nhắc để tiếp thu, thậm chí còn bỏ qua việc xin ý kiến, từ đó các vi phạm pháp luật đã không được ngăn chặn. Thực tế không ít nơi, người đứng đầu đã dùng nhiều chiêu trò, thủ đoạn để buộc tập thể thông qua các quyết định có tính chất cá nhân, lợi ích nhóm. Chiêu trò, thủ đoạn thường là cung cấp thông tin không đúng, hướng lái người khác theo ý mình, hứa hẹn, ràng buộc lợi ích nào đó hoặc dùng ảnh hưởng, quyền lực để gây sức ép, áp lực buộc người khác phải ủng hộ hay “im lặng là đồng ý”... Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương từng nhấn mạnh rằng: “Vừa rồi, chúng ta kỷ luật một số tổ chức đảng, cơ bản là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Dùng ý chí của người đứng đầu áp đặt chủ quan, không tôn trọng dân chủ”. Trong trường hợp này, nguyên tắc tập trung dân chủ trở thành bình phong. Ý chí, lợi ích cá nhân được “vỏ bọc” tập thể bảo vệ. Vì thế mới có chuyện, về hình thức thì thực hiện đúng quy trình nhưng kết quả vẫn là những sai phạm, hậu quả khôn lường...

                                                                                                       VHT.


CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CHƯA KỊP THỜI

 

Thời gian qua, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng tuy đã có nhiều đổi mới và có đột phá trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; chất lượng, hiệu quả chưa đều ở các cấp, việc tự kiểm tra, giám sát còn nhiều hạn chế. Cơ quan kiểm tra, giám sát có nơi, có lúc chưa phát huy hết tinh thần, trách nhiệm trong xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung kiểm tra, xác định những vấn đề yếu kém, nổi cộm, nhất là phát hiện dấu hiệu vi phạm để ngăn chặn kịp thời. Trong kiểm tra, giám sát ở một số nơi còn nể nang, né tránh, ngại va chạm, chưa nói thẳng, nói thật, thậm chí bao che, dung túng cho những hành vi sai trái, chưa dựa vào nhân dân để lắng nghe phản ánh những vi phạm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên... Có một thực tế là trong nhiều vụ việc, mặc dù đã có dấu hiệu vi phạm, đã có những đơn tố cáo nhưng do công tác kiểm tra đảng không được thực hiện kịp thời, quyết liệt nên những cá nhân sai phạm càng được thể lấn tới, càng lún sâu vào sai phạm, hậu quả ngày càng nghiêm trọng.

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Việc kiểm tra, giám sát thực hiện một số nghị quyết của Đảng chưa thường xuyên. Công tác kiểm tra ở một số nơi thiếu trọng tâm, trọng điểm...; còn nhiều tổ chức đảng và đảng viên có vi phạm nhưng chưa được phát hiện kịp thời. Đó là những nguyên nhân khiến một số tổ chức Đảng gần như bị tê liệt, trở thành bình phong, công cụ của sai phạm. Vì thế, cần phải tìm ra phương thuốc để chữa trị căn bệnh rất nguy hiểm nêu trên.

Một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa gương mẫu, thẳng thắn phê bình, tự phê bình, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", thậm chí còn mắc vào chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất; thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân...

                                                                                                   VHT.


CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CHƯA KỊP THỜI

Thời gian qua, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng tuy đã có nhiều đổi mới và có đột phá trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; chất lượng, hiệu quả chưa đều ở các cấp, việc tự kiểm tra, giám sát còn nhiều hạn chế. Cơ quan kiểm tra, giám sát có nơi, có lúc chưa phát huy hết tinh thần, trách nhiệm trong xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung kiểm tra, xác định những vấn đề yếu kém, nổi cộm, nhất là phát hiện dấu hiệu vi phạm để ngăn chặn kịp thời. Trong kiểm tra, giám sát ở một số nơi còn nể nang, né tránh, ngại va chạm, chưa nói thẳng, nói thật, thậm chí bao che, dung túng cho những hành vi sai trái, chưa dựa vào nhân dân để lắng nghe phản ánh những vi phạm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên... Có một thực tế là trong nhiều vụ việc, mặc dù đã có dấu hiệu vi phạm, đã có những đơn tố cáo nhưng do công tác kiểm tra đảng không được thực hiện kịp thời, quyết liệt nên những cá nhân sai phạm càng được thể lấn tới, càng lún sâu vào sai phạm, hậu quả ngày càng nghiêm trọng.

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Việc kiểm tra, giám sát thực hiện một số nghị quyết của Đảng chưa thường xuyên. Công tác kiểm tra ở một số nơi thiếu trọng tâm, trọng điểm...; còn nhiều tổ chức đảng và đảng viên có vi phạm nhưng chưa được phát hiện kịp thời. Đó là những nguyên nhân khiến một số tổ chức Đảng gần như bị tê liệt, trở thành bình phong, công cụ của sai phạm. Vì thế, cần phải tìm ra phương thuốc để chữa trị căn bệnh rất nguy hiểm nêu trên.

Một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa gương mẫu, thẳng thắn phê bình, tự phê bình, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", thậm chí còn mắc vào chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất; thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân...

                                                                                                   VHT.



MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Đại đoàn kết là truyền thống quý báu, được hun đúc trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, cũng là mục tiêu chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, nghiên cứu giải pháp tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Trong những năm qua, mặc dù đất nước có nhiều khó khăn, thách thức, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường. Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động; phát huy ngày càng tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; cùng Đảng, Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, quản lý xã hội; thường xuyên tổ chức các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước”1.

Hiện nay, bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước có những diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo; đan xen cả thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn đối với sự nghiệp đổi mới nói chung và đường lối xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói riêng. Lợi dụng quá trình mở cửa, hội nhập, các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta; khoét sâu các mâu thuẫn, gây xung đột xã hội, kích động nhân dân tụ tập đông người bất hợp pháp, bạo loạn, làm mất ổn định chính trị - xã hội. Với việc làm đó, họ đang tìm cách chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân; đối lập nhân dân với lực lượng vũ trang; chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; kích động chống đối, làm suy yếu sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Những vấn đề đó đang là những thách thức đối với “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội ở nước ta hiện nay.

Trong bối cảnh tình hình trên, để tiếp tục tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Trước hết, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để các cấp, ngành, lực lượng nhận thức sâu sắc về sự cần thiết phải tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”3; “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi...”4. Công tác tuyên truyền cần phải làm cho nhân dân thấm nhuần lời dạy của Người. Cùng với đó, cần quán triệt, thực hiện quan điểm của Đảng: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo”5. Để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần phát huy những yếu tố tương đồng, cố gắng tìm ra mẫu số chung của mọi giai cấp, tầng lớp; quy tụ sức mạnh của các bộ phận cấu thành dân tộc ta nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Qua đó, để mọi người nhận thức rõ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm mọi người dân đang sinh sống, làm ăn ở trong nước và ở nước ngoài có nguồn gốc là người Việt Nam, không phân biệt là dân tộc thiểu số hay đa số, theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; không phân biệt giàu hay nghèo, nam hay nữ, già hay trẻ, nếu “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”6 để xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và tiếp tục thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với việc tăng cường, củng cố, phát huy vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng lãnh đạo thông qua đường lối, chính sách, Nhà nước quản lý thông qua hệ thống pháp luật, nhằm tạo cơ sở cho sự thống nhất các lợi ích, thống nhất về ý chí và hành động của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, nhất là giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức. Do vậy, Đảng và Nhà nước không ngừng hoàn thiện, thể chế hóa, cụ thể hóa hệ thống đường lối, chính sách, pháp luật để “bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”7, nhân dân thực sự làm chủ, được bày tỏ nguyện vọng của mình thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân và phải được thực thi trong thực tiễn. Khắc phục triệt để tình trạng có nơi, có lúc thực hiện không đúng, thậm chí trái ngược với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế, chính sách về dân tộc, tôn giáo, chính sách xã hội phải khuyến khích, động viên, phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, có những chính sách cụ thể, quan tâm mọi mặt đối với các tầng lớp, giai cấp trong xã hội, nhất là chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng, tạo điều kiện để họ khắc phục khó khăn, đảm bảo cuộc sống, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, v.v. Thực sự tôn trọng và tạo điều kiện, cơ hội để nhân dân tham gia thảo luận, góp ý những vấn đề quan trọng của đất nước; phổ biến sâu rộng và thực hiện tốt hơn nữa Quy chế Dân chủ ở cơ sở, giải quyết tốt những vấn đề xã hội bức xúc đang đặt ra. Cấp ủy và chính quyền các cấp phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân; tin dân và tôn trọng dân.

 Ba là, giải quyết tốt quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội; kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và toàn xã hội. “Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm mỗi người dân đều được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới”8. Tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ kháng chiến cũ, các vùng chiến lược, vùng tôn giáo. Trân trọng, tôn vinh những đóng góp, cống hiến của nhân dân; có cơ chế, chính sách đặc biệt để thu hút nhân tài của đất nước. Tôn vinh những doanh nhân có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước; “Xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng. Phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước của kinh tế tư nhân…”9. Tiếp tục xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp, tạo thuận lợi cho thế hệ trẻ học tập, nghiên cứu, lao động, giải trí, phát triển trí tuệ, kỹ năng, thể lực để cống hiến cho đất nước. Thực hiện tốt chính sách bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng; hoàn thiện chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Đối với đồng bào định cư ở nước ngoài, cần có chính sách hỗ trợ bà con ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, góp phần tăng cường hợp tác hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước; đồng thời, cần có cơ chế, chính sách thu hút đồng bào hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựng và bảo vệ đất nước.