Thứ Ba, 5 tháng 3, 2024

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và những vấn đề đặt ra với thanh niên

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh ngay trong chính bản thân mỗi con người, trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định chỉ có những người với “bàn tay sạch”, “tấm lòng sạch” mới có đủ dũng khí để dọn sạch tàn dư của những thói hư tật xấu đã len lỏi vào một bộ phận cán bộ của chúng ta. Tham nhũng, tiêu cực (TN, TC) là những hiện tượng xã hội có tính lịch sử, gắn liền với nhà nước và quyền lực trong xã hội phân chia giai cấp. Nó tồn tại ở mọi quốc gia, hiện diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển(1). Ở Việt Nam, trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng, đấu tranh phòng, chống tham TN, TC được xác định là một trụ cột trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Mới đây, trong cuốn sách Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một việc làm cần thiết, tất yếu, là một xu thế không thể đảo ngược”(2). QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC Quan điểm của Đảng về đấu tranh phòng, chống TN, TC là hệ thống những tư tưởng, định hướng mang tính chiến lược cho công cuộc phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi TN, TC nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các tổ chức và của công dân, góp phần giữ ổn định và phát triển của toàn xã hội. Từ sau đổi mới, Đảng ta có nhiều nhận thức sâu sắc về phòng, chống TN, TC. Đặc biệt từ Đại hội XI tới nay, hệ thống quan điểm của Đảng về sự nghiệp đấu tranh phòng, chống TN, TC có những bước tiến lớn, toàn diện, mang nhiều dấu ấn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Các quan điểm này thể hiện qua hệ thống Nghị quyết Đại hội Đảng các thời kỳ, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cùng nhiều kết luận, chỉ thị quan trọng được Tổng Bí thư tổng kết trong cuốn sách Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”. Có thể khái quát quan điểm của Đảng về đấu tranh phòng, chống TN, TC qua các nội dung: Thứ nhất, đây là yêu cầu tất yếu, khách quan, là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và chế độ. Công tác tổng kết lý luận và thực tiễn của đời sống chính trị trên thế giới đã khẳng định sự tồn tại khách quan, mang tính quy luật của TN, TC. Nó là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực. Các quốc gia tồn tại và phát triển vững mạnh đều quan tâm và tiến hành đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả(3). Chừng nào còn quyền lực nhà nước, còn sự phân chia giai cấp, đấu tranh phòng, chống TN, TC còn chưa dừng lại, đòi hỏi nỗ lực bền bỉ của mọi thể chế chính trị. Ngay từ những ngày đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú trọng tới công tác xây dựng đạo đức, phẩm chất của đội ngũ cán bộ. Người nhấn mạnh, tư cách một người cách mệnh phải cần, kiệm, nói thì phải làm, ít lòng tham muốn về vật chất; chủ nghĩa cá nhân là bệnh mẹ đẻ ra trăm thứ bệnh con nguy hiểm, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tham nhũng - căn bệnh nguy hiểm nhất, hành động xấu xa, tội lỗi, đê tiện nhất. TN, TC làm tổn thương trực tiếp tới tình cảm và niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Xét cho cùng, điều giá trị nhất của một Đảng cầm quyền chính là niềm tin của nhân dân. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt là từ công cuộc đổi mới và sau Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII(4), đấu tranh phòng, chống TN, TC là một trong những nội dung trọng tâm của hoạt động xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Tổng kết quá trình nhận thức của Đảng về hoạt động này, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, làm trong sạch đội ngũ đảng viên là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Sau hơn 35 năm đổi mới, chúng ta càng nhận rõ đây là “một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(5). Thứ hai, kiên quyết, kiên định, kiên trì, đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với TN, TC. Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm bản chất giai cấp của Đảng - đội tiền phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đồng thời thể hiện quyết tâm cao, nỗ lực lớn và phương pháp đúng; không chủ quan, nóng vội; không né tránh, cầm chừng, thỏa mãn; phải tiến hành thường xuyên, “không nghỉ”, “không ngừng”. Từ Đại hội XI (2012) tới nay, quan điểm quyết liệt đấu tranh phòng, chống TN, TC được thể hiện trên nhiều phương diện: Một là, Đảng lấy phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, không nể nang, né tránh để kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí. Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/12/2012 nêu rõ “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí vẫn chưa đạt yêu cầu và mục tiêu đề ra... Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp”(6). Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII tiếp tục khẳng định tình trạng suy thoái, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước(7), coi đây là “một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”(8). Hai là, phòng, chống TN, TC là công việc khó khăn, phức tạp, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, các nhiệm vụ, giải pháp phải được tổ chức triển khai đồng bộ, trong đó, Đảng chủ trương thành lập cơ quan chuyên trách về phòng, chống TN, TC thay thế cho Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng trực thuộc Chính phủ trong giai đoạn trước. Việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, trực thuộc Bộ Chính trị, do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng Ban Chỉ đạo nhằm góp phần khắc phục những hạn chế trong mô hình trước đây, phù hợp với nhiệm vụ phòng, chống “giặc nội xâm” trong bối cảnh mới. Theo đó, công tác phát hiện và xử lý TN, TC được chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, tạo bước đột phá, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước: “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”(9). Ba là, không khoan nhượng, không thoả hiệp trong đấu tranh phòng, chống TN, TC. Điều này được thể hiện rất rõ qua Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Cùng với việc nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát kịp thời phát hiện TN, TC từ sớm, từ xa, Đảng xác định phải triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ việc xử lý nghiêm minh đối với cán bộ, đảng viên suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, không phân biệt chức vụ, sai phạm đến đâu, xử lý đến đó(10). Đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc liên quan đến tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, nhất là những vụ án, vụ việc do Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống TN, TC theo dõi, chỉ đạo... Thứ ba, đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng, xử lý nghiêm minh nhưng rất nhân văn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định đấu tranh phòng, chống TN, TC được tiến hành trên tinh thần quyết liệt, không khoan nhượng song cũng rất nhân văn, thấu tình, đạt lý, đáp ứng sự mong đợi của nhân dân(11). Quan điểm này đã trở thành một tư tưởng chủ đạo, khẳng định sự chính nghĩa của công cuộc đấu tranh phòng, chống TN, TC. Tính nhân văn được thể hiện: Nhân văn trong mục tiêu. Đảng luôn nhất quán với quan điểm mục tiêu của đấu tranh phòng, chống TN, TC là làm cho Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên kỷ cương, liêm chính, để phát triển đất nước(12), để phụng sự nhân dân, củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân; tuyệt đối không phải là đấu tranh giữa các phe cánh hay đấu đá nội bộ. Việc phải xử lý cán bộ, tổ chức sai phạm là việc rất đau xót, tựa như việc một người phải tự tay cắt đi những khối “ung nhọt” trên cơ thể của mình, nhưng là việc nên làm, cần phải làm, chắc chắn phải làm. Nhân văn trong phương châm xử lý. Đảng chủ trương kết hợp nhuần nhuyễn, hài hoà giữa “xây” và “chống”(13). “Xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ, quan trọng, cấp bách. Đề cao tính phòng ngừa, giáo dục như Tổng Bí thư Nguyễn Phúc Trọng đã khẳng định: “Tìm cách ngăn chặn, để làm sao đỡ phải đi xử lý, ngăn chặn được là tốt nhất, không xảy ra là tốt nhất”. Kỷ luật một vài người để cứu muôn người, truy tố một vụ để cảnh tỉnh cả một vùng, một lĩnh vực; từ đó để cảnh báo, răn đe, giáo dục, phòng ngừa là chính, nên cần phát hiện từ sớm, xử lý từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn(14). Mục tiêu cao nhất của việc bảo đảm cơ chế “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng chính nhằm để bảo vệ cán bộ, đảng viên. Nhân văn trên cơ sở các quy định của Đảng về kỷ luật đối với đảng viên, tổ chức đảng; các quy định của pháp luật. Theo đó, không phải muốn xử ai thì xử, ai không muốn xử thì không xử. Ai thân thích thì xử nhẹ; ai không thích thì xử nặng. Nhân văn ở chỗ xử lý đúng người, đúng tội, xử lý hợp tình, hợp lý trên cơ sở bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự thượng tôn của Hiến pháp và pháp luật. Các biện pháp kỷ luật Đảng, chế tài của pháp luật không nhằm hạ nhục, làm giảm uy tín, danh dự của cá nhân, tổ chức bị xử lý. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Thể chế về phòng, chống tham nhũng tiêu cực… cùng cơ chế kiểm soát quyền lực là yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng tiêu cực”. Theo đó, phải xác minh đến cùng, phân hoá trách nhiệm, cá thể hoá trách nhiệm, không xử lý trùm, vơ đũa cả nắm; đồng thời giúp người bị truy cứu nhận ra được lỗi lầm, biết ăn năn hối cải, biết cúi đầu nhận lỗi trước Đảng và nhân dân. Kỷ luật hay xử lý trách nhiệm pháp lý cũng nhằm giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ; cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn; cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Nhân văn trong chủ trương xây dựng cơ chế bảo vệ, khuyến khích những người làm công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý tham nhũng cũng như với những người tố cáo, tích cực đấu tranh chống tham nhũng(15). Bên cạnh việc kiên quyết phát hiện, xử lý TN, TC, phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa, răn đe, không để xảy ra TN, TC; đồng thời không ngừng nâng cao cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh phòng, chống TN, TC để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Thứ tư, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt. Phòng, chống TN, TC bao gồm các hoạt động của hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội và toàn thể nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, chặt chẽ, toàn diện, thường xuyên của Đảng, tạo thành thế trận trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt. Các nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, XII và XIII đều khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng ta: Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của chả hệ thống chính trị và nhân dân để đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi TN, TC... Tại Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021, Đảng tiếp tục khẳng định cần phải tạo sự gắn bó mật thiết với nhân dân, thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Trên cơ sở đó, xác định phải hoàn thiện cơ chế nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; bảo vệ, khuyến khích nhân dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên TN, TC; thực hiện hiện quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI THANH NIÊN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Đảng ta luôn khẳng định thế hệ trẻ có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước. Theo đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn đặt niềm tin sâu sắc vào thế hệ trẻ. Với đặc tính trẻ trung, sôi nổi, năng động, sáng tạo, sục sôi nhiệt huyết, thanh niên Việt Nam đã và đang chứng tỏ vai trò rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước(16), từng bước trở thành lực lượng xung kích trong công cuộc đấu tranh phòng, chống TN, TC. Trên cơ sở những quan điểm của Đảng và chỉ dẫn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, một số vấn đề đặt ra đối với thanh niên Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là: Một là, dưới góc độ tổ chức Đoàn. Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh (Đoàn) cần ý thức sâu sắc về vai trò đặc biệt quan trọng của mình trong công cuộc đấu tranh phòng, chống TN, TC do Đảng lãnh đạo. Với tư cách của một tổ chức chính trị - xã hội, Đoàn có trách nhiệm là một thành viên tích cực tham gia cuộc đấu tranh này. Một mặt, phải thực hiện đấu tranh phòng, chống TN, TC ngay chính trong nội bộ bộ máy; mặt khác, phải lãnh đạo, phát huy năng lực, trí tuệ của tuổi trẻ Việt Nam thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội, phát hiện các biểu hiện TN, TC để kịp thời ngăn chặn. Cùng với đó, Đoàn tích cực tham gia vào công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị từ sớm, từ xa. Trong giai đoạn hiện nay, trên nguyên tắc “đúng vai thuộc bài”, các tổ chức cơ sở đoàn cần thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của mình, chú trọng hơn nữa công tác chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên (ĐVTN). Trong đó, chú trọng tạo môi trường rèn luyện đạo đức và lý tưởng cách mạng cho ĐVTN trực tiếp cụ thể hoá các quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam “Tâm trong - Trí sáng - Hoài bão lớn”, tích cực tham gia công tác đấu tranh phòng, chống TN, TC; phát huy vai trò xung kích tuổi trẻ, phát động các phong trào, chương trình thiết thực, tạo ra những nền tảng chính trị - tư tưởng vững chắc, định hình và bồi dưỡng tác phong, đạo đức cách mạng để ĐVTN trưởng thành, vững vàng, tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng, chống TN, TC. Tổ chức đoàn các cấp cần phát hiện kịp thời những ĐVTN ưu tú, giới thiệu cho Đảng bồi dưỡng, kết nạp; giới thiệu cán bộ đoàn vào quy hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và tổ chức kinh tế - xã hội. Bảo đảm không bỏ lọt nhân tài, đồng thời không để những phần tử cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, mưu toan TN, TC, bè phát lọt vào trong bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị. Tổ chức đoàn các cấp phải là những “bộ lọc” quan trọng, góp phần hoàn thiện cơ chế ngăn chặn từ gốc TN, TC. Hai là, dưới góc độ cá nhân. Mỗi ĐVTN cần nhận thức sâu sắc trách nhiệm, bổn phận trong đấu tranh phòng, chống TN, TC. Cùng với quyền lợi, mỗi cá nhân có trách nhiệm tích cực tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nâng cao phẩm chất, bản lĩnh chính trị, trở thành hạt nhân tích cực ở cơ quan, đơn vị và là thành viên tích cực của xã hội, phát huy, lan toả tinh thần tuổi trẻ xung kích, sáng tạo, trách nhiệm, gương mẫu trong công tác đấu tranh phòng, chống TN, TC. Cần bài trừ quan điểm cho rằng, tuổi trẻ chưa có vị trí tại cơ quan, đơn vị đồng nghĩa với việc chưa thể tham gia vào công tác đấu tranh phòng, chống TN, TC. Công tác này đến từ những điều rất nhỏ như mỗi cá nhân thực hiện đúng phê bình, tự phê bình; nghiêm chỉnh chấp hành các quy định, quy chế của cơ quan, đơn vị, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; tự giác tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong; sống có trách nhiệm với bản thân, với gia đình và cộng đồng… Cán bộ ĐVTN cần tích cực tham gia các hoạt động chuyên môn trực tiếp phòng, chống TN, TC, đồng thời tham mưu cho lãnh đạo đơn vị để đổi mới, nâng cao hiệu quả của công tác này. Đây chính là nền tảng vững chắc nhất để sau khi trưởng thành đoàn, trên cơ sở tư tưởng, đạo đức được rèn luyện, cùng với năng lực bản thân, nhiều đồng chí sẽ được bổ nhiệm vào các vị trí quan trọng, trực tiếp lãnh đạo cơ quan, đơn vị tham gia vào phong trào đấu tranh phòng, chống TN, TC. Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh ngay trong chính bản thân mỗi con người, trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình; liên quan đến lợi ích, tiền tài, chức vụ, danh vọng, uy tín của tổ chức, cá nhân. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định chỉ có những người với “bàn tay sạch”, “tấm lòng sạch” mới có đủ dũng khí để dọn sạch tàn dư của những thói hư tật xấu đã len lỏi vào một bộ phận cán bộ của chúng ta(17); “Tay đã nhúng chàm không thể chống tham nhũng”. Chính vì vậy, cán bộ nói chung và cán bộ trẻ nói riêng, trong đó có ĐVTN phải không ngừng trau dồi bản lĩnh và trí tuệ; luôn giữ một trái tim nhiệt huyết, đôi chân vững chắc và bàn tay sạch để “đứng vững, đứng thẳng và khước từ mọi sự cám dỗ tầm thường, giữ danh dự”(18)./

Một số vấn đề đặt ra trong công tác tư tưởng của Đảng

Thực tế ở không ít nơi, khi tổng kết - đánh giá, nếu công tác tư tưởng đạt kết quả tốt, tạo được hiệu ứng tích cực trong xã hội thì thành tích đó “mặc nhiên” thuộc về sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng hướng, kịp thời của cấp ủy; khi công tác tư tưởng còn hạn chế, không đạt kết quả tốt, thì “lỗi trách nhiệm” lại thuộc về ban tuyên giáo. Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi công tác tư tưởng là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vai trò giáo dục, tuyên truyền, vận động, tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước. Công tác tư tưởng đã tích cực góp phần trực tiếp cho tổng thể công tác xây dựng Đảng. Công tác xây dựng Đảng được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực về tư tưởng, chính trị, đạo đức và tổ chức, cán bộ; gắn chặt nhiệm vụ chỉnh đốn, xây dựng Đảng với cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, chống suy thoái về tư tướng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Khi tập trung cho nhiệm vụ nói trên, công tác xây dựng Đảng về tư tưởng đã chú trọng đồng thời cả bốn nội dung: tư tưởng, chính trị, đạo đức và tổ chức, cán bộ trong hoạt động xây dựng Đảng, trong đó, đặc biệt tập trung gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Để thực hiện nhiệm vụ này, công tác tư tưởng đã triển khai các giải pháp lớn như: Trên cơ sở các kết quả mới trong nghiên cứu lý luận đã tổ chức việc học tập, vận dụng những nhận thức mới về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; xây dựng và thực hiện cơ chế giám sát đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Có chính sách bảo đảm việc sử dụng các sản phẩm, giá trị văn hoá, văn nghệ trong hoạt động tư tưởng, nâng cao hiệu quả giáo dục đảng viên; triển khai thường xuyên, bảo đảm thực chất, hiệu quả phương châm tự phê bình và phê bình, “xây” và “chống” trong sinh hoạt Đảng, chú trọng nêu gương tốt và phê phán các biểu hiện xấu trong công tác xây dựng Đảng... Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cùng với sự chủ động, tích cực và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, việc triển khai trên thực tế về công tác tư tưởng đã đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, công tác tư tưởng cũng còn nhiều hạn chế. Một là, chưa thống nhất trong nhận thức cũng như giữa nhận thức và tổ chức thực hiện. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bởi: “Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất”(1); “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc”(2). Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn đặt ra yêu cầu rất cao đối với công tác tư tưởng; xác định rõ “Công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng, của tất cả đảng viên, trước hết là cấp uỷ các cấp và đồng chí bí thư cấp uỷ, của cả hệ thống chính trị với sự tham gia, đóng góp của nhân dân, trong đó, lực lượng nòng cốt là đội ngũ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lí luận...”(3). Tuy nhiên, trên thực tế, “Công tác tư tưởng có nơi, có lúc chưa thực sự được cấp ủy coi trọng, chưa kịp thời, tính thuyết phục chưa cao”(4); “một số cấp ủy, chính quyền chưa thực sự coi trọng công tác lý luận, công tác giáo dục lý luận chính trị”(5), dẫn đến tình trạng ở nhiều nơi, công tác tư tưởng “được” cấp ủy “khoán trắng” cho ban tuyên giáo - coi đó là chức năng, nhiệm vụ mà ban tuyên giáo phải đảm nhận và thực thi. Thực tế ở không ít nơi, khi tổng kết - đánh giá, nếu công tác tư tưởng đạt kết quả tốt, tạo được hiệu ứng tích cực trong xã hội thì thành tích đó “mặc nhiên” thuộc về sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng hướng, kịp thời của cấp ủy; khi công tác tư tưởng còn hạn chế, không đạt kết quả tốt, thì “lỗi trách nhiệm” lại thuộc về ban tuyên giáo. Hai là, phương thức truyền đạt thông tin của công tác tư tưởng chưa thực sự đổi mới. Phương thức truyền đạt thông tin hiệu quả là nền tảng cho mọi hoạt động của đời sống và công việc. Đó không chỉ đơn giản là việc chia sẻ những ý tưởng của chủ thể với người khác mà quan trọng hơn là chia sẻ những góc nhìn và tạo mối liên hệ với mọi người xung quanh. Phương thức truyền đạt thông tin hiệu quả vừa tiết kiệm được thời gian, vừa đạt hiệu quả giao tiếp sẽ mang lại lợi ích lớn hơn trong cuộc sống cũng như công việc. Đối với công tác tư tưởng, phương thức truyền đạt thông tin chính là phương tiện quan trọng để đưa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với hiện thực xã hội; tham gia xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; thường xuyên tương tác với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, xét trên nhiều khía cạnh, phương thức thông tin của công tác tư tưởng ở nước ta còn có những bất cập. “Phạm vi tác động, ảnh hưởng của công tác tư tưởng có dấu hiệu bị thu hẹp”, “Nội dung, phương pháp công tác tư tưởng chậm đổi mới, công tác tư tưởng trở nên lạc hậu so với yêu cầu của thực tiễn trong tình hình mới”(6). “Công tác thông tin, tuyên truyền một số chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa phong phú, thường xuyên, kịp thời, chưa đáp ứng được sự mong đợi của nhân dân”(7). Theo chúng tôi, một trong những căn nguyên chính dẫn đến sự lạc hậu, bất cập nêu trên là do phương thức truyền đạt thông tin trong công tác tư tưởng ở nước ta hiện nay vẫn gần giống với những năm trước đổi mới: chủ yếu cung cấp những thông tin mà chủ thể có, chứ chưa cung cấp những thông tin mà xã hội cần. Cơ chế bao cấp trước đổi mới không chỉ bao trùm cả trong môi trường sống và làm việc, mà còn thể hiện rõ cả trong công tác tưởng. Tư tưởng, nhận thức và suy nghĩ của cán bộ, đảng viên là đã có cấp trên (ngành Công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng) chăm lo và định hướng. Do đó, trong tâm thế của cán bộ, đảng viên chỉ cần tiếp nhận những tư tưởng, định hướng, nhận thức từ trên đưa xuống, “có sao dùng vậy”, không đòi hỏi nhiều hơn. Điều này dẫn đến tình trạng, đội ngũ những người làm công tác tư tưởng cũng chỉ cần cung cấp những thông tin mà mình có, không cần thiết phải tìm hiểu, mở rộng thông tin. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khi thông tin đa chiều liên tục được cập nhật, phông kiến thức và thông tin của cán bộ, đảng viên rất đa dạng, phong phú; đối tượng tiếp nhận luôn có tâm thế và nhu cầu được biết nhiều thông tin hơn... Điều này đặt ra yêu cầu và đòi hỏi người đi truyền đạt thông tin phải không ngừng chủ động cập nhật, khai thác, mở rộng, chọn lọc thông tin; tiếp cận, tham khảo các nguồn thông tin khác nhau... Nói khác đi là trên nền tảng “gốc” và định hướng cơ bản, chủ thể truyền đạt phải cung cấp những thông tin mà xã hội cần, chứ không chỉ cung cấp những thông tin mà mình có. Nếu không thì chính chủ thể truyền đạt lại trở nên lạc hậu hơn so với đối tượng tiếp nhận thông tin. Ba là, về cơ bản, phương thức tư duy trong công tác tư tưởng vẫn theo cách cũ, lối mòn. Đảng ta đã nhấn mạnh: “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư yêu cầu phải đổi mới tư duy về quản lý kinh tế, quản lý xã hội, xây dựng, hoàn thiện thể chế cho phù hợp. Cần có cách tiếp cận mở, sáng tạo, cho thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra, tạo mọi thuận lợi cho đổi mới sáng tạo”(8). Trước đây, “mặt bằng” tư duy cơ bản vận hành theo số lượng, tuần tự, thứ bậc, dẫn đến phương thức hoạt động chủ yếu là theo hình thức, quán tính. Vì vậy, các hoạt động, nhất là tư duy trong công tác tư tưởng thường là theo kinh nghiệm, thói quen, thậm chí là cảm tính, tức là theo tính thường biến của tư duy. Trong bối cảnh hiện nay, sự bùng nổ của công nghệ số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã đưa đến những “bản chất mới” cho quá trình phát triển. Các hoạt động của con người đều phải tiệm cận, thích ứng với tính phi truyền thống, linh hoạt hoá, trí tuệ hóa. Theo đó, phương thức tư duy của công tác tư tưởng cũng phải đổi mới theo phương thức: chất lượng, không tuần tự, không thứ bậc, dám nghĩ khác và làm khác... Có như vậy chúng ta mới tránh được sự lạc hậu và khắc phục được những hạn chế, bất cập trong giảng dạy lý luận chính trị. Điều này đúng với tư tưởng của Ph.Ăngghen về sự cần thiết phải bổ sung, làm mới và phát triển lý luận mác-xít: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”(9). Bốn là, công tác tư tưởng vẫn chưa được quy trình hóa. Để đảm bảo được sự vận hành thông suốt, đúng định hướng và mang lại hiệu quả cao thì bất cứ một loại hình hoạt động xã hội nào cũng cần phải xây dựng được quy trình tác nghiệp cho chính nó. Đây cũng là sự cần thiết phải có quy trình hóa trong bất cứ hoạt động xã hội nào. Công tác tư tưởng không là ngoại lệ, cũng phải được quy trình hóa, tức là phải thiết lập được quy trình mang tính chuẩn mực trong hoạt động. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ thăm và làm việc tại Trung tâm Dữ liệu quốc gia về dân cư, Bộ Công an_Ảnh: TTXVN Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ thăm và làm việc tại Trung tâm Dữ liệu quốc gia về dân cư, Bộ Công an_Ảnh: TTXVN Quy trình hóa trong công tác tư tưởng là quá trình xác định, lựa chọn và tạo dựng được những yếu tố, thao tác, tiêu chí, trình tự các bước thực hiện tác nghiệp tối thiểu và bắt buộc mà những cá nhân hay tổ chức thực thi công tác tư tưởng phải tuân thủ. Điều này giúp công tác tư tưởng được thực hiện thống nhất, hạn chế các khác biệt có thể gây ra những hệ quả không mong muốn. Từ cách tiếp cận của mình, chúng tôi cho rằng, quy trình hóa công tác tư tưởng ở nước ta hiện nay phải hiện thực hóa được công thức “6T”: Tiên phong - Trí tuệ - Trúng - Thiết thực - Thuyết phục - Tiên tiến. Tiên phong là không bao giờ được không lạc hậu với thời cuộc; phải luôn đi đầu, định hướng, dẫn đường cho cán bộ, đảng viên và nhân dân biết phát huy lợi thế và thành quả đã có, vượt qua khó khăn thách thức, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội. Trí tuệ là phải nắm được đặc điểm thời đại và dân tộc, biết phân tích, thâu tóm được bản chất đích thực vấn đề đặt ra, qua đó đề xuất giải pháp thiết thực, hữu hiệu để giải quyết. Trúng là phải bao hàm được cả trên bình diện không gian và thời gian. Trên bình diện không gian là phải phản ánh đúng sự thật về sự việc, sự kiện xảy ra; trên bình diện thời gian là phải thông tin nhanh chóng, kịp thời, không bị chậm trễ, đi sau, “chạy theo”. Thiết thực là luôn phải bám sát thực tiễn, sát hợp với thực tiện để nắm bắt thực tiễn, phục vụ nhu cầu của thực tiễn; không nên và không được viễn vông, xa rời thực tiễn. Thuyết phục là phải nắm được tâm lý, đi vào lòng người, không áp đặt, cưỡng cầu một chiều; không ngoa ngôn và cũng không ngụy ngôn. Tiên tiến là phải ứng dụng và sử dụng thành thạo những thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là internet, mạng xã hội vào quá trình hoạt động, tác nghiệp; biến những ưu thế tiên tiến đó thành lợi thế, hành trang nội tại, không thể thiếu trong “nghề” tuyên giáo. Trên thực tế, trong bối cảnh hiện nay, công tác tư tưởng của chúng ta vẫn chưa đạt được công thức “6T”. Đây cũng là những bất cập mà Đảng ta đã chỉ ra: “Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, thiếu sức thuyết phục, tính chiến đấu còn hạn chế, chưa sát thực tiễn và chưa linh hoạt; chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, những quan điểm mơ hồ, sai trái…”(10). Năm là, còn có những bất cập trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng. Đảng ta xác định: “Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kĩ thuật cho công tác tư tưởng theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu của hoạt động tư tưởng trước những đòi hỏi mới trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Khẩn trương xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng đến năm 2020 từ Trung ương đến cơ sở, cả cán bộ cấp chiến lược, các chuyên gia đầu ngành, đội ngũ kế cận và cán bộ trẻ. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, có chế độ, chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với đội ngũ này”(11). Tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta vẫn chưa hiện thực hóa được bao nhiêu so với yêu cầu của Đảng. Vẫn còn quan niệm cho rằng, chỉ có thể bồi dưỡng chứ không thể đào tạo được đội ngũ làm công tác tư tưởng. Hiện nay, Học viện Báo chí và Tuyên truyền có mở chuyên ngành cử nhân về quản lý tư tưởng - văn hóa. Song, kiến thức được trang bị của các lớp cử nhân này lại thiên nhiều hơn về công tác tư tưởng dưới góc độ quản lý nhà nước. Việc trang bị kiến thức, kỹ năng về công tác tư tưởng - với tư cách là một loại hình công tác xây dựng Đảng có nội hàm đặc thù - vẫn còn bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của bối cảnh mới./.

Hiểu rõ để không bị mắc mưu thế lực thù địch

Vào dịp công đoàn các cấp tổ chức đại hội, tiến tới Đại hội Công đoàn Việt Nam nhiệm kỳ 2023-2028, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn lại gia tăng chống phá với những luận điệu như: Công đoàn Việt Nam chỉ là bù nhìn (!); chỉ có "công đoàn độc lập" mới bảo vệ quyền lợi cho người lao động (!)... Ảnh minh họa / tuyengiao.vn Ảnh minh họa / tuyengiao.vn Có thể thấy, chiêu trò dụ dỗ, lôi kéo, kích động công nhân, người lao động chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà các thế lực thù địch đã và đang tiến hành là hết sức thâm độc, nham hiểm. Đây thực chất là âm mưu nhằm hạ thấp vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam để phục vụ cho mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân ta, làm cho nước ta bị suy yếu, mất đoàn kết. Nếu công nhân, người lao động không tỉnh táo, thiếu bản lĩnh sẽ mắc mưu kẻ xấu, vi phạm pháp luật. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Như vậy, Nhà nước ta ghi nhận và cho phép quyền tự do lập hội của công dân. Nhưng việc lập hội phải đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật, được Nhà nước Việt Nam công nhận. Còn cái gọi là “công đoàn độc lập” hay “nghiệp đoàn độc lập” do một số kẻ tự khởi xướng hoàn toàn bất hợp pháp, trái với quy định của pháp luật và không được Nhà nước Việt Nam thừa nhận. Bề ngoài, chúng tuyên bố “không làm chính trị” nhưng lại câu kết với các tổ chức chống phá Nhà nước Việt Nam như: Nghiệp đoàn FO, Lao động Việt, Nhóm bạn công nhân (thuộc Việt Tân), Luật khoa tạp chí, Hội nhà báo độc lập... Các tổ chức này hoàn toàn không đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và công nhân, mà thực chất là đội lốt, mượn mũ công nhân để thực hiện mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động. Thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới cho chúng ta thấy những bài học đắt giá từ sự nhận thức chưa đúng, dẫn đến công nhân bị dẫn dắt bởi các tổ chức “dân sự” như “công đoàn độc lập”, “công đoàn đoàn kết”, “công đoàn tự do”... Các hội, nhóm, tổ chức này sử dụng nhiều chiêu trò dụ dỗ, lôi kéo công nhân vào cái bẫy của chúng để hình thành lực lượng chống đối chính quyền, lật đổ chế độ nhằm cướp quyền lãnh đạo. Đối với Việt Nam, tổ chức công đoàn được quy định cụ thể trong Hiến pháp, Luật Công đoàn Việt Nam nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động. Thực tế nhiều năm qua, tổ chức Công đoàn Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm này (tất nhiên không tránh khỏi một số tổ chức công đoàn cơ sở hoạt động chưa hiệu quả, song đó chủ yếu là do cán bộ công đoàn ở đó chưa phát huy tốt vai trò, trách nhiệm). Thực tiễn đã chứng minh rõ, Công đoàn Việt Nam bảo vệ tốt quyền lợi, chăm lo cho người lao động, như vừa qua, khi công nhân và các doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã kịp thời tham mưu, đề xuất với Chính phủ ban hành nghị quyết về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn. Bên cạnh đó, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng tham mưu, đề xuất với Đảng và Chính phủ về Đề án "Đầu tư xây dựng các thiết chế công đoàn tại các khu công nghiệp, khu chế xuất" và tổ chức đầu tư, xây dựng nhà ở, nhà trẻ, khu vui chơi, giải trí cho công nhân, người lao động... Không ai có thể phủ nhận sự cần thiết, không thể thiếu và vai trò, uy tín của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tổ chức công đoàn các cấp hiện nay. Còn cái gọi là “công đoàn độc lập”, "nghiệp đoàn độc lập" không hề và không thể đại diện cho quyền, lợi ích của công nhân, người lao động, mà chỉ là kiểu lợi dụng để thực hiện mưu đồ chính trị. Vì vậy, người dân cần hiểu rõ để tránh mắc mưu các thế lực thù địch, phản động./.

Không thể phủ nhận ý nghĩa và giá trị của phong trào thi đua yêu nước

75 năm sau khi ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948-11/6/2023), tư tưởng Hồ Chí Minh về mục đích, nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức các phong trào thi đua yêu nước thiết thực, hiệu quả phù hợp với nhiệm vụ của từng giai đoạn dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự. Bất chấp sự xuyên tạc của các phần tử cơ hội, phản động, các thế lực thù địch thì sức sống và giá trị không thể phủ nhận của phong trào thi đua yêu nước trong những thập niên qua chính là minh chứng sinh động nhất bác bỏ những luận điệu phản động, bôi đen sự thật về thi đua yêu nước được tung lên mạng xã hội thời gian qua! THI ĐUA YÊU NƯỚC ĐỂ GÂY “HẠNH PHÚC CHO DÂN” Trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: Mục đích của thi đua là để “Diệt giặc đói, Diệt giặc dốt, Diệt giặc ngoại xâm”[1] nhằm thực hiện “Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc[2]”. Vì thế, để thi đua trở thành phong trào cách mạng của quần chúng, phát triển rộng rãi, sôi nổi, ăn sâu, lan rộng khắp về mọi mặt, thì “cách làm là dựa vào: Lực lượng của dân, Tinh thần của dân, để gây: Hạnh phúc cho dân”[3] và “các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia công việc, Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn, Đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp, Đồng bào công nông thi đua sản xuất, Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh, Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự nhân dân, Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng”[4]... Sau lời kêu gọi thi đua yêu nước của Người, những năm sau đó (trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước) trên khắp mọi miền của Tổ quốc, các phong trào thi đua yêu nước không chỉ là động lực của sự phát triển, là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, mà còn là một nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Rất giản dị và ngắn gọn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng “công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua”[5] và thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của các tầng lớp nhân dân; là phát huy sự năng động, khả năng sáng tạo, tính tích cực, kỷ luật, tinh thần đoàn kết, truyền thống yêu nước của mỗi người, mỗi tập thể để hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao, cho nên “thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”[6]. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, thì thi đua chính là động lực để phát huy lòng yêu nước và thông qua phong trào thi đua để bồi dưỡng, nâng cao lòng yêu nước, làm cho lòng yêu nước trở nên sinh động trong thực tiễn bằng chính suy nghĩ, hành động cụ thể, tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân, mỗi tập thể trên mọi lĩnh vực của cuộc sống. Vì thi đua “là một cách yêu nước thiết thực và tích cực” và yêu nước không chỉ là tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân; luôn gắn liền với bổn phận, trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước, mà còn là một truyền thống quý báu của dân tộc, là một giá trị tinh thần, luôn luôn đồng hành cùng dân tộc trong hành trình dựng nước và giữ nước, cho nên “thi đua ái quốclà ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và lợi ích cho làng cho nước, cho dân tộc”[7], chứ không phải là “lợi dụng công tác thi đua để thực hiện mục đích cá nhân”; là xuyên tạc tính tích cực và bản chất thi đua thành “ganh đua”, “tranh đoạt” như các thông tin xấu độc bôi đen sự thật. Thực tế cũng cho thấy, điều đặc biệt để làm nên thắng lợi của các phong trào thi đua yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là “1. Thi đua ái quốc phải có phương hướng đúng và vững. Nghĩa là phải nâng cao lòng nồng nàn yêu nước và giác ngộ chính trị của mọi người. Yêu nước thì phải thi đua, thi đua tức là yêu nước. 2. Phải có kế hoạch tỉ mỉ. Kế hoạch ấy phải do từng đơn vị nhỏ, từng gia đình, từng cá nhân bàn bạc kỹ, hiểu biết thấu, vui vẻ làm. Nghĩa là phải sao cho mỗi nhóm, mỗi người tự giác tự động. 3. Nội dung của kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực. Khi đặt kế hoạch phải tuyệt đối tránh sự sơ suất "đại khái", quá cao, phiền phức, miễn cưỡng. 4. Thi đua không nên thiên về một phía. Phải điều hoà 3 nhiệm vụ với nhau: Tăng gia sản xuất, công việc hằng ngày và học tập (chính trị, văn hoá, tình hình trong nước và thế giới). 5. Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng. Trước khi thi đua phải chuẩn bị đầy đủ (giải thích, cổ động, xét kỹ kế hoạch mỗi nhóm, mỗi người). Trong lúc thi đua, phải thiết thực đôn đốc, giúp đỡ, sửa đổi. Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi”[8]… Đi liền cùng đó là phải làm tốt công tác tư tưởng, vận động, tuyên truyền để toàn dân hiểu rõ, tự nguyện, tích cực tham gia phong trào, vì “tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý (...) Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước”[9]. Trong quá trình triển khai thực hiện, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và các đoàn thể nhân dân để phong trào phát triển đúng mục đích, mục tiêu chung đã định theo đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc trên mọi chặng đường cách mạng. Vì thế, sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân; sự phát triển ngày càng sâu, rộng của phong trào thi đua yêu nước không chỉ chứng minh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dưới chế độ tư bản, thực dân và phong kiến quyết không thể có phong trào thi đua yêu nước” và “chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ và nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua”[10] là đúng đắn, mà còn đồng thời cho thấy thi đua yêu nước theo chỉ dẫn của Người vừa thiết thực, dễ hiểu lại vừa sâu sắc, toàn diện, dễ đi vào cuộc sống, nên có sức quy tụ, hấp dẫn đông đảo quần chúng nhân dân. BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ THI ĐUA YÊU NƯỚC Sự phát triển phong phú, đa dạng, thường xuyên, liên tục, thiết thực, hiệu quả của các phong trào thi đua yêu nước trong 75 năm qua không chỉ khẳng định rằng thi đua “là một cách yêu nước thiết thực và tích cực” chứ không phải là “tranh giành” mà còn “là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ. Thi đua giúp cho đoàn kết chặt chẽ thêm. Và đoàn kết, chặt chẽ để thi đua mãi. Vì vậy, thật thà tự phê bình và thân ái phê bình là một lực lượng để đẩy mạnh thi đua”[11]. Thi đua là đoàn kết vì mục tiêu chung, chứ không phải là sử dụng các “mánh khóe và thủ đoạn” dẫn đến “phá nát xã hội”; là “tìm cách triệt hạ người khác, hay ít nhất là bước lên đầu nhau mà sống” và như các luận điệu phản động bịa đặt, bôi đen. Thực tế, hiểu một cách ngắn gọn nhất thì thi đua là cùng nhau đem hết tài năng, sức lực của con người để không chỉ “đua nhau làm” mà còn “nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất trong một lĩnh vực hoạt động nào đó”. Đó là hoạt động sáng tạo, tích cực của mỗi con người, của từng tổ chức, địa phương, cơ quan đơn vị trên mọi lĩnh vực của cuộc sống (lao động, sản xuất, học tập, chiến đấu…); “là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (khoản 1 Điều 3) và “nhằm tạo động lực động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (Điều 5) của Luật Thi đua, khen thưởng 2003 (sửa đổi 2005, 2013). Vì thế, thi đua là một trong những biểu hiện của lòng yêu nước, của tinh thần, ý chí và sự nỗ lực, hy sinh phấn đấu của mỗi người dân vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc, chứ không phải vì “sự khốc liệt trong cạnh tranh để đạt thành tích chứ không phải ở mục đích tạo ra giá trị bằng việc phát triển năng lực nhiều mặt của con người”; lại càng không phải là thi đua yêu nước “phá hủy từng con người, biến họ thành những kẻ xấu từ trong động cơ cho đến việc làm”; đồng thời, làm cho môi trường công tác, xã hội trở nên “ngột ngạt, gian dối, tiểu xáo, kèn cựa, đấu đá”, dẫn đến “làm mục ruỗng xã hội từ bên trong bởi sự xuống cấp trông thấy mỗi ngày”. Thực tế cũng cho thấy, các phong trào thi đua yêu nước từ: “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”; “Bình dân học vụ”; “Hũ gạo kháng chiến”; “Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công, đồng bào ở hậu phương thi đua tăng gia sản xuất”; “Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”; “Ba nhất” trong Quân đội; “Gió Đại Phong” trong nông nghiệp; “Sóng Duyên Hải” trong công nghiệp; “Hai tốt” trong ngành giáo dục; “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong” trong thanh niên; “Ba đảm đang” trong phụ nữ; “Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công”, “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt” hay “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt”… cho đến “Lao động giỏi - Lao động sáng tạo” của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; “Cựu chiến binh gương mẫu” của Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Thi đua Quyết thắng”, “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong quân đội; “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy”, “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ” trong Công an hay “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”… lan tỏa sâu rộng từ Trung ương đến địa phương, ở tất cả các cấp, các ngành; trên khắp mọi miền của Tổ quốc trải dài từ sau ngày 2/9/1945 đến nay. Những phong trào nêu trên đã minh chứng: Thi đua yêu nước không chỉ trở thành động lực quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, mà còn được nâng lên một tầm cao mới, mang hơi thở của thời đại mới. Bản chất của thi đua là yêu nước, nên khi đã hiểu rõ kế hoạch, mục đích, nội dung cách thức thi đua thì mỗi cá nhân, tập thể sẽ cùng nhau đoàn kết, nỗ lực phấn đấu để vượt qua mọi khó khăn; là “làm phát triển tinh thần đoàn kết giữa tất cả các tầng lớp nhân dân”; là thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc để sửa chữa tất cả mọi khuyết điểm, “cải tạo con người”… Vì thế, việc viện dẫn một ví dụ về thi đua trong ngành giáo dục hay cho rằng các phong trào thi đua yêu nước hiện nay chỉ là hình thức, qua loa, chạy theo số lượng phong trào, thậm chí là cào bằng, không thực chất hay là “chạy thi đua bằng mọi cách có thể”, vì “thi đua gắn chặt với quyền lợi của mỗi người về mọi mặt, từ vật chất, thăng tiến, đến cả sự yên ổn, an toàn” nên “sinh ra cạnh tranh, tị hiềm, đấu đá, ghen ghét, phá vỡ quan hệ tốt đẹp giữa các đồng nghiệp” là bẻ cong sự thật, là suy diễn mang tính chủ quan của các phần tử phản động. Trên thực tế, thi đua không chỉ giúp cho mọi người tiến bộ mà còn làm tăng cường tình đoàn kết, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau; không chỉ “đoàn kết chặt chẽ để thi đua mãi” mà còn cổ vũ, phát huy sức sáng tạo, lòng nhân ái, vẻ đẹp tâm hồn, tình đoàn kết của người Việt trong thời đại mới. Vì thế, thi đua yêu nước không phải là “phá vỡ” tình người, là “làm hỏng đi sự kết nối lành mạnh giữa người với người” và “gây ra những bức xúc ngầm” trong nội bộ. Cùng với đó, việc một số người nhân danh dân chủ, “chuộng dân chủ tư sản” cho rằng thi đua ở Việt Nam không phải là tự nguyện mà là “bắt buộc phải làm”, nên “thi đua là con đẻ của nỗi sợ hãi tự do” và mang các phong trào thi đua yêu nước so sánh với phương Tây, với việc lý giải rằng “họ không có thi đua, không ai phải thi đua với ai để tồn tại cả” mà vẫn phát triển không ngừng với nhiều phát minh, sáng chế, các thành tựu mọi mặt về khoa học, nghệ thuật… cũng chỉ là sự suy diễn một chiều. Ở Việt Nam, thi đua yêu nước là để phấn đấu vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc; là để nhằm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[12], cho nên các phong trào này luôn nhận được sự hưởng ứng rộng khắp, sôi nổi của các tầng lớp nhân dân. Những thập niên gần đây, các phong trào thi đua yêu nước gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, với các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động, với việc triển khai Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị khóa XI về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" trong cả hệ thống chính trị và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" cùng Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương… ngày càng được tổ chức và thực hiện sáng tạo, linh hoạt với các nội dung cụ thể, thiết thực, hình thức phong phú trên mọi lĩnh vực, trên khắp mọi miền của Tổ quốc. Thi đua yêu nước là một phong trào cách mạng rộng rãi, thiết thực được lãnh đạo, chỉ đạo bởi các cơ quan, ban, ngành chức năng; được tổ chức thực hiện theo kế hoạch, với các hình thức phù hợp trong cả hệ thống chính trị, chứ không phải là “đặt sự vận động của xã hội trên nền của sự hơn thua giữa các cá nhân”; là sự “ganh đua” để “triệt hạ người khác” vì thành tích như các phần tử cơ hội, phản động, các thế lực thù địch xuyên tạc./.

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh trước sự chống phá của các thế lực thù địch

Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong 93 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh _Ảnh: TTXVN Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh _Ảnh: TTXVN Thực tiễn đó cũng khẳng định một cách chắn chắn: Ở Việt Nam, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi đến những thắng lợi to lớn trong thời gian vừa qua. Thời gian qua, với dã tâm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch đã đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc, trong đó tập trung xuyên tạc bản chất giai cấp công nhân của Đảng; nền tảng tư tưởng; chủ trương, đường lối và các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng... Thực tế đó tiếp tục đặt ra yêu cầu cần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Theo đó, cần chú trọng một số nội dung như sau: Thứ nhất, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch đã thông qua nhiều phương thức nhằm xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân của Đảng với lập luận về thực trạng (số lượng và trình độ) hạn chế của giai cấp công nhân và cho rằng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay chỉ là một nhóm lợi ích, không còn đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân và dân tộc Việt Nam. Trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng cần phải giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, coi đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tuy nhiên, cần nhận thức rõ rằng, bản chất giai cấp công nhân của Đảng không chỉ phụ thuộc vào số lượng và trình độ của giai cấp công nhân trong Đảng mà chủ yếu phụ thuộc vào tôn chỉ, mục đích của Đảng là tôn chỉ, mục đích của giai cấp công nhân; nền tảng tư tưởng của Đảng là nền tảng tư tưởng của giai cấp công nhân, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của giai cấp công nhân... Do đó, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng, chúng ta phải kiên định con đường, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định, vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới; xây dựng đường lối, chủ trương và các chính sách đúng đắn, phù hợp; giữ vững nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, quan điểm, ý thức tổ chức của giai cấp công nhân; xây dựng đội ngũ cán bộ và đảng viên theo quan điểm của giai cấp công nhân; củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; chăm lo đời sống, thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân; trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản của giai cấp công nhân… Thứ hai, xây dựng đường lối, chính sách lãnh đạo đúng đắn. Với tư cách đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo toàn diện xã hội thông qua đường lối, chính sách phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội... Năng lực cầm quyền của Đảng là sự tổng hòa của đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh chính trị để giải quyết các yêu cầu, nhiệm vụ do tình hình đất nước đặt ra nhằm đạt được mục tiêu phát triển. Do vậy, việc xây dựng đường lối, chính sách đúng đắn, khoa học của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước việc các thế lực thù địch “khuyên” Việt Nam cần từ bỏ con đường mà Đảng và dân tộc đã lựa chọn hơn 93 năm qua - đó là “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, cần tiếp tục khẳng định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng đắn, con đường đó được xây dựng trên nền tảng lý luận khoa học là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phù hợp với thực cách mạng Việt Nam; đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo nhân dân Việt Nam; phù hợp với quy luật và xu thế vận động, phát triển của thế giới. Tuy nhiên, đường lối đó phải được cụ thể hoá ở mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế trong từng thời kỳ, từng giai đoạn nhất định. Do đó, Đảng phải luôn dựa trên những điều kiện thực tế của đất nước, tình hình trên thế giới, phải dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng đường lối, chính sách trong từng thời kỳ; đặc biệt, trù bị những tình huống bất ngờ xảy ra; không bảo thủ, trì trệ nhưng cũng không được chủ quan, duy ý chí; vừa phải kịp thời nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, vừa phải tính toán từng bước đi thận trọng trong các thời kỳ, giai đoạn cụ thể. Từ vị trí của đảng cầm quyền và để chống nguy cơ sai lầm về đường lối, thời gian qua, Đảng Cộng sản Việt Nam cần tiếp tục thực hiện quan điểm thực tiễn cũng như phương châm “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, xem xét kỹ lưỡng những ưu điểm, khuyết điểm…”(1). Đó là cơ sở quan trọng cho những quyết sách đúng đắn, khoa học. Muốn lãnh đạo đúng, theo Hồ Chí Minh còn phải “tổ chức thi hành cho đúng”, “kế hoạch một, biện pháp mười, quyết tâm phải hai, ba mươi” bởi chương trình, kế hoạch có hay đến mấy nhưng tổ chức thi hành không đúng, thiếu biện pháp thích hợp, cán bộ, đảng viên thiếu quyết tâm, hoặc không biết biến quyết tâm của lãnh đạo thành quyết tâm của nhân dân thì mọi chương trình, kế hoạch đều không trở thành hiện thực. Khi đường lối đúng đắn, phù hợp của Đảng đem lại hiệu quả trong thực tiễn thì uy tín của Đảng sẽ được nâng cao, niềm tin của nhân dân vào Đảng sẽ củng cố và đó cũng là minh chứng hùng hồn đánh bại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Thứ ba, đẩy mạnh nghiên cứu và học tập lý luận chính trị . Trong bối cảnh đẩy mạnh công cuộc đổi mới nhưng chưa có tiền lệ, nhiều vấn đề mới nảy sinh trong quá trình phát triển, cùng với đó là những căn bệnh khó chữa như coi thường lý luận, lười học lý luận làm cho một số cán bộ, đảng viên thiếu nhận thức đúng đắn dẫn đến hoang mang, dạo động, thiếu niềm tin... Do đó, cần đẩy mạnh việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn nhằm góp phần cung cấp luận cứ cho việc hoạch định chủ trương, đường lối, đồng thời tạo niềm tin vững chắc cho cán bộ đảng viên và nhân dân. Trong lĩnh vực giáo dục lý luận chính trị, cần khắc phục sự lạc hậu, trùng lặp trong nội dung của các chương trình, sự đơn điệu trong phương pháp giảng dạy. Thực hiện cải cách chương trình giáo dục lý luận chính trị theo mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng, đảm bảo truyền thụ có hiệu quả kiến thức lý luận cơ bản, hệ thống, đồng thời sát hợp và gắn với thực tiễn Việt Nam. Triển khai mạnh mẽ nhiệm vụ đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ khoa học, chính trị, phẩm chất đạo đức của giảng viên các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là một giải pháp quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị. Thay đổi cách đánh giá chất lượng đào tạo, đảm bảo thực chất, chống chủ nghĩa hình thức và bệnh thành tích, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo các môn lý luận chính trị hiện nay. Bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị giỏi, có phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn cao. Chúng ta phải nhanh chóng khắc phục được những hạn chế, bất cập như thiếu về số lượng, sự hụt hẫng giữa các thế hệ, sự giảm sút chất lượng khoa học, sự hạn chế trong hiểu biết thực tế… của đội ngũ này Sức sống của tư tưởng không phải là khả năng tự thân mà là từ con người, do con người và trong xã hội. Để góp phần đảm bảo tính khoa học trong lãnh đạo, cầm quyền, chống lại các luận điệu xuyên tạc, Đảng phải tổ chức nghiên cứu lý luận để làm rõ và khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những vấn đề cần tiếp tục bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn đất nước và thời đại; đẩy mạnh nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với triển khai sâu rộng, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đặc biệt, trong khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần phân tích sự trung thành về nguyên tắc và những sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh so với chủ nghĩa Mác – Lênin nhằm lật ngược quan điểm xuyên tạc khi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh không còn giá trị trong giai đoạn hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh là “vay mượn”, là “ảo tưởng” , hoặc tách tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin… Cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân về tình hình, nhiệm vụ cách mạng và hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế. Khẳng định “lẽ phải của chúng ta” để “vững bước trên con đường đã chọn”. Nhận diện, phát hiện và giải quyết kịp thời, triệt để những nhận thức sai lầm từ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Bởi những thông tin xấu và độc hại nếu không được nhận thức đầy đủ, sâu sắc và tỉnh táo thì có thể làm cho nội bộ Đảng xuất hiện những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… Thứ tư, tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Một trong những luận điệu của các thế lực thù địch đó là vu cáo, xuyên tạc rằng, chế độ và thể chế chính trị một đảng duy nhất cầm quyền chính là mảnh đất tốt cho sự nảy sinh, dung dưỡng và phát triển tư tưởng và hành vi chuyên quyền, độc đoán. Chúng xuyên tạc các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng nhằm chia rẽ nội bộ Đảng, cho rằng, “thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ chỉ dẫn đến tập trung quan liêu, độc tài, mất dân chủ!”. Đảng phải nghiêm túc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoat Đảng, cần phải mở rộng và phát huy dân chủ, đánh giá đúng, tôn trọng và bảo vệ quyền dân chủ của mỗi cán bộ, đảng viên, tạo không khí cởi mở, chân thành để mọi cán bộ, đảng viên bày tỏ chính kiến, tâm tư, nguyện vọng. Người đứng đầu tổ chức đảng cần lắng nghe, cân nhắc với tinh thần thật sự cầu thị những ý kiến góp ý của nhân dân và của cán bộ, đảng viên cấp dưới, cân nhắc, xem xét để tìm ra những vấn đề đúng đắn, khoa học, tránh mắc phải những sai lầm, khuyết điểm do sự độc đoán, chuyên quyền sinh ra. Tăng cường đối thoại trong Đảng là những điều kiện quan trọng và cần thiết. Qua đó, nhiều vướng mắc của cán bộ, đảng viên được giải đáp trực tiếp và kịp thời, khó khăn được tháo gỡ, bức xúc trong tư tưởng cán bộ, đảng viên được giải tỏa. Đây cũng là dịp để cán bộ lãnh đạo cấp trên và cán bộ, đảng viên hiểu nhau, chia sẻ những khó khăn và thuận lợi, tạo được không khí đoàn kết, phấn khởi, tạo sự ổn định trong tập thể. Cùng với phát huy dân chủ là kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, chống đặc quyền, đặc lợi trong Đảng, làm lành mạnh các quan hệ trong Đảng và trong xã hội. Tự phê bình và phê bình không những là nghệ thuật, văn hóa trong Đảng, mà còn là quy luật phát triển của Đảng, là biện pháp hữu hiệu để xây dựng Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức và thực hành hiệu quả việc tự phê bình và phê bình bằng những hình thức cụ thể, thiết thực, hiệu quả, tuân thủ tính mục đích và nguyên tắc trong tự phê bình và phê bình. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ trong nhân dân, do nhân dân xây dựng, ủng hộ, giúp đỡ và bảo vệ. Đảng mạnh ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm tròn được sứ mệnh của mình. Thứ năm, thực hiện tốt công tác cán bộ. Thời gian vừa qua, các thế lực thù địch lợi dụng một số cán bộ cố ý làm trái các quy định của pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng và việc xử lý đôi khi còn chưa kịp thời để tung ra những luận điệu chống phá Đảng, tập trung hướng vào nội bộ, tìm mọi hình thức tinh vi hoặc trắng trợn, công khai hoặc bí mật, ráo riết làm cho nội bộ mất ổn định, gieo rắc sự ngờ vực, nghi kỵ, giảm sút lòng tin hòng gây chia rẽ nội bộ. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định, phải: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước...; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài... Đồng thời, có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”(2). Công tác cán bộ của Đảng phải được làm tốt ngay từ khâu lựa chọn. Đó là một mắt xích quan trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Tiêu chuẩn để lựa chọn cán bộ, đặc biệt là những người cán bộ đảm nhận những vị trí quan trong trong cơ quan Đảng, Nhà nước cần đảm bảo tính toàn diện về phẩm chất, bản lĩnh chính trị, trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, khả năng đoàn kết, tập hợp quần chúng, tác phong làm việc... Trên cơ sở đảm bảo yêu cầu, tiêu chuẩn, việc lựa chọn cán bộ cần phải kiên quyết không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ tiêu chuẩn; đồng thời không để lọt vào cơ quan lãnh đạo của Đảng những người có một trong các khuyết điểm như: Bản lĩnh chính trị không vững vàng; không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng; có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, vận động cho cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán; không công bằng, công minh trong đánh giá, sử dụng cán bộ, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình; để nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng hoặc để xảy ra tham nhũng, thất thoát, vụ việc tiêu cực lớn ở địa phương, cơ quan, đơn vị; không chịu nghiên cứu học hỏi; bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm; ý thức kỷ luật kém, không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức, uy tín giảm sút; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân hoặc vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính; vi phạm quy định về lịch sử chính trị hoặc chính trị hiện nay(3). Mặt khác, việc lựa chọn cán bộ phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, thật sự trong sáng, khách quan, đặc biệt phải “có con mắt tinh đời” trong việc đánh giá, giới thiệu, lựa chọn; lấy tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và hiệu quả công tác, uy tín của bản thân và gia đình làm thước đo chủ yếu. Đánh giá cán bộ là khâu rất quan trọng để phát huy tính tích cực của cán bộ, đảng viên. Đánh giá đúng sẽ bố trí, sử dụng đúng, phát huy được khả năng, sở trường của cán bộ, sẽ tạo cho cán bộ, đảng viên phấn khởi, tin tưởng và tích cực trong công tác. Ngược lại, cán bộ, đảng viên không được đánh giá đúng, không được tôn trọng, không được bảo vệ sẽ xa lánh tổ chức, tiêu cực trong hoạt động chính trị, nghĩ khác, làm khác, thậm chí dẫn đến những vấn đề về tư tưởng như: chán nản, tự ty, bi quan, tiêu cực… là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, mất đoàn kết, tổn hại cho tổ chức hoặc dễ bị các phần tử cơ hội chính trị lợi dụng lôi kéo, mua chuộc. Chèo lái con thuyền cách mạng, gánh trên vai trọng trách lịch sử mà Đảng và nhân dân giao phó, Đảng phải luôn được xây dựng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được đòi hỏi và yêu cầu đặt ra. Đó chính là sức mạnh nội sinh, những “kháng thể” mạnh mẽ của Đảng trước sự chống phá điên cuồng của các thế lực thì địch. Đó cũng chính là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Bên cạnh cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những cán bộ, đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân chúng ta cần xây dựng chính sách đãi ngộ và chính sách tiền lương công bằng, hợp lý, bảo đảm cho cán bộ, công chức đủ sống và sống tốt bằng đồng lương chân chính. Đời sống được đảm bảo, quyền lợi vật chất chính đáng được bảo vệ; quyền dân chủ được phát huy, đời sống tinh thần được thỏa mãn... là điều kiện để mỗi người cán bộ, đảng viên gắn bó với công việc, tập thể và xã hội, yên tâm, vững vàng thực hiện nhiệm vụ được giao./.

Việt Nam quan tâm, bảo đảm quyền của các dân tộc

Nhiều năm qua, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đồng thời thực hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD). Việt Nam đã bốn lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD. Năm 2023, Việt Nam tiếp tục xây dựng Báo cáo quốc gia CERD 5, qua đó khẳng định những thành tựu trong công tác nhân quyền nói chung và bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số nói riêng. Truyền dạy chữ Nôm Dao ở bản du lịch cộng đồng xóm Sưng, xã Cao Sơn (Đà Bắc, Hòa Bình). Truyền dạy chữ Nôm Dao ở bản du lịch cộng đồng xóm Sưng, xã Cao Sơn (Đà Bắc, Hòa Bình). Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn theo Nghị quyết số 2106 A (XX) ngày 21/12/1965 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc. Công ước CERD ra đời với mục tiêu lên án, tiến tới xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc, đồng thời xác lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết và không trì hoãn các chính sách nhằm loại trừ các hình thức phân biệt dựa trên chủng tộc, mầu da, dòng dõi, dân tộc hoặc gốc người thiểu số. Trong phần mở đầu, Công ước CERD khẳng định: “Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng để chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử hay bất kỳ sự kích động phân biệt đối xử nào”; đồng thời chỉ rõ: “Các quốc gia thành viên cam kết sẽ cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc” (Điều 5). Nội dung của Công ước CERD có nhiều điểm tương đồng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Việt Nam. Ngay từ khi mới khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) tại bản Hiến pháp năm 1946 được Quốc hội thông qua đã xây dựng trên các nguyên tắc: Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; bảo đảm các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Trên cơ sở đó, Hiến pháp 1946 khẳng định: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa (Điều thứ 6); tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình (Điều thứ 7); ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung (Điều thứ 8). Trải qua các giai đoạn lịch sử, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, trong đó việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và bảo đảm tính thực thi. Tại Điều 5 Hiến pháp năm 2013 xác định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”. Đồng thời, các quy định về bình đẳng, không phân biệt chủng tộc được tiếp tục cụ thể hóa trong các văn bản luật, các chính sách, mục tiêu quốc gia,… và triển khai đồng bộ ở mọi lĩnh vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm dân tộc thiểu số phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Chính sự tương đồng về quan điểm, mục tiêu bảo vệ quyền con người nói chung, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc nói riêng nên từ năm 1982, Việt Nam đã gia nhập Công ước CERD. Từ đó đến nay, Việt Nam luôn thực hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước CERD; tích cực triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo đảm, thúc đẩy quyền của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong các năm 1983, 1993, 2000 và 2012, Việt Nam đã bốn lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD. Điều này cho thấy những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong thực hiện Công ước CERD, đặc biệt là việc bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số như xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, bình đẳng giới… Năm 2023, Việt Nam tiếp tục xây dựng Báo cáo quốc gia CERD 5 gửi đến Ủy ban Công ước và được xếp lịch bảo vệ tại kỳ họp thứ 111 của Ủy ban (dự kiến tháng 11 và 12/2023). Thông tin về Báo cáo quốc gia CERD 5, bà Trần Chi Mai - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Ủy ban Dân tộc cho biết báo cáo được xây dựng toàn diện trên cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các cơ quan Đảng, Quốc hội, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và người dân. Cụ thể trong Báo cáo CERD 5 tập trung thể hiện kết quả Việt Nam thực thi Công ước CERD từ năm 2013-2019, tập trung vào các nội dung: Hệ thống pháp luật Việt Nam và các thiết chế bảo đảm, thúc đẩy quyền của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; định nghĩa phân biệt chủng tộc và đánh giá sự phù hợp của định nghĩa phân biệt chủng tộc trong các điều luật của Việt Nam; vai trò quan trọng của công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân tộc trong việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; kết quả thực hiện các cam kết cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; các biện pháp bảo đảm cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam không phải chịu bất cứ hành động phân biệt chủng tộc. Với những nội dung nêu trên, có thể khẳng định Báo cáo quốc gia CERD 5 sẽ cung cấp cho cộng đồng quốc tế một bức tranh khá toàn cảnh về vấn đề chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam, từ những biện pháp lập pháp, hành chính, tư pháp cũng như các biện pháp khác mà Việt Nam đã xây dựng, triển khai cho đến kết quả tổ chức thực hiện các biện pháp đó trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2019 nhằm bảo vệ quyền con người, chống các hành vi kỳ thị, phân biệt về chủng tộc tập trung vào người dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Báo cáo CERD 5 được trình bày và bảo vệ tại Ủy ban Công ước sẽ là cơ hội để Việt Nam tuyên truyền về những thành tựu bảo vệ nhân quyền nói chung và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người dân tộc thiểu số nói riêng. Với một quốc gia có tới 53/54 là dân tộc thiểu số thì việc bảo đảm quyền cho đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đồng thời cũng qua Báo cáo CERD 5, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam thuận hòa, đoàn kết, gắn bó, đề cao ý thức tuân thủ pháp luật sẽ được lan tỏa đến cộng đồng quốc tế, nhằm tăng cường sự hiểu biết và thúc đẩy các quan hệ hợp tác. Từ hiện thực sinh động, thuyết phục này sẽ góp phần bác bỏ những luận điệu vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí đối với Việt Nam, nhất là trong vấn đề thực hiện các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Đáng buồn là thời gian qua, trên một số diễn đàn mạng xã hội và trong một bộ phận dân cư vẫn xuất hiện những quan điểm, ý kiến lạc lõng, sai sự thật về cái gọi là “kỳ thị dân tộc”, “phân biệt đối xử với đồng bào dân tộc thiểu số” ở Việt Nam. Nguy hiểm hơn, các đối tượng chống phá, thù địch thường xuyên lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào, các tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại,… coi đây là mục tiêu để tấn công, hòng khoét sâu những bất đồng, mâu thẫu, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan. Địa bàn được các đối tượng chống phá nhắm đến là khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Như ở khu vực Tây Bắc, các đối tượng chống phá dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông”, và đưa ra yêu sách về “quyền tự trị”. Còn ở Tây Nguyên, các đối tượng rêu rao “Tây Nguyên là của người Thượng”, “người Kinh cướp đất của đồng bào trên chính quê hương của mình” từ đó kích động “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”. Tương tự ở Tây Nam Bộ, các đối tượng kích động người dân tộc Khmer ly khai thành lập “Nhà nước Khơme Krôm độc lập”. Song song đó, các đối tượng còn lôi kéo, dụ dỗ, tổ chức các hoạt động như vượt biên trái phép, di dân tự do, hòng làm cho đời sống của đồng bào mất ổn định; từ đó rêu rao Việt Nam phân biệt chủng tộc, vi phạm nhân quyền, kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Không khó để nhận diện âm mưu của các đối tượng chống phá, thù địch này là hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất lòng tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước, kích động bạo loạn, lật đổ chế độ. Thực tế này cho thấy các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá núp dưới chiêu bài kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Đặc biệt, việc kích động, chống phá trên không gian mạng được chúng triệt để khai thác để tỏa “chân rết” đi đến các vùng miền, xâm nhập vào các cộng đồng người dân tộc thiểu số, tác động theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, hết sức nguy hiểm. Thực tế này đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, cũng như các tổ chức đoàn thể cần tiếp tục thực hiện tốt các chính sách dân tộc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng có hành vi chống phá, kích động phân biệt chủng tộc. Người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số cần nâng cao tinh thần cảnh giác, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, không tin, nghe theo sự lôi kéo, dụ dỗ của người khác để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Mỗi người dân cần phát huy tinh thần trách nhiệm, kịp thời phát hiện những biểu hiện tiêu cực trong cộng đồng để báo cáo tới cơ quan chức năng làm rõ. Sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị và người dân sẽ tạo khối đoàn kết gắn bó chặt chẽ, hiệu quả, giúp ngăn chặn hiệu quả và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các đối tượng xấu./.

Đánh tráo khái niệm để xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

 

 

          Một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng là bằng những chủ trương, đường lối, chính sách. Những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trên tất cả các lĩnh vực mặc dù đúng đắn và sáng tạo: từ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về vai trò lãnh đạo của Đảng, về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hay các chính sách đối ngoại, an ninh quốc phòng… nhưng đều bị những thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo với mục đích hạ thấp uy tín, kích động, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

           Đặc biệt, trong thời gian gần đây, trên các diễn đàn, nhất là trên không gian mạng có những luận điệu rêu rao rằng: Việt Nam lựa chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm, là đẻ non, là duy ý chí, là trái quy luật phát triển... Những luận điệu này cơ bản xoay quanh các lập luận như: các nước trong khu vực phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa đều có vị thế nhất định ở châu Á, trở thành những nước phát triển. Trong khi Việt Nam vẫn là nước đang phát triển, còn nhiều hạn chế, yếu kém về kinh tế - xã hội, bộc lộ nhiều sai lầm về đường lối, không đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước. Cho nên, họ phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Cho rằng không nhất thiết phải xây dựng chủ nghĩa xã hội, con đường nào cũng được miễn sao giàu mạnh. Họ luận chứng thô kệt rằng: Sự hùng mạnh của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, từng là thành trì của chủ nghĩa xã hội cuối cùng cũng từ bỏ ngọn cờ để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Do đó, một nước như Việt Nam không nên tiếp tục đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, mà nên rẽ theo một hướng khác, con đường khác để mở đường phát triển…

 

          Cùng với đó là những luận điệu “đánh tráo khái niệm”cho rằng: nền kinh tế thị trường là đi theo chủ nghĩa tư bản, định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ ngăn cản và xâm phạm tới các quy luật của thị trường, làm cho nền kinh tế không thể phát triển, hay chúng cho rằng quân đội và công an chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước và an ninh, trật tự xã hội, không nên bị chi phối bởi chính trị, vì vậy cần phải “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang". Mục đích cuối cùng của chúng là phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng và nhân dân ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ đó làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng và Nhà nước, cuối cùng là tiến tới lật đổ chế độ ở nước ta mà thôi./.

LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3

 

 

Ngày Quốc tế Phụ nữ hay còn gọi là Ngày Liên Hiệp Quốc vì Nữ quyền và Hòa bình Quốc tế được tổ chức vào ngày 8 tháng 3 hằng năm. Lịch sử ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3 bắt đầu từ phong trào đấu tranh đòi quyền sống của nữ công nhân Mỹ. Trong Hội nghị phụ nữ do Quốc tế thứ II (Quốc tế Xã hội chủ nghĩa) tổ chức ngày 8 tháng 3 năm 1910, Chủ tịch là Clara Zetkin, phụ nữ Đức đã đề nghị chọn một ngày quốc tế phụ nữ để kỷ niệm những phụ nữ đã đấu tranh trên toàn thế giới với những khẩu hiệu: “Ngày làm 8 giờ. Việc làm ngang nhau. Bảo vệ bà mẹ và trẻ em”. Từ đó ngày 8/3 trở thành ngày đấu tranh chung của phụ nữ lao động trên toàn thế giới, là biểu dương ý chí đấu tranh của phụ nữ khắp nơi trên thế giới đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội; vì quyền lợi hạnh phúc của phụ nữ và trẻ em. Năm 1975, Liên Hiệp Quốc đã lấy ngày 8/3 hằng năm làm “Ngày Quốc tế Phụ nữ”.

Ở một số nước trên thế giới, ngày 8/3 được coi là ngày lễ chính trong năm và tổ chức rất lớn. Trong những xã hội này, đàn ông tặng hoa và quà cho những người phụ nữ trong đời của họ như mẹ, vợ, bạn gái…

Tại một số quốc gia, ngày Quốc tế Phụ nữ được kỷ niệm bằng những hoạt động liên hoan, diễu hành đòi quyền bình đẳng với nam giới, ở các vấn đề thực tiễn như mức lương, cơ hội giáo dục đào tạo và thăng tiến trong nghề nghiệp, hay là điều kiện an sinh xã hội, chống mại dâm và bạo lực đối với phụ nữ… 

Tại Việt Nam, ngày 8/3 còn là ngày kỷ niệm cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, hai vị nữ anh hùng dân tộc đầu tiên đã đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc, giành lại chủ quyền dân tộc. Niềm tự hào và ý chí vươn lên của phụ nữ Việt Nam một phần cũng có cội nguồn từ truyền thống dân tộc độc đáo đó.

Ở nước ta, để thể hiện sự tôn vinh những người phụ nữ, một nửa thế giới, các cơ quan, đoàn thể, gia đình thường tổ chức kỷ niệm ngày 8/3 rất trang trọng, tràn ngập hoa và những lời chúc tốt đẹp. Ngày 8/3 cũng là ngày nam giới thể hiện sự chăm sóc, yêu thương cho người phụ nữ mà họ yêu quý.

 

LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ HẠNH PHÚC 20/3

 


 

Ngày 20/3 hằng năm được gọi là ngày Quốc tế Hạnh phúc, với thông điệp: cân bằng, hài hòa là một trong những chìa khóa để mang đến hạnh phúc.

         "Đối với mỗi người khác nhau, hạnh phúc có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta đều công nhận rằng, hạnh phúc nghĩa là làm việc để chấm dứt xung đột, nghèo đói và các điều kiện không may mắn khác và rất nhiều đồng loại của chúng ta hiện đang phải sống trong các điều kiện đó. Hạnh phúc không phải là điều phù phiếm, cũng không phải là điều gì xa xỉ. Hạnh phúc là khát khao sâu xa của mọi thành viên trong gia đình nhân loại. Hạnh phúc không nên từ chối một ai và phải là của tất cả mọi người. Khát vọng này ẩn chứa trong cam kết của Hiến chương Liên Hợp Quốc để thúc đẩy hòa bình, công bằng, nhân quyền, tiến bộ xã hội và mức sống được cải thiện".

         Nguồn gốc của ngày Quốc tế Hạnh phúc:

         Tháng 6 năm 2012, Liên hợp quốc đã tuyên bố chọn ngày 20 tháng 3 là Ngày Quốc tế Hạnh phúc. Đến nay, đã có 193 quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam cùng cam kết ủng hộ, hành động, tích cực và nỗ lực nhiều hơn để xây dựng một thế giới đại đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống, xây dựng xã hội công bằng, phát triển bền vững, đem lại hạnh phúc cho nhân loại.

         Liên Hợp Quốc quyết định kỷ niệm ngày này theo đề xuất của Vương quốc Bhutan, một quốc gia nhỏ bé ở khu vực Nam Á, nằm sâu trong lục địa phía Đông dãy Himalaya. Bắt đầu từ những năm 1970, nhà vua của vương quốc này đã đưa ra một cách thức mới đánh giá sự thịnh vượng của xã hội, đó là thông qua chỉ số hạnh phúc quốc gia, bên cạnh các chỉ số về kinh tế thường được dùng để đánh giá về sự giàu có vật chất. Chỉ số này được tính toán dựa trên các yếu tố về sức khỏe, tinh thần, giáo dục, môi trường, chất lượng quản lý và mức sống của người dân.

         Trong cuộc họp phát động Ngày Quốc tế Hạnh phúc, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc khi đó là ông Ban Ki Moon phát biểu: "Chúng ta cần một mô hình kinh tế mới nhận diện được tầm quan trọng của ba yếu tố tối cần thiết cho sự phát triển bền vững. Ba yếu tố đó gồm: Xã hội - Kinh tế - Môi trường. Nếu làm được cả 3 điều này, chúng ta sẽ có một thế giới hạnh phúc". Bhutan - quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao đã ghi nhận uy thế của hạnh phúc quốc gia hơn là thu nhập quốc gia từ những năm đầu tiên của thập kỷ 70 thế kỷ 20 và nổi tiếng với việc thực thi mục tiêu tổng hạnh phúc quốc gia thay vì tổng sản phẩm quốc nội. Đại diện quốc gia Bhutan cho rằng, nhu cầu về Ngày Hạnh phúc này là đối với tất cả quốc gia và con người trên toàn thế giới để có những bước vượt lên trên sự khác biệt giữa các nước và con người trên toàn thế giới, và liên kết, đoàn kết toàn nhân loại.

         Ý nghĩa của ngày Quốc tế Hạnh phúc 20/3:

         Việc Liên Hiệp Quốc chọn ngày 20/3 là Ngày Quốc tế hạnh phúc vì đây là ngày đặc biệt trong năm, khi mặt trời nằm ngang đường xích đạo, nên trong ngày này có độ dài ngày và đêm bằng nhau - là biểu tượng cho sự cân bằng, hài hòa của vũ trụ. Cũng là biểu tượng của sự cân bằng giữa âm và dương, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa ước mơ và hiện thực….

         Bởi vậy ngày 20/3 - Ngày Quốc tế hạnh phúc cũng truyền tải thông điệp rằng: cân bằng, hài hòa là một trong những chìa khóa để mang đến hạnh phúc.

         Ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 2589/QĐ-TTg ngày 26/12/2013 phê duyệt Đề án “Tổ chức các hoạt động nhân ngày Quốc tế hạnh phúc 20/3 hàng năm”.

         Điều đó mang ý nghĩa lớn lao nhằm tiếp tục thực hiện mục tiêu phát triển an sinh xã hội, xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ và hạnh phúc; nâng cao nhận thức toàn xã hội về ngày Quốc tế hạnh phúc, để từ đó có hành động cụ thể, thiết thực xây dựng gia đình hạnh phúc, cộng đồng hạnh phúc của người Việt Nam; kêu gọi sự hợp tác, giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đối nước các hoạt động nhân Ngày Quốc tế hạnh phúc (20/3).

         Năm 2014, lần đầu tiên Việt Nam chính thức tổ chức các hoạt động nhân Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20/3 với chủ đề “Yêu thương và chia sẻ”. Vào ngày này, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã thay mặt Chính phủ gửi thông điệp tới toàn thể nhân dân Việt Nam. Phó Thủ tướng đã khẳng định, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nhà nước dân chủ công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và sau này là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn gắn chặt với tiêu ngữ: “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”. Độc lập là tiền đề của tự do, hạnh phúc của nhân dân. Tự do, hạnh phúc của nhân dân là thước đo giá trị, là mục tiêu của độc lập dân tộc. Hạnh phúc của nhân dân chỉ trọn vẹn khi là công dân của một nước Độc lập và có đời sống vật chất ngày càng đầy đủ, có đời sống tinh thần lành mạnh. Nhân dân phải là người chủ thực thụ của đất nước và của quá trình phát triển. Mọi người đều có điều kiện để phát triển toàn diện, hướng tới chân, thiện, mỹ. Đó cũng luôn là mục tiêu, là động lực để chúng ta tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, quyết tâm xây dựng và bảo vệ một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, Phó Thủ tướng khẳng định: Nhân dân Việt Nam đã không quản hy sinh, gian khổ để gìn giữ nền Độc lập của Dân tộc mình, kiến thiết đất nước mình và cũng luôn sẵn lòng chia sẻ, góp sức, đề cao trách nhiệm là một thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình, hợp tác, phát triển và thịnh vượng, đem lại hạnh phúc cho nhân loại, gìn giữ màu xanh của hành tinh. Việc tổ chức Ngày Quốc tế Hạnh phúc của Việt Nam là để cùng cả thế giới biểu thị mong muốn, niềm tin và quyết tâm phấn đấu vì một thế giới hòa bình, không có chiến tranh, không còn đói nghèo; một thế giới phát triển thịnh vượng và bền vững; một thế giới mà tất cả mọi người dù khác màu da, dân tộc, tôn giáo đều được hưởng trọn niềm hạnh phúc. Phó Thủ tướng kêu gọi: Để ngày Quốc tế Hạnh phúc có ý nghĩa thiết thực và cao đẹp, chúng ta hãy cùng nhau chung sức đồng lòng, trách nhiệm, sáng tạo, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo, trong đó đặc biệt quan tâm tới các khu vực vùng đồng bào dân tộc ít người còn nhiều khó khăn, tới các đối tượng chính sách, dễ bị tổn thương. Hãy cũng nhau kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp, hiếu nghĩa của dân tộc  Việt Nam: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”. Hãy yêu thương và chia sẻ để tìm thấy cho mình và giúp những người quanh ta, trước hết là gia đình, là những người thân có nhiều giây phút hạnh phúc đích thực!

 

TỈNH TÁO, NHẬN DIỆN ĐÚNG CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TÁC VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 



Hơn 37 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước phát triển mạnh mẽ, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt.

Thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn vẫn cố tình phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Họ ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực:  Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...

Về chính trị: Trước hết, họ tập trung phê phán, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo đất nước, họ cho rằng, đó là “chế độ đảng trị”, độc tài, mất dân chủ. Họ còn lợi dụng cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” để xuyên tạc rằng, đó là bằng chứng của vấn đề “Đảng đứng trên luật pháp”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”, “Đảng bao biện làm thay Nhà nước”... Vấn đề Nhà nước, họ xuyên tạc rằng: “Nói là Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng...”; “hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả”... Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, họ cho rằng: “Hoạt động chỉ là hình thức, kém hiệu quả”...  Vấn đề xã hội, họ cho rằng: "Mất dân chủ, vi phạm nhân quyền...". 

Nhận diện những vấn đề trên là một hoạt động khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, các đối tượng thường sử dụng internet, mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo... và các phương tiện truyền thông khác như các đài phát thanh, truyền hình VOA, RFA, BBC, RFI... để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất mà họ thường sử dụng, đó là mượn các thông tin, sự kiện có thật đã xảy ra, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hay được phát tán thông qua mạng xã hội để lồng ghép, biên tập, sửa chữa và thêm thắt các tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi được tung ra như một dạng thông tin chính thống. Sau đó, thông qua các hình thức tán phát, như bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, hội luận, ý kiến chuyên gia, người trong cuộc, ngoài cuộc... để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bóp méo sự thật. Cuối cùng, thông qua sự tương tác, bình luận (comment), ý kiến người đọc, người xem để định hướng dư luận theo ý đồ của họ. Với những thủ đoạn tinh vi, dàn dựng khá bài bản, có thể họ đã lừa phỉnh được một số người còn thiếu thông tin, nhận thức hạn chế, phiến diện. Thậm chí, có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, dao động, đã cố tình hoặc vô ý cổ xúy, tiếp sức cho các luận điệu sai trái, phản động, biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Từ việc nhận rõ bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với công cuộc đổi mới đất nước nói chung, đổi mới trên lĩnh vực chính trị-xã hội nói riêng, chúng ta thấy rằng, vấn đề chính trị-xã hội ở Việt Nam luôn là mối quan tâm, chống phá hàng đầu của các đối tượng này. Bởi đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước. Mục tiêu sâu xa của chúng là gây mất ổn định chính trị, xã hội, mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước, tất yếu dẫn tới rối loạn chính trị-xã hội, khủng hoảng và sụp đổ, dẫn tới xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta.

Thành tựu sau hơn 37 năm đổi mới toàn diện đất nước đã khẳng định tính đúng đắn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mô hình phát triển đất nước do Đảng, nhân dân ta lựa chọn. Đó là, minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch. Nhìn lại lịch sử, những thành tựu đất nước đã đạt được trong công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới chính trị-xã hội với bước đi, hình thức phù hợp “toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Cho đến nay, ở Việt Nam, không có tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về năng lực điều hành, quản lý đất nước có nhiều chuyển biến mang tính đột phá. Hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng với quyết tâm cao, hiệu quả thiết thực. Phát huy được mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; tháo gỡ nhanh, hiệu quả các điểm nghẽn, vướng mắc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu gắn với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương; thực hiện tốt sự phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển. Chính phủ và các bộ tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và đạt kết quả tích cực.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, với phương châm “Hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội” đã phát huy tốt chức năng, vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân, là cầu nối quan trọng giữa Đảng và nhân dân. Củng cố được lòng tin, sự gắn bó của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Những kết quả tích cực đó tạo ra nhiều thay đổi lớn trong đời sống xã hội, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, mở rộng hơn, người dân được thông tin, giám sát hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị được phát huy tốt hơn. Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách ngày càng thích ứng với thông lệ quốc tế, tính nghiêm minh trong thực hiện cao hơn.

Những kết quả đó khẳng định rằng đổi mới chính trị ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trực tiếp là cơ sở để đất nước có được bước phát triển to lớn như hiện nay. Mặt khác, những hạn chế, yếu kém, sai lầm, khuyết điểm được Đảng, Nhà nước thẳng thắn chỉ rõ, như: Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ. Một số hạn chế, vướng mắc chậm được giải quyết, thậm chí kéo dài trong một số nhiệm kỳ, làm cho vận hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong một số trường hợp thiếu thống nhất, thông suốt; việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước; chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp. Từ đó, nhiều tiềm năng, thế mạnh của đất nước chưa được phát huy đầy đủ... những hạn chế đó không thể ngày một, ngày hai có thể khắc phục triệt để mà phải có một quá trình khắc phục kết hợp với đổi mới lâu dài, khó khăn, phức tạp. Vấn đề là Đảng, Nhà nước đã thẳng thắn nhìn nhận và khắc phục với quyết tâm cao nhất.

Từ thực tiễn thành tựu và những hạn chế về đổi mới chính trị-xã hội ở Việt Nam trong sự phát triển của đất nước cho thấy, những kết quả đạt được là cơ bản, to lớn và có ý nghĩa lịch sử, càng khẳng định con đường, mô hình phát triển đất nước là đúng hướng; những hạn chế, thiếu sót khuyết điểm không làm thay đổi bản chất, tính đúng đắn, ưu việt của chế độ chính trị, nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, là luận cứ đanh thép nhất phản bác những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị thời gian qua./.

PHÒNG, CHỐNG "DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH": LẠI TUYÊN TRUYỀN "BẨN"

 


Sau khi thủ đoạn tung những video clip dàn dựng, cắt ghép, sưu tầm từ nhiều năm trước về cảnh “đi bộ đội bị lính cũ bắt nạt hoặc phải làm việc cực nhọc” bị bạn đọc bóc mẽ, vạch trần, một số trang mạng phản động, trong đó có Việt Tân tiếp tục dùng chiêu trò khác nhằm kêu gọi thanh niên trốn tránh nhập ngũ để thực hiện âm mưu chống phá đất nước ta.

Chúng tung tin rằng: Thanh niên nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sự là lãng phí mất 2 năm tuổi trẻ (!)

Nghe luận điệu tuyên truyền “bẩn” này, thấy ngay sự nham hiểm nhưng lại rất ngô nghê của những kẻ có mưu đồ đen tối. Bởi vì chúng cho rằng 2 năm nhập ngũ là lãng phí thời gian, nhưng tuyệt đại đa số người dân Việt Nam đều hiểu rõ Quân đội như trường học lớn, là môi trường rất tốt để thanh niên học tập, rèn luyện, từ đó trưởng thành hơn.

Thực tế nhiều năm qua đã chứng minh, tất cả thanh niên Việt Nam sau một thời gian nhập ngũ đều có sự tiến bộ rõ rệt về nhiều mặt. Hầu như ai hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về cũng có sức khỏe, phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực, bản lĩnh, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong... chững chạc hơn, tốt hơn so với trước khi nhập ngũ.

Thực tế là đại đa số các cơ quan, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh đều ưu tiên tuyển chọn người đã được học tập, rèn luyện qua môi trường Quân đội, bởi họ thường có phẩm chất, năng lực, uy tín cao hơn.

Thực tế trong các đợt tuyển quân hằng năm thì luôn có hàng vạn thanh niên viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Họ vừa tự giác thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc, vừa muốn được học tập, rèn luyện trong môi trường Quân đội để trưởng thành, có đủ hành trang cần thiết lập thân, lập nghiệp một cách tự tin, bền vững. Như huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang năm nay có 100% thanh niên nhập ngũ viết đơn tình nguyện nhập ngũ; trong tổng số công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự đầu năm 2024 của tỉnh Hà Giang có gần 70% viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Có những gia đình cả hai, ba anh em ruột cùng xung phong nhập ngũ một đợt (như Nguyễn Khắc Tự Hiền Phúc, Nguyễn Khắc Tự Hiền Nhơn, Nguyễn Khắc Tự Hiền Nhân ở phường Tam Thuận, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng).

Chắc chắn, chẳng có người hiểu biết nào lại dại dột tin vào luận điệu tuyên truyền “bẩn”, rằng “Thanh niên nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sự là lãng phí mất 2 năm tuổi trẻ” (!). Nghe theo lời xúi dại ấy, có khi tự đẩy mình vào ăn chơi sa ngã, vi phạm pháp luật, đánh mất tương lai.

---++

TTG

TIN GIẢ - SỰ NGUY HẠI VÀ PHƯƠNG CÁCH NGĂN CHẶN


Tin giả đang nổi lên thành vấn nạn tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, vấn nạn tin giả diễn ra tràn lan, gây thiệt hại lớn trên nhiều lĩnh vực, phương diện, nhất là các thế lực thù địch sử dụng tin giả để thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và dân tộc ta. Do vậy, ngăn chặn, triệt phá tin giả, thông tin xấu độc là nhiệm vụ cấp thiết trong kỷ nguyên số.

Là quốc gia có nhiều nỗ lực và đạt kết quả quan trọng trong phòng, chống, xử lý tin giả, đến nay, Việt Nam đã hoàn thiện các quy định pháp luật, tăng cường biện pháp quản lý thông tin trên MXH; ban hành các quy định, quy trình xử lý tin sai sự thật; tăng cường hợp tác để yêu cầu các nền tảng xuyên biên giới loại bỏ thông tin sai lệch, vi phạm pháp luật; thiết lập Trung tâm an ninh mạng quốc gia...

Một giải pháp quan trọng nữa là cần đẩy mạnh hợp tác giữa các cơ quan quản lý truyền thông Việt Nam và các quốc gia trên thế giới trong việc phát hiện, khống chế, đẩy lùi tin giả; tăng cường phối hợp giữa các tổ chức nghiên cứu độc lập, tổ chức xác minh và nhà cung cấp MXH để đối phó với vấn nạn tin giả trong khu vực và trên thế giới; tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các cấp, ngành, cơ quan, địa phương trong cả nước nhằm chủ động ngăn chặn, phát hiện, đấu tranh và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi tán phát, ủng hộ, cổ xúy tin giả nhằm những mục đích tiêu cực, phản động, vi phạm pháp luật./.

-----+

TTG - st