Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2024

Một số vấn đề về đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng hiện nay - Phần 1

Các tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, cầu nối giữa Ðảng với nhân dân, có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng. Đây là nơi quản lý, giáo dục, rèn luyện, phát triển và sàng lọc đảng viên; nơi thể hiện toàn diện, đầy đủ, phong phú, cụ thể, sinh động nhất quyền làm chủ của nhân dân và mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng.

Một số vấn đề chung về tổ chức cơ sở đảng

Trong những năm gần đây, thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về đổi mới, kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, các loại hình tổ chức cơ sở đảng cũng được kiện toàn, sắp xếp lại cho phù hợp, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Các loại hình tổ chức cơ sở đảng có sự biến động, thay đổi tương đối lớn về số lượng, quy mô, hình thức tổ chức cũng như nội dung, phương thức hoạt động. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ chính trị, quy mô và tính chất hoạt động, nội dung và phương thức lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng, Ban Bí thư Trung ương Đảng các khóa đã ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở để thực hiện, trong đó có một số loại hình tổ chức cơ sở đảng cơ bản và chủ yếu sau đây:

Một là, tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn: Đây là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập theo địa bàn, lãnh thổ, gắn với đơn vị hành chính nhà nước ở cấp xã; có chức năng lãnh đạo toàn diện trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Đây là nơi tập trung đông đảng viên và gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân (số lượng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn chỉ chiếm khoảng 20% nhưng chiếm gần 70% tổng số đảng viên của toàn Đảng). Vì vậy, đây là nơi thể hiện toàn diện, đầy đủ, cụ thể, phong phú, sâu sắc nhất quyền làm chủ của nhân dân và mối quan hệ gắn bó mật thiết, máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, góp phần quan trọng trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước.

Hai là, tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan hành chính nhà nước: Là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập ở các cơ quan hành chính của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội từ cấp huyện đến cấp trung ương; có chức năng lãnh đạo cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nghiên cứu, tham mưu để xây dựng, thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan (nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với lãnh đạo cơ quan trong việc ban hành các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, hướng dẫn... trên các lĩnh vực); đồng thời, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ quan trong sạch, vững mạnh.

Ba là, tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị sự nghiệp công lập: Là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập ở các trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu,... của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp; có chức năng lãnh đạo toàn diện các mặt công tác của đơn vị, trong đó tập trung lãnh đạo xây dựng và thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác tổ chức cán bộ của đơn vị; lãnh đạo thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở đơn vị trong sạch, vững mạnh. Nơi tập trung đông đội ngũ trí thức, cán bộ khoa học - kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao trên các lĩnh vực và có học hàm, học vị, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Bốn là, tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước: Là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập trong các doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn và doanh nghiệp cổ phần mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ); có chức năng lãnh đạo toàn diện các mặt hoạt động của doanh nghiệp, trong đó tập trung lãnh đạo xây dựng và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước; bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở doanh nghiệp trong sạch, vững mạnh; không ngừng nâng cao đời sống của người lao động; giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Năm là, tổ chức cơ sở đảng trong lực lượng vũ trang: Là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập tại các đơn vị cơ sở trong quân đội nhân dân và công an nhân dân; có chức năng lãnh đạo toàn diện, trực tiếp mọi mặt công tác của đơn vị; lãnh đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các tổ chức trong đơn vị trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chính trị được giao, thực sự là công cụ mạnh mẽ, sắc bén để bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Sáu là, tổ chức cơ sở đảng ở doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước: Đây là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập ở các doanh nghiệp cổ phần có vốn của Nhà nước (Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ), doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần tư nhân, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và trong các trường học, bệnh viện ngoài công lập...; có chức năng lãnh đạo cán bộ, đảng viên, người lao động Việt Nam và tuyên truyền, vận động, thuyết phục chủ doanh nghiệp, các thành viên trong doanh nghiệp thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực xây dựng tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước trong sạch, vững mạnh, góp phần xây dựng doanh nghiệp ngày càng phát triển, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động.

Tựu chung lại, các quy định của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng đều xác định: “Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị, cầu nối giữa Ðảng với nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở”; đồng thời, cụ thể hóa nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng được quy định trong Điều lệ Đảng thành 5 nhiệm vụ: (i) Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ sở; (ii) Lãnh đạo công tác chính trị tư tưởng; (iii) Lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ; (iv) Lãnh đạo xây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở; (v) Thực hiện công tác xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh.

Trước yêu cầu ngày càng cao của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, trong một số quy định mới ban hành gần đây, Ban Bí thư đã tách công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng (vốn nằm trong nhiệm vụ xây dựng đảng bộ, chi bộ) thành nhiệm vụ riêng, nên tổ chức cơ sở đảng có 6 nhiệm vụ.

 

VAI TRÒ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA 
VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC 

Cách đây tròn 78 năm, vào ngày 24.11.1946, tại Nhà hát Lớn ở Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai mạc Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ nhất. Trong diễn văn khai mạc, Người khẳng định nhiệm vụ “Xây dựng nền văn hoá mới của nước nhà phải lấy hạnh phúc của đồng bào, dân tộc làm cơ sở”. Người cũng đề cao sứ mệnh của văn hoá, nghệ thuật trong xây dựng con người Việt Nam yêu nước, độc lập, tự cường, tự chủ, “văn hoá soi đường cho quốc dân đi”.

Hai năm sau, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai do Đảng ta chỉ đạo, đã diễn ra từ ngày 16 đến 20.7.1948 tại xã Đào Giã, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, khi cả nước đang trường kỳ kháng chiến chống Pháp. Cùng với Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất năm 1946, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai năm 1948 được xem là “Hội nghị Diên Hồng” đầu tiên về văn hóa - nơi Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ nội hàm và đích đến của “nền văn hóa mới của nước Việt Nam mới”; thực sự là ánh sáng soi đường tập hợp đông đảo lực lượng văn nghệ sĩ, trí thức, các nhà khoa học trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Thấm nhuần lời dạy và kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề phải coi trọng ngang nhau: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá”, văn hoá luôn là lĩnh vực được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Đại hội XIII của Đảng xác định, phát triển nhanh và bền vững đất nước dựa chủ yếu vào việc phát huy tối đa nhân tố con người; lấy con người là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển của đất nước. Trong xây dựng văn hoá lấy trọng tâm là chăm lo cho con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp.

Nói về hội nghị văn hoá toàn quốc, nhiều nhà nghiên cứu văn hoá khẳng định: Hội nghị diễn ra có ý nghĩa đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của đất nước ta. Thông qua hội nghị này nhằm khẳng định, nhìn nhận vai trò vị trí quan trọng của văn hóa. Khi văn hóa được coi là nguồn lực nội sinh, thì việc tiến hành Hội nghị có ý nghĩa cấp thiết, giúp chúng ta xác định được hệ giá trị của văn hóa Việt Nam, có cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển đề án đến giữa thế kỷ XXI. Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam ngày hôm nay là vấn đề cấp bách, cấp thiết, có ý nghĩa cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Trong những nguồn lực tạo nên sức mạnh mềm Việt Nam, sự đa dạng văn hóa là một trong những yếu tố quan trọng, không chỉ tạo nên sức hấp dẫn to lớn của Việt Nam đối với thế giới bên ngoài, mà còn là nền tảng hình thành nội lực cho sự phát triển của đất nước. Sự đa dạng của các nền văn hóa, các cộng đồng văn hóa ở Việt Nam tạo ra môi trường để tăng cường tình đoàn kết, sự gắn bó giữa các cộng đồng.

“Hội nghị văn hóa toàn quốc là nền tảng đưa nước ta mở ra một thời kỳ phát triển mới, với một ý chí độc lập tự cường của nhân dân ta. Từ đó đưa ra các giải pháp phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước. Hướng tới những mục tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định, đến năm 2030, nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là trở thành nước phát triển, thu nhập cao” ./.

 

Phòng, chống “diễn biến hòa bình”: Lại tuyên truyền "bẩn"!

Sau khi thủ đoạn tung những video clip dàn dựng, cắt ghép, sưu tầm từ nhiều năm trước về cảnh “đi bộ đội bị lính cũ bắt nạt hoặc phải làm việc cực nhọc” bị bạn đọc bóc mẽ, vạch trần, một số trang mạng phản động, trong đó có Việt Tân tiếp tục dùng chiêu trò khác nhằm kêu gọi thanh niên trốn tránh nhập ngũ để thực hiện âm mưu chống phá đất nước ta.

Chúng tung tin rằng: Thanh niên nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sự là lãng phí mất 2 năm tuổi trẻ (!)

Nghe luận điệu tuyên truyền “bẩn” này, thấy ngay sự nham hiểm nhưng lại rất ngô nghê của những kẻ có mưu đồ đen tối. Bởi vì chúng cho rằng 2 năm nhập ngũ là lãng phí thời gian, nhưng tuyệt đại đa số người dân Việt Nam đều hiểu rõ Quân đội như trường học lớn, là môi trường rất tốt để thanh niên học tập, rèn luyện, từ đó trưởng thành hơn.

Thực tế nhiều năm qua đã chứng minh, tất cả thanh niên Việt Nam sau một thời gian nhập ngũ đều có sự tiến bộ rõ rệt về nhiều mặt. Hầu như ai hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về cũng có sức khỏe, phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực, bản lĩnh, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong... chững chạc hơn, tốt hơn so với trước khi nhập ngũ.

Thực tế là đại đa số các cơ quan, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh đều ưu tiên tuyển chọn người đã được học tập, rèn luyện qua môi trường Quân đội, bởi họ thường có phẩm chất, năng lực, uy tín cao hơn.

Thực tế trong các đợt tuyển quân hằng năm thì luôn có hàng vạn thanh niên viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Họ vừa tự giác thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc, vừa muốn được học tập, rèn luyện trong môi trường Quân đội để trưởng thành, có đủ hành trang cần thiết lập thân, lập nghiệp một cách tự tin, bền vững. Như huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang năm nay có 100% thanh niên nhập ngũ viết đơn tình nguyện nhập ngũ; trong tổng số công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự đầu năm 2024 của tỉnh Hà Giang có gần 70% viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Có những gia đình cả hai, ba anh em ruột cùng xung phong nhập ngũ một đợt (như Nguyễn Khắc Tự Hiền Phúc, Nguyễn Khắc Tự Hiền Nhơn, Nguyễn Khắc Tự Hiền Nhân ở phường Tam Thuận, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng).

Chắc chắn, chẳng có người hiểu biết nào lại dại dột tin vào luận điệu tuyên truyền “bẩn”, rằng “Thanh niên nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sự là lãng phí mất 2 năm tuổi trẻ” (!). Nghe theo lời xúi dại ấy, có khi tự đẩy mình vào ăn chơi sa ngã, vi phạm pháp luật, đánh mất tương lai.

Ngăn chặn âm mưu dùng sách, báo xấu độc để chuyển hóa tư tưởng lệch lạc

Với âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa-tư tưởng, một trong những phương thức mà các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng là phát hành các sách, báo có nội dung độc hại, xuyên tạc, phản động. Đáng phê phán là một số cá nhân do nhận thức chính trị hạn chế, thiếu hiểu biết và hám lợi đã “nối giáo cho giặc” khi công khai tán phát, mua bán sách, báo xấu độc. Vì thế, việc ngăn chặn sự thẩm lậu, đấu tranh trực diện với sách, báo xấu độc cần nhất là chủ động, thường xuyên, kịp thời, đi vào thực chất.

Âm mưu đầu độc nhận thức

Đằng sau một cuốn sách, một bài báo chứa đựng tư tưởng, lý lẽ, tâm tư, tình cảm có tác động đến nhận thức, hành vi của độc giả. Bên cạnh những “bảo thư” soi đường, chỉ lối để con người hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ; rèn luyện, phấn đấu tu thân, tích đức để khẳng định bản thân, cống hiến cho xã hội; cũng không hiếm những “tà thư” đầu độc độc giả đưa đường đến với sự tối tăm, hận thù, bi quan, những hành vi lệch chuẩn, thiếu văn hóa và đạo đức, vi phạm pháp luật...

Khác với loại hình tuyên truyền trực quan như tranh, ảnh, phim; sách, báo xấu độc xâm nhập âm thầm, dùng lý lẽ bề ngoài tưởng chừng rất khách quan, khoa học nhưng ngầm ẩn những dụng ý vô cùng thâm hiểm. Chỉ cần độc giả là người thiếu hiểu biết về chính trị, không kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng, có ẩn ức, bất mãn trong đời sống rất dễ bị tiêm nhiễm, dần dần “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lúc nào không hay. Chẳng hạn, khá nhiều sách, báo dưới cái mác nghiên cứu khoa học lịch sử đã “bắn vào quá khứ” khi lập luận rằng: Không cần tiếp thu chủ nghĩa cộng sản, không cần sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Bác Hồ, không cần có Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam cứ “ngoan ngoãn” ở trong “vòng tay bảo hộ” của mẫu quốc Pháp sau Chiến tranh Thế giới thứ hai thì đất nước sẽ phát triển, dân trí nâng cao; rồi sau đó thông qua phương cách hòa bình để có được nền độc lập thì sẽ tốt hơn là phải cầm súng suốt mấy chục năm, làm “kéo lùi lịch sử”. Luận điệu này với những người trưởng thành có hiểu biết lịch sử, có tư duy biện chứng khoa học thì đích thực là phản động, phi thực tế và phản khoa học. Tuy nhiên, nếu là một người trẻ mới mười tám, đôi mươi, sinh ra trong hòa bình thì chưa chắc đã đủ bản lĩnh, trình độ để nhận diện đây là “tà thuyết”.

Theo số liệu của Bộ Công an, tính từ năm 2009 đến 2022, lực lượng an ninh chính trị nội bộ đã phối hợp thu thập, nghiên cứu hơn 500 đề tài, bản thảo; kiến nghị không cho xuất bản hoặc sửa chữa lại nội dung trước khi xuất bản 350 đề tài, bản thảo; ngừng phát hành, thu hồi, tiêu hủy 150 ấn phẩm có nội dung phức tạp, nhạy cảm, vi phạm; xử phạt vi phạm pháp luật trên lĩnh vực xuất bản hơn 760 trường hợp. 

Khi những ý đồ thâm hiểm không phát huy dưới dạng “chính ngạch”, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động thông qua phương thức cũ đó là tán phát sách, báo xấu độc theo con đường “tiểu ngạch”, nhất là trên không gian mạng. 

Sách, báo xấu độc chủ yếu được xuất bản dưới chế độ cũ trước năm 1975, sau này in ấn ở hải ngoại. Dù là thể loại hư cấu hay phi hư cấu, sách, báo xấu độc đều có chung một số đặc điểm về nội dung, đó là: Ra sức cổ vũ quan điểm thù địch, chống đối Đảng Cộng sản Việt Nam; kêu gọi người dân không chấp nhận Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội; phủ định lý luận về chủ nghĩa xã hội và sự đúng đắn tất yếu của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đòi xét lại lịch sử, bôi nhọ nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của các anh hùng dân tộc, lãnh tụ của Đảng, các bậc tiền bối cách mạng; khoét sâu vào những mặt trái của xã hội nhằm phủ nhận thành tựu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân...

Đáng lo ngại là một số cá nhân chuyên kinh doanh sách, báo, dịch vụ in ấn nhận thấy sách, báo xấu độc bị cấm phổ biến, lưu hành là “hàng hiếm” nên đã sưu tập, tái sản xuất, bày bán công khai trên mạng xã hội dưới dạng sách in và sách điện tử. Chỉ cần đặt hàng trên mạng xã hội, bất cứ tác phẩm xấu độc nào trong vài giờ đã có thể chuyển đến tận tay người có nhu cầu.

Vấn đề đáng bàn là vì sao sách, báo xấu độc do các tác giả phản động lại có thể “đội mồ sống dậy” lưu hành dễ dàng mà các cơ quan chức năng chưa kịp thời ngăn chặn?

Kết hợp giữa phòng và chống hiệu quả

Chúng ta cần xác định phương thức tán phát, phổ biến sách, báo xấu độc là thủ đoạn mà các thế lực thù địch sẽ không bao giờ từ bỏ. Cho nên, đấu tranh với sách, báo xấu độc là việc làm lâu dài, thường xuyên để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đặc biệt cần chú ý kết hợp giữa phòng và chống một cách linh hoạt, tùy từng trường hợp cụ thể để mang lại hiệu quả thực chất.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị-xã hội, thuần phong mỹ tục”. 

Quán triệt, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, với lĩnh vực xuất bản, ông Nguyễn Nguyên, Cục trưởng Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Thông tin và Truyền thông), Phó chủ tịch Hội Xuất bản Việt Nam cho rằng: Trước hết, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực xuất bản. Phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan xuất bản, cơ quan chủ quản trong công tác xuất bản với yêu cầu giữ vững tôn chỉ, mục đích, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, biên tập viên, thực hiện chặt chẽ quy trình xuất bản, thẩm định kỹ nội dung bản thảo, tránh để xảy ra sai sót nội dung nghiêm trọng về chính trị.

Cùng với đó, công tác hậu kiểm cần tiếp tục được đẩy mạnh nhằm ngăn chặn triệt để các xuất bản phẩm có nội dung vi phạm quy định Luật Xuất bản; các cơ quan bảo vệ pháp luật triển khai đồng bộ các giải pháp đấu tranh, xử lý những ấn phẩm lưu hành bất hợp pháp, nhất là các ấn phẩm có nội dung xấu độc. Riêng với các địa chỉ lưu giữ, tán phát xuất bản phẩm xấu độc trên không gian mạng, cần phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng an ninh chính trị nội bộ, an ninh mạng tập trung sử dụng những biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn hoạt động và sức phổ biến, tiếp cận đến với người đọc.        

Theo ông Nguyễn Thái Bình, Phó giám đốc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, vấn nạn sách, tài liệu xấu độc được in ấn, mua bán công khai hiện nay là nguy cơ dẫn đến mất kiểm soát vì vô tình tạo thói quen, hành vi vi phạm pháp luật cho bạn đọc, người sử dụng thiếu hiểu biết. Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chức năng cần sớm vào cuộc, xử lý bảo đảm đủ răn đe với những hành vi vi phạm pháp luật. Với những nhóm người có chủ ý thu lợi cá nhân hoặc có kế hoạch, chủ động tán phát sách, báo xấu độc cần phải bị xử lý hình sự để răn đe những đối tượng khác. Với những cá nhân nhỏ lẻ, nếu chỉ hám lợi đơn thuần thì sớm tiếp cận, nhắc nhở.

Ông Nguyễn Thái Bình cũng nhấn mạnh đến vai trò của các cấp ủy Đảng cần chủ động định hướng, cung cấp thông tin thường xuyên để cán bộ, đảng viên không tìm hiểu, không tiếp cận với sách, báo xấu độc; xử lý nghiêm những trường hợp cán bộ, đảng viên phổ biến, giới thiệu sách, báo xấu độc dưới bất cứ hình thức nào. Đặc biệt, đối với các cơ quan quản lý nhà nước cần phải chủ động trong truyền thông chính sách, giúp cho người dân hiểu và làm việc theo pháp luật. Phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong hoạt động tuyên truyền miệng để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân không mua bán, tàng trữ, sử dụng, phổ biến sách, báo xấu độc; đồng thời, nâng cao khả năng nhận diện nội dung xấu độc, tham gia đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Một giải pháp mà các chuyên gia trong lĩnh vực xuất bản, phát triển văn hóa đọc nhiều lần nhắc đến, đó là: Ngành xuất bản cần tiếp tục nỗ lực xuất bản, giới thiệu nhiều sách, báo có nội dung lành mạnh, nhân văn, có giá trị học thuật dưới nhiều hình thức đa dạng, hấp dẫn, gắn với phát triển văn hóa đọc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Qua đó, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, tác động tích cực để xây dựng nhận thức đúng đắn, bồi đắp tâm hồn, nâng cao dân trí cho nhân dân, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Đừng làm biến dạng nhân vật thời đại

Đánh giá về lĩnh vực văn học nghệ thuật (VHNT) trong thời kỳ đổi mới, bên cạnh ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ và những thành tựu đạt được, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng đã thẳng thắn nhìn nhận, chúng ta còn “thiếu những tác phẩm văn hóa, VHNT lớn phản ánh sinh động tầm vóc công cuộc đổi mới, có tác dụng tích cực đối với con người”...

“Định vị” nhân vật thời đại trong tác phẩm văn học nghệ thuật

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục nhấn mạnh, làm sâu sắc thêm những nhận định mang tính khái quát trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Theo đó, người lãnh đạo cao nhất của Đảng nêu rõ: “Phát triển các lĩnh vực văn hóa chưa đồng bộ, còn phiến diện, nặng về hình thức, chưa đi vào chiều sâu, thực chất. Thiếu những tác phẩm văn hóa, VHNT lớn, tầm cỡ, phản ánh được tầm vóc của sự nghiệp đổi mới, có tác dụng tích cực đối với việc xây dựng đất nước, xây dựng con người”...

Đất nước ta đã trải qua gần 40 năm đổi mới, hội nhập và phát triển. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu rất to lớn, vẻ vang. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Tầm vóc của công cuộc đổi mới là vậy, nhưng tại sao nền VHNT Việt Nam vẫn thiếu vắng những tác phẩm lớn? Đây là một câu hỏi rất khó tìm câu trả lời thỏa đáng.

Để lý giải thấu đáo vấn đề đặt ra, có lẽ phải cần đến những cuộc hội thảo, những công trình nghiên cứu quy mô. Tuy nhiên, dưới góc nhìn biện chứng theo quan điểm của Đảng về VHNT, sự thiếu vắng các tác phẩm lớn, phản ánh sinh động tầm vóc công cuộc đổi mới của đất nước, nguyên nhân chủ quan và trước hết vẫn thuộc về lao động sáng tạo của nhà văn, nghệ sĩ. Tác phẩm VHNT được tạo nên bởi nhân vật. Thiếu tác phẩm lớn đồng nghĩa với việc chúng ta đang thiếu hình bóng của nhân vật thời đại.

Tác phẩm VHNT thể hiện góc nhìn, cảm xúc, trình độ và thái độ của tác giả đối với hiện thực xã hội. Mỗi giai đoạn lịch sử, VHNT sẽ “định vị” những dạng, tuyến nhân vật trung tâm của thời đại. Thông qua nhân vật để xây dựng tác phẩm. Đời sống của nhân vật cũng chính là sức sống của tác phẩm. Nhìn lại lịch sử dân tộc, chúng ta thấy rõ: Trong thời kỳ đất nước bị thực dân, phong kiến đô hộ, người nông dân là tuyến nhân vật trung tâm. Những chị Dậu, Chí Phèo, Thị Nở, vợ chồng A Phủ... đã trở thành những nhân vật thời đại, có sức sống xuyên thời gian. Thời kỳ lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, mảng đề tài chiến tranh cách mạng, Bộ đội Cụ Hồ và hậu phương chiến sĩ đã dựng nên những nhân vật thời đại và hàng loạt tác phẩm lớn mang tầm vóc thời đại.

Thời kỳ đất nước đổi mới, hội nhập quốc tế, vai trò của doanh nghiệp, doanh nhân, trí thức, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang... ngày càng được khẳng định. Họ chính là nguồn nhân lực chủ yếu của đất nước, mang khát vọng dân tộc hùng cường, đất nước phồn vinh. Đời sống và sự cống hiến của họ chính là chất liệu để nhà văn, nghệ sĩ xây dựng thành nhân vật trung tâm trong các tác phẩm. Hiện nay, Hội Nhà văn Việt Nam và hai tổ chức Hội ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có gần 2.000 nhà văn hội viên. Hằng năm, các tác phẩm VHNT xuất bản trong cả nước lên đến con số hàng nghìn đầu sách. Số lượng tác phẩm rất nhiều, nhưng tác phẩm chất lượng cao lại rất hiếm.

Nhìn sang các loại hình nghệ thuật, đáng chú ý nhất là điện ảnh, sân khấu, phim truyền hình... những tác phẩm được dư luận chú ý cũng rất thưa vắng nhân vật thời đại. Soi gần những bộ phim “cháy” phòng vé, doanh thu lên đến hàng trăm tỷ đồng thời gian qua, công chúng cũng thấy rõ, đề tài và nhân vật chính chỉ quanh quẩn chuyện gia đình, mối quan hệ vợ chồng, cha con, chuyện ngoại tình, đồng giới, cờ bạc, gái bán dâm, khách làng chơi, xã hội đen... Thêm nữa là kiểu nhân vật hài hước, chọc cười, mua vui... Những đề tài, dạng nhân vật ấy là một phần của đời sống xã hội, nhưng nó không phải là mẫu nhân vật đại diện cho xã hội, không phải là nhân vật trung tâm của thời đại. Thiếu nhân vật thời đại nên đời sống VHNT thiếu tác phẩm mang tầm vóc thời đại. Đó là lẽ tất yếu...

Nguy cơ suy thoái từ kiểu nhân vật bị biến dạng

Trong phạm vi bài này, chúng tôi không bàn sâu về chuyên môn, học thuật của hoạt động VHNT. Công việc đó thuộc về các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình VHNT. Nêu những vấn đề trên là để có cơ sở thấy rõ hơn những nguy cơ suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống trong những phân khúc nhất định của đời sống VHNT. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ rõ, một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là: “... Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng...”.

Bởi, sự cảm thụ, đánh giá tác phẩm VHNT là yếu tố thiên về cảm tính nên những biểu hiện lệch lạc trong sáng tác, quảng bá tác phẩm VHNT cũng rất khó để có thể “chỉ mặt, đặt tên”. Tuy nhiên, đứng trên lập trường quan điểm của Đảng về VHNT, không khó để chúng ta cảm nhận, nhận diện những kiểu lệch lạc ấy. Một trong những biểu hiện đó là kiểu làm biến dạng nhân vật thời đại. Chẳng hạn, khi xây dựng nhân vật cán bộ lãnh đạo thì đó là kiểu người tham ô, tham nhũng, thủ đoạn, dối trá... đến tận cùng. Nhân vật doanh nhân thành đạt thì hóa ra lại là “ông trùm xã hội đen”, buôn ma túy. Nhân vật trí thức thì xảo trá, ma mãnh, lừa thầy, phản bạn... Đọc sách chỉ thấy từ đầu đến cuối bức tranh xã hội đầy màu đen của tiêu cực; xem phim chỉ thấy toàn cảnh đâm chém, máu me rợn người, lọc lừa, dâm ô, ngoại tình... Đành rằng sáng tạo tác phẩm VHNT là phải hư cấu, nhưng khi mặt trái của xã hội bị khai thác, đẩy đi quá đà thì thông điệp về cái hay, cái đẹp, cái nhân văn (nếu có) cũng sẽ bị lu mờ, che lấp. Khi tuyến nhân vật trung tâm bị “nhào nặn”, hư cấu quá đà dẫn đến biến dạng, đời sống cảm xúc, tinh thần của công chúng sẽ bị lôi kéo, tác động, ám ảnh rất ghê gớm.

Vừa qua, tại một số diễn đàn về điện ảnh trên không gian mạng, nhiều khán giả đã để lại những dòng bình luận đáng suy ngẫm, chẳng hạn: “Vào rạp xem phim từ đầu đến cuối chỉ thấy xã hội đen thanh toán, đâm chém, hãm hiếp... thấy mệt mỏi quá”. Hoặc “Cuộc sống đã quá nhiều áp lực rồi, các nhà làm phim làm ơn mang đến nguồn năng lượng tích cực đi”... Có tài khoản thì mượn thơ của Lưu Quang Vũ để gửi thông điệp: “Bác thợ mộc nói sai rồi/ Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa/ Tại sao cây táo lại nở hoa/ Sao rãnh nước trong veo đến thế?...”.

Chính vì đề cao tính giải trí, muốn tác phẩm được chú ý bằng mọi giá nên không ít tác giả, tác phẩm đã bỏ quên chức năng xây dựng con người, chỉ chú trọng các mảng miếng câu khách. Ở đó, nhân vật trung tâm bị làm méo mó, biến dạng để trở thành công cụ gây sốc, giật gân. Trong một số trường hợp, đó còn là sự bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm...

Để ngăn chặn, phòng ngừa suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đời sống VHNT, cần thực hiện tổng hòa các giải pháp theo định hướng của Đảng. Nhưng trước hết và trên hết, vẫn là ý thức sáng tạo của nhà văn, nghệ sĩ. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định rõ: “Chú trọng nâng cao giá trị tư tưởng nghệ thuật, đồng thời bảo đảm tự do, dân chủ trong sáng tạo VHNT; khuyến khích những tìm tòi mới làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam; hạn chế các lệch lạc, các biểu hiện chạy theo thị hiếu tầm thường”.

Cụ thể hóa quan điểm của Đảng, một trong những yêu cầu đặt ra cho lao động sáng tạo của nhà văn, nghệ sĩ, đó là không được làm biến dạng nhân vật thời đại. Rõ ràng, xu thế thời đại và nhu cầu công chúng luôn luôn cần những tác phẩm phản ánh chân thực, sinh động cái hay, cái đẹp, cái nhân văn... của đời sống xã hội. Với phương châm lấy “xây” để “chống”, cái xấu xa, tiêu cực, có chăng chỉ là chất liệu, phương tiện để làm nổi bật hơn cái đẹp. Đó là cách để lấy hoa thơm lấn át cỏ dại, lấy cái đẹp dẹp cái xấu. Khi tác giả làm biến dạng nhân vật thời đại, vườn hoa trong mắt công chúng chỉ còn là đám cỏ dại. Những mầm mống suy thoái trong VHNT cũng từ đó mà ra...

Nguy cơ chuyển hóa do “diễn biến hòa bình” – Phần 2

Trên lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch tiến hành nhiều thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đường lối, chính sách kinh tế, trước hết là xuyên tạc những quan điểm kinh tế cơ bản, đường lối kinh tế của quốc gia đối địch.

Đặc biệt, chúng tập trung xuyên tạc, phủ nhận đường lối phát triển nền kinh tế độc lập tự chủ; phê phán những chính sách kinh tế hiện hành; tuyên truyền cho tính ưu việt của hệ thống thị trường tư bản chủ nghĩa quốc tế. Chúng cũng sử dụng nhiều biện pháp kinh tế, từ bao vây, cấm vận đến viện trợ, cho vay, xúc tiến và trao đổi thương mại, đầu tư phát triển, thuế quan..., các công cụ kinh tế như tài chính, tiền tệ, ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm..., các thiết chế tài chính, tiền tệ quốc tế... để gây sức ép cải cách pháp luật về kinh tế và thể chế kinh tế, từng bước chi phối, kiểm soát, khống chế, chuyển hóa nền kinh tế của quốc gia đối địch, làm cho nền kinh tế mất dần tính độc lập, tự chủ, ngày càng phụ thuộc nước ngoài.

Chúng khuyến khích, hỗ trợ phát triển sở hữu tư nhân gắn với tập trung làm suy yếu, tiến tới làm mất vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, tư nhân hóa nền kinh tế, tạo môi trường kinh tế có lợi cho chủ nghĩa tư bản nước ngoài. Chúng thông qua viện trợ, đầu tư, trao đổi thương mại để xâm nhập, chiếm lĩnh những địa bàn có vị trí chiến lược, những lĩnh vực kinh tế quan trọng và nhạy cảm của quốc gia đối địch nhằm đẩy nền kinh tế trong nước vào suy yếu, khủng hoảng, tạo điều kiện thực hiện ý đồ chi phối nền kinh tế...

Cùng với cô lập và phá hoại nền kinh tế, chúng cổ vũ những cải cách kinh tế theo lối tư nhân hoá, thị trường tự do theo kiểu tư bản chủ nghĩa, đồng thời lợi dụng việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để đưa những thế lực không thiện chí vào làm ăn với ý đồ phá hoại về chính trị, từ “tự diễn biến” về kinh tế dẫn đến chuyển hóa làm mất vai trò của thành phần kinh tế nhà nước, vô hiệu hóa quản lý kinh tế của Nhà nước.

Tất cả các mũi tấn công trên nhằm thẩm thấu và phát triển các nhân tố thiếu lành mạnh trong lòng xã hội quốc gia đối địch; thúc đẩy sự hình thành xã hội tiêu thụ dưới tác động của hàng hoá, nguồn vốn từ các nước siêu cường. Cùng với ràng buộc nền kinh tế là sự cổ suý cho lối sống tiêu dùng theo tiêu chuẩn giá trị phương Tây, hình thành tâm lý sùng bái đồng đôla, phát triển lối sống thực dụng, nhất là trong thanh niên; phát triển mạng lưới kinh tế tư nhân để hình thành các giai cấp, tầng lớp đối lập lợi ích; kích động mâu thuẫn, chia rẽ dân tộc, tôn giáo... để tạo nên “tự diễn biến” chuyển hóa sang chế độ tư bản chủ nghĩa.

Trên lĩnh vực văn hóa xã hội, các thế lực thù địch tiến hành các thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận đường lối xây dựng và phát triển văn hóa xã hội, hệ thống chính sách quản lý văn hóa xã hội của quốc gia đối địch. Chúng phê phán hệ thống giá trị, những chuẩn mực văn hóa, đạo đức truyền thống; lợi dụng giao lưu văn hóa để quảng bá, tuyên truyền, phổ biến những chuẩn mực văn hóa, đạo đức, lối sống của xã hội tư sản phương Tây, làm phai nhạt truyền thống và bản sắc dân tộc, nhất là trong thế hệ trẻ.

Chúng xuyên tạc, phủ nhận, phê phán đường lối, quan điểm, chủ trương và chính sách của nhà nước về giáo dục - đào tạo; tuyên truyền cho tính ưu việt của hệ thống giáo dục - đào tạo tư bản chủ nghĩa; lợi dụng giao lưu về giáo dục - đào tạo để chuyển hóa tư tưởng, ý thức của giới trí thức, sinh viên, học sinh, thế hệ trẻ...Chúng tìm cách thúc đẩy biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp, phân tầng và phân hóa xã hội theo mô hình tư bản chủ nghĩa: lợi dụng mở cửa, đổi mới về kinh tế, văn hóa, xã hội để đưa các yếu tố ý thức hệ tư sản phương Tây vào chiếm lĩnh vị trí chủ đạo trong đời sống xã hội; xây dựng và phát triển cơ sở xã hội - giai cấp, lực lượng xã hội thân phương Tây...

Đặc biệt, chúng lợi dụng những mâu thuẫn xã hội và lấy vấn đề dân tộc, tôn giáo làm “ngòi nổ” để kích động biểu tình, bạo loạn lật đổ. Trước hết, đó là triệt để lợi dụng những mâu thuẫn xã hội, tình hình khiếu kiện, đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu... để gây chia rẽ, xung đột nội bộ chính quyền và nhân dân. Chúng cũng lợi dụng những khó khăn, hạn chế của chính quyền các cấp trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo hoặc những yếu kém, sai lầm trong xử lý mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, lấy đó làm “ngòi nổ” kích động quần chúng biểu tình, gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các vùng chiến lược có vấn đề dân tộc, tôn giáo phức tạp. Chúng còn thúc đẩy chia rẽ, ly khai, tạo cớ can thiệp từ bên ngoài; khi gặp thời cơ, điều kiện thuận lợi có thể tổ chức hỗ trợ lực lượng phản động trong nước tiến hành bạo loạn lật đổ chính quyền...

Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh, đối ngoại, các thế lực thù địch tiến hành chống phá đường lối, chính sách quốc phòng - an ninh bằng thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận, phê phán quan điểm quốc phòng an ninh độc lập, tự chủ. Chúng xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp và tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội và công an; tuyên truyền chia rẽ giữa bộ máy lãnh đạo đất nước với quân đội và công an nhằm thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội và công an.

Chúng lợi dụng các mối quan hệ, tiếp xúc về quốc phòng - an ninh để mua chuộc lực lượng vũ trang, chuyển hóa nội bộ về nhân sự, tổ chức; lôi kéo tham gia các liên minh quân sự... Chúng cũng tập trung chống phá đường lối, chính sách đổi ngoại: xuyên tạc chủ trương và lộ trình hợp tác quốc tế của quốc gia đối địch; phá hoại, cản trở các quan hệ đối ngoại song phương và đa phương nếu các quan hệ này không phù hợp với lợi ích của các đế quốc siêu cường.

Chúng gây sức ép từ các cơ quan ngoại giao, các tổ chức quốc tế, chế áp đường lối độc lập, tự chủ trong quan hệ đối ngoại của quốc gia đối địch; chia rẽ với các nước láng giềng và khu vực, với các tổ chức quốc tế; làm giảm ảnh hưởng, vị thế trên trường quốc tế... Chúng còn sẵn sàng thực hiện răn đe quân sự, can thiệp vũ trang, tiến hành chiến tranh xâm lược khi gặp điều kiện, thời cơ thuận lợi, có thể sử dụng sức mạnh quân sự từ bên ngoài thực hiện răn đe quân sự, hỗ trợ lực lượng phản động trong nước tiến hành bạo loạn giành chính quyền, tiến hành can thiệp vũ trang, hoặc rất có thể gây chiến tranh xâm lược.

Sưu tầm

Những biểu hiện của nguy cơ chuyển hóa do “diễn biến hòa bình” - Phần 1

Nước ta đã thoát khỏi đói nghèo, trở thành một nước có thu nhập trung bình, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt. Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội cơ bản ổn định, vai trò lãnh đạo của Đảng được giữ vững, hiệu lực quản lý của Nhà nước được nâng lên. Từ một nước bị bao vây cô lập, nước ta đã có quan hệ quốc tế mở rộng, đa dạng với nhiều mối quan hệ ngày càng đi vào chiều sâu. Vị thế, uy tín quốc tế của đất nước được nâng cao, ngày càng có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, vì độc lập dân tộc và sự tiến bộ, công bằng xã hội trong khu vực và trên thế giới.

Tuy nhiên, các nhân tố có thể dẫn đến gây mất ổn định chính trị, xã hội vẫn còn tiềm ẩn. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI đã chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”. Nguy cơ phân hóa nội bộ, nhất là ở cấp cao, tâm lý bất mãn xã hội đang tích tụ, dồn nén và tiếp tục gia tăng; nhận thức về chủ trương của Đảng và Nhà nước giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo còn nhiều mâu thuẫn, rất dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng gây bất ổn về chính trị, xã hội và mưu toan lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng tình trạng quản lý thiếu chặt chẽ và mối quan hệ xin - cho vẫn còn tồn tại khá phổ biến trong vận hành nền kinh tế; cơ chế kiểm tra, giám sát kém hiệu quả gây nên tình trạng tham nhũng, lãng phí lớn, làm thất thoát tài sản của xã hội, gây tổn hại đến sự phát triển bền vững của đất nước. Mặt trái của cơ chế thị trường đã bộc lộ. Sự phân hóa giàu, nghèo giữa các vùng, giữa các tầng lớp trong xã hội đang diễn ra với khoảng cách ngày càng lớn.

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có chức, có quyền đang giàu lên một cách nhanh chóng nhờ tham nhũng và lợi dụng các kẽ hở của luật pháp, và tình trạng thoái hoá, biến chất ấy đã gây nên sự phản cảm trong xã hội. Một bộ phận lớn dân chúng trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp dần dần bị mất hết tư liệu sản xuất do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hóa và quá trình tích tụ ruộng đất đang diễn ra một cách nhanh chóng, trở thành tầng lớp vô sản không việc làm, cuộc sống ngày một khó khăn.

Các chính sách xã hội chậm được đổi mới, cuộc đấu tranh chống tham nhũng chưa phát huy được hiệu quả thực sự, cùng với những bức xúc dạng tích tụ trong đời sống xã hội đã từng bước làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.Tình huống chuyển hóa do “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến” có tác động trực tiếp đến vấn đề chiến tranh và hòa bình ở nước ta.

Những bức xúc xã hội, cùng với những thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch như đã nêu ở trên có thể làm tăng quá trình “diễn biến”, “tự diễn biến” xảy ra ngay trong bản thân mỗi con người, mỗi tổ chức kinh tế, xã hội cụ thể: Từ chỗ mơ hồ về bản chất giai cấp, mơ hồ về ý thức hệ dẫn đến chạy theo lối sống thực dụng, xa rời bản sắc và truyền thống dân tộc, xa rời lý tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; từ thoái hóa, biến chất theo cám dỗ lợi ích cá nhân dẫn đến bị các thế lực thù địch lợi dụng để tập hợp lực lượng, kích động bạo loạn chính trị làm cho xã hội mất ổn định. Nếu ta xử lý không tốt, hoặc mắc sai lầm về chiến lược, sẽ có thể dẫn đến nguy cơ nội chiến, tạo cơ hội để các thế lực thù địch can thiệp vũ trang hoặc gây chiến tranh xâm lược.

Sưu tầm

“ Bắc Nam như cội với cành”

Bắc Nam như cội với cành
Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng
Rồi đây thống nhất thành công
Bắc Nam ta lại vui trong một nhà
Mấy lời thân ái nôm na
Vừa là kêu gọi vừa là mừng xuân.

 Xuân Giáp Thìn 1964

Thơ chúc Tết Xuân Giáp Thìn của Bác là hồn thiêng của đất trời, của lòng người trong đêm Giao thừa thấm đẫm tình yêu thương, giao hòa trong cảm xúc. Bác đã về với thế giới người hiền 55 năm nhưng năm nay đọc lại thơ chúc Tết của Bác tròn 60 năm trước - Xuân Giáp Thìn 1964 - mà vẫn cảm nhận nguyên vẹn giọng đọc của Người, vẫn như nhìn thấy Bác đang hiện diện trước quốc dân đồng bào trong giờ phút thiêng liêng của trời đất.

Xuân Giáp Thìn là năm thứ tư của thời kỳ miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Cách mạng nước ta có nhiệm vụ vừa xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vừa phải chống Mỹ cứu nước ở Miền Nam. Thơ chúc Tết năm Giáp Thìn 1964 của Bác rộng cửa càn khôn, thông nguồn tạo hóa, chứa học thuật, tụ tinh hoa, đó là những “hạt ngọc” hiển minh trong ngôn ngữ thơ. Bao nhiêu sức lực và trí tuệ mà con người đã sản sinh ra trên đất nước này được Bác ví von:

“Bắc Nam như cội với cành

Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng”

Đây là nghệ thuật tạo hình bằng chữ. Hai miền Bắc - Nam như gốc với ngọn, cội nào thì cành ấy, cũng giống như cơ thể con người. Thơ chúc Tết Xuân Giáp Thìn 1964 của Bác đã đi sâu vào những vùng suy tư hiện đại trước một thế giới đang vận động, đang phát triển mạnh mẽ.

“Rồi đây thống nhất thành công

Bắc Nam ta lại vui trong một nhà”

Ngôn ngữ thơ chúc Tết của Bác luôn giản dị nhưng đó là cái giản dị mà Bác đã đi qua nhiều phong phú và biến động. Ngôn ngữ thơ chúc Tết của Bác cứ hồn nhiên như ngày và đêm nhưng có nội lực to lớn, có thể vượt qua mọi trở ngại để đi tới “thành công”. Ngôn ngữ thơ chúc Tết của Bác có sức mạnh của tam tài “ĐẤT - TRỜI - NGƯỜI”, thức tỉnh tâm trí người nghe. Những từ trong thơ chúc Tết của Bác vốn quen thuộc mà vẫn phát sáng kỳ lạ, giống như tầm nhìn của chim Bằng trên chín tầng mây.

“Mấy lời thân ái nôm na” của Bác tưởng như đơn sơ mà phong phú, tưởng như mộc mạc mà thanh cao, tưởng như giản dị mà vĩ đại. Các nhà lãnh đạo hiểu được, hiểu sâu, hiểu rộng nội hàm hai chữ “nôm na” của Bác thì thật là kỳ thú thiên khai./.

Tái diễn luận điệu xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

 

Đảng và Nhà nước ta luôn kiên quyết, kiên trì, chủ động đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Thế nhưng bất chấp những nỗ lực và kết quả đạt được, các thế lực thù địch, phản động lại thường xuyên đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, cố tình phủ nhận thành quả, lấy cớ kích động chống phá.

Tỉnh táo trước “ma trận” tin giả, tin xấu độc

Cần nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động chống phá công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên những nội dung sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể chống tham nhũng, lãng phí và suy thoái thành công nếu không đa nguyên, đa đảng. Từ đó, họ kêu gọi Việt Nam phải đa nguyên, đa đảng đối lập mới chống tham nhũng thành công. Đây là chiêu bài được các thế lực thù địch, phản động diễn đi diễn lại mang tính sáo rỗng, cũ mòn.

Thứ hai, họ vu cáo rằng, chính quyền hạn chế quyền người dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Từ đó quy kết xã hội thiếu dân chủ trong chống tham nhũng, tiêu cực, thậm chí còn rêu rao “càng chống tham nhũng, tiêu cực thì càng tham nhũng, tiêu cực”. Đan xen với đó, họ ca ngợi thuyết “tam quyền phân lập”, ra sức rêu rao tư tưởng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” giống như ở một số nước phương Tây mới có dân chủ trong chống tham nhũng.

Thứ ba, khi các vụ án liên quan đến tham nhũng, tiêu cực được khởi tố điều tra, xét xử thì các đối tượng phản động, cơ hội chính trị lại suy diễn là do “đấu đá nội bộ”, “phe phái thanh trừng”… Khi các bản án nghiêm minh được công bố, họ lại vu cáo đó là do “bị triệt hạ”; còn nếu bản án áp dụng các tình tiết giảm nhẹ thì họ mỉa mai “có tiêu chuẩn kép”, “tham nhũng chỉ tắm từ cổ”! Từ đó vu cáo công cuộc phòng, chống tham nhũng chỉ là hình thức, không có kết quả, đâu lại vào đó… Họ tung ra nhiều quan điểm, luận điệu xuyên tạc hết sức tinh vi, xảo trá nhằm làm giảm sút, xói mòn niềm tin của nhân dân trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng ta lãnh đạo. Từ đó, đòi phủ nhận, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, kích động tâm lý bất mãn trong một bộ quận quần chúng, gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Trước hết cần thấy rằng, tham nhũng không phải là hiện tượng mới xuất hiện, nó ra đời và gắn liền với sự tồn tại, phát triển của xã hội, là hiện tượng xã hội tiêu cực mà chế độ nào, quốc gia nào cũng có; đó là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực. Do đó, cần phải có cơ chế kiểm soát quyền lực, không để quyền lực bị tha hóa, lạm dụng. Bất kỳ quốc gia nào cũng quan tâm đến phòng, chống tham nhũng, tuỳ vào đặc điểm và các mức độ khác nhau.

Về quan điểm “Đảng Cộng sản Việt Nam không chống tham nhũng, tiêu cực thành công nếu không đa nguyên, đa đảng”, đây rõ ràng là luận điệu sai trái, xuyên tạc. Bởi, khi đảng nào cầm quyền thì người đứng đầu và các chức vụ quan trọng của nhà nước đều là người của đảng đó; đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền sẽ chi phối đường lối, chính sách của quốc gia. Dù là chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì nạn tham nhũng, tiêu cực vẫn thường xảy ra, kể cả các nước phát triển có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, có trình độ quản lý kinh tế - xã hội cao. Thực tế nền chính trị các quốc gia trên thế giới và lịch sử chế độ chính trị Việt Nam hiện nay đã chứng tỏ chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tham nhũng, tiêu cực trong xã hội. Ngay như ở nước Mỹ (điển hình của dân chủ tư sản phương Tây) dù là đảng Dân chủ hay đảng Cộng hòa cầm quyền thì nạn tham nhũng vẫn cứ xảy ra, dư luận thế giới cũng từng chấn động trước các vụ tham nhũng nghiêm trọng. Như trường hợp ông Rod Blagojevich, cựu Thống đốc bang Illinois bị tuyên 14 năm tù giam vì tội tham nhũng, trong đó có tội định bán chiếc ghế Thượng Nghị sĩ Illinois bỏ trống sau khi ông Barack Obama đắc cử Tổng thống tháng 11-2008. Hay gần đây báo chí của nước Mỹ đưa tin, bản cáo trạng đối với Thượng nghị sĩ Bob Menendez về tội tham nhũng trong việc giúp đỡ chính phủ Ai Cập, buộc ông Menendez tạm thời rời khỏi vị trí người đứng đầu Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ từ 22-9-2023 sau khi bị tòa án khu vực phía Nam New York truy tố về một loạt tội danh tham nhũng, hối lộ…

 

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN VÀO NGĂN NGỪA, KHẮC PHỤC BỆNH
GIÁO ĐIỀU Ở CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

Về bản chất, bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa lý luận, coi thường hạ thấp thực tiễn, không đánh giá đúng vai trò của thực tiễn trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động lý luận, hoặc trong hoạt động lãnh đạo, quản lý áp dụng lý luận và kinh nghiệm không tính tới điều kiện thực tiễn lịch sử - cụ thể của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Việt Nam có hai loại bệnh giáo điều. Một là, giáo điều lý luận, thể hiện ở chỗ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý vận dụng lý luận không căn cứ vào những điều kiện thực tiễn - cụ thể của đơn vị mình, ngành mình; học tập lý luận tách rời thực tiễn, xa rời cuộc sống, rơi vào bệnh sách vở; bệnh “tầm chương, trích cứ": bệnh câu chữ v.v.. Hai là, giáo điều kinh nghiệm, thể hiện ở chỗ, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý vận dụng kinh nghiệm của ngành khác, người khác, địa phương khác, nước khác vào hoạt động lãnh đạo, quản lý của mình nhưng không tính tới những điều kiện thực tiễn lịch sử - cụ thể của địa phương mình ngành mình.

Bệnh giáo điều ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Việt Nam có nhiều nguyên nhân, như: ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp quá lâu; ảnh hưởng của tư tưởng tiểu tư sản, như bệnh thành tích, bệnh hình thức,v.v.. Đặc biệt là vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn và không hiểu quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn ở một số cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đây là nguyên nhân cơ bản, trực tiếp nhất của căn bệnh giáo điều ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Việt Nam..

Để ngăn ngừa, khắc phục có hiệu quả bệnh giáo điều cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp như: từng bước hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; khắc phục chủ nghĩa thành tích, chủ nghĩa hình thức, quán triệt tốt trên thực tế nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, hiểu và vận dụng đúng đắn quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn trong nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội cũng như hoạt động lãnh đạo, quản lý của chính đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý này. Đặc biệt, phải tăng cường tổng kết thực tiễn. Tổng kết thực tiễn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của lý luận, ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều.

Xét về bản chất, tổng kết thực tiễn là hoạt động trí tuệ của chủ thể tổng kết thực tiễn; là quá trình chủ thể tổng kết thực tiễn bằng tư duy khoa học với phương pháp biện chứng duy vật làm cơ sở phân tích đánh giá, khái quát hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động cải tạo chính trị - xã hội, cải tạo các quan hệ xã hội; hoạt động thực nghiệm khoa học nhằm kiểm tra chân lý, kiểm tra sự đúng sai của lý luận để bố sung, hoàn thiện, phát triển lý luận và rút ra những bởi học kinh nghiệm chí đạo hoạt động thực trên và hoạt động lý. tuần tiếp theo. Trên cơ sở đó, ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục sinh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có hiệu quả. Vì tổng kết thực tiễn có vai trò quan trọng nên các Đại hội của Đảng luôn quan tâm chú trọng công tác tổng kết thực tiễn. Tiếp tục tinh thần các Đại hội trước. Đại hội XII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước". Điểm mới của Đại hội XII so với các Đại hội trước về vấn đề này là đưa tổng kết thực tiễn lên trước nghiên cứu lý luận. Đại hội XIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ đầy đủ hơn, toàn diện hơn trong việc đầy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và đặc biệt nhấn mạnh sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đại hội cũng chỉ rõ: “Chú trọng cập nhật kết quả tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; sớm kết luận những vấn đề lý luận đã chín, đã rõ để phát triển, hoàn thiện đường lối, chủ trương xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng. hiệu quả hoạt động của các cơ quan nghiên cứu lý luận. Từng bước đưa hoạt động trao đổi lý luận của Đảng ta với một số đảng cẩm quyển, đảng tham chính ở một số nước đi vào chiều sâu, hiệu quả. Đầu tư thích đáng cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận; có chế độ, chính sách thỏa đáng nhằm thu hút, trọng dụng các chuyên gia đầu ngành”.

Tuy nhiên, để tổng kết thực tiễn có hiệu quả thì cần phải quán triệt quan điểm khách quan, vì vận dụng quan điểm khách quan và tổng kết thực tiễn, chủ thể khi tổng kết thực tiễn sẽ tránh được bệnh chủ quan, không tô hồng, không bôi đen kết quả tổng kết. Quá trình này sẽ giúp cho chủ thể khi tổng kết thực tiễn luôn biết xuất phát từ thực tiễn mà không xuất phát từ mong muốn chủ quan. Các kết luận rút ra từ tổng kết thực tiễn phải mang tính khái quát cao, nghĩa là phải có tính phổ biến, có giá trị chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động lãnh đạo quản lý, hoạt động cải tạo thế giới khách quan tiếp theo. Mục đích của tổng kết thực tiễn phải đúng đăn, nghĩa là phải vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; không vì chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hình thức và chủ nghĩa thành tích.

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải nỗ lực quán triệt nguyên tắc này. Quán triệt tốt nguyên tắc này sẽ góp phần trực tiếp ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm cũng như bệnh giáo điều và bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận./.


 

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀO NGĂN NGỪA, KHẮC PHỤC BỆNH KINH NGHIỆM, GIẢO ĐIỀU Ở CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

Kinh nghiệm thực tiễn đóng vai trò hết sức to lớn trong nhận thức cũng như trong thực tiễn của con người nói chung, của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng. Nhưng nếu trong hoạt động nhận thức cũng như thực tiễn tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi thường, hạ thấp lý luận, không chịu học tập lý luận thì sẽ mắc bệnh kinh nghiệm. Biểu hiện của căn bệnh này rất đa dạng, như coi thuờng lý luận, coi thường học tập lý luận; cho kinh nghiệm là yếu tố duy nhất quyết định mọi thành công trong nhận thức và hoạt động thực tiến; không đánh giá đúng vai trò của đội ngũ trí thức,v.v..

Bệnh kinh nghiệm, về bản chất là khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa kinh nghiệm thực tiễn cá biệt, cụ thể, biến chúng thành những kinh nghiệm phổ biến nhằm áp dụng những kinh nghiệm cá biệt này cho mọi trường hợp, mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh, hạ thấp, coi thường lý luận khoa học. Người mắc bệnh kinh nghiệm thường nhân danh đề cao thực tiễn để hạ thấp lý luận. Trên thực tế, “thực tiễn” mà họ đê cao là thực tiễn cục bộ, vụn vặt, chưa chỉnh thế, chưa toàn vẹn, chưa mang tính phổ biến. Về thực chất, những người mắc bệnh kinh nghiệm không chỉ hạ thấp lý luận mả còn hạ thấp cả thực tiễn.

Nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm ở Việt Nam có nhiều, vi dụ như: ảnh hưởng tiêu cực của nền sản xuất nhỏ, lúa nước, theo mùa, theo chu kỳ; ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng gia trưởng, phong kiến; ảnh hưởng tiêu cực của những kinh nghiệm chiến tranh du kích quá lâu dài,v.v.. Nhưng nguyên nhân cơ bản, trực tiếp nhất là vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, không hiểu quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Để ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thì phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, như: thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của nền sản xuất nhỏ; khắc phục tư tưởng gia trưởng, phong kiến như: tuyệt đối hóa kinh nghiệm của người cao tuổi; tăng cường học tập nâng cao trình độ lý luận, phải quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, hiểu và vận dụng đúng quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đặc biệt, cùng với tổng kết thực tiễn, việc học tập, nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là rất quan trọng. Không phải ngẫu nhiên mà Đảng ta luôn nâng cao trình độ lý luận của mình cũng như của cán bộ, đảng viên trong quá trình đổi mới. Thấm nhuần lại dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đảng mà không có lý luận các mạng khoa học như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Thực chất đây là sự quán triệt nguyên tắc thống nhấtgiữa lý luận và thực tiễn. Bởi lẽ, không có trình độ lý luận thì không thể tổng kết kinh nghiệm một cách có lý luận và không thể định hướng cho công cuộc đổi mới. Trong giai đoạn cam go của phong trào cách mạng, ví dụ như ngay sau sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 01 (28-3-1992) nêu rõ sự cần thiết phải đẩy mạnh việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong tất cả các văn kiện Đại hội, Đảng ta luôn khẳng định, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Đại hội XI đề ra nhiệm vụ: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tinh thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng, tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”[1]. Đại hội XII đặt ra nhiệm vụ đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”[2]. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ rõ: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”[3] là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị. Đại hội XIII của Đảng đề ra yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo phương châm khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại; đưa việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược đi vào nền nếp, nhất quán từ trung ương đến cơ sở, phù hợp với từng đối tượng, chú trọng chất lượng, hiệu quả”[4]./.


[1]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, tr,256.
[2]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2016, tr.201-202.
[3]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H 2016, tr.28.
[4]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t.I, tr: 182-183.