Thứ Hai, 4 tháng 3, 2024

“Dân thụ hưởng” - những kết quả đạt được trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

 Hơn 93 năm qua, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới đất nước, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân luôn là một trong những quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng. Tại Đại hội VI (năm 1986), Đảng ta nêu quan điểm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, đó là nền nếp hằng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý Nhà nước của mình. Các Đại hội VII, VIII, IX, X tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển nội hàm phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, nhất là về điều kiện, cơ chế bảo đảm và môi trường thực hiện. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục nhấn mạnh: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”(12). Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra””(13). Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, Đại hội XIII khẳng định: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Thời gian qua, thực tiễn thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” nói chung, bảo đảm và phát huy “dân thụ hưởng” nói riêng trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả rất quan trọng và tích cực. Chúng ta đã thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ chức và công dân... Tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đảng ta luôn chú trọng đặt quyền lợi của nhân dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối, với mục đích tối thượng là người dân được thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. Trong quá trình thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân tộc chúng ta đã đạt được những kết quả nổi bật, “Phát triển những định hướng chính sách nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc: Phát huy vai trò của chính quyền nhà nước trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc; Mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện đại đoàn kết dân tộc; Tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, nâng cao trách nhiệm công dân, xây dựng sự đồng thuận xã hội; Chú trọng công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để Đảng thực sự là hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(14).

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn những biểu hiện dân chủ hình thức, tách rời dân chủ với kỷ cương, pháp luật. Ở một số nơi, nhân dân chưa được biết những vấn đề, nội dung liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình. Năng lực, phẩm chất, ý thức kỷ luật của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa cao; còn tình trạng tham nhũng, nhũng nhiễu, gây bức xúc cho người dân, doanh nghiệp. Việc thực hiện “dân thụ hưởng” còn một số hạn chế, thiếu thực chất và chưa đầy đủ, tạo thành rào cản lớn đối với sự phát triển của đất nước. Một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, chưa thực sự tôn trọng ý kiến, kiến nghị của nhân dân và chưa giải quyết kịp thời các quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của người dân.

LHQ-ST

Thái độ, trình độ hay ...đức độ

 Dạo gần đây, câu nói “thái độ hơn trình độ” dường như trở nên khá phổ biến. Có không ít người bình luận, phân tích mối quan hệ hoặc so sánh ý nghĩa, giá trị “cao - thấp”, “hơn - kém” giữa chúng và trong nhiều trường hợp, thường ghi nhận, đánh giá cao yếu tố “thái độ” trong việc quyết định sự thành công của một cá nhân.

Nhưng tất cả điều đó đều xuất phát từ quan điểm cá nhân!

Từ góc độ công tác cán bộ, đặc biệt là trong việc nhìn nhận, đánh giá cán bộ, giữa thái độ và trình độ, yếu tố nào là quan trọng hơn?

Thái độ, theo nghĩa mà chúng ta thường hiểu, là cách một người bộc lộ suy nghĩ, quan điểm, tình cảm, cá tính, hay cách phản ứng, cư xử của người đó đối với người khác và với sự việc, hiện tượng xung quanh. Trong mọi mối quan hệ, thái độ, cách ứng xử của mỗi người là rất quan trọng. Thái độ, cách ứng xử của người cán bộ trong các mối quan hệ công việc lại càng quan trọng, bởi nó tác động trực tiếp đến quá trình xử lý công việc, khả năng phối hợp công tác, xây dựng môi trường làm việc…, từ đó ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của họ và chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức. Tuy nhiên, xét đến cùng, thái độ của một người mà chúng ta nhìn vào để đánh giá trình độ, năng lực và nhân cách của họ, ở góc độ nào đó, nhiều khi chỉ là cái vỏ, là vẻ bề ngoài và đôi khi, có thể chỉ là sự “trưng trổ” mà chủ thể rắp tâm lựa chọn để cho người khác nhìn thấy, “cảm thấy”, không hề phản ánh đúng nội dung, bản chất bên trong.

Trình độ của một người, trên thực tế, không phải là “món quà trời ban”, không chỉ dựa vào sự may mắn hay tố chất bẩm sinh, mà phải trải qua quá trình không ngừng học hỏi, khổ công tích lũy, luyện rèn mới có được. Trình độ học vấn, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ cũng vậy. Không thể có cán bộ giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ mà chây ỳ, lười nhác trong công việc, học tập. Để đánh giá trình độ của cán bộ, không thể chỉ nhìn vào bằng cấp, hay bị dẫn dắt bởi những bài diễn văn “chém gió trên trời”, mà phải thông qua công việc, từ công việc.

So sánh thái độ của một cán bộ này với trình độ của một cán bộ khác, rõ ràng là không cùng một trường khái niệm và rất khập khiễng; càng không thể căn cứ vào yếu tố riêng biệt nào để ưu tiên trong đánh giá, sử dụng cán bộ. Tuy nhiên, khi nhìn vào hai yếu tố này ở mỗi cán bộ, nếu đủ tinh tường, khách quan và bao dung, chúng ta có thể thấy được bản chất đích thực, nhất là sự đức độ ở trong họ, để đánh giá thật đúng và toàn diện, làm căn cứ cho việc lựa chọn, sử dụng cán bộ một cách phù hợp, hiệu quả.

Trong đội ngũ cán bộ hiện nay, không khó để bắt gặp một số người rất thành công trong việc biểu hiện thái độ khiến nhiều người - nhất là cán bộ lãnh đạo cấp trên, những người có liên quan trực tiếp đến lợi ích và con đường thăng tiến của họ - cảm thấy đẹp lòng, yêu thích, được đánh giá là đúng mực, hòa nhã, khiêm nhường hay hăng hái, nhiệt tình, trách nhiệm..., nhưng đằng sau lại ngấm ngầm đổ việc cho đồng nghiệp một cách điệu nghệ, giảo hoạt hoặc tranh công, đổ lỗi, hạ uy tín của người khác… Lúc này, cái thái độ vốn được người khác yêu thích, ngợi khen, thực chất chỉ là kỹ nghệ biểu diễn ở mức độ “thượng thừa”, nhằm che đậy sự hãnh tiến, lười nhác, kém cỏi.

Việc dùng người, vẫn là câu chuyện muôn thuở, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, không phải của riêng quốc gia hay thể chế chính trị nào. Để sử dụng cán bộ thật đúng, thật hiệu quả, việc đánh giá cán bộ có ý nghĩa quyết định. Thiết nghĩ, trong đánh giá cán bộ, nên lấy đức làm gốc, làm tiêu chí quan trọng hàng đầu; cùng với đó, nên xuất phát từ yêu cầu, đặc thù vị trí công tác của họ thì mới soi chiếu, hiểu rõ trình độ, năng lực, thái độ của họ. Bản thân quá trình đánh giá cán bộ cũng là quá trình đánh giá đức độ, trình độ, năng lực và thái độ của chính những người làm công tác đánh giá cán bộ. Thông qua quá trình này, chúng ta có thể thấy liệu họ có thật sự đủ công bằng, chính trực, khách quan, công tâm và trình độ để đánh giá đúng cán bộ, phát hiện đúng hiền tài không, hay chỉ là kẻ “tự tư, tự lợi”, hẹp hòi, “cận thị”, vì tư ân, tư huệ hoặc tư thù, tư oán mà kéo bè, kết cánh, chỉ nhìn ra những anh em “quan hệ và tiền tệ”, sẵn sàng dìm người có tài năng bằng những lý do chung chung, khó định lượng hoặc bằng lý do “thái độ”(!).

LHQ-ST

Không nhầm lẫn giữa phương thức dân chủ với sự "theo đuôi quần chúng"

 “Theo đuôi quần chúng” gây ảnh hưởng xấu đến việc hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, vì thế, phải kiên quyết ngăn chặn, loại bỏ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Học hỏi quần chúng, nhưng “tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng”(1); “không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”(2). Theo đó, các cấp ủy, tập thể, đơn vị phải chú trọng học tập đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cũng như cần thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nghiêm khắc tự soi, tự sửa; có phong cách gần dân, nhưng không “mị dân”, không “theo đuôi quần chúng”, không rơi vào “chủ nghĩa dân túy”. Điều đó bảo đảm xây dựng được cấp ủy, tập thể, đơn vị trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất, có đủ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn có sự lầm lẫn nhất định giữa phương thức dân chủ với một biểu hiện có vẻ như là phương thức dân chủ: Đó chính là tệ “theo đuôi quần chúng”. Hai khái niệm này, về bản chất, là khác xa nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt, “Phương thức công tác dân chủ” là việc “tôn trọng và tạo điều kiện để mọi người tích cực thảo luận và tham gia quyết định các công việc chung”; trong khi đó, “Theo đuôi quần chúng” là việc người lãnh đạo làm theo số đông “một cách thụ động, thiếu suy nghĩ riêng”(3).

Một số biểu hiện của tệ “theo đuôi quần chúng” trong thực tế ở một số cơ quan, đơn vị là: Người lãnh đạo dựa dẫm vào cấp dưới, không có chính kiến rõ ràng trong điều hành công việc, không tạo lập được văn hóa công vụ của tổ chức; có quan hệ khăng khít quá mức với cấp dưới, ứng xử với cấp dưới, đồng nghiệp theo cách “chiều lòng” theo một số sở thích, nguyện vọng không chính đáng, không hợp pháp làm ảnh hưởng đến công việc chung; để cho cấp dưới làm những việc vốn thuộc thẩm quyền của cá nhân người lãnh đạo; hùa theo số đông một cách vô nguyên tắc...

Sự phân biệt giữa phương thức làm việc dân chủ và tệ “theo đuôi quần chúng” không hề khó, bởi chúng đều có nội dung và đặc điểm nhận dạng cụ thể, rõ ràng. Thế nhưng, tại sao đôi lúc trong thực tế, ta vẫn bắt gặp sự lẫn lộn giữa phương thức làm việc dân chủ với những biểu hiện của tệ “theo đuôi quần chúng”? Nguyên nhân của thực trạng này cần được xem xét từ 3 yếu tố chủ yếu: Thứ nhất, trình độ chính trị của người lãnh đạo. Thứ hai, tính cách của người lãnh đạo. Thứ ba, động cơ làm việc của người lãnh đạo.

Về nội dung thứ nhất, trình độ chính trị của người lãnh đạo thể hiện qua tư duy, nhận thức, tư tưởng chính trị và hành động thực tế của người đó. Trình độ chính trị của người lãnh đạo được rèn giũa và nâng lên thông qua sự tích lũy về kinh nghiệm chuyên môn cũng như trải nghiệm về cuộc sống. Tuy nhiên, một khi trình độ chính trị của người lãnh đạo còn khiếm khuyết, chưa hoàn thiện thì sẽ chưa đủ năng lực để nhận thức, tách biệt một cách rạch ròi giữa phương thức làm việc dân chủ với những biểu hiện của tệ “theo đuôi quần chúng”. Trình độ chính trị không vững có thể dẫn đến biểu hiện, hệ lụy của một trong hai thái cực: Hoặc cứng nhắc, cô độc; hoặc chỉ “theo đuôi quần chúng”. 

Ở khía cạnh thứ hai, có nhiều người bản tính xuề xòa, không có đủ sự quyết đoán cần thiết ở cương vị lãnh đạo; hoặc dù không đủ năng lực công tác, nhưng vì lý do nào đó, họ vẫn được bổ nhiệm làm lãnh đạo. Khi họ điều hành công việc sẽ dễ dẫn tới “theo đuôi quần chúng”, đánh mất vai trò lãnh đạo của người đứng đầu. Nguyên nhân của tình trạng này là do đôi khi công tác đánh giá, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ còn có hạn chế, thiếu sót. Vì thế nên chưa chọn lựa được người đứng đầu có đủ tư chất cũng như năng lực, trình độ chuyên môn; do vậy, ảnh hưởng đến sức mạnh của tập thể trong thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Đối với khía cạnh thứ ba, “theo đuôi quần chúng” còn thể hiện sự suy giảm đạo đức cách mạng của người lãnh đạo. Vì tính toán cá nhân mà họ hùa theo nguyện vọng không chính đáng của một số cá nhân có những suy nghĩ không đúng đắn, thiếu trách nhiệm; thậm chí, có người lãnh đạo còn cố tình hướng lái suy nghĩ của tập thể theo hướng có lợi cho mình, để rồi lấy lý do là “căn cứ vào nguyện vọng của số đông” để đưa ra những quyết định nhằm trục lợi cho bản thân và “nhóm lợi ích”./.

LHQ-ST

Đấu tranh đẩy lùi hiện tượng đoàn kết "xuôi chiều" "hình thức"

 Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(1). Thực hiện lời Di huấn của Bác, hơn 50 năm qua, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tạo thành “sức mạnh vô địch” giành được thắng lợi trước những nhiệm vụ cách mạng đầy khó khăn, gian khổ qua từng thời kỳ.

Tuy nhiên, trong sinh hoạt chi bộ hiện nay ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị đã xuất hiện những biến tướng của nguyên tắc đoàn kết thống nhất, đó là tình trạng đoàn kết “xuôi chiều”, “hình thức” với biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau:

Thứ nhất, trong sinh hoạt chi bộ, một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện phụ họa theo ý kiến của người đứng đầu, vì sợ va chạm, sợ mất lòng “thủ trưởng” nên không dám thể hiện chính kiến, không trao đổi thẳng thắn, mà cứ “thủ trưởng nghĩ sao thì em theo thế”.

Thứ hai, trong cuộc họp, có tình trạng tất cả cán bộ, đảng viên đều thể hiện sự nhất trí cao với ý kiến của người đứng đầu, song sau đó thì lại “lời ra tiếng vào”, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “bằng mặt nhưng không bằng lòng”.

Những biến tướng đó cần được khắc phục triệt để, bởi đoàn kết “xuôi chiều”, “hình thức” sẽ gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng, làm suy giảm bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, khiến họ “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”, lâu dài sẽ tiềm ẩn hình thành “nhóm lợi ích” để trục lợi. Nếu đoàn kết thống nhất làm nên sức mạnh của Đảng, thì đoàn kết “xuôi chiều”, “hình thức” lại làm chia rẽ, suy yếu Đảng.

Để đẩy lùi hiện tượng đoàn kết “xuôi chiều”, “hình thức” trong sinh hoạt chi bộ, mỗi cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, đảng viên cần tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, “Nội dung sinh hoạt chi bộ phải gắn với thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị;... bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, đoàn kết nội bộ;... lắng nghe và giải quyết nguyện vọng chính đáng của đảng viên và nhân dân”(2) theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”. Và hơn lúc nào kết, yêu cầu cấp thiết đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng; phát huy hơn nữa trách nhiệm tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cấp./.

LHQ-ST

Tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức tinh hoa ở Việt Nam hiện nay

 Để tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức tinh hoa ở Việt Nam hiện nay, nhất là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực then chốt, trọng yếu, cần chú trọng một số giải pháp sau :

Một làthống nhất và tạo chuyển biến nhận thức của toàn xã hội về phát huy vai trò của trí thức tinh hoaCần đổi mới mạnh mẽ tư duy, nâng cao, thống nhất nhận thức trong các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ trí thức trong tình hình mới. Trong đó, nhận thức đúng đắn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, người đứng đầu các ban, bộ, ngành là nhân tố có ý nghĩa quyết định.

Hai làtập trung xây dựng trường đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế. Các quốc gia phát triển trên thế giới đều nhận thức rõ vai trò trung tâm của hệ thống đại học đối với sự phát triển. Do đó, cùng với việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục - đào tạo, Việt Nam cần tập trung xây dựng ít nhất từ một đến hai trường đại học nghiên cứu, có khả năng cạnh tranh về thứ hạng với các trường khác trong khu vực và trên thế giới. Trường đại học này với tư cách là trung tâm nghiên cứu và đào tạo hàng đầu sẽ trở thành “vườn ươm nhân tài” và nuôi dưỡng những thế hệ trí thức tinh hoa mới cho đất nước.

Ba làcó chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với các trí thức tinh hoa. Đãi ngộ thỏa đáng theo tài năng và cống hiến là điều kiện cần để nuôi dưỡng và phát huy tài năng của các nhà trí thức tinh hoa. Cần “có cơ chế, chính sách ưu tiên, đột phá trong thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài, nhất là chính sách tuyển dụng, tiền lương, tạo môi trường làm việc, tập trung vào các nhà khoa học giỏi, có trình độ chuyên môn cao, có khả năng chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng, các chuyên gia đầu ngành, trí thức có uy tín, có thành tựu cống hiến trong các ngành, lĩnh vực quan trọng, các cơ quan tham mưu chiến lược”(9). Kiên quyết loại bỏ chủ nghĩa bình quân trong chính sách tiền lương, chấp nhận sự chênh lệch cần thiết về thù lao, đãi ngộ để giữ chân và thu hút được những nhân tài trí thức hàng đầu cho đất nước.

Bốn làđầu tư cho cơ sở vật chất nghiên cứu và sáng tạo. Cần đẩy mạnh đầu tư nâng cấp và trang bị cơ sở vật chất hiện đại để hỗ trợ tối đa công việc của các nhà khoa học nhằm gia tăng khả năng giữ chân, thu hút nhân tài và khai thác có hiệu quả tiềm năng của họ. Do đó, cần “nghiên cứu thành lập trung tâm tích hợp khoa học và công nghệ hiện đại, đạt trình độ tiên tiến, trước mắt thành lập tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, từng bước mở rộng đến các vùng kinh tế - xã hội trọng điểm”(10).

Năm là, sử dụng hợp lý người tài. Trong các khâu phát hiện, tuyển chọn và sử dụng người tài, sử dụng thường được xem là khâu quan trọng nhất, cũng là khâu khó nhất, bởi “dụng nhân như dụng mộc”, có “dụng đúng”, “dụng trúng” thì người tài mới có thể phát huy tối đa năng lực và phẩm chất của mình. Do đó, cần vừa chú trọng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam cả trong và ngoài nước, vừa có cơ chế, chính sách đột phá thu hút, nhất là trọng dụng trí thức, đặc biệt là trí thức tinh hoa, chuyên gia đầu ngành và nhân tài của đất nước; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng lớp trí thức trẻ kế cận.

Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đã đạt được sự thống nhất cao về vấn đề tiếp tục xây dựng đội ngũ trí thức, bồi đắp nguyên khí quốc gia vững mạnh hơn nữa trong thời kỳ mới. Với việc tạo lập môi trường và đầu tư thích đáng các nguồn lực cần thiết cho phát triển, trí thức tinh hoa Việt Nam sẽ phát huy được tiềm năng vai trò quan trọng của mình đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước./.

LHQ-ST

Thành tựu đào tạo, sử dụng trí thức tinh hoa Việt Nam thời kỳ đổi mới

 Đội ngũ trí thức là lực lượng lao động trí óc, có trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu về một lĩnh vực, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo; giàu lòng yêu nước, có đạo đức và lý tưởng cách mạng, gắn bó với Đảng, Nhà nước và dân tộc. Trí thức tinh hoa là bộ phận ưu tú nhất của tầng lớp trí thức, là những trí thức đầu ngành tài năng, xứng đáng được coi là người đại diện chân chính cho trí tuệ, phẩm cách và lương tri của nền khoa học - công nghệ nước nhà. Đội ngũ này gồm các chuyên gia cao cấp, các nhà khoa học, nhà giáo dục, nhà hoạt động văn hóa - nghệ thuật... đã thành danh, có khả năng sáng tạo vượt trội đặc biệt trong các lĩnh vực của chuyên ngành, được biết đến rộng rãi cả trong nước và quốc tế. Uy tín của họ được khẳng định thông qua những thành tựu sáng giá trong hoạt động chuyên môn và tinh thần sẵn sàng dấn thân vì sự tiến bộ của cộng đồng, phụng sự Tổ quốc, nhân dân, dân tộc. Họ chính là lực lượng có khả năng tạo đột phá cho phát triển xã hội, đóng góp xuất sắc vào sự nghiệp xây dựng đất nước trong gần bốn thập niên đổi mới vừa qua.

Về đào tạo, trí thức tinh hoa có thể được đào tạo bằng con đường tự học và ở nhà trường. Bên cạnh tài năng và sự rèn luyện nghiêm túc của bản thân, nền giáo dục khoa học, chuẩn mực, hiện đại và tiến bộ chính là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự phát triển vượt trội của một số ít người, đưa họ trở thành những trí thức tinh hoa thực sự. Nhìn chung, giới trí thức tinh hoa nước ta đều là những người được học hành bài bản trong môi trường đào tạo uy tín cả trong và ngoài nước. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định, giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu” - đây là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của đội ngũ trí thức tinh hoa. Việc đào tạo trí thức tinh hoa trong những năm qua được thực hiện tương đối bài bản, qua các bậc học từ phổ thông đến đại học, sau đại học, với những cách thức và phương pháp khác nhau, cụ thể:

Một làphát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng học sinh năng khiếu ở bậc học phổ thông. Bồi dưỡng học sinh năng khiếu là bước đầu tiên trong quá trình đào tạo đội ngũ trí thức tinh hoa, đòi hỏi thực hiện từ rất sớm, nhất là trong một số lĩnh vực đặc thù, cần có tố chất bẩm sinh vượt trội được thể hiện ngay từ khi còn nhỏ, như toán học, vật lý, hội họa, thể thao, âm nhạc… Từ giữa thập niên 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã mở các trường chuyên từ cấp 2, 3 để kịp thời phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng học sinh năng khiếu trong các ngành khoa học và nghệ thuật. Bước vào thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã xây dựng thành công mạng lưới đông đảo các trường phổ thông chuyên tại khắp các tỉnh, thành phố, do các nhà giáo có chuyên môn cao trực tiếp tham gia giảng dạy. Có thể nói, các trường trung học phổ thông chuyên chính là nơi ươm trồng, nuôi dưỡng, bước đầu đào tạo các tài năng trẻ cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc đổi mới của Việt Nam.

Hai làđào tạo tài năng trẻ và nguồn nhân lực chất lượng cao ở bậc đại học và sau đại học. Các trường đại học được xem là chiếc nôi sinh ra những nhà khoa học hàng đầu trong lực lượng nghiên cứu cũng như trong việc tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Về nguyên tắc, để tạo nên những tài năng khoa học trẻ xuất sắc, việc đào tạo phải được thực hiện ở các trung tâm nghiên cứu, đào tạo lớn, nơi tập trung đông đảo các nhà khoa học có năng lực nhất của chuyên ngành với các điều kiện làm việc tương đương chuẩn mực quốc tế, có quan hệ hợp tác rộng rãi với các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài nước. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, mới chỉ có một số ít trường đại học, viện nghiên cứu lớn và một số mô hình đào tạo đặc biệt đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe này, trở thành những hạt nhân ở tuyến đầu trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thuộc một số chuyên ngành khoa học quan trọng, như y học, toán học, vật lý… Đặc biệt, các chuyên gia, trí thức khoa học tham gia công tác giảng dạy có vai trò quan trọng trong việc bồi đắp nên thế hệ nhà khoa học kế cận, tạo ra đội ngũ trí thức tinh hoa mới cho đất nước. Bên cạnh đó, nhiều trí thức ở nước ta được gửi đi đào tạo tại các quốc gia phát triển, như Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật Bản... Bộ phận này - tuy số lượng không nhiều, nhưng lại đặc biệt có chất lượng, hiện diện trên nhiều lĩnh vực lao động sáng tạo, giúp chúng ta từng bước hội nhập về khoa học - công nghệ với khu vực và thế giới. Sứ mệnh đào tạo nhân tài và nguồn nhân lực chất lượng cao của nền giáo dục Việt Nam thời kỳ đổi mới đã gặt hái được nhiều thành tựu nhờ sự giúp sức của những nhà trí thức tinh hoa tâm huyết với sự nghiệp trồng người. Bằng nhiều hoạt động đa dạng trong đào tạo, họ đã góp phần không nhỏ vào việc khuyến khích sự học - chìa khóa của phát triển và hưng thịnh quốc gia; đồng thời, tạo dựng nên một thế hệ những tài năng khoa học mới làm vốn quý cho đất nước.

Về sử dụng, Việt Nam có truyền thống tôn trọng trí thức, quý trọng hiền tài. Qua các thời kỳ lịch sử, trí thức tinh hoa thường được trao vị thế xã hội tương ứng với tài năng, trí tuệ và nhân cách của họ; đồng thời, tạo mọi điều kiện để trí thức tinh hoa phát huy tốt năng lực, trở thành lực lượng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và tương lai của dân tộc. Bước sang thời kỳ đổi mới, trí thức tinh hoa càng được Đảng, Nhà nước và xã hội tin tưởng và trọng dụng. Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề về phát triển đội ngũ trí thức, phát triển khoa học và công nghệ. Các kỳ đại hội của Đảng đều nhất quán quan điểm trọng dụng, đãi ngộ đối với lực lượng này. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến... Có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước. Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện, giám định xã hội của các cơ quan nghiên cứu khoa học trong việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội(2). Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII xác định: “Tôn trọng, phát huy tự do tư tưởng, học thuật, thực hành dân chủ trong hoạt động nghiên cứu sáng tạo; trọng dụng nhân tài, trí thức tinh hoa, nhà khoa học đầu ngành chính là tạo môi trường, điều kiện thuận lợi và động lực căn bản để xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức và phát huy vai trò, vị trí và sự cống hiến của trí thức, thực sự xứng tầm là nguyên khí quốc gia”(3). Có thể thấy, Đảng và Nhà nước đã trao cho trí thức tinh hoa nhiều trọng trách và điều kiện thuận lợi để họ có thể cống hiến tối đa tài năng, sức lực cho đất nước.

Những thành tựu trong việc sử dụng trí thức tinh hoa thời kỳ đổi mới tập trung trên các lĩnh vực chủ yếu sau đây:

Tham gia hoạch định và thực thi chính sách: Trong giai đoạn đầu đổi mới, các trí thức tinh hoa bao gồm những chuyên gia giỏi ở nhiều lĩnh vực khác nhau, tập hợp dưới các “think tank” (nhóm tư vấn chính sách cấp cao). Đây là lực lượng quan trọng mở đường cho đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy kinh tế ở Việt Nam. Có những “think tank” chính thức do lãnh đạo Đảng và Nhà nước trực tiếp chỉ đạo, điều hành, nhưng cũng có những “think tank” không chính thức do các địa phương, các cá nhân tự tổ chức để tham mưu chính sách cho Đảng và Nhà nước. Các nhóm này hoạt động sôi nổi trong lĩnh vực tham vấn, được giới nghiên cứu thừa nhận là nhân tố có vai trò tích cực giúp các nhà lãnh đạo hoạch định đường lối, chính sách cho công cuộc đổi mới đất nước, đưa Việt Nam thoát khỏi khủng khoảng kinh tế - xã hội, từng bước hội nhập vào nền kinh tế quốc tế(4). Bên cạnh đó, các trí thức tinh hoa làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, trong các tổ chức chính trị - xã hội của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, nhất là những người trực tiếp giữ vị trí chủ chốt trong các cấp lãnh đạo, quản lý ở các ban, bộ, ngành còn là lực lượng tham gia có hiệu quả vào chu trình chính sách và hoạt động phản biện xã hội. Họ không chỉ cung cấp cơ sở khoa học, đề xuất ý tưởng cho việc hoạch định đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, mà còn là người thực thi chính sách, tham gia phản biện để hình thành nên những chính sách phù hợp với thực tiễn.

Thúc đẩy sự phát triển của khoa học và giáo dục: Trong lĩnh vực khoa học, trí thức tinh hoa Việt Nam trong và ngoài nước có cống hiến quan trọng đối với việc xây dựng, phát triển các ngành khoa học, đồng thời, có nhiều nỗ lực đổi mới sáng tạo liên quan đến khoa học - công nghệ. Những thành tựu, cống hiện đó góp phần quan trọng vào việc khám phá tri thức mới, nâng cao tiềm năng tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế, giải quyết các vấn đề do thực tiễn sản xuất và đời sống đặt ra. Trong lĩnh vực giáo dục, trí thức tinh hoa có vai trò kép - vừa là nhà khoa học, vừa là người thầy trực tiếp triển khai hoạt động bồi dưỡng nhân tài. Thực hiện thành công vai trò, trách nhiệm sẽ giúp cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Sáng tạo và truyền bá văn hóa - nghệ thuật: Các trí thức văn nghệ sĩ tài danh thời kỳ đổi mới, đặc biệt là các nhà hoạt động âm nhạc, các nhà văn hóa lớn là những người đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa truyền thống của dân tộc; lan tỏa những giá trị văn hóa của Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Bằng tài năng, tâm huyết và sự sáng tạo, họ đã tạo nên những tác phẩm có nội dung và phong cách thể hiện mới, đóng góp tiếng nói có giá trị vào quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng thành công nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta. Những kết quả đó đã chứng minh sự đúng đắn của chính sách trọng dụng nhân tài của Đảng và Nhà nước ta, phát huy cao nhất vai trò, trí tuệ và năng lực của đội ngũ trí thức tinh hoa vào quá trình xây dựng, phát triển đất nước.

Những vấn đề đặt ra

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, song việc đào tạo và sử dụng trí thức tinh hoa Việt Nam vẫn còn những hạn chế cần khắc phục, đó là:

Một là, sự thiếu hụt đội ngũ trí thức đầu ngành. Trí thức tinh hoa là nguồn lực then chốt quyết định thành công các hoạt động liên quan tới giáo dục, khoa học và nghệ thuật. Tuy nhiên, Việt Nam đứng trước thực trạng thiếu hụt cả về số lượng, chất lượng của đội ngũ trí thức tinh hoa, nhất là bộ phận trí thức khoa học - công nghệ. “Cơ cấu, số lượng, chất lượng đội ngũ trí thức chưa hợp lý, thiếu hụt chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực quan trọng; chưa tạo được môi trường thuận lợi động viên trí thức chủ động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, truyền thụ kiến thức, tư vấn, phản biện xã hội”(5). Bên cạnh đó là tình trạng thiếu hụt các nhà khoa học, các tổng công trình sư có trình độ cao, có năng lực chủ trì các nhiệm vụ nghiên cứu quan trọng ở quy mô quốc gia và quốc tế; tình trạng hụt hẫng về thế hệ đội ngũ giảng viên và nhà khoa học trình độ cao trong các trường đại học, các viện nghiên cứu tiếp tục gia tăng; các trường đại học trong những năm gần đây tuyển được ít sinh viên giỏi vào học các ngành khoa học cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội - nhân văn. Cùng với tình trạng “chảy máu chất xám”, Việt Nam chưa sử dụng và phát huy cao nhất trí tuệ của lực lượng trí thức, chuyên gia khoa học người Việt Nam ở nước ngoài. Do đó, nếu không có giải pháp kịp thời để bồi đắp, xây dựng đội ngũ trí thức tinh hoa, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng nhân tài trong tương lai.

Hai làsự bất cập trong đầu tư, phân bổ kinh phí cho phát triển khoa học và giáo dục. Từ năm 2017 đến năm 2023, tỷ lệ chi cho đầu tư khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giảm dần, chỉ đạt 1,1 - 1,18%, riêng năm 2023 là 0,83%, trong khi đó, nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị quy định đảm bảo từ 2% trở lên trong tổng chi ngân sách cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng dần lên theo các năm(6). Các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ, chưa có tiềm lực để đầu tư cho các quỹ, trường, viện nghiên cứu. Hiện nay, mới chỉ có tập đoàn Vingroup đủ mạnh để vận hành Quỹ đổi mới sáng tạo Vingroup (VinIF), với mức chi gần 800 tỷ đồng trong 5 năm (từ 2018 - 2022) cho nghiên cứu khoa học, không phân biệt các nhà khoa học từ các cơ sở nghiên cứu công lập hay tư nhân. Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2020, thực chi đầu tư cho giáo dục đại học của Việt Nam chưa đạt đến 12.000 tỷ đồng, chiếm 0,18% GDP, thấp hơn nhiều so với con số của các nước trong khu vực và trên thế giới(7). Sự hạn hẹp về nguồn lực tài chính này ảnh hưởng sâu rộng lên yếu tố chất lượng và quy mô giáo dục đại học.

Ba làsự chậm trễ trong quyết sách và hành động của các cơ quan quản lý và sử dụng trí thức. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm đến việc xây dựng và sử dụng đội ngũ trí thức tinh hoa đối với sự phát triển bền vững của dân tộc. Mặc dù vậy, vai trò và việc đào tạo, sử dụng đội ngũ trí thức tinh hoa vẫn chưa được phát huy và khai thác hiệu quả. “Việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức còn bất cập, hạn chế; một số nội dung của nghị quyết chậm được thể chế; chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện, đồng bộ; thiếu cơ chế, chính sách đột phá trong đầu tư, huy động nguồn lực, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng, tôn vinh trí thức, nhất là bộ phận trí thức tinh hoa”(8). Một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chưa quan tâm đúng mức, đầy đủ, sâu sắc đến việc phát triển đội ngũ trí thức. Việc đào tạo, sử dụng đội ngũ trí thức tinh hoa còn đối mặt với vấn đề mất cân đối giữa quy mô và chất lượng của hệ thống giáo dục - đào tạo; sự chênh lệch, tách biệt giữa nghiên cứu và giảng dạy; thiếu đồng bộ với các chuẩn mực quốc tế trong nghiên cứu khoa học; bất cập trong sử dụng nhân tài.

LHQ-ST

Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị ở Việt Nam trong thời gian tới

 Để hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể HTCT ở Việt Nam, trong thời gian tới, cần chú trọng một số giải pháp sau:

Thứ nhất, thống nhất về nhận thức.

Yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần thống nhất quan điểm và có quyết tâm chính trị lớn ở cấp cao của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, định hướng rõ ràng cũng như lộ trình thực hiện khoa học, hợp lý về một mô hình tổ chức bộ máy mới của HTCT. Cần ban hành các nghị quyết của Trung ương với các hướng dẫn cụ thể tới các cấp, bộ, ban, ngành, địa phương về vấn đề này. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cấp ủy, cán bộ, đảng viên trong hệ thống của Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân về mô hình tổ chức bộ máy mới. Tổ chức thực hiện việc xây dựng mô hình tổ chức bộ máy mới trong thực tiễn, trên tinh thần nghiên cứu, thảo luận, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và triển khai từng bước, làm các nội dung dễ và đã sáng tỏ trước, tiến hành thí điểm các vấn đề phức tạp, khó khăn và tổng kết, đánh giá kỹ càng trước khi thực hiện đồng loạt. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan truyền thông đại chúng trong tuyên truyền về xây dựng mô hình tổ chức bộ máy mới.

Thứ haihoàn thiện bộ máy của các khối và các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.

Trong thời điểm hiện nay, cần tập trung sắp xếp tinh gọn, hoàn thiện các khối và các cơ quan, tổ chức trong từng khối nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; phát huy vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giám sát, phản biện xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Việc sắp xếp, hoàn thiện theo hướng: 1- Bảo đảm sự đồng bộ giữa các khối và giữa các cơ quan, tổ chức trong khối; 2- Phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; 3- Tiếp tục tinh gọn đầu mối, tinh giản biên chế, giảm khâu trung gian; 4- Tăng cường hiệu quả cơ chế phân cấp, phân quyền, phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; 5- Tiếp tục phân cấp, phân quyền đi đôi với xác định rõ trách nhiệm của tổ chức và cá nhân, nhất là người đứng đầu trong bộ máy nhà nước.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế, cơ chế, quy định, chính sách phù hợp.

Rà soát toàn bộ hệ thống quy định của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các luật và các văn bản của Nhà nước liên quan để sửa đổi, bổ sung phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới, song phải trên cơ sở Điều lệ Đảng, Hiến pháp, Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và của từng tổ chức chính trị - xã hội hiện hành. Tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học về tổ chức bộ máy của HTCT và chuẩn bị tốt cho việc sửa đổi Điều lệ Đảng, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, điều lệ của các tổ chức chính trị - xã hội và việc sửa đổi Hiến pháp vào thời điểm thích hợp. Theo dõi, bám sát thực tiễn hoạt động của các tổ chức trong HTCT các cấp được xây dựng theo mô hình tổ chức bộ máy mới, coi trọng đánh giá hiệu quả hoạt động, có chủ trương, giải pháp đúng đắn, điều chỉnh kịp thời nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, bất cập, để các tổ chức đó tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn.

Cần đặc biệt coi trọng và thực hiện tốt việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tốt (đủ phẩm chất, năng lực, trình độ) thích ứng với mô hình tổ chức bộ máy mới. Đổi mới chính sách cán bộ phù hợp với yêu cầu đổi mới, kiện toàn mô hình tổ chức bộ máy mới. Đẩy mạnh xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý cán bộ theo chức danh cán bộ, bảo đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần cán bộ theo chức danh cán bộ và vị trí việc làm; tiến hành rà soát, xử lý các văn bản hiện hành, xây dựng và ban hành các văn bản mới của Đảng về chính sách cán bộ theo chức danh cán bộ và vị trí việc làm. Lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc triển khai thực hiện thí điểm các văn bản của Đảng về chính sách cán bộ, nhất là các văn bản mới ban hành, đúc rút kinh nghiệm đối với những quyết định cụ thể của từng loại văn bản; triển khai mạnh mẽ việc trả tiền lương, tiền thưởng cho cán bộ, công chức theo chức danh cán bộ và vị trí việc làm. Phát huy mạnh mẽ, hiệu quả vai trò của nhân dân tham gia đổi mới chính sách cán bộ phù hợp với yêu cầu đổi mới, kiện toàn HTCT theo mô hình tổ chức mới.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh. Tăng cường lãnh đạo ủy ban kiểm tra và các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của mình tiến hành hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát theo quy định, coi trọng hơn việc làm tốt công tác giám sát. Xây dựng chương trình, kế hoạch, xác định nội dung công tác kiểm tra, giám sát hằng quý, hằng năm, nhiệm kỳ; lựa chọn hình thức kiểm tra, giám sát phù hợp và triển khai thực hiện. Thực hiện tốt việc lãnh đạo kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra giám sát theo đúng quy định của Điều lệ Đảng; coi trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia công tác giám sát, kiểm tra việc xây dựng mô hình tổ chức bộ máy mới.

Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về khoa học tổ chức gắn với điều kiện thực tiễn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay, có tính đến đặc điểm của tình hình thế giới và khu vực.

Thứ tư, đổi mới mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các tổ chức chính trị - xã hội.

Cần nhận thức rõ vị trí, vai trò và trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong HTCT, Đảng lãnh đạo, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện HTCT gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền bảo đảm quản lý thống nhất, phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cấp, các ngành. Xây dựng nhà nước kiến tạo, chính phủ liêm chính, hành động, phục vụ; nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, kỷ cương, công khai, minh bạch. Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Xây dựng cơ chế, quy chế phối hợp trên cơ sở phân định rõ ràng, rành mạch chức năng giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng; đồng thời, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát huy mạnh mẽ vai trò, tính tự chủ, năng động, sáng tạo của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội. Tăng cường sự phối hợp giám sát của Đảng với giám sát của Nhà nước và của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội để phát huy sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực giám sát, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, tạo sự vận hành đồng bộ, thông suốt của HTCT, mở rộng và phát huy dân chủ trong xã hội, nâng cao chất lượng của cả HTCT.

Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng và HTCT, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động nhân dân theo hướng thiết thực, lấy nhu cầu, lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân làm động lực quan trọng cho công tác vận động, tập hợp nhân dân; hướng mạnh về cơ sở, chú ý những nhân tố mới, những cách làm sáng tạo, có ảnh hưởng lan tỏa sâu rộng.

LHQ-ST

Mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và một số vấn đề đặt ra

 Tổ chức bộ máy hệ thống chính trị (HTCT) có vai trò, vị trí rất quan trọng, là cơ sở hàng đầu bảo đảm cho những thành tựu to lớn của đất nước. Thời gian qua, xây dựng tổ chức bộ máy của Đảng và HTCT có nhiều đổi mới, được triển khai thực hiện quyết liệt với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, có trọng tâm, trọng điểm, bước đầu đạt được những kết quả đáng ghi nhận; cụ thể như sau:

Thứ nhất, mô hình tổng thể HTCT Việt Nam bao gồm các bộ phận cấu thành là Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

* Mô hình tổ chức tổng thể của Đảng.

Điều 10, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định: “1. Hệ thống tổ chức của Đảng được thành lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước. 2. Tổ chức cơ sở đảng được lập tại đơn vị cơ sở hành chính, sự nghiệp, kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam theo quy định tại Chương VI. Việc lập tổ chức đảng ở những nơi có đặc điểm riêng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương”(1). Hệ thống tổ chức đảng được thành lập theo cấp hành chính lãnh thổ là hệ thống cơ bản, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng ở mỗi cấp và của toàn Đảng. Theo quy định của Điều lệ Đảng, tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay bao gồm: Hệ thống tổ chức đảng bộ, chi bộ (từ cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở, chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở, đảng bộ bộ phận, chi bộ cơ sở); cơ quan lãnh đạo của Đảng các cấp (đại hội, cấp ủy); cơ quan tham mưu giúp việc cấp ủy (các ban đảng - các cơ quan tham mưu giúp việc của cấp ủy, đơn vị sự nghiệp của Đảng); tổ chức đảng được lập trong các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội (ban cán sự đảng, đảng đoàn).

* Mô hình tổ chức tổng thể của Nhà nước.

Bộ máy nhà nước là tổng thể cơ quan nhà nước từ Trung ương tới địa phương, được tổ chức, hoạt động theo những nguyên tắc thống nhất, tạo thành cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước. Theo Hiến pháp, Nhà nước Việt Nam bao gồm: Quốc hội (là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước); Chủ tịch nước (là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại, giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh và thực thi nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp); Chính phủ (là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội), tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân; chính quyền địa phương (được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định). 

* Mô hình tổ chức tổng thể của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Theo Hiến pháp năm 2013, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị - xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Thứ hai, về số lượng đối với tổ chức bộ máy của ban, bộ, ngành, đoàn thể, cơ quan trung ương(2).

Đối với các cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương (không bao gồm quân đội, công an), tính đến ngày 18-11-2022, có 1.585 cơ quan, đơn vị, giảm 204 tổ chức so với thời điểm 30-6-2017; trong đó, 26 tổng cục thuộc ban, bộ, ngành và tương đương (giảm 18 tổ chức); 280 cục thuộc ban, bộ, ngành và tương đương (tăng 23 tổ chức); 636 vụ thuộc ban, bộ, ngành và tương đương (giảm 102 tổ chức); 643 cục, vụ thuộc tổng cục (giảm 107 tổ chức).

Đối với các đơn vị sự nghiệp, ở thời điểm 30-6-2023 có 1.203 tổ chức, giảm 384 đơn vị so với thời điểm 30-6-2017; trong đó, 833 đơn vị trực thuộc thuộc ban, bộ, ngành trung ương, giảm 22 tổ chức; 132 đơn vị trực thuộc tổng cục, giảm 96 đơn vị; 225 đơn vị trực thuộc cục thuộc ban, bộ, ngành trung ương, giảm 267 đơn vị; có 13 đơn vị trực thuộc cục thuộc tổng cục, tăng 1 đơn vị.

Thứ ba, về sắp xếp tổ chức bộ máy của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Đối với tổ chức hành chính(3), ở thời điểm 30-6-2023 có 14.056 tổ chức, giảm 6.376 tổ chức so với thời điểm 30-6-2019; trong đó, có 2.179 cơ quan, đơn vị, tổ chức cấp tỉnh, giảm 74 tổ chức; 11.877 phòng và tương đương trực thuộc cơ quan, đơn vị, tổ chức cấp tỉnh, phòng, ban cấp huyện, giảm 6.302 tổ chức. Đối với đơn vị sự nghiệp, ở thời điểm 30-6-2023, có 49.063 đơn vị, giảm 6.504 đơn vị so với thời điểm 30-6-2017.

Thứ tư, về thực hiện một số mô hình mới về tổ chức bộ máy.

Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Kết luận số 34-KL/TW, ngày 7-8-2018, của Bộ Chính trị, “Về thực hiện một số mô hình thí điểm theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả””, nhiều cấp ủy đã chủ động triển khai thí điểm thực hiện các mô hình mới về tổ chức bộ máy và đạt được một số kết quả nổi bật như sau: 28 tỉnh hợp nhất đảng bộ khối doanh nghiệp với đảng bộ khối các cơ quan cấp tỉnh(4); 1 tỉnh hợp nhất sở giao thông vận tải với sở xây dựng(5); 57/707 đơn vị cấp huyện thuộc 13 tỉnh, thành phố thí điểm hợp nhất ban tổ chức cấp ủy với phòng nội vụ cấp huyện(6); 1 tỉnh, thành phố thí điểm hợp nhất ban tổ chức cấp ủy với sở nội vụ cấp tỉnh(7); 52/707 đơn vị cấp huyện thuộc 11 tỉnh, thành phố thí điểm hợp nhất cơ quan ủy ban kiểm tra cấp ủy với thanh tra cấp huyện(8); 1/63 tỉnh, thành phố thí điểm hợp nhất cơ quan ủy ban kiểm tra cấp ủy với thanh tra cấp tỉnh(9); 70/707 đơn vị cấp huyện thuộc 24 tỉnh, thành phố thực hiện hợp nhất văn phòng cấp ủy với văn phòng HĐND và UBND cấp huyện ở những nơi có điều kiện(10); 1/63 tỉnh, thành phố thực hiện tổ chức cơ quan tham mưu giúp việc chung khối Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh; 58/707 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc 15 tỉnh, thành phố thực hiện tổ chức cơ quan tham mưu giúp việc chung khối Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp huyện... 466/707 đơn vị thuộc 14 tỉnh, thành phố thực hiện mô hình trung tâm phục vụ hành chính công, cơ chế một cửa, một cửa liên thông cấp huyện(11).

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả, ưu điểm đạt được nói trên, thực tiễn cũng cho thấy, tổ chức bộ máy của HTCT Việt Nam còn những bất cập, hạn chế  như sau:

Một là, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và phương thức tổ chức, hoạt động giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức - đoàn thể nhân dân chưa thật rõ, còn chồng chéo, trùng lắp.

Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đánh giá: “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ của một số cơ quan, tổ chức chưa thật rõ, còn chồng chéo, trùng lắp... Việc phân công, phân cấp, phân quyền giữa các ngành, các cấp và trong từng cơ quan, tổ chức chưa hợp lý, mạnh mẽ và đồng bộ; còn tình trạng bao biện, làm thay hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đạt kết quả thấp”; “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của cấp ủy cấp tỉnh, cấp ủy cấp huyện chưa cụ thể hóa đầy đủ; thiếu quy định khung quy chế làm việc của cấp ủy các cấp”(12).

Các mối quan hệ giữa các tổ chức trong HTCT, nhất là giữa thường vụ cấp ủy và thường trực UBND, giữa một số ban và tổ chức đảng với nhau và với một số cơ quan nhà nước cùng cấp, giữa một số cơ quan nhà nước với nhau và với doanh nghiệp; giữa tập thể cơ quan lãnh đạo và thủ trưởng,... chưa được phân định rõ ràng, rành mạch. Thẩm quyền, trách nhiệm của từng tổ chức, từng cấp, từng ngành chưa được chế định đồng bộ, chặt chẽ, làm cho tổ chức, bộ máy vận hành kém hiệu lực, hiệu quả, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, thưởng phạt không rõ ràng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng thẳng thắn thừa nhận: “Việc hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị cho phù hợp với tình hình thực tiễn còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu. Việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy ở một số nơi thiếu kiên quyết, đồng bộ và chưa đạt mục tiêu đề ra; cá biệt có nơi còn nóng vội, chưa có bước đi vững chắc. Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa thật sự gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Xây dựng vị trí việc làm còn lúng túng, tiến độ triển khai còn chậm so với mục tiêu đề ra”(13).

Hai là, tổ chức bộ máy của các thiết chế trong hệ thống chính trị còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, đầu mối.

Tổ chức bộ máy của Đảng hiện nay chưa thật sự tinh gọn; một số nhiệm vụ, đối tượng, lĩnh vực công tác còn trùng lắp, chưa phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ phát triển mới của đất nước. Bộ máy tổ chức đảng song trùng với bộ máy chính quyền dẫn đến tình trạng trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ, không phát huy tốt vai trò của bộ máy nhà nước trong nhiệm vụ tham mưu cho cấp ủy; đồng thời, làm cho bộ máy trở nên cồng kềnh, lãng phí, kém hiệu quả.

Kết quả trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định vấn đề quan trọng của đất nước chưa đáp ứng sự kỳ vọng của nhân dân. Hoạt động của Quốc hội chưa thực sự chuyên nghiệp, tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tuy đã tăng lên theo từng nhiệm kỳ, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ; điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội còn nhiều hạn chế nên chưa đáp ứng khối lượng công việc ngày càng nhiều, yêu cầu ngày càng cao về chất lượng.

Với tư cách là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại, Chủ tịch nước là thiết chế có vai trò quan trọng trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy nhiên, một số quy định của Hiến pháp về chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa Chủ tịch nước và các cơ quan khác chưa được cụ thể hóa...

Chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ và của các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước trên một số lĩnh vực chưa rõ; phân định chức năng, thẩm quyền quản lý, điều hành giữa Chính phủ (tập thể Chính phủ) và Thủ tướng Chính phủ chưa thật rõ ràng, rành mạch.

Việc tổ chức hệ thống tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân đã được đổi mới một bước theo Hiến pháp năm 2013, nhưng vẫn còn nhiều bất cập về cấu trúc bên trong. Tòa án cấp huyện dàn đều ở tất cả các huyện, kể cả những huyện có quy mô nhỏ hoặc mới được chia tách; đội ngũ thẩm phán bị dàn mỏng, phân tán, trong khi số lượng còn rất thiếu, có nơi xét xử không hết án, nhưng có nơi lại rất ít án...

Tổ chức chính quyền địa phương còn nặng về bảo đảm tính thống nhất trong chỉ đạo, điều hành của Trung ương, chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng địa phương. Mô hình tổ chức HĐND và UBND được thiết kế một cách tương đối đồng loạt, chưa thể hiện đặc điểm và yêu cầu quản lý nhà nước trên các địa bàn, lãnh thổ khác nhau và gần như không có sự thay đổi từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay. Tổ chức bộ máy của chính quyền tỉnh, thành phố, tuy có sự phân biệt giữa các địa phương có quy mô, tính chất khác nhau, trong quản lý hành chính ở đô thị và ở nông thôn, miền núi, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, nhưng sự khác biệt này vẫn chưa thực sự rõ nét cả về tổ chức và thẩm quyền.

Tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội còn cồng kềnh; một số nhiệm vụ của các tổ chức còn trùng lắp, chồng chéo; có biểu hiện nhà nước hóa về tổ chức (được tổ chức 4 cấp tương ứng các cấp hành chính nhà nước; trong đó, có hai cấp trung gian là cấp tỉnh, cấp huyện), nhiều đầu mối bên trong. Cán bộ làm công tác chuyên trách của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đang bị công chức hóa (ít dành thời gian gắn với phong trào hoạt động ở cơ sở và đoàn viên, hội viên). Việc sử dụng biên chế chưa tiết kiệm.

Ba là, tổ chức bộ máy hệ thống chính trị chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới, chưa theo kịp những biến đổi của phát triển kinh tế - xã hội.

Tính kém hiệu quả của HTCT biểu hiện ở nhiều mặt, nổi bật là tổ chức bộ máy vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng, Nhà nước chưa thật đầy đủ, đồng bộ; hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Mối quan hệ kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp chưa được xác lập rõ ràng. Khả năng tự kiểm soát, tự kiểm tra trong từng tổ chức, cơ quan còn yếu. Sự kiểm tra của Đảng, thanh tra của Nhà nước mới chủ yếu tập trung vào chống vi phạm, mà chưa thật sự chú trọng đến phòng ngừa vi phạm. Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII đã chỉ ra một trong những nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong tổ chức bộ máy của HTCT là mô hình tổng thể về tổ chức bộ máy của HTCT chưa được hoàn thiện; một số bộ phận, lĩnh vực chưa phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới. Trên cơ sở đó, Ban Chấp hành Trung ương đã đặt ra mục tiêu: “Từ năm 2021 đến năm 2030: Hoàn thành việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu, điều kiện cụ thể của nước ta trong giai đoạn mới”; đồng thời, chỉ ra nhiệm vụ, giải pháp: “Khẩn trương nghiên cứu, hoàn thiện và tổ chức thực hiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.

LHQ-ST